Với lí do mà mục đích như trên đề tài tập trung nghiên cứu về văn bản vàcâu trong văn bản, thực trạng vấn đề chữa lỗi câu trong bài làm của học sinh lớp 8 Trường THCS Quang Trung và thực
Trang 11 MỞ ĐẦU1.1 Lí do chọn đề tài.
Người Việt Nam ta có câu: "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp ViệtNam" để chỉ những khó khăn trong việc dạy và học phân môn Tiếng Việt Bởivậy việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường không chỉ có nhiệm vụ là dạy cho họcsinh nói đúng mà còn viết đúng, viết hay tiếng mẹ đẻ của mình Một trong cáckhâu để dạy học sinh viết tốt là hoạt động chữa lỗi của chính các em Chữa lỗicâu là một nhiệm vụ của giáo viên để nâng cao chất lượng diễn đạt cho học sinh.Tuy nhiên, việc chữa lỗi câu cho học sinh chưa thật sự được coi trọng trong nhàtrường hiện nay, cách chữa còn tùy tiện Giáo viên mới chỉ quan tâm đến chữalỗi của một câu đơn lẻ, độc lập chứ chưa chú ý chữa lỗi câu đặt trong đoạn văn,bài văn của học sinh Chính vì thế, việc chữa lỗi câu cho học sinh là một điều rấtđáng được quan tâm
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu của con người Công nghệ thông tincàng phát triển, ngôn ngữ càng phát huy được giá trị to lớn của mình Ngôn ngữviết càng trở nên quan trọng trong thời đại “số hóa” Thế nhưng ta đang gặp tìnhtrạng viết sai khá phổ biến trên sách báo và trên bài làm của học sinh Có thể dễdàng tìm thấy những cách diễn đạt sai ở nhiều tờ báo, cuốn sách xuất bản hằngngày Điều nguy hiểm là tần suất cách diễn đạt sai mà học sinh tiếp xúc hằngngày rất cao nên nhiều em, trong nhiều trường hợp, không thể xác định đượcđâu là diễn đạt đúng, đâu là diễn đạt sai
Vì vậy, cách dạy Tiếng Việt trong nhà trường hiện nay cần thay đổi Dạy vàhọc câu không dừng lại ở việc học các câu đơn lẻ, viết các câu độc lập mà phảiluôn gắn câu với văn bản, với yêu cầu của một hoạt động giao tiếp cụ thể Vấn
đề chữa lỗi câu cũng đòi hỏi phải đặt câu trong văn bản Chính vì vậy, chúng tôi
mạnh dạn chọn nội dung “Tổ chức chữa lỗi câu trong bài Tập làm văn cho học sinh lớp 8” làm đề tài áp dụng nghiên cứu SKKK.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
GS Cao Xuân Hạo đã khẳng định: “ Muốn biết một câu nào đó đúng haysai không thể không đặt nó trong ngữ cảnh và tình huống giao tiếp Những trithức cho phép người bản ngữ thấy trong hoàn cảnh nào thì người nào có thể nóinhư thế này mà không được nói như thế kia cũng là tri thức ngôn ngữ học vàkhông thể không được nói đến trong sách ngữ pháp” [1] Chỉ có chữa lỗi câu đặttrong mối quan hệ với các câu khác mới đảm bảo cho câu được chữa đúngkhông chỉ đúng ngữ pháp của một ngôn ngữ mà còn đúng với quy tắc của tưduy, của hoạt động giao tiếp Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mụcđích giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và ngày càng nâng cao chất lượngdiễn đạt của học sinh, nâng cao hiệu quả của việc dạy Tiếng Việt ở trường phổthông
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Với lí do mà mục đích như trên đề tài tập trung nghiên cứu về văn bản vàcâu trong văn bản, thực trạng vấn đề chữa lỗi câu trong bài làm của học sinh lớp
8 Trường THCS Quang Trung và thực tế giảng dạy về chữa lỗi câu trong nhàtrường; thực tế học tập rèn luyện kĩ năng diễn đạt,tâm lí nhận thức lỗi câu vàchữa lỗi câu ở học sinh; Những lỗi câu thường gặp để từ đó đưa ra những giải
Trang 2pháp và tổ chức cho học sinh chữa lỗi câu trong bài làm văn nhằm giúp học sinhnhận ra lỗi câu, biết cách sửa chữa, tự sửa chữa được lỗi câu, giúp học sinh linhhoạt hơn khi viết văn.
1.4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi có sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:
* Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
Đọc tài liệu nghiên cứu về cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt để xây dựng
cơ sở lí thuyết về câu Tiếng Việt và câu trong văn bản
* Pương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Bằng thực tế giảng dạy cụ thể, qua chấm bài và sửa chữa lỗi cho học sinhhai lớp 8A1 và 8A2 Trường THCS Quang Trung để có những số liệu cụ thể vàthực trạng mà chúng tôi có những thông tin cụ thể chính xác * Phương phápthống kê và xử lí số liệu
Sau khi khảo sát và thu thập thông tin chúng tôi tiến hành lập bảng và thống
kê các số liệu cụ thể để vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 32 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
a.Cơ sở ngôn ngữ học.
Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Nó là đơn vị phức tạp hiện đang tồn tạinhiều quan điểm khác nhau Theo ngữ pháp truyền thống, câu được các từ điểnTiếng Việt định nghĩa là “ Chuỗi lời nói có ngữ điệu, diễn đạt một ý trọnvẹn”[4]
Theo các tác giả của cuốn “ Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm: “ Câu làđơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, mộttình cảm và một cảm xúc”
Là một đơn vị ngôn ngữ, câu đã được nghiên cứu kĩ trên nhiều bình diện.Những tưởng thành tựu nghiên cứu về câu đã đạt đến sự thống nhất Nhưng,cùng với sự phát triển của xã hội, người ta càng thấy tính phức tạp của ngôn ngưnói chung và đơn vị câu nói riêng
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của ngữ pháp chức năng, câuđược nghiên cứu sâu hơn về mặt ngữ dụng Tuy còn nhiều quan niệm khácnhau, nhưng với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ lớn nhất trong tổ chức ngữpháp của một ngôn ngữ, các nhà khoa học đều thấy “câu” có một số đặc điểmchủ yếu sau đây:
- Câu có chức năng biểu hiện
- Câu có chức năng trao đổi, diễn đạt liên nhân
- Câu có chức năng tạo văn bản, diễn đạt cách tổ chức một thông điệp
Để thực hiện ba chức năng trên, câu có các kiểu cấu trúc riêng phù hợpvới cách tổ chức đặc thù riêng trong câu Mỗi cách tổ chức như vậy không trùnglặp với các chức năng khác
b Câu trong giao tiếp.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu giao tiếp đặc biệt Ngôn ngữ thực sự làngôn ngữ, khi và chỉ khi được sử dụng trong giao tiếp xã hội Trong giao tiếp,các đơn vị ngôn ngữ đều có những đặc trưng riêng Câu cũng vậy Câu khi giaotiếp chính là các phát ngôn Gọi là phát ngôn để phân biệt với khái niệm “câu”của ngữ pháp cấu trúc Điều này phản ánh tính “rất ít được quy phạm hoá về mặthình thức” của câu trong hoạt động giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp, câu chịu ảnh hưởng của các nhân tố chính sau:
- Nhân vật giao tiếp:
- Hoàn cảnh giao tiếp:
- Đích giao tiếp:
Câu (phát ngôn) trong giao tiếp nói năng hằng ngày rõ ràng là rất phongphú Tất cả sự “lệch chuẩn” của nó sẽ được người nhận, căn cứ vào hoàn cảnhgiao tiếp cụ thể, khôi phục, nắn sửa lại để xác định được đúng ý của người nói
Vì vậy, chúng ta thấy dạy học câu hiện nay phải và cần phải là dạy họccâu trong văn cảnh, trong mối quan hệ lời nói, dạy học câu trong văn bản Cáchtốt nhất để dạy cho học sinh viết câu có hiệu quả, vừa đúng về mặt ngữ pháp,vừa đúng về mặt ngữ nghĩa là dạy qua giao tiếp và bằng giao tiếp
Trang 4c Văn bản và câu trong văn bản.
Theo GS Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về văn bản: “Văn bản là mộtbiến thể dạng viết liên tục của ngôn bản thực hiện một hoặc một số đích nhấtđịnh nhằm vào những người tiếp nhận nhất định thường là không trực tiếp cómặt khi văn bản được sản sinh ra” [2]
Câu trong văn bản, do chịu tác động của các yếu tố nội dung, liên kết, tutừ… nên nó không phải lúc nào cũng đầy đủ các tiêu chí như câu độc lập:có khi
nó bị tỉnh lược chủ ngữ; có khi bị lược cả chủ ngữ và vị ngữ …
Điều này, có thể thấy xuất hiện nhiều vô kể trong các văn bản Nếu cáccâu đó không phải do các nhà văn viết ra thì chắc các thầy cô trong nhà trường
sẽ coi đó là các “câu thiếu ý”, “câu cụt ý”… Trần Ngọc Thêm có nhận xét đúng
“…tuy nhà trường có thể bắt học sinh viết những câu “tiêu chuẩn” nhưng lạihoàn toàn không thể bắt buộc các em chỉ nghe và đọc những câu “hợp chuẩn”.Kết quả là xảy ra một thực trạng nực cười: Có những “câu” hoàn toàn giốngnhau nhưng ở bài viết của học sinh thì bị thầy chê là “sai”, còn ở các nhà văn thìđược coi là “đúng”, thậm chí “hay” nữa!” [3]
Từ đó, khi bắt lỗi sai của học sinh cũng không thể tách riêng một cách cơhọc các yếu tố được Nguyên tắc khi xét lỗi của bài văn là phải đặt nó trongtương quan chỉnh thể của cả bài Điều này cứ ngỡ giáo viên nào cũng biết nhưngthực tế thì không phải vậy
Chương trình Ngữ văn THCS được thiết kế trên nguyên tắc tích hợp baphân môn: Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn Quan hệ giữa ba phân môn chưa baogiờ chặt chẽ như thế Kết quả học Ngữ văn thể hiện rõ nhất trong các bài viếtvăn Mỗi bài viết phải thể hiện được sự nắm chắc kiến thức văn học, hiểu và vậndụng tốt kiến thức ngôn ngữ và kĩ năng trình bày một văn bản theo đúng kiểubài Trong mối quan hệ ấy, một câu trong bài viết sai sẽ biểu hiện nhiều mức độsai khác nhau như: sai về kiến thức văn học, sai về cách đặt câu, về liên kết hoặc
về phong cách… Điều đó đặt ra cho người giáo viên khi chữa câu sai của họcsinh phải đồng thời chữa nhiều loại lỗi khác nhau
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
a SGK và vấn đề chữa lỗi câu trong bài làm văn cho học sinh.
Sách giáo khoa của chương trình đã coi trọng việc chữa lỗi cho học sinh từchữa lỗi dùng từ đến chữa lỗi đặt câu.( Ngữ văn 8 Tiết 122- Chữa lỗi diễn đạt-Lỗi lô-gíc)[5,6]
Ngoài các tiết có nội dung là chữa lỗi, chương trình hiện nay còn dành sốtiết rất đáng kể cho ôn tập, luyện tập Số lượng các tiết này nhiều hơn rất nhiều
so với chương trình và SGK trước đây
Số tiết trả bài nhiều đòi hỏi người giáo viên phải coi trọng tiết trả bài.Nhưng thực tế hiện nay không phải như vậy Do sách giáo khoa và sách giáoviên, chỉ định hướng mà không có hướng dẫn cụ thể cho từng loại bài cho nênnhiều giáo viên đã tuỳ hứng trong soạn tiết trả bài Vì vậy dẫn đến hiện tượnggiáo viên nhận xét chung chung, khen chê đại khái rồi trả bài và gọi điểm vào sổ.Đây là hiện tượng phổ biến trong các tiết trả bài ở các trường phổ thông hiệnnay Qua khảo sát từ giáo án Ngữ văn của đồng nghiệp dạy ở trường THCS,
Trang 5chúng tôi thấy tiết trả bài thường được soạn rất ngắn và hầu như không có nhữngđoạn văn hay, những đoạn văn cần chữa trong giáo án Ngay cả giáo án các tiếtchữa lỗi dùng từ và câu, hiện tượng giáo viên chỉ sử dụng một số ví dụ trong cácsách giáo khoa là chủ yếu Rất ít giáo viên có ý thức tìm tòi các ví dụ khác vàcàng hiếm những ví dụ được trích trong chính bài làm của học sinh Hơn nữa, ởnhiều em học sinh trong một bài làm mắc quá nhiều lỗi về câu về chính tả khiếngiáo viên có tâm lý ngại sửa, mất thời gian…
b Thực trạng lỗi câu trong diễn đạt hiện nay : Nhận thức của giáo viên THCS
về câu và lỗi câu:
- Việc nhận thức về câu của giáo viên THCS còn rất cứng nhắc
- Thực tế bản thân một số giáo viên trong quá trình viết cũng còn mắc lỗi về câu
- Khi xét câu đúng hay sai, một số giáo viên chỉ thuần tuý căn cứ vào cấu trúc ngữ pháp của câu mà không đặt câu vào văn bản
c Thực tế của việc giảng dạy về chữa lỗi câu trong nhà trường THCS.
Việc rèn luyện và sửa lỗi câu cho học sinh trong nhà trường hiện nay còntồn tại một vấn đề như đó là việc xem nhẹ khâu chấm và chữa bài cho học sinh.Nhiều giáo viên dành quá ít thời gian và tâm huyết cho việc chấm bài và chữa lỗitrong bài cho học sinh Trong khi chấm bài, một số thầy cô lại quá lệ thuộc vàocác câu mẫu, đoạn mẫu, bài mẫu
Trong các tiết chữa lỗi, học sinh cũng được chữa các lỗi nhưng là các lỗi dogiáo viên sử dụng trong sách hay trích dẫn trong sách vở Vì vậy, học sinh cũngđược chữa lỗi nhưng là các lỗi của ai đó chứ không phải của mình Cho nên họcsinh có thể chữa được lỗi nhưng không có ý thức phòng chống việc mắc lỗi Sẽ
là hiệu quả rất nhiều nếu học sinh được chữa lỗi của chính mình hoặc của chínhcác bạn mình Khắc phục những hạn chế ấy đòi hỏi một sự cải cách đồng bộ cảnội dung và phương pháp trong dạy bài chữa lỗi về câu
d Thực tế việc học tập rèn luyện kĩ năng diễn đạt của học sinh
Có một thực tế là một số các em học sinh THCS nói rất trôi chảy mạchlạc, kể một chuyện các em thấy cho các bạn mình nghe rất hấp dẫn Nhưng khiyêu cầu kể lại bằng văn viết thì các em lại rất lúng túng, diễn đạt lộn xộn, ngâyngô Vẫn biết rằng viết khác nói, nhưng hiện tượng trên cũng phản ánh việcthiếu được rèn luyện trong diễn đạt của học sinh THCS hiện nay
e Tâm lý của quá trình nhận thức lỗi câu và chữa lỗi.
Học sinh THCS là lứa tuổi phức tạp, các em có khát khao muốn làmngười lớn Vì thế, việc chỉ ra lỗi sẽ tác động rất lớn đến tâm lý của học sinh Đây
là điều rất quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải hết sức thận trọng khi chọnlỗi, phân tích và sửa lỗi Học sinh THCS không phải không có bản lĩnh để nhậnlỗi Nhưng việc chữa lỗi của một số thầy cô lại có sắc thái của sự mỉa mai, chìchiết nên gây tâm lý nặng nề cho học sinh
g Những lỗi câu thường gặp trong bài của học sinh.
Câu trong bài làm văn của học sinh bị đánh giá là sai có thể là do hai loại lỗi chính:
- Bản thân từng câu trong văn bản bị tổ chức sai
- Câu trong mối quan hệ với các câu khác bị tổ chức sai
Trang 6Vì vậy, khi xem xét đánh giá chữa lỗi về câu trong bài làm văn của họcsinh, chúng ta có thể lần lượt tìm hiểu từng loại lỗi này Loại chữa lỗi câu biệtlập đã được nghiên cứu tương đối nhiều, dưới đây, chúng tôi chỉ xin đi nhanh lạicác lỗi đó và chủ yếu tìm hiểu các loại lỗi trong bài làm văn của học sinh ở loạilỗi thứ hai, lỗi trong mối quan hệ với các câu khác của văn bản.
Tóm lại, các câu bị coi là lỗi khi các câu đó dù có đúng ngữ pháp nhưngkhông diễn đạt được đúng ý của người viết, không bảo đảm được tính mạch lạccủa văn bản Sẽ không coi là lỗi nếu câu đó khi tách riêng có thể không bảo đảmđúng chuẩn ngữ pháp nhưng đặt trong văn bản thì lại chấp nhận được Trên cơ
sở khảo sát các loại câu sai trong bài viết của học sinh, chúng tôi thấy các loạilỗi câu thường gặp của học sinh THCS là:
* Sai về cấu trúc ngữ pháp của câu: Đây là loại lỗi sai phổ biến nhất, chiếm tỉ
lệ lớn trong các loại câu sai mà học sinh thường mắc
- Sai do vi phạm nguyên tắc tỉnh lược thành phần câu
- Sai do thiếu nòng cốt câu
- Sai do thiếu vế câu
* Sai lôgíc giữa các câu, sai lôgíc giữa lời dẫn và lời trực tiếp.
- Sai do vi phạm trật tự giữa nội dung của các câu
- Sai lôgic giữa lời dẫn và lời trực tiếp
* Sai do không đảm bảo tính mạch lạc giữa các câu.
- Sai do câu lạc ý
- Sai do dùng từ liên kết không phù hợp
- Sai do thiếu từ liên kết
- Sai do dùng thừa từ ngữ liên kết
* Sai do không phù hợp phong cách văn bản.
- Sai do vi phạm chuẩn phong cách
- Sai do không phù hợp giọng điệu chung của văn bản
* Sai vì không phù hợp với tình huống giao tiếp.
- Sai nội dung ngữ nghĩa
- Sai quan hệ vai trong giao tiếp
- Sai do cách diễn đạt mơ hồ
Thực trạng này có ở một số trường THCS trong huyện Ngọc Lặc nói chung
và trường THCS Quang Trung nói riêng Chính vì vậy, những năm trước đâyviệc chữa lỗi câu trong bài tập làm văn cho học sinh đạt hiệu quả chưa cao
Số lượng học sinh biết sửa lỗi và làm lại bài của mình không nhiều, nhiềuhọc sinh nhận ra lỗi nhờ sự hướng dẫn của thầy cô nhưng lại không biết sửahoặc cố tình không sửa do lười nhác, hoặc tâm lí ngại làm văn
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm qua bài làm của học sinh lớp 8A1 và8A2 ở trường THCS Quang Trung năm học 2016-2017 theo hình thức cũ trongtiết trả bài tập làm văn như sau:
Trang 7Điểm Điểm 1 - 2 Điểm 3 - 4 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm
tế địa phương, ta thấy do một số nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất là do nhucầu của các bậc phụ huynh là chỉ cần con học tốt các môn tự nhiên; Thứ hai là
do các em ngại học văn (rất ngại viết văn) dẫn đến tâm lí chây lười trong họctập; thứ ba là do một số giáo viên dạy văn cũng không còn nhiều nhiệt huyết vớimôn văn; thứ tư là trong những tiết trả bài Ngữ văn một số thầy cô chưa thực sựdành thời gian tâm sức chữa lỗi sai cho các em, chưa kịp thời động viên, khích
lệ, uấn nắn câu từ cho các em…
Từ thực trạng trên, xét thấy tầm quan trọng của việc chữa lỗi câu cho họcsinh, với sự kiểm nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, tôi mạnh dạn
trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ về việc “Tổ chức chữa lỗi câu trong bài Tập làm văn cho học sinh lớp 8”.
2.3.CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Khi xem xét lỗi câu, ta phải xem xét câu với tư cách là một đơn vị cấu thành của văn bản Nghĩa là đặt nó trong hệ thống đơn vị lớn hơn nó là văn bản
Có như vậy, ta mới có thể đánh giá câu một cách chính xác trong chức năng hành chức của nó Ngoài ra, khi xét lỗi, cần phải quan tâm đến mối quan hệ củacâu với các nhân tố giao tiếp và phong cách của từng loại văn bản
Từ góc độ văn bản để nhìn nhận và đánh giá lỗi câu, ta sẽ dễ dàng lí giảiđược những trường hợp câu được tạo ra hoàn toàn đúng với quy tắc ngữ pháp,
có nghĩa, nhưng lại không thể tồn tại ở một vị trí nào đó trong văn bản vì nókhông có giá trị thông báo hoặc phá vỡ tính liên kết của văn bản Và ngược lại,
có những câu tách khỏi văn bản thì không bảo đảm chuẩn ngữ pháp nhưng ởtrong văn bản thì hoàn toàn chấp nhận được Hơn nữa, đứng ở góc độ văn bản
để xét lỗi, ta sẽ dễ dàng nhận ra ý đồ của người viết muốn thể hiện trong câu lỗi,
từ đó, ta mới có cách sửa lỗi hợp lý, chính xác, đúng với ý của người viết Đểlàm sáng tỏ vấn đề, ta đi vào tìm hiểu một số quan điểm và giải pháp tổ chứcthực hiện
a Quan điểm chữa lỗi câu trong bài văn của học sinh.
Trước đây, khi xét lỗi câu, chúng ta vẫn thường quan tâm nhiều về mặtcấu trúc ngữ pháp Khuynh hướng này chỉ chú ý xem xét những câu đơn lẻ,những câu đã được tách ra khỏi văn bản Trên cơ sở phân tích cấu trúc ngữpháp, người ta chỉ ra lỗi sai của các câu đó Cách chữa lỗi câu ở các câu độc lập
Trang 8như vậy không phải là không có giá trị trong dạy tiếng nhưng như Nguyễn MaiHồng trong bài viết “Mối quan hệ giữa ý và lời trong quá tình hình thành một sốkiểu câu sai của học sinh” đã đánh giá “ Việc phân tích cấu trúc nội bộ của từngcâu sai riêng lẻ là việc làm đầu tiên, không thể thiếu được Song nếu chỉ chú ýcâu sai trong khuôn khổ một câu riêng lẻ, chúng ta sẽ bị hạn chế tầm nhìn và đitới việc phân tích nguyên nhân không đầy đủ, đề ra cách chữa không sát hợp”.
Vì vậy, khi tổ chức chữa câu sai cho học sinh, chúng tôi chú ý một số điểm sau:
* Lấy văn bản là cơ sở để xác định các câu sai
Khi nghiên cứu lỗi câu, bên cạnh việc xem xét lỗi câu trên phương diệnhướng nội (nội tại câu) phải xem xét câu trên phương diện hướng ngoại (quan hệcủa câu đó với các câu khác) Tức là khi xem xét lỗi câu, ta phải xem nó với tưcách là một đơn vị cấu thành của văn bản, đặt nó trong chỉnh thể văn bản
Từ góc độ văn bản để nhìn nhận và đánh giá lỗi câu, ta dễ dàng lí giảiđược những trường hợp câu được tạo ra hoàn toàn đúng với quy tắc ngữ pháp,
có nghĩa nhưng lại không thể tồn tại ở một vị trí nào đó trong văn bản Và ngượclại, có những câu tách khỏi văn bản thì chắc chắn là sai ngữ pháp, tối nghĩa,nhưng ở trong văn bản lại được chấp nhận
* Tập trung chữa các câu sai có tính phổ biến cao
Cũng từ góc độ văn bản, chúng ta thấy biểu hiện của lỗi câu rất đa dạng vàphức tạp Do rất nhiều ràng buộc, người giáo viên không thể tổ chức cho họcsinh chữa hết các loại lỗi câu có trong bài viết vì số lượng sẽ rất nhiều Vả lại, sẽkhông khoa học nếu tập trung vào chữa các lỗi có tính cá biệt Do đó, quan điểmcần được thống nhất là chỉ tập trung vào chữa các loại lỗi có tính phổ biến cao
* Tôn trọng ý của học sinh trong bài làm, tránh áp đặt chủ quan của người chữa
Một câu sai thường là có nhiều cách chữa Khi chữa câu độc lập, đơn lẻ, chúng ta có thể hướng học sinh đến nhiều cách chữa
Ví dụ: Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã cho ta thấy cả một xã hội điên đảo vì tiền, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức hoành hành, bọn quan lại hủ bại.
Với câu trên, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích và chấp nhận các cách chữa như:
- Bỏ từ “trong”: Câu đã chữa là: “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã cho tathấy cả một xã hội điên đảo vì tiền, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức hoành hành,bọn quan lại hủ bại
- Bỏ từ “của”: Câu đã chữa là: Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã cho tathấy cả một xã hội điên đảo vì tiền, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức hoành hành,bọn quan lại hủ bại.[7]
* Coi trọng tính chỉnh thể của văn bản
Đặt câu trong văn bản khi xét lỗi nghĩa là đặt câu trong chỉnh thể của vănbản Do đó khi xét câu sai phải xét đến nội dung của cả văn bản, đến văn phongcủa cả một kiểu bài chứ không phải chỉ xét nó trong phạm vi giữa các câu
Tuy thế, coi trọng nguyên tắc chỉnh thể của văn bản không có nghĩa là khichữa câu, người giáo viên phải trích dẫn cả bài Điều này không thể thực hiệnđược Nên cần hiểu nguyên tắc này một cách linh hoạt Từ thực tiễn giảng dạy ở
Trang 9cơ sở, chúng tôi thấy khi chữa câu cần trích dẫn đoạn có chứa câu sai Đoạntrích có thể dài hoặc ngắn nhưng phải bảo đảm cho việc học sinh nhận ra lỗi củacâu và chữa được câu đó cho đúng với tinh thần của văn bản.
b Mục đích của việc chữa lỗi câu trong bài làm văn.
* Để bài làm văn được đúng và hay hơn
Văn bản được định nghĩa đơn giản là một thể thống nhất trọn vẹn về nộidung và hoàn chỉnh về hình thức Có thể ví văn bản là một cơ thể sống còn câu
là các tế bào để làm nên cơ thể sống ấy Sẽ không thể có được một văn bản theođúng nghĩa của nó nếu có câu bị sai Đọc một văn bản hay nhưng vẫn còn lẫncâu sai chẳng khác gì ăn một bữa cơm ngon mà cắn phải hạt sạn Do đó, chữacác lỗi câu sẽ giúp cho bài làm văn được hoàn chỉnh
* Để học sinh nhận ra lỗi và biết cách chữa; từ đó, học sinh tự chữa được những câu sai trong bài văn của mình
Chữa câu sai và việc tổ chức cho học sinh tự chữa câu sai trong bài làmvăn không chỉ dừng lại ở mục đích để làm bài văn đó hay lên Thông thườngviệc chữa lỗi câu được thực hiện sau khi giáo viên đã chấm xong bài văn củahọc sinh Đối với học sinh, một bài văn khi viết xong nộp cho giáo viên là một
“tác phẩm” đã được nghiệm thu Cho nên, mục đích có giá trị của việc chữa câusai là giúp học sinh nhận ra các lỗi câu của chính mình Trên cơ sở nhận thức ấy,học sinh sẽ có ý thức tránh các cách diễn đạt sai khi viết văn trong những bàisau Đồng thời, cách chữa lỗi còn giúp học sinh hình thành thói quen phải xemlại bài viết, chữa lại các lỗi trước khi nộp bài
Quy trình tạo lập một văn bản bao gồm bốn bước: Tìm hiểu đề, tìm ý lập dàn ý- diễn đạt - đọc và sửa Nhưng học sinh rất hay bỏ qua bước thứ tư -bước đọc và sửa Chính việc tổ chức chữa lỗi câu sẽ nhắc nhở học sinh phải coitrọng bước này Và vì vậy, hình thành cho học sinh ý thức luôn luôn đọc lại vàsửa chữa các lỗi còn mắc của mình
-* Chữa lỗi câu giúp học sinh linh hoạt hơn trong khi viết văn
Việc tổ chức chữa lỗi có quy trình, có các thao tác cụ thể của giáo viêncòn cung cấp cho học sinh cách chữa các lỗi đã mắc Đây là một kĩ năng quantrọng khi diễn đạt Nếu thực tế chứng minh rằng không thể ngay từ đầu đã viếtđược các câu hay thì kĩ năng biết sửa lại văn phải được coi là một kĩ năng cầnrèn cho học sinh Trước một câu văn sai hoặc chưa hay, giáo viên hướng dẫn đểhọc sinh phát hiện ra lỗi từ đó đưa ra các cách chữa khác nhau Qua các cáchchữa khác nhau đó, học sinh biết cùng một ý có thể có nhiều cách diễn đạt khácnhau Việc làm này sẽ gúp học sinh được linh hoạt khi viết bài
c Quy trình chữa lỗi câu.
* Chuẩn bị của người giáo viên.
+ Xác định và ghi lại các lỗi câu thường gặp của học sinh; phân tích và dự kiến các cách chữa khi chấm bài.
Tổ chức chữa lỗi cho học sinh đòi hỏi phần chuẩn bị của người giáo viênphải hết sức công phu Thậm chí có thể nói nó sẽ làm thay đổi quan niệm củangười giáo viên khi chấm bài của học sinh Thay vì chỉ đọc để định mức kết quả
và cho điểm, người giáo viên còn phải coi bài viết của học sinh như một nguồncung cấp ngữ liệu cho phần thiết kế giờ dạy của mình Muốn thế, người giáo
Trang 10viên buộc lòng phải đọc kĩ càng, phải đặt mình vào tư thế của học trò để cảm vàhiểu văn bản mà học sinh đã làm ra như một sản phẩm sáng tạo độc lập và duynhất.
Trong khi chấm bài, giáo viên phải đánh dấu và chép lại những đoạn văn
có chứa các lỗi câu của học sinh Và để các đoạn văn mình chép có thể dùngđược, người giáo viên phải sơ bộ phân tích qua các câu sai và hình thành ngaycác cách chữa phù hợp Tức là giáo viên phải đặt mình là ngưòi viết ra văn bản
để sau này có hướng chữa nhanh và thích hợp nhất
Ví dụ Dưới đây là một bài văn của em Trần Thị Nguyên ( Phụ lục 1) học sinh lớp 8A2 khi làm đề văn: Em hãy viết một bài văn giới thiệu về con trâu, một con vật gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam.
Bài làm
Từ lâu, con trâu- một con vật rất bình dị đã gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam Họ coi con trâu như người bạn, trâu giúp họ cày cấy, làm
ra hạt lúa, hạt gạo Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về con trâu Việt Nam.
Trâu là động vật thuộc lớp thú, màu da thường là màu đen với lớp lông mao bao phủ toàn thân Trâu có một cái đuôi dài, thường xuyên phe phẩy như cái quạt của con người để đuổi ruồi và muỗi Hai tai dài cũng trợ giúp cho cái đuôi rất nhiều Tai trâu khá thính, nó giúp trâu nghe được những tiếng động xung quanh Trâu tự vệ, chống lại kẻ thù bằng cách húc bằng đôi sừng to, khoẻ Sừng trâu còn được dùng làm tù và để thổi trong các lễ hội Trâu có một hàm răng Người xưa giải thích rằng vì mải cười con hổ ngu ngốc mà trâu bị gãy hết răng hàm trên do đập vào tảng đá Nếu ta để ý sẽ thấy rằng, mỗi khi ăn cỏ trâu
ăn rất nhanh, thạm chí chỉ nuốt chứ không nhai Thế thì làm sao tiêu hoá được? Thì ra trâu thuộc động vật nhai lại Khi ra đồng làm việc, trâu gặm nhanh mấy nắm cỏ rồi còn đi làm việc mà không cần nhai Cỏ này trôi xuống dạ dày nhưng chưa tiêu hoá ngay mà được để lại ở dạ cỏ (dạ dày của trâu chia làm 4 ngăn), khi hết ngày về nghỉ ngơi, trâu lại ợ cỏ ra nhai lại, lúc này cỏ mới thực sự được tiêu hoá Vì vậy khi trâu nghỉ ngơi ta vẫn thấy trâu nhai đều mà không thấy gặm cỏ Đặc điểm này rất phù hợp với tính chăm chỉ, cần cù của trâu Trâu có những đặc tính thật gần gũi với người nông dân Việt Nam Trâu mỗi năm chỉ đẻ
từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con Trâu nuôi con bằng sữa tiết ra từ tuyến vú Trâu con gọi là nghé, khi mới sinh ra khoảng vài giờ đến một ngày, nghé đã có thể đứng thẳng, vài hôm sau có thể mở mắt, đi lại theo mẹ Nghé lớn rất nhanh, nghé chưa có sừng, lớn lên sừng mới nhú dần ra nhưng các bộ phận bên goài chẳng khác gì trâu mẹ Trâu thường hay mắc một bệnh gọi là chướng khí vào mùa xuân, do mùa đông ăn toàn cỏ khô nên mùa xuân được thả trên đồng cỏ trâu ăn thật lực, cỏ non xanh nhiều nhựa và sương đêm càng kích thích sự thèm
ăn của trâu, nhưng càng ăn nhiều, nhựa cỏ và sương vào dạ dày gây chướng khí, khiến bụng trâu phình to, nếu không cấp cứu kịp thời, trâu sẽ chết Vì vậy, khi gần đến mùa xuân nên cho một ít cỏ tươi vào khẩu phần ăn của trâu để dạ dày trâu quen dần Trâu là động vật rất có ích, là người bạn của nông dân,
“con trâu đi trước cái cày theo sau” Trâu giúp con người rất nhiều Ngoài việc cày bừa hằng ngày trâu còn xuất hiện trong các lễ hội truyền thống “Chọi trâu”- một nét đẹp văn hoá của dân tộc ta Con người cũng rất gắn bó với trâu,
Trang 11ở nông thôn, hầu như nhà nào cũng phải có một, hai con trâu, trẻ con thường đi chăn trâu, lúc đó để trâu ăn cỏ, bọn trẻ rủ nhau chơi biết bao trò vui, hay chúng thi cưỡi trâu vượt sông Hình ảnh cậu bé thổi sáo trên lưng trâu, thả diều trên lưng trâu đã đi vào các bức tranh truyền thống dân tộc Trâu từ lâu đã trở thành người bạn gắn bó với con người đặc biệt là với người nông dân.
Trâu tuy là con vật nhưng rất gắn bó với con người Qua con trâu ta thấy được sự chăm chỉ cần cù, chịu thương chịu khó của người Việt Nam Chúng ta phải yêu quý, chăm sóc trâu vì nó có ích cho nhà nông, mà còn để gìn giữ nét đẹp văn hoá truyền thống của cha ông ta.
Phục vụ cho việc chữa lỗi diễn đạt, người giáo viên sẽ ghi ra được các câu, đoạn văn có chứa những câu sai
Cụ thể, với bài trên, giáo viên sẽ ghi được:
(1)- Sử dụng sai dấu ngăn cách các thành phần trạng ngữ với chủ ngữ, ngăn cách thành phần chú thích:
Từ lâu, con trâu- một con vật rất bình dị đã gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam.
Qua con trâu ta thấy được sự chăm chỉ cần cù, chịu thương chịu khó của người Việt Nam.
(2)- Câu sai vì thiếu bộ phận nòng cốt câu:
“Chọi trâu”- một nét đẹp văn hoá của dân tộc ta.
(3)- Câu sai vì nội dung không đúng thực tế:
Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con.
Trâu con gọi là nghé, khi mới sinh ra khoảng vài giờ đến một ngày, nghé
đã có thể đứng thẳng, vài hôm sau có thể mở mắt, đi lại theo mẹ.
(4)- Câu văn chưa gọn, ý chưa rõ
Con người cũng rất gắn bó với trâu, ở nông thôn, hầu như nhà nào cũng phải có một, hai con trâu, trẻ con thường đi chăn trâu, lúc đó để trâu ăn cỏ, bọn trẻ rủ nhau chơi biết bao trò vui, hay chúng thi cưỡi trâu vượt sông.
(5) Sai vì sự liên kết, dùng từ liên kết trong câu không hợp lý:
Chúng ta phải yêu quý, chăm sóc trâu vì nó có ích cho nhà nông, mà còn
để gìn giữ nét đẹp văn hoá truyền thống của cha ông ta.
(6)-Văn bản chưa tách đoạn (Phần thân bài gộp lại một đoạn là chưa biếttách đoạn phần thân bài)
Để có ngữ liệu rèn luyện kĩ năng viết câu trong văn bản thông qua việcchữa lỗi câu, giáo viên cần đánh dấu hoặc ghi lại những đoạn có chứa lỗi sai cótrong bài văn như:
(a) “Từ lâu, con trâu- một con vật rất bình dị đã gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam Họ coi con trâu như người bạn, trâu giúp họ cày cấy, làm ra hạt lúa, hạt gạo Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về con trâu Việt Nam”.
(b) “ Trâu có một cái đuôi dài, thường xuyên phe phẩy như cái quạt của con người để đuổi ruồi và muỗi Hai tai dài cũng trợ giúp cho cái đuôi rất nhiều Tai trâu khá thính, nó giúp trâu nghe được những tiếng động xung quanh Trâu tự vệ, chống lại kẻ thù bằng cách húc bằng đôi sừng to, khoẻ Sừng trâu còn được dùng làm tù và để thổi trong các lễ hội Trâu có một hàm răng.
Trang 12Người xưa giải thích rằng vì mải cười con hổ ngu ngốc mà trâu bị gãy hết răng hàm trên do đập vào tảng đá.”
(c) Trâu là động vật rất có ích, là người bạn của nông dân, “con trâu đi trước cái cày theo sau” Trâu giúp con người rất nhiều Ngoài việc cày bừa hằng ngày trâu còn xuất hiện trong các lễ hội truyền thống “Chọi trâu”- một nét đẹp văn hoá của dân tộc ta Con người cũng rất gắn bó với trâu, ở nông thôn, hầu như nhà nào cũng phải có một, hai con trâu, trẻ con thường đi chăn trâu, lúc đó để trâu ăn cỏ, bọn trẻ rủ nhau chơi biết bao trò vui, hay chúng thi cưỡi trâu vượt sông.[7]
* Cân đối lượng thời gian chữa các câu sai sao cho phù hợp với thời gian cho phép của một tiết trả bài khi thiết kế giáo án
Một tiết trả bài không cho phép giáo viên chữa được nhiều Thôngthường một tiết trả bài chỉ chữa được từ một đến hai đoạn Vì vậy, việc chọnđoạn nào, kiểu lỗi nào để chữa, người giáo viên phải cân nhắc, tránh tuỳ tiện
Đoạn văn chứa lỗi được đem ra chữa trong giờ trả bài có giá trị cần đápứng các yêu cầu sau:
- Đó phải là đoạn văn thể hiện được đặc trưng của kiểu bài Ví dụ đó là một bàivăn thuyết minh thì đoạn được chọn phải mang được đặc trưng của văn thuyếtminh
- Đó là đoạn văn trình bày được một ý cụ thể cần có trong bài văn mà học sinhphải viết Chỉ cần đọc lên là học sinh đã biết đoạn văn này giáo viên đã trích ởtrong bài viết của học sinh
- Đó là đoạn văn chứa câu sai mang tính phổ biến, học sinh mắc nhiều hoặc dễmắc phải Câu sai ấy có thể phân tích rõ ràng, chỉ ra được cách chữa cụ thể, giátrị của câu đúng sau khi chữa được nhìn nhận rõ ràng Có như vậy mới tránhđược việc chữa kiểu cảm tính, chung chung, có phần áp đặt mà chúng ta vẫnthường gặp trong giảng dạy ở THCS hiện nay
Ví dụ Sau khi đã ghi lại những câu văn, đoạn văn sai trong bài làm của họcsinh như ở trên, người giáo viên sẽ cân nhắc để chọn Thông thường, người giáoviên phải xác định:
- Những lỗi có thể học sinh tự chữa Đây là những lỗi dễ thấy, giáo viên chỉ cầnđánh dấu và phê bên lề là học sinh có thể nhận ra và sửa được Ví dụ như nhữnglỗi (1), (2), (3), (4), (5)
- Những lỗi khó nhận biết hơn, nhất là những lỗi có thể qua việc chữa rèn được cho học sinh kĩ năng diễn đạt văn bản thì cần tổ chức việc chữa trên lớp
Ví dụ như những lỗi (6)
- Nhưng không thể trong một giờ chữa được nhiều đoạn có lỗi Giáo viên phảichọn một vài lỗi tiêu biểu để chữa trên lớp, số còn lại hướng dẫn để học sinh tựchữa ở nhà Ví dụ trong các lỗi ở (6) có thể chữa trên lớp lỗi (a), (c) còn đoạn(b) gợi ý để học sinh tự làm ở nhà hoặc chữa trong các giờ ngoại khoá
+ Chọn một số lỗi sai điển hình cần thiết phải sửa để làm thành bài tập hướng dẫn học sinh phải sửa ở nhà
Thời lượng ở trên lớp rất hạn chế Để nâng cao hiệu quả của việc chữa lỗicâu, người giáo viên cần tạo cơ chế để khuyến khích học sinh tự chữa các lỗi cótrong bài làm của mình