KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là thay đổicách truyền thụ một chiều sang "
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “ BÀN TAY NẶN BỘT” VÀO DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5
Người thực hiện: Trần Thị Liên
Trang 3KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5
Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là thay đổicách truyền thụ một chiều sang "phương pháp dạy học tích cực" nhằm giúp học sinhphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tựhọc, tinh thần hợp tác và khả năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khácnhau trong học tập vào thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui và hứng thú trong học tập Coihọc tập là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và sử lýthông tin, tự hình thành và chiếm lĩnh tri thức, từ đó trở thành con người tự tin, năngđộng, sáng tạo trong cuộc sống " Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tíchcực và thích hợp cho việc dạy môn khoa học lớp 5 nói chung và đặc biệt có hiệu quảkhi thực hiện dạy bài "Dung dịch" nói riêng Thật vậy phương pháp bàn tay nặn bột trútrọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm hiểu biết, tìm tòinghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộcsống thông qua việc tiến hành thí nghiệm, quan sát, Học sinh có thể đặt ra các câuhỏi, các giả thiết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu đểkiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,tổng hợp kiến thức và cũng chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiếnthức dưới sự giúp đỡ của giáo viên Hay nói cách khác: “ Bàn tay nặn bột” là mộtphương pháp dạy học được tổ chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoahọc Trên cơ sở vận dụng tất cả các giác quan của mình, kinh nghiệm, tri thức cũ vàtham gia làm thực nghiệm khoa học Như vậy, phương pháp "Bàn tay nặn bột" đề caovai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của HS, hình thành cho các em phương pháphọc tập đúng đắn Các em học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động Các
em sẽ tiến bộ dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn, trìnhbày quan điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ramôi trường học tập tích cực
Trang 4" Bàn tay nặn bột" là một phương pháp mới, mang lại hiệu quả rất cao trong quátrình dạy học Học sinh được tập làm các nhà khoa học tự mình nghiên cứu và chiếmlĩnh được các kiến thức, phương pháp này giúp các em ghi nhớ kiến thức lâu và sâuhơn, các em hiểu vấn đề rõ ràng hơn và không bị mơ hồ Song phương pháp này cònmới, việc vận dụng đối với giáo viên chưa quen, còn lúng túng, giáo viên chưa hiểu hếtphương pháp "Bàn tay nặn bột" và phương pháp này sử dụng hiệu quả trong môn nào,bài nào Ngoài ra việc vận dụng phương "Bàn tay nặn bột" vào dạy khoa học lớp 5 còngiúp bạn bè đồng nghiệp hiểu rõ về bản chất, cách thức dạy theo phương pháp "Bàntay nặn bột" để dần dần áp dụng rộng hơn với các môn học khác.
Vì vậy tôi chọn đề tài: Vận dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy mônkhoa học lớp 5 để khẳng định những kết quả đạt được khi vận dụng phương pháp "Bàntay nặn bột" vào dạy học, đồng thời góp thêm một chút kinh nghiệm khi vận dụngphương pháp này
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của phương pháp "Bàn tay nặn bột" là tạo nên tính tò mò, ham muốnkhám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thứckhoa học, phương pháp "Bàn tay nặn bột" còn chú ý đến việc rèn luyện các kĩ năngdiễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết của học sinh Phương pháp "Bàn tay nặn bột"cho thấy cách thức học tập của học sinh là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cậnvới thế giới xung quanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu tìm tòi Cáchoạt động nghiên cứu tìm tòi gợi ý cho học sinh tìm kiếm để rút ra các kiến thức choriêng mình, qua sự tương tác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phương án giảithích các hiện tượng Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp "Bàntay nặn bột" là một vấn đề cốt lõi, quan trọng Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tìnhhuống (Câu hỏi lớn), nêu giả thiết, nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hànhcác thí nghiệm nghiên cứu, đối chiếu các nhận định (giả thiết đặt ra ban đầu) Đốichiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác, nếu không phù hợp học sinhphải quay lại điểm xuất phát, tiến hành các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệmnhư các đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng, rút ra kết luận và giải thích cho cácvấn đề đặt ra ban đầu Trong quá trình này học sinh luôn luôn phải động não, trao đổivới các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.Con đường tìm ra kiến thức của học sinh cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra cáckiến thức mới của các nhà khoa học
Khi dạy bài "Dung dịch" sử dụng phương pháp dạy học theo kiểu "Bàn tay nặnbột" với mục đính làm cho học sinh tự mình chuẩn bị những đồ dùng cần thiết như:Cốc, nước, mì chính, muối, đường, dầu ăn sau đó tự mình dùng những chất đãchuẩn bị để tao ra những hỗn hợp theo ý muốn và các em tự mình quan sát kết quả vừatạo ra để nhận xét các hiện tượng sảy ra Dưới sự gợi ý của giáo viên thì học sinh sẽchiếm lĩnh được kiến thức về đặc điểm của dung dịch và điệu kiện để tạo ra một dungdịch một cách nhẹ nhàng mà được khắc sâu, nhớ lâu
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh khối 5 trường Tiểu học Điện Biên 1 Thành phố Thanh Hóa (Năm học
4
Trang 52015 - 2016)
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thí nghiệm, nghiên cứu
- Phương pháp kiểm chứng
- Phương pháp so sánh, thảo luận, quan sát
-Phương pháp điều tra khảo sát thực tế,
- Phương pháp thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp đọc tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học mà trong đó họcsinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số công cụ và những giác quan
để nghiên cứu tìm tòi, khám phá ra tri thức mới Tất cả suy nghĩ và kết quả được họcsinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" áp dụng hiệu quả nhất ở môn khoa học bởi vì:
"Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiêncứu, áp dụng giảng dạy cho các môn học tự nhiên Phương pháp này chú trọng tới việchình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các
em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuốc sống thông qua tiến hànhthí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc điều tra Với một vấn đề khoa học, họcsinh có thể đặt ra câu hỏi, giả thiết ban đầu, tiến hành thí nghiệm, nghiên cứu, kiểmchứng, phân tích, so sánh, thảo luận, và đưa ra kết luận phù hợp Phương pháp nàykích thích sự tò mò, ham mê khám phá của học sinh
Tầm quan trọng của thí nghiệm trong khoa học: Thí nghiệm trong khoa học đượcđưa ra để xác nhận hoặc bác bỏ giả thuyết hoặc một dự đoán lý thuyết nào đó Thínghiệm có thể mô phỏng bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu, minh họa những khái niệm củacác nguyên tắc và các định luật khoa học
Thí nghiệm khoa học nói chung là một thí nghiệm quy nạp, tức là nếu nhiều thínghiệm đều đưa về một kết quả thì một kết luận chung sẽ được đưa ra Trong tiến trìnhnày, thí nghiệm thường đưa ra những giả thuyết xa hơn và từ đó dẫn đến sự phát triểncủa khoa học, kiến thức và hiểu biết
Trang 6Trong quá trình làm thí nghiệm, học sinh được phát triển và thực hành những kĩnăng bằng tay khi tập trung làm chính xác thí nghiệm theo hướng dẫn, đặc biệt là đốivới những thí nghiệm có những thiết bị mới Trước đó, thí nghiệm phải được lên kếhoạch, do đó học sinh học được cách sắp xếp công việc một cách khoa học, cách phácthảo kế hoạch, cách thảo luận, làm việc nhóm những gì liên quan đến công việc chung( như: nguyên vật liệu và thời gian làm việc, ) Học sinh cũng học được cách miêu tảthí nghiệm Nhờ việc tiến hành thí nghiệm, học sinh có thể tự đem kiến thức nhất địnhđến cho mình.
2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
a) Thuận lợi
Giáo viên thường xuyên được tiếp thu các chuyên đề về các phương pháp dạy họcmới đặc biệt là phương pháp "Bàn tay nặn bột" do trường tổ chức Ngoài ra giáo viênthường xuyên dự giờ đồng nghiệp để trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau Trong các buổisinh hoạt chuyên môn, trường đều tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi tháo gỡ nhữngvướng mắc trong chuyên môn
Thư viện nhà trường có đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng trực quan cần thiết để phục vụcho việc dạy học môn khoa học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột"
Lớp được trang bị đầy đủ các thiết bị hỗ trợ dạy học hiện đại như máy chiếu, ti vi.Các em học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở bài tập, đồ dùng học tập phục vụcho môn học
Giáo viên hứng thú với việc tiếp cận những phương pháp mới vào dạy học và đặcbiệt là phương pháp "Bàn tay nặn bột"
a) Hạn chế
- Đối với giáo viên
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị và thực hiện.Giáo viên chưa thật sự mạnh dạn áp dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vàogiảng dạy
- Đối với học sinh
Một số học sinh thiếu sự chuẩn bị đồ dùng học tập cho tiết học và chưa tích cựctham gia các hoạt động trong giờ học khoa học
Khả năng tập trung của học sinh chưa cao, ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắcmắc và hầu như còn mơ hồ về biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các emđược tìm hiểu, sự lập luận còn kém, các kỹ năng kỹ xáo thực hành còn vụng về, lúngtúng
Khả năng ghi chép của các em chưa tốt, các em chưa có thói quen ghi lại những gì
mà các em quan sát được Việc xác lập mục đích quan sát và mục đích của thí nghiệmcòn kém
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
6
Trang 72.3.1 Chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy
Mục đích của giai đoạn này là định hướng cho một giờ lên lớp theo phương pháp
"Bàn tay nặn bột" Do đó, giáo viên phải tiến hành các hoạt động từ việc xác định mụctiêu, nội dung bài học đến việc lựa chọn tình huống xuất phát, chuẩn bị cơ sở vật chấtcần thiết cho bài dạy và đồng thời dự kiến những vấn đề nảy sinh và những khó khăntrong tiết dạy để có những biện pháp xử lý Giai đoạn này có ý nghĩa định hướng, vìvậy việc tổ chức cho học sinh học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" phụ thuộcnhiều vào giai đoạn này
Phương pháp "Bàn tay nặn bột", yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là: tạo tình huống
để học sinh phát hiện ra vấn đề trong bài học, từ đó để các em tự đưa ra các tình huốnggiải quyết vấn đề để đi đến kết quả, giúp tạo lập cho học sinh thói quen làm việc nhưcác nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo phát hiện, giải quyết vấn đề Mục tiêu nàyrất quan trọng bởi trong cuộc sống các em gặp rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết Vìvậy buộc giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài dạy Gắn kết chặt chẽ nội dung bài dạy vớinhững vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống hàng ngày và thực tế địa phương.Chuẩn bị bài chu đáo, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, lô - gic, trọng tâm, có kiếnthức thực tế, sâu rộng và các giải pháp liên hệ thực tế
+ Sự chuẩn bị của học sinh
- Học sinh cần chuẩn bị đủ đồ dùng học tập cá nhân hoặc chuẩn bị theo nhóm
- Tìm hiểu trước nội dung bài học thông qua việc đọc tài liệu và sách giáo khoa
+Sự chuẩn bị của giáo viên
- Ngay từ đầu năm, bản thân tôi đã lên kế hoạch và lập nhật kí dạy học theo
phương pháp "bàn tay nặn bột" với các bài cụ thể như sau:
Số Bài Tên bài dạy - Nội dung kiến thức áp dụng phương
5 27 Gốm xây dựng: Gạch, ngói - Tính chất của gạch, ngói
và tơ sợi nhân tạo
10 35 Sự chuyển thể của chất - Điều kiện để một số chất có thể
chuyển từ thể này sang thể khác
hỗn hợp
Trang 8- Cách tách các chất trong hỗn hợp
12 37 Dung dịch - Cách tạo ra một dung dịch, đặc điểm
của dung dịch
- Cách tách các chất trong dung dịch
13 38; 39 Sự biến đổi hóa học - Định nghĩa về sự biến đổi hóa học
- Phân biệt sự biến đổi hóa hoc, lí học
- Vai trò của nhiệt trong biến đổi hóahọc
14 40 Năng lượng - Các vật có biến đổi vị trí, hình dạng,
nhiệt độ nhờ có năng lượng
15 41 Năng lượng mặt trời - Tác dụng của năng lượng mặt trời
16 46 ;47 Lắp mạch điện đơn giản - Lắp được mạch điện thắp sáng đơn
giản
- Phát hiện vật dẫn điện hoặc cách
- Xác định mục tiêu bài học: Giáo viên cần phải xác định được những mục tiêu cơbản về kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được sau bài học Việc xác địnhđúng trọng tâm bài học thì việc tổ chức cho học sinh học tập theo quy trình sử dụngphương pháp "Bàn tay nặn bột" mới tiến hành đúng hướng và đạt kết quả tốt
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học: Từ mục tiêu bài học, giáo viên lựa chọn các vật liệu,
đồ dùng dạy học như: các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm, tài liệu cho phù hợp với trình
độ nhận thức của học sinh, điều kiện của nhà trường và của địa phương Đây là điềukiện thuận lợi để học sinh trực tiếp làm thí nghiệm trên đối tượng thật, tạo điều kiệncho các em phát huy tối đa các giác quan khác nhau tiếp xúc với đối tượng Từ đó hìnhthành biểu tượng đầy đủ về sự vật, hiện tượng trong tự nhiên Bên cạnh vật liệu, đồdùng dạy học được lựa chọn phải đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm Việc chuẩn
bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng Đối với phương pháp "Bàn taynặn bột", nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành dạy được
- Chuẩn bị hình thức dạy học: Có thể dạy trong, ngoài lớp học và dạy theo nhóm
- Chuẩn bị điều kiện dạy học: Trước khi dạy học giáo viên yêu cầu học sinh kê bànghế hình chữ U hoặc kê theo nhóm để thuận tiện cho học sinh làm thí nghiệm và họctheo nhóm
- Lập kế hoạch tổ chức học sinh học tập theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" Kếhoạch cần được thể hiện một cách chi tiết qua việc soạn giáo án Trong giáo án, cầnphân định rõ tiến trình của bài học bằng những hoạt động của giáo viên và học sinh,xác định mục đích, nội dung đánh giá, lựa chọn tình huống xuất phát Tình huống xuấtphát thường là một câu hỏi và cần đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở, phù hợp với mục tiêu bài học
và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, sao cho các em có khả năng giảiquyết
+ Có tác dụng khiêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suynghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết
+ Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang tính chất
8
Trang 9khái niệm mà các em chưa biết, đối với những câu hỏi khó giáo viên nên tìm từ ngữkhác thay thế sao cho vừa đảm bảo học sinh hiểu được mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa củanó.
+ Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm gì
- Việc lập kế hoạch tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp "Bàn tay nặnbột" có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy Nếu giáo viên chuẩn
bị chu đáo thì hoạt động dạy học trên lớp diễn ra suôn sẻ và hiệu quả hơn Kế hoạchcần được thể hiện một cách chi tiết qua việc soạn giáo án
2.3.2 Tổ chức tốt các bước dạy khi sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột"
Tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" là giai đoạnquan trọng nhất trong quy trình dạy học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" Giáoviên và học sinh tiến hành theo 5 bước sau đây:
Bước 1: Tình huống xuất phát và nêu vấn đề
Bước này là sự xuất phát, là sự khởi điểm của một tiết học, có tác dụng kích thích sự
tò mò,muốn tìm hiểu khám phá, gây hứng thú học tập, đồng thời đặt ra nhiệm vụ chohọc sinh dưới hình thức: Giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh đi tìm câu trả lời Bằngkhả năng phán đoán, suy luận cùng các việc huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm, các
cá nhân học sinh đưa ra những hiểu biết ban đầu của mình về vấn đề mà giáo viên đặt
ra Bước này nên để cho học sinh làm cá nhân vì những lý do sau đây:
- Đối với giáo viên:
+ Chuẩn bị tình huống xuất phát để tung ra cho học sinh
+ Biết được mức độ nhận thức của từng cá nhân để tác động đến từng đối tượng học sinh một cách thích hợp ngay trong tiết học
+ Kết hợp các giờ học trước và giờ học sau để làm phương tiện đánh giá sự tiến bộcủa từng học sinh
- Đối với học sinh
+ Học sinh nào cũng phải tiến hành suy nghĩ để ghi chép những hiểu biết của mình
về bài học rồi ghi những suy nghĩ đó vào vở thí nghiệm Những hiểu biết cá nhân cótác dụng làm cho các em ý thức được rằng cần phải tiến hành nghiên cứu để kiểm traxem đúng hay sai Đưa những hiểu biết của mình trước nhóm để xem các bạn đánh giánhư thế nào về ý kiến của mình, qua đó diễn ra sự tranh luận trong nhóm
+ Biểu tượng ban đầu giúp các em so sánh và đối chiếu với biểu tượng mới (biểutượng chuẩn) sau khi tiến hành nghiên cứu Biểu tượng ban đầu dù chỉ một phần rất ítnhưng cũng làm cho các em vui vì thấy rằng mình có đóng góp một phần trong bàihọc Vì vậy tạo cho các em hứng thú học tập hơn
Sau đây, tôi xin nêu ra một số câu hỏi nêu vấn đề như sau :
Khoa học 5 :
Trang 10+ Bài 40 : “Sự sinh sản của ruồi” - Hãy nêu hiểu biết của em về sự sinh sản củaruồi ?
+ Bài 8: "Vệ sinh tuổi dậy thì" - Chúng ta cần làm gì để vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì?
+ Bài 26: "Đá vôi" - Theo em đá vôi có những tính chất gì?
+ Bài 37: "Dung dịch" - Cho một ít muối vào nước thì hiện tượng gì sẽ sảy ra?
+ Bài 49 : “Sự sinh sản ở người” - Em bé được hình thành như thế nào ?
+ Bài 51: " Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa"- Em biết gì về nhị và nhụy của hoa ; hoa có cả nhị và nhụy ?
+ Bài 52: "Sự sinh sản của thực vật có hoa" - Em biết gì về sự thụ phấn, sự thụ tinh
? Sự hình thành hạt và quả của thực vật có hoa diễn ra như thế nào ?
+ Bài 53: "Cây con mọc lên từ hạt" - Cây đậu phộng mọc lên từ đâu ? Trong
hạt đậu có gì?
+ Bài 56: "Sự sinh sản của côn trùng"- Em biết gì về sự sinh sản của ruồi và gián,đặc điểm chung về sự sinh sản của hai con vật này là gì, biện pháp tiêu diệt chúng rasao ?
+ Bài 57: "Sự sinh sản của ếch": - Ếch đẻ trứng hay đẻ con? Nòng nọc sống ở đâu
? Khi lớn nòng nọc mọc chân nào trước, chân nào sau ? Ếch sống ở đâu ? Ếch khácnòng nọc ở điểm nào ?
+ Bài 58: "Sự sinh sản và nuôi con của chim" - So sánh, tìm ra sự khác nhau giữacác quả trứng ở hình 2 ? Bạn thấy bộ phận nào của con gà trong các hình 2b, 2c, 2d ?Theo bạn, quả trứng hình 2b và 2c, quả nào có thời gian ấp lâu hơn?
Yêu cầu học sinh suy nghĩ và ghi những dự đoán của mình hoặc của nhóm vàophiếu
Muốn đưa tình huống xuất phát gây hứng thú cho học sinh thì đòi hỏi người giáoviên phải lựa chọn thời điểm đưa ra tình huống phù hợp với tiết dạy (thường là đầu tiếthọc, sau khi giới thiệu bài, hoạt động) hoặc thông qua các trò chơi Giáo viên cần lựachọn câu hỏi phù hợp thường có nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống, phần đầu nộidung của câu hỏi thường thì các em đã biết qua kinh nghiệm thực tế còn phần sau các
em chưa biết hoặc biết nhưng chưa rõ Từ đó các em có nhu cầu khám phá, tò mò vàphải tìm mọi cách để biết
Ví dụ: Bài 53 "Cây con mọc lên từ hạt
Tình huống xuất phát: GV cho HS quan sát vật thực (cây đậu) và hỏi : Đây
là cây gì ? Cây đậu phộng mọc lên từ đâu ? Trong hạt đậu có gì ?
+ Bài 57: "Sự sinh sản của ếch":
10
Trang 11Tình huống xuất phát GV đưa câu hỏi gợi mở: Ếch đẻ trứng hay đẻ con? Nòng
nọc sống ở đâu ? Khi lớn nòng nọc mọc chân nào trước, chân nào sau ? Ếch sống ởđâu ? Ếch khác nòng nọc ở điểm nào ?
Bước 2: Quan điểm ban đầu của học sinh
Thảo luận nhóm để đưa ra giả thiết của nhóm
Biểu tượng ban đầu là quan niệm cá nhân riêng, mỗi em có thể trình bày bằng lờinói hay viết, vẽ ra giấy Rồi từ đó giao viên giúp học sinh phân tích những điểm giốngnhau và khác nhau cơ bản giữa các ý kiến, từ đó cho học sinh đặt câu hỏi cho sụ khácnhau đó
Sau khi học sinh đã đưa ra được giả thiết cá nhân, giáo viên cho các em tiến hànhthảo luận nhóm để thống nhất đưa ra giả thiết chung của nhóm Việc thảo luận nhómnhằm mục đích để cho tất cả các học sinh có cơ hội trình bày ý nghĩ của mình trướctập thể Từ đó biết được quan niệm của mỗi bạn như thế nào, giống hay khác vớisuy nghĩ của mình, tập thể nhóm đánh giá như thế nào về giải thiết mà mình đưa ra.Điều đó gây ra không khí tranh luận khoa học xung quanh vấn đề đồng ý hay khôngđồng ý về giả thiết của mỗi thành viên Các em học được cách bảo vệ quan điểm củamình trước tập thể và rèn luyện kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ nói Những lý do trên gópphần quan trọng trong việc làm cho các em thấy được sự cần thiết phải tiến hànhlàm thí nghiệm hay quan sát kiểm tra giả thiết Đồng thời có thể làm nảy sinh cácphương án thí nghiệm mới Điều này có ý nghĩa quan trọng cho bước kế tiếp
Nhóm 1: Muối tan đều trong nước và có vị mặn
Nhóm 2: Muối tan trong nước nhưng còn một ít ở đáy cốc
Nhóm 3: Muối tan trong nước và nước sẽ có màu hơi đục
Học sinh có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, trái ngược nhau tùy theo