1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn gà lông màu nuôi tại trại liên kết với công ty japfa comfeed việt nam

52 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác.. Theo Trần Thanh Vân và c

Trang 1

CÔNG TY JAPFA COMFEED VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC (MỚI)

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

CÔNG TY JAPFA COMFEED VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2014 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Hồng Duyên

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo Dương Thị Hồng Duyên, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ lãnh đạo, nhân viên Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam Tại Thái Nguyên cùng Đại lý thuốc thú y Khương Huệ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên về mọi mặt trong suốt thời gian em học tập và thực tập vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Lê Quang Tuấn

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Yêu cầu nhiệt độ tại chuồng nuôi 28

Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh của gà 31

Bảng 4.1 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 33

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 34

Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho gà tại trại 35

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh của gà tại trại 36

Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh cho gà 37

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh 4

2.1.3 Điều kiện của cơ sở vật chất của trại 4

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 5

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn 5

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 6

2.3 Nghiên cứu trong và ngoài nước 23

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

2.3.2 Tình hình nghiên cứu thế giới 25

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27

3.1 Đối tượng 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 27

Trang 7

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27

3.4.2 Phương pháp tiến hành 27

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 33

4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 33

4.3 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà 35

4.3.1 Kết quả công tác chẩn đoán bệnh 35

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà 36

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 8

Trong những năm gần đây do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm

Theo kết quả điều tra chăn nuôi năm 2018 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm cả nước ước tính có 386,1 triệu con, tăng khoảng 5,9% so với cùng thời điểm 2017, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6% so với cùng thời điểm năm 2017 Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,02%; Phú Thọ tăng 41,58%; Thanh Hóa tăng 14,86%; Hà Tĩnh tăng 19,48%; Bình Định tăng 27,81%; Lâm Đồng tăng 18,23%; Long An tăng 26,97%; Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm

là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm

như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số

Trang 9

lượng và chất lượng đàn gà Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và

sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp

Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của cô giáo TS Dương Thị Hồng Duyên và của cơ sở thực tập, em thực hiện đề

tàì “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn gà lông màu nuôi tại trại liên kết với công ty Japfa Comfeed Việt Nam” 1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở

- Xác định quy trình chăm sóc và phòng bệnh cho đàn gà lông màu

- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà hướng thịt

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chẩn đoán và điều trị các bệnh trên đàn gà lông màu

- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm trong vùng trung du miền núi Bắc

Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Nam giáp thành phố Hà Nội, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc Thái Nguyên mang ý nghĩa là cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội Vị trí địa lý đó tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng Đông Bắc và đồng bằng sông Hồng Nhờ đó có thể phát huy được tiềm năng sẵn có và ngành chăn nuôi đứng đầu về sản lượng chăn nuôi gà tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam

* Thời tiết, khí hậu, thủy văn

Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ dao động từ 110C- 39,50C (trung bình 240C)

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.292mm, tập trung từ tháng 5 - 9, cao nhất vào tháng 7 (120 - 150 mm), số ngày mưa trung bình 136 ngày Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm: 832,8mm, độ ẩm không khí trung bình 81%

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Điều kiện kinh kế

Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực Đông Bắc hay cả vùng Trung du và miền núi phía bắc Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 và hiện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô

Hà Nội, một trung tâm kinh tế đang lên của miền Bắc GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất công nghiệp lần lượt đứng thứ 3 và thứ 4 trong 10

Trang 11

tỉnh thuộc vùng thủ đô Có tổ hợp Samsung, tài nguyên khoáng sản phong phú

có trử lượng than lớn thứ 2 cả nước Giao thông đi lại thuận tiện cho giao thương buôn bán Là 1 trong 3 tỉnh có sản lượng gia cầm bán ra lớn nhất miền Bắc

* Điều kiện về văn hóa - xã hội

Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị cấp huyện trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 6 huyện, theo điều tra đến tháng 4/2019 dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.286.751 người, tổng dân số đo thi chiếm 31,9% (410.159) và tổng dân số nông thôn chiếm 68,1% (876.592) là nguồn nhân lực rồi dào nên rất thuận lợi cho việc đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

2.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh

lợn và gia cầm tăng theo hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô Bên cạnh chăn nuôi, xã đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp

Chăn nuôi gia cầm tại tỉnh đang đi theo hướng tập trung, quy mô lớn và theo mô hình công nghiệp, tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ chăn theo quy mô nhỏ

lẻ, phân tán, tập trung xen kẽ trong khu dân cư Nên vấn đề dịch bệnh xảy ra thường xuyên khó kiểm soát

2.1.3 Điều kiện của cơ sở vật chất của trại

Trang trại được xây dựng từ năm 2010, hiện nay cơ sở vật chất của trại đang dần xuống cấp

- Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh

- Trang trại gồm 1 dãy chuồng, với quy mô nuôi được 5000 gà/ lứa

- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, toàn bộ là sử dụng sức lao động của con người Máng uống nước tự động, dãy chuồng gồm

5 dãy máng ăn và 4 đường nước uống Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tấm lợp fibro xi măng có trải lớp bạt cách nhiệt dày 3 - 5cm để cách nhiệt

Trang 12

- Có 1 kho cám, 2 máy phát điện, có 6 quạt thông gió và 5 lò than

- Trong chuồng có 3 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi

- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan

- Hệ thống điện của trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện

- Diện tích chuồng trại là: 1190 m2

- Chuồng có chiều dài 85 m, chiều rộng 14 m

- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh khu vực trại

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại tổ chức như sau:

Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm:

01 sinh viên thực tập và 01 chủ trang trại

Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho sinh viên chỗ ở

và sinh hoạt theo gia đình chủ trại

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn

Trang 13

- Mầm bệnh tại các trang trại nuôi khép kín lây lan nhanh, dẫn đến khó kiểm soát

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Những hiểu biết về giống gà Mía

Trang trại chăn nuôi theo mô hình gia công cho công ty Japfa Các đàn

gà hướng thịt sử dụng giống Mía lai (mía Sơn Tây + JA57)

Gà trống Mía thân hình to, nặng, lông màu đỏ tiết, cơ ngực, đùi nở nang, mào cờ dựng, chất thịt thơm vị đậm ngọt, da giòn, săn chắc và ít mỡ dưới da

tỷ lệ thuận với những bước chạy thường ngày Chúng có khả năng tự kiếm ăn tốt, sức đề kháng cao

Khối lượng: Gà Mía Là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to và có ngoại

hình thô với mình ngắn, đùi to và thô, đi lại chậm Khối lượng cơ thể lúc mới

nở là 32g Lúc 4 tháng tuổi (giết thịt) bình quân con trống đạt 2,32 kg, con mái 1,9 kg, Gà 6 tháng tuổi con trống đạt 3,1 kg, con mái 2,4 kg Khi trưởng thành gà nặng 3 - 3,5 kg, gà trống đạt tới 5 kg, khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 –3 kg, còn con trống là 3,5 – 4 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 5 tháng

Màu sắc: Con trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông màu đen ở đuôi,

đùi, lườn, hai hàng lông cánh xanh biếc Con mái có lông màu vàng nhạt xen

kẽ long đen ở cánh đuôi, lông cổ có màu nâu Gà có mắt sâu, mào đơn, chân

có 3 hàng vảy, da đỏ sắc lông gà trống màu tía, ga mái màu nâu xám hoặc vàng Nói chung màu lông gà Mía tương đối thuần nhất Tốc độ mọc lông chậm, đến 15 tuần tuổi mới phủ kín lông ở gà trống

Trang 14

Đẻ trứng: Tuổi đẻ trứng của chúng khá muộn 7 - 8 tháng, sản lượng trứng

50 - 55 quả/mái/năm, khối lượng trứng 50 - 55 g Tỷ lệ trứng có phôi 88%; tỷ lệ

ấp nở 83%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần 98% Gà Mía có sản lượng trứng trung bình 70 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở đạt 70 - 75%, chúng có sức khoẻ tốt, thích hợp trong điều kiện chăn nuôi thả vườn nhưng tuổi đẻ muộn, sản lượng trứng thấp nên hiện nay gà Mía được nuôi theo hướng thịt

Thịt gà: Gà Mía có chất lượng thịt thơm, da giòn, mỡ dưới da ít, có vị

ngọt, đậm đà dai mềm thơm thịt, thịt chắc, màu trắng, da vàng ăn rất giòn, đậm ngọt Ngoài những chất albumin, chất béo, thịt gà còn có các vitamin A, B1, B2, C, E, a-xít, can-xi, phốt pho, sắt Hàm lượng protein và phức hợp của amino a-xít trong thịt gà có ảnh hưởng tích cực đến não bộ có tác dụng cải thiện huyết áp và nhịp tim Theo Đông Y, loại thịt này còn chữa băng huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, là loại thực phẩm bổ âm cho tỳ vị, bổ khí, huyết

và thận Đặc biệt, thịt gà có tác dụng bồi bổ cao cho người bị bệnh lâu ngày,

dạ dày bị phong hàn, suy yếu không hấp thu được thức ăn Ngoài bổ khí

huyết, thịt gà còn giúp trừ phong

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, (2001) [6])

Trang 15

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức

ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác

dụng tiêu hóa

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

* Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân

* Tiêu hóa ở dạ dày

Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5 Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzym và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên

Trang 16

Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua) Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều) Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: gà 11,3 ml còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn

* Tiêu hóa ở ruột

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic

và lypolytic và cả men enterokinaza

Dịch tụy là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )

Trang 17

Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza và lipaza

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác

động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein

phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosaccharide như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosaccharide chuẩn bị cho việc hấp thu

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật

có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như

đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà

Trần Thanh Vân và cs (2015) [18] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm:

lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí

Trang 18

- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước

- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở

mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở

gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh

- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài

- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng

xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài

- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi

Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí

Trang 19

- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [18], tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 – 40% Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới

370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Tần số hô hấp ở gà trưởng thành

là 25 - 45 lần/ phút Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút

Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính

Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo

Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%

Trang 20

Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng

hô hấp lớn nhất của gia cầm

Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3

Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21

cm3 (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [18]

2.2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

Năng lượng: gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4% Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn đẻ

Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 -25

% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 – 55 lần trong

6 tuần sau khi nở Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô

có nhiều protein

Trang 21

Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày Khi thời tiết ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước

gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường

Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm

+ Khoáng đa lượng: Trong cơ thể Ca chiếm 1,3 – 1,8% khối lượng cơ thể, P chiếm 0,8 – 1% khối lượng cơ thể

+ Khoáng vi lượng: các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine

và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm

Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như

Na, K… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm

trong cơ thể …

2.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau

Theo tài liệu của Chanbers J R (1990) [20] cho biết, thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ

Trang 22

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do yếu

tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Chanbers J R (1990) [20] cho biết, tương quan giữa khối lượng của gà

và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại

kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu

nhiệt đới (Wesh Bunr, 1992 [22])

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm

Trang 23

Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ

ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

2.2.1.6 Những hiểu biết về một số bệnh gặp tại cơ sở

* Đặc điểm của bệnh cầu trùng gà

Bệnh cầu trùng gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là một bệnh phổ biến trên khắp thế giới Nó được Luvenhuch phát hiện

từ năm 1632 tức là cách đây khoảng 383 năm và cùng thời gian các nhà nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [9])

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [8], thì bệnh cầu trùng gà do cầu trùng ký sinh gây ra thấy ở khắp các nước trên thế giới Đây là một bệnh khó kiểm soát, ngay cả những nước có trình độ khoa học kỹ thuật thú y phát triển cũng chịu nhiều tổn thất do cầu trùng gây ra Cầu trùng ký sinh gây tổn thương nghiêm trọng đường tiêu hóa, làm cho gà dễ chết Bệnh lây lan nhanh trong các đàn gà, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi tập chung, điều kiện vệ sinh thú y kém, công tác quản lý và chăn nuôi không đảm bảo Ở nước ta bệnh phổ biến ở khắp các tỉnh thành

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], thì bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên Bệnh cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5 - 7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Bệnh cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi công nghiệp mật độ cao

Trang 24

tỷ lệ chết từ 50 - 70 % Gà con sau khi bị mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ

* Sự nhiễm bệnh cầu trùng ở gà:

Bệnh cầu trùng là một bệnh phổ biến, bệnh có sức đề kháng cao đối với các tác động của điều kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, thiếu các biện pháp có hiệu lực chống sự xâm nhập của mầm bệnh, mầm bệnh

có khả năng tái sinh sản lại nhanh

Nguyên ngân gây bệnh:

Noãn nang cầu trùng ở trong đất có thể duy trì sức sống từ 4 - 9 tháng, có thể sống được 15 - 18 tháng ở sân, nơi râm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt

độ 22 - 300C chỉ mất 18 - 36 giờ cầu trùng phát triển thành những bào tử con Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu Khi ẩm độ 21 - 30 %, nhiệt độ 18 - 400C thì E tenella sẽ chết sau 1 - 5 ngày

Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh Noãn nang cầu trùng nhiễm vào thức ăn, nước uống, đất, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi trở thành nguồn lây nhiễm bệnh Các loài chim, gà, gia súc, động vật gặm nhấm, côn trùng, người… đều có thể là nguồn gieo rắc căn bệnh Người

ta đã nghiên cứu thấy khi ruồi có noãn nang vào tới ruột ruồi thì nó có thể duy trì sức gây bệnh trong 24 giờ

Khi nuôi dưỡng quản lí không tốt, sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển và gây bệnh mạnh Thức ăn thiếu sinh tố cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát ra rầm rộ Vì vậy, gà nuôi trong môi trường ẩm thấp, sân chơi quá nhỏ bé, thức ăn không tốt, điều kiện vệ sinh kém… là điều kiện thuận lợi làm cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan

Cầu trùng phát triển vào tất cả các mùa trong năm nhưng bệnh phát triển mạnh nhất vào mùa Xuân và mùa Hè Đặc biệt là những thời gian mưa nhiều,

ẩm độ cao (gà được nuôi ở vụ Hè - Thu bị ô nhiễm noãn nang cầu trùng ở chất độn chuồng cao hơn gà được nuôi ở vụ Đông - Xuân), (Trần Thanh Vân

Trang 25

và cs (2003) [17]) Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh kế phát, khi gặp điều kiên thuận lợi, Cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính hủy diệt Tỷ lệ chết

do cầu trùng có thể lên tới 100 % Ngoài ra bệnh còn làm giảm tốc độ sinh trưởng (12 - 30 %), gà giảm đẻ (20 - 40 %) sản lượng trứng

Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh vì sức đề kháng kém Trong đàn chỉ có một vài con nhiễm cầu trùng, nếu không phòng trị kịp thời thì chỉ sau vài ngày tỷ lệ nhiễm bệnh sẽ là rất cao và gây chết hàng loạt

Triệu chứng của bệnh:

Thể cấp tính: Bệnh diễn biến từ vài ngày đến 2 - 3 tuần, thường thấy ở

gà con Lúc đầu con vật lờ đờ, kém nhanh nhẹn, lông dựng đứng, ăn ít, phân dính ở lông quanh hậu môn Tiếp theo, do hàng loạt tế bào biểu mô ruột bị phá huỷ, cơ thể bị trúng độc nặng thêm, vận động không bình thường, mất thăng bằng, cánh gà bị tê liệt Gà uống nhiều nước, diều có nhiều dịch thể, bỏ

ăn hoàn toàn Thiếu máu, niêm mạc và mào nhợt nhạt, con vật gầy dần, phân loãng như nước có lẫn máu Giai đoạn cuối con vật bị tê liệt, rồi chết (tỷ lệ chết từ 50% trở lên) Tỷ lệ gà chết nhiều hay ít còn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc quản lý, thức ăn, sức đề kháng của con vật đối với cầu trùng, cường

độ nhiễm cầu trùng

Thể mạn tính: Thường thấy ở gà dò từ 4 - 6 tháng tuổi hoặc gà trưởng

thành Triệu chứng lâm sàng về cơ bản giống thể cấp tính nhưng không rõ và không điển hình Bệnh kéo dài từ vài tuần đến vài tháng Gà gầy còm dần, chân

và cánh bị tê liệt Sản lượng trứng giảm, thỉnh thoảng kiết lị, rất ít gà bị chết

Bệnh tích:

Xác gà gầy xơ xác, niêm mạc và mào nhợt nhạt, phân dính bết vào lông

ở xung quanh hậu môn Thường chất chứa trong ruột có lẫn máu Bệnh tích chủ yếu thấy ở ruột, các cơ quan khác không có bệnh tích rõ Mức độ và vị trí biến đổi ở ruột có liên quan tới loài cầu trùng ký sinh:

Trang 26

- E tenella: Bệnh tích chủ yếu ở manh tràng Ở xác gà bị bệnh cấp

tính thấy hai manh tràng sưng to, màu đen, cắt ra thấy xoang manh tràng chứa đầy cục máu hoặc trong chất chứa có lẫn máu màu nâu, niêm mạc manh tràng dày lên, hoại tử

- E necatrix: Bệnh tích chủ yếu ở đoạn giữa ruột non, ruột sưng to,

thành ruột dày lên, chất chứa ở ruột màu hồng nhạt hoặc màu xám, thỉnh thoảng có lẫn cục máu

- E hagani: Bệnh tích thấy ở tá tràng và phần trước ruột non Trên thành

ruột có những điểm xuất huyết to bằng đầu kim hoặc có những mảng xuất huyết tròn màu đỏ Niêm mạc bị viêm cata nặng và xuất huyết

Phòng bệnh:

Có nhiều loại thuốc điều trị và phòng bệnh cầu trùng cho gà Tuỳ theo từng cơ sở chăn nuôi mà chọn thuốc cho phù hợp Tránh tình trạng dùng một loại thuốc lâu ngày tạo ra quen thuốc và có thể gây ngộ độc cho gà

+ Thường xuyên vệ sinh chuồng trại: Không để nền chuồng ẩm ướt + Cho gà uống thuốc phòng bệnh cầu trùng từ 7 ngày tuổi: Gà uống thuốc phòng 2 ngày/ đợt, mỗi đợt cách nhau 3 ngày, liều phòng bằng một nửa liều điều trị

Bệnh hen gà CRD, do vi khuẩn Mycoplasma Gallicepticum (MG) gây

nên Bệnh thường gặp ở gà con, nặng nhất trong giai đoạn từ 3 tuần - 3 tháng tuổi Gà từ 3 tháng tuổi trở lên thường mắc ở thể mang trùng

Ngày đăng: 18/07/2020, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Brand H. và Biilchel H., (1978), Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm. (Nguyễn Chí Bảo dịch), Nxb khoa học và kỹ thuật, trang 7, 129-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm. (
Tác giả: Brand H. và Biilchel H
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
2. Nguyễn Lân Dũng, Đoàn Xuân Mượn, Nguyễn Phùng Tiến, Đặng Đức Trạch, Phạm Văn Ty, (1995), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật, Tập I. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Đoàn Xuân Mượn, Nguyễn Phùng Tiến, Đặng Đức Trạch, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
3. Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty, (2007), Vi sinh vật học, Nxb giáo dục, tr 44, 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
4. Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm, (2011), 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
5. Kolapxki N.A, Paskin P.I., (1980), Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông Nghiêp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm
Tác giả: Kolapxki N.A, Paskin P.I
Nhà XB: Nxb Nông Nghiêp
Năm: 1980
6. Hội chăn nuôi Việt Nam, (2001), Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 9 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Kim Lan, (2012), Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2012), Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2012
10. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp tr 109 - 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp tr 109 - 129
Năm: 2002
11. Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, (1998), Di truyền học tập tính, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học tập tính
Tác giả: Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
12. Orlow P.G.S., (1975), Bệnh gia cầm, Nxb Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Orlow P.G.S
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp
Năm: 1975
13. Hoàng Thạch, (1999), “Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, số 4, tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Hoàng Thạch
Năm: 1999
14. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
15. Hồ Thị Thuận (1985), “Điều tra và điều trị bệnh cầu trùng tại một số trại gà công nghiệp”, Tạp chí các công trình nghiên cứu khoa học, Trung tâm thú y Nam Bộ, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và điều trị bệnh cầu trùng tại một số trại gà công nghiệp”, "Tạp chí các công trình nghiên cứu khoa học, Trung tâm thú y Nam Bộ
Tác giả: Hồ Thị Thuận
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1985
16. Dương Công Thuận, (1995), Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình
Tác giả: Dương Công Thuận
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
17. Trần Thanh Vân, Lê Minh, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2003), “Ảnh hưởng của thuốc Anvicoc và Rigrcoccin đến tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà Lương Phượng và Sasso nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông - Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thuốc Anvicoc và Rigrcoccin đến tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà Lương Phượng và Sasso nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên”
Tác giả: Trần Thanh Vân, Lê Minh, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Năm: 2003
18. Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Nguyễn Duy Hoan (2015), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2015
19. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu, (2001), Bệnh gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2001
20. Chanbers J. R., (1990), Genetic of growth and meat production in chicken, Poultry breeding and genetics, R. D. Cawforded Elsevier Amsterdam – Holland, pp. 627 – 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic of growth and meat production in chicken
Tác giả: Chanbers J. R
Năm: 1990
21. Kojima A, Takahashi T, Kijima M, Ogikubo Y, Nishimura M, Nishimura S, Harasawa R, Tamura Y, (1997), Detection of Mycoplasma in avian live virus by polymerase chain reaction. Biologicals, 25 : 365 - 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Mycoplasma in avian live virus by polymerase chain reaction. Biologicals
Tác giả: Kojima A, Takahashi T, Kijima M, Ogikubo Y, Nishimura M, Nishimura S, Harasawa R, Tamura Y
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w