TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ THỊ YẾN Tên chuyên đề: ÁP DỤNG QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN CHĂN NUÔI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ YẾN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN CHĂN NUÔI HÒA PHÁT BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ YẾN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN CHĂN NUÔI HÒA PHÁT BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: K47 –Thú y – N03
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Xuân Bình
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn tiếp cận với thực tế sản xuất Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng đối với tất cả các sinh viên các trường Đại học nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” Thực tập tốt nghiệp cũng
là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập
tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nông thôn mới nói riêng và đất nước nói chung
Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đặng Xuân Bình, cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận này Do thời gian và kiến thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em mong nhận được sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của
em được hoàn chỉnh hơn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo của khoa Chăn nuôi thú y đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua cũng như trong quá trình em đi thực tập tốt nghiệp
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đặng Xuân Bình đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cùng toàn thể các anh chị cán bộ kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực tập tại trang trại vừa qua
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập và tổng hợp báo cáo do em chưa có được nhiều kinh nghiệm nên khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những sai sót, hạn chế
Em kính mong nhận được sự góp ý hoàn thiện của Quý thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày……tháng… năm 2019
Sinh viên
Lê Thị Yến
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019 10
Bảng 3.1.Các yêu cầu trong chuồng 34
Bảng 3.2.Các yêu cầu về thức ăn 35
Bảng 3.3.Trọng lượng yêu cầu 35
Bảng 3.4 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 37
Bảng 3.5 Lịch tiêm phòng vắc xin và thuốc cho đàn lợn tại trại 39
Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 41
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác cho lợn ăn 42
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh,sát trùng tại trại 44 Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh bằng tiêm vắc xin 46
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại 46
Bảng 4.6 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại 47
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 48
Trang 7MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở thực tập 7
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại 8
2.1.4 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở trong 3 năm 2017-2019 9
2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 10
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái 10
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 14
2.2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái 18
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 23
2.2.5 Một số thuốc phòng và trị bệnh thường dùng 25
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1 Đối tượng 30
Trang 83.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung tiến hành 30
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp theo dõi 30
3.4.3 Phương pháp thực hiện 36
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi Error! Bookmark not defined Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại cơ sở trong 3 năm gần đây 41
4.2 Công tác chăn nuôi và chăm sóc, nuôi dưỡng 42
4.2.1 Công tác chăn nuôi 42
4.2.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 43
4.3 Công tác thú y 44
4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 44
4.3.2 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn 45
4.4 Kết quả công tác theo dõi tình hình mắc bệnh của lợn nái 46
4.4.1 Kết quả công tác phát hiện bệnh trên đàn lợn nái 46
4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại 47
4.5.1 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 47
4.6 Kết quả thực hiện một số công tác khác 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 9tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt
Chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng trong ngành chăn nuôi lợn, góp phần quyết định thành công của ngành chăn nuôi lợn, đặc biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc Mặt khác đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh về số lượng và chất lượng đàn lợn
Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng
kể Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy
mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, chúng em tiến hành
thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị
bệnh cho lợn nái sinh sản tại công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Chăn Nuôi Hòa Phát Bắc Giang”
Trang 101.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm được quy trình, nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái tại công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Chăn Nuôi Hòa Phát Bắc Giang – tại Xã Long Sơn- Huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang
-Theo dõi một số bệnh bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại
- Điều trị một số bệnh ở lợn nái
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Chăn Nuôi Hòa Phát Bắc Giang - Xã Long Sơn- Huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn nái nuôi tại trại đạt hiệu quả cao
- Tìm được nguyên nhân gây ra những bệnh thường gặp trên đàn lợn nái từ đó đưa ra biện pháp phòng và trị
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Khu vực của trại được bao quanh bởi đồi cao, cách khu dân cư gần nhất khoảng 800 m, cách UBND Xã Long Sơn khoảng 3 km về phía Tây Nam Vị trí địa lý của Khu 1 (thôn Điệu, thôn Tảu):
- Phía Đông Nam: Cách đường quốc lộ 279 khoảng 1,5 km
- Phía Đông Bắc: Giáp cánh đồng thôn Điệu
- Phía Tây Bắc: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Điệu
- Phía Tây Nam: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Tảu
* Địa hình, diện tích, đất đai:
- Long Sơn là một xã thuộc huyên Sơn Động tỉnh Bắc Giang địa hình chủ yếu là đồi núi là điều kiện thuận lợi cho trồng trọt và việc chăn nuôi tập trung với:
Diện tích đất là 65,36 km2
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 61,8% diện tích đất tự nhiên
Trang 12 Diện tích ao hồ nuôi trồng thủy sản chiếm 8%
Diện tích đất thổ cư chiếm 14,2%
Diện tích đất nông nghiệp chiếm 16%
- Với diện tích đất rộng như vậy xã Long Sơn có đủ điều kiện để phát triển và mở rộng nhiều ngành khác như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, chế biến…
- Qua điều tra cho thấy hầu hết đất đai ở đây đều thuộc loại đất pha cát, đất pherarit…là những loại đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Chính vì thế mà hầu hết diện tích đất ở đây được dùng để làm đất thí nghiệm, đất canh tác phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi
- Bên cạnh việc sử dụng đất làm sản xuất và trồng trọt chăn nuôi, xã Long Sơn còn sử dụng một số quỹ đất hợp lý để xây dựng một số công trình xây dựng khác như một số điểm du lịch như khu du lịch sinh thái Khe Chão… với mục đích tạo mọi điều kiện vật chất để phát triển kinh tế
- Ngoài ra nhờ có diện tích ao hồ nuôi trồng thủy sản khá rộng cũng làm cho quang cảnh của xã trở nên sinh động đảm bảo nhu cầu vui chơi giải trí của người dân xung quanh Từ diện tích ao hồ rộng lớn đó ta có thể nhận thấy được tác dụng to lớn của việc cung cấp nước từ hồ tới khu vực sản xuất và chăn nuôi
- Nhìn chung đất đai ở đây đã mang lại cho Long Sơn rất nhiều ưu thế đặc biệt là cho chăn nuôi Chính vì vậy mà xã Long Sơn đã không ngừng cải tạo đất và tận dụng đất đã có để có thể sử dụng một cách hợp lý nhất và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất cũng như trong chăn nuôi
* Giao thông, thuỷ lợi:
- Giao thông :
Xã Long Sơn nằm ngay trên quốc lộ 279 đi Quảng Ninh nên giao thông đi lại rất thuận lợi, đáp ứng được nhu cầu đi lại, giao lưu với các vùng xung quanh
Trang 13- Thủy lợi :
Với ưu thế là có một diện tích ao hồ rộng lớn cho nên ở đây công tác thủy lợi luôn được đảm bảo Bên cạnh đó xã Long Sơn đã xây dựng được hệ thống kênh mương bằng bê tông đảm bảo cho nhu cầu tưới tiêu cho khu vực xã
* Thời tiết, khí hậu:
- Xã Long Sơn nói riêng và Tỉnh Bắc Giang nói chung nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của khu vực trung du miền núi phía Bắc Do vậy mà khí hậu ở đây có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và tình hình sản xuất chăn nuôi
- Kiểu thời tiết khí hậu ở đây chủ yếu là nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Bắc Một năm thời tiết ở đây được chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông
- Trong đó mùa Xuân bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3, thời tiết mát mẻ nhưng mưa phùn, ẩm độ cao là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển trên đàn vật nuôi Các bệnh thường xảy ra như bệnh tụ huyết trùng, bệnh tiêu chảy ở trâu bò, lợn…Trước tác hại do thời tiết mang lại cho đàn vật nuôi như vậy nên hàng năm công tác tiêm phòng vẫn thường xuyên được triển khai Mặt khác để hạn chế bệnh tật cho vật nuôi thì công tác vệ sinh cũng hết sức được chú trọng
- Mùa Hạ được tính từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch Đây là mùa có nhiệt
độ cao nhất trong năm Mùa này ngoài thời tiết nắng to thì thường hay xuất hiện những cơn mưa rào, giông đột ngột làm ít nhiều ảnh hưởng đến trồng trọt
và chăn nuôi
- Mùa Thu bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch, vào mùa này nhiệt
độ tương đối ổn định, mát mẻ tạo điều kiện cho các sinh vật, vật nuôi phát triển tốt Mùa này dịch bệnh ít xảy ra trên đàn vật nuôi
- Mùa Đông là các tháng còn lại trong năm âm lịch, nhiệt độ xuống thấp, trời rét, thời tiết hanh khô Chính vì vậy những lúc thời tiết rét đậm, rét hại cần có biện pháp tránh rét cho vật nuôi, hạn chế tác hại cho cây trồng
Trang 14- Ẩm độ và lượng mưa là hai yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết khí hậu Thông thường về mùa hè thì ẩm độ trung bình là 83 – 85%, lượng mưa bình quân là 1800mm Mùa đông thì ẩm độ trung bình là 65 – 75%, lượng mưa bình quân là 1100mm
* Điều kiện kinh tế - xã hội :
- Dân số, nguồn lao động:
Xã Long Sơn có diện tích 65,36 km2 dân số là hơn 5000 người mật
độ dân số đạt 76 người/km2
Điều kiện kinh tế xã hội của xã Long Sơn:
Xã Long Sơn là một xã nghèo của huyện Sơn Động Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cán bộ và nhân dân xã Long Sơn đã vươn lên vượt qua khó khăn thách thức của điều kiện tự nhiên
và xã hội, khai thác có hiệu quả tiềm năng lợi thế hiện có, nhất là lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp rộng lớn, vươn lên và đạt nhiều thành tựu quan trọng
về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá, năm sau cao hơn năm trước, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 12,1%
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó kinh tế Nông lâm nghiệp – thủy sản năm 2016 chiếm 66,2%, Công nghiệp – xây dựng chiếm 18%, dịch vụ thương mại chiếm 14,9% Thu nhập bình quân năm 2016 ước đạt 6 triệu đồng/người, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ rệt
- Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi của xã Long Sơn:
Trong những năm gần đây việc phát triển chăn nuôi trên địa bàn luôn được sự quan tâm của các cấp các ngành đồng thời người dân tích cực tham gia phát triển chăn nuôi đặc biệt có sự đầu tư của công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Chăn Nuôi Hòa Phát Bắc Giang nên tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi trong giai đoạn này tăng khá nhanh Tuy nhiên điểm
Trang 15xuất phát thấp nên tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của xã còn nhỏ
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở thực tập
- Trại chăn nuôi được xây dựng từ tháng 6 năm 2016 trại đi vào sản xuất được 3 năm, xong hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật
có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề
- Hệ thống chuồng trại:
Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng
để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 120 ô chuồng,
4 chuồng cai sữa mỗi chuồng có 32 ô chuồng, 2 chuồng phối, 2 chuồng mang thai và 1 chuồng phát triển hậu bị, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa
Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa Đông
có hệ thống bóng đèn hồng ngoại
Tổng diện tích của trang trại là 15 ha, trong đó 5 ha dùng để chăn nuôi, 1,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác
- Về nhân sự của trại
Trang 16Trại có 44 cán bộ nhân viên trong đó:
Lao động gián tiếp có 11 người:
Tổng giám đốc công ty: 1
Kế toán: 1
Làm vườn, nấu ăn,vệ sinh: 3
Cơ điện: 4
Bảo vệ: 2
Lao động trực tiếp có 33 người:
5 kỹ sư chăn nuôi
Trang 17 Vì là trại mới nên còn nhiều thiếu sót trong công tác quản lý, sắp xếp công việc
2.1.4 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở trong 3 năm 2017-2019
2.1.4.1 Đối tượng sản xuất kinh doanh của trại:
- Nhiệm vụ của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,46 – 2,47 lứa/năm Số lợn con sơ sinh là 11,25 con/lứa, số con cai sữa là 10,8 con/lứa Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty chăn nuôi Hòa Phát Trung bình lợn con theo mẹ được 21 ngày tuổi thì cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn khác của công ty
- Lợn đực giống được nuôi trong trại nhằm mục đích là kích thích động dục cho lợn nái Tinh lợn để phối được khai thác từ 2 giống lợn Duroc và Pietrain Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
- Trang trại chăn nuôi lợn theo quy mô công nghiệp sử dụng thức ăn của Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn thức ăn chăn nuôi Hòa Phát Hưng Yên Khẩu phần ăn cho lợn nái sinh sản được điều chỉnh theo từng giai đoạn hợp
lý Để từ đó kiểm soát được thể trạng của lợn nái không quá gầy hay quá béo trong quá trình sinh sản, nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái Thức
ăn cho lợn con tập ăn, lợn cai sữa sử dụng loại thức ăn khác nhau phù hợp sự phát triển của từng giai đoạn
- Hiện tại trại có sử dụng các loại thức ăn cho lợn đực, lợn nái và lợn con là:
• B06S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái mang thai, lợn đực
• B07 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con
• B01 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn
• B02S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa
• B05 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn hậu bị
Trang 182.1.4.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019
STT Loại lợn Đơn vị Năm
2017
Năm
2018
Năm 2019 (6 tháng đầu năm)
3 Lợn nái sinh sản Con 1224 1236 1250
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trang trại)
2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
Là bộ phận có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: âm hộ,
âm vật, tiền đình
- Âm hộ (vulvae): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái Âm
hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là
âm môn Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin) và bộ phận cương cứng gọi là âm vật (clitoris)
- Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như bao quy đầu dương vật
Trang 19Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào vận động bình thường
- Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (ovanrium): Còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt buồng trứng sần sùi
Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)
+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt
+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết
Trang 20Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 - 2cm, khối lượng 3 - 5gam
- Ống dẫn trứng (oviductus): Ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20cm uốn khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần
Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mở ra trong xoang phúc mạc
Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung
- Tử cung (dạ con) (uterus): Nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi thai làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai
+ Cổ tử cung: Là tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự góp mặt của một ít cơ trơn
Ở lợn cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc
+ Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non dài chừng 30 - 50cm dây chằng rộng và rất dài
Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung
- Âm đạo (vagina): Là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây
là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Trang 21Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều dài của âm đạo của lợn là 10 - 12cm Ở lợn biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
* Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa,
đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non
+ Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật
có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hormone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên Ở lợn có
6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm có bầu vú và núm vú
Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: nhỏ,trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông
ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú,
Trang 22vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi
cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
- Sự phát triển của tuyến vú:
Động vật còn non tuyến vú chưa phát triển, khi đến tuổi thành thục, hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết,ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Sự thành thục về tính
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như:
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả
tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa Xuân) và 17 ngày (mùa Thu) Mùa Đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm
Trang 23tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển
Kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [25] cho thấy: việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn nái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn nái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống
Lợn nái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn cái hậu bị động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander T, 2010 [28])
- Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005 [4])
+ Trứng chín: Dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triển rất nhanh, lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên mặt buồng trứng như những bóng nước Tế bào trứng nằm trong nang trứng tiến hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bào trứng chín
+ Hiện tượng rụng trứng: Noãn bào dần dần lớn lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào
vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau
Trang 24+ Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng
từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
+ Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy
ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
+ Tính dục: Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
- Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao
Trang 25phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
- Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
- Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong
Trang 26buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S
Xương chậu hẹp bẩm sinh, thai quá to và mắc các bệnh truyền nhiễm
đã điều trị trong thời gian khá dài
Lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ quá thấp trong thời gian đẻ Lợn nái bị liệt 1/3 thân sau; nơi đẻ, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật hoặc chưa phù hợp và do đẻ ngược thai
+ Triệu chứng: Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu
Trang 27nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
+ Điều trị: cần tiêm Oxytocin 20 - 50 UI/ 1con nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất Trường hợp không có kết quả, cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra Sau khi can thiệp xong, cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, dùng các loại kháng sinh sau đây chống viêm tử cung,
âm đạo
* Hẹp khe âm môn và tiền đình âm đạo, âm đạo và cổ tử cung
+ Nguyên nhân: Xảy ra do bẩm sinh hoặc ở gia súc co thắt sẹo hình thành từ chấn thương hoặc viêm, do phát triển màng sẹo liên kết của vết loét, ung bướu Đôi khi gặp trường hợp đẻ khó ở gia súc đẻ lần đầu do phì đại màng trinh bẩm sinh hoặc mắc phải (tăng sinh van niệu đạo nằm ở thành dưới
âm đạo sát mép tiền đình âm đạo)
+ Triệu chứng: Các cơn rặn đẻ mạnh trong khi đã có các cơn tiền triệu chứng đẻ nhưng gia súc không đẻ được, chứng tỏ hẹp đường sinh dục hoặc thai to quá (Debois C H W., 1989 [23])
+ Điều trị: Trước hết thụt dầu nhờn vào âm đạo xong kéo thai ra ngoài Nếu không có kết quả thì tiến hành rạch một đường chính giữa đường trắng
và rạch từ trong ra ngoài Độ dài vết rạch tùy thuộc vào mức độ âm môn hẹp nhiều hay ít Khi tiến hành xong phải khâu vết rách lại, niêm mạc khâu riêng
và da khâu riêng
* Bệnh viêm tử cung
+ Nguyên nhân: Do trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ sản khoa làm xây sát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Đây là nguyên nhân chính mà chúng tôi quan sát được tại cơ sở
Do phối giống không đúng kỹ thuật
Do kế phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm âm đạo
Trang 28+ Triệu chứng: Lượng sữa giảm, lợn có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Sau khi đẻ từ âm hộ chảy ra dịch rỉ viêm
và mủ màu trắng đục, màu vàng hoặc màu nâu keo đặc và có mùi hôi thối đặc trưng Con mẹ bỏ ăn hoàn toàn hoặc một phần, sốt cao 40 - 41oC, có thể
bị mất sữa
+ Điều trị: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Han - iodine 0,1% sau đó dùng 2.000.000 UI penicilin hòa với 50ml nước cất thụt vào tử cung lợn Ngày 1 lần, thường làm 1 lần duy nhất, trường hợp nặng từ 2 - 3 lần
Tiêm bắp CP - CIN 20: 5ml/con/ngày x 3 ngày liên tiếp kết hợp pendistrep: 1ml/10 kg TT/1ngày/1lần hoặc tiêm veptrimoxinLA: 1 ml/10kg TT/ 1 ngày/ lần Thuốc bổ trợ sử dụng vitamin B1: 5 ml/30kgTT
Lê Thị Tài và cs (2002) [17] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], Trần Thị Dân (2004) [2]: Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm thử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung
ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007[19])
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân: Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn
thì các vi khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập
gây ra viêm vú
Trang 29Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp Và Arcanobacterium
pyogenes (Christensen và cs., 2007 [21])
Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E.coli, Streptococcus, Staphylococcus,
Klebsiella…(Duy Hùng, 2011 [6])
Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có con đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng thì bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao 40,5oC
-42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi
có máu
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30% đến 100%
Theo White (2013) [27] thì biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm:
vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
Trang 30mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con
bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
- Điều trị: Cục bộ bằng cách phong bế giảm đau bầu vú: chườm nước
đá lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế đầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây lan sang vú khác Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng nor 100 1 ml/10kgTT
Toàn thân: Tiêm analgin : 1 ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm pendistrep LA: 1 ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Các nghiên cứu của Trekaxova A V (1983) [15] về chữa trị bệnh viêm
vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5 % liều
từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thùy vú bệnh, sâu 88 - 100
cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này từ 400 - 600 đơn vị, 2 - 3 lần/ngày
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [9] cho biết: Trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004 [10])
Dùng novocain tiêm tĩnh mạch tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú
và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Trang 31Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011 [6])
+ Lợn con bị nhiễm khuẩn: bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi
khuẩn E.coli, salmonella, trong đó salmonella là vi khuẩn có vai trò quan
trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy
+ Do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
+ Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung, ăn không đúng khẩu phần
+ Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14 ngày tuổi
- Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Lợn tiêu chảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôi