SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁPHÒNG GD&ĐT THẠCH THÀNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠCH SKKN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠCH
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng việt
Trang 28 2.1.1 Vị trí vai trò của phân môn Luyện từ và câu 2
9 2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu 3
12 2.2.1 Thực trạng của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu 4Lớp 4 Trường tiểu học Thạch Quảng 2
18 2.3.2.2 Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu 8
19 2.3.2.3 Phân loại đối tượng học sinh để lựa chọn phương pháp dạy 9học phù hợp
20 2.3.2.4 Phân loại bài tập và giúp học sinh lớp 4 trường Tiểu học 9Thạch Quảng 2 làm tốt đối với mỗi dạng bài trong phân môn
Luyện từ và câu lớp 4
21 2.3.2.5 Giáo viên thực hiện tốt thông tư 22 trong đánh giá 15
22 2.3.2.6 Đề xuất với nhà trường tổ chức các buổi giao lưu, hoạt 16động ngoài giờ lên lớp
23 2.3.2.7 Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn khác và phụ 18huynh học sinh
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông của 54 dân tộc anh em trên đất nước ta.Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng người Việt Nam Trongcuộc sống, Tiếng Việt là vốn ngôn ngữ phát triển toàn diện nhất, có khả năng đápứng mọi nhu cầu về giao tiếp trong xã hội Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hìnhthành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt chính là góp phầnhình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa
Ở tường Tiểu học việc dạy cho các em biết Tiếng Việt, hiểu Tiếng Việt, biết
sử dụng Tiếng Việt và giỏi Tiếng Việt là vô cùng cần thiết đối với mỗi giáo viêntrực tiếp đứng lớp
Có thể nói môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học giúp học sinhbiết đọc thông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ nănggiao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Những kiến thức của môn TiếngViệt là tiền đề là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác Việc dạy vàhọc môn Tiếng Việt trong nhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp.Đặc biệt trong bộ môn Tiếng Việt là phân môn Luyện từ và câu có một vị trí rấtquan trọng, là chìa khoá mở ra kho tàng văn hoá trên mọi lĩnh vực đời sống xãhội của con người Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ cung cấpnhững kiến thức sơ giản về tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu (nói -viết), kĩ năng đọc cho học sinh Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 làgiúp học sinh:
- Một là: “Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu
biết sơ giản về từ và câu” [1]
- Hai là: “Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng
dấu câu.” [2]
- Ba là: “Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng và nói thành câu,
có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp” [3]
Trường Tiểu học Thạch Quảng 2 là một trường vùng cao trong huyện, họcsinh thuộc đồng bào dân tộc Mường chiếm gần 50% Qua thực tế dạy học Lớp 4nhiều năm liền, tôi thường nhận thấy tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em.Việc sử dụng vốn từ trong học tập và trong giao tiếp của các em còn nhiều hạnchế Các em gặp khó khăn để nắm được kiến thức khi giáo viên hướng dẫn vàcàng khó khắc sâu mạch kiến thức đó Không chuyển thành kĩ năng, kĩ xảo trongcuộc sống và trong giao tiếp Suy nghĩ, trăn trở “làm thế nào cho học sinh yêuthích Tiếng Việt, yêu thích phân môn Luyện từ và câu? Cần làm gì để các em cóthể hiểu và học tốt Luyện từ và câu?” Xuất phát từ nhận thức trên, trong quátrình dạy học tôi đã áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy họcphân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, kết quả chất lượng được tăng lên
rõ rệt Do đó tôi xin được chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ qua sáng kiến " Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trường Tiểu học Thạch Quảng 2"
Trang 41.3 Đối tượng nghiên cứu.
Với đề tài này tôi muốn tập trung nghiên cứu một số biện giúp học sinh lớp
4 trường Tiểu học Thạch Quảng 2 làm tốt một số dạng bài tập Luyện từ và câu
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận
1.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
1.4.3 Phương pháp thực nghiệm
1.4.4 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
1.4.5 Phương pháp phân tích đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Vị trí vai trò của phân môn Luyện từ và câu.
“Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầucho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ Các
kỹ năng cơ bản góp phần hình thình nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủnghĩa Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm của người công dân, chuẩn bịcho học sinh tiếp tục học THCS” [4]
Phân môn Luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí quan trọng trongchương trình Tiếng Việt lớp 4 Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, họcsinh đã được làm quen với lý thuyết của từ và câu Sau đó chương trình được mởrộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộcsống của các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp Chính vì vậy, dạyLuyện từ và câu có vị trí rất quan trọng, không có vốn từ đầy đủ thì không thểnắm được ngôn ngữ để biến nó thành một phương pháp giao tiếp Việc dạy từ vàcâu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện học tập phát triển toàndiện Khả năng giáo dục nhiều mặt của Luyện từ và câu là rất to lớn Nó có nhiềukhả năng để phát triển ngôn ngữ, tư duy logíc và các năng lực trí tuệ như trừutượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp và các phẩm chất đạo đức nhưtính cẩn thận, cần cù Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn có vai trò hướngdẫn cho học sinh kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học kháctrong tất cả các cấp học sau cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộcsống, bởi nó giúp học sinh có năng lực nói, viết đúng, chính xác Từ đó sử dụngTiếng Việt một cách thành thạo làm công cụ tư duy để học, giao tiếp và lao động.Ngoài ra, nội dung chương trình của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu họcđược xây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em
mở rộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một
Trang 5tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn Như vậy phân môn Luyện từ và câu có
vị trí quan trọng trong quá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh
2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu.
“Dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nóiriêng có nhiệm vụ cung cấp cho các em một số kiến thức cơ bản ban đầu và cầnthiết về từ, câu, các kiểu từ, các kiểu câu nhưng phải vừa sức đối với lứa tuổicác em Dạy Luyện từ và câu có nhiệm vụ trang bị cho học sinh một số hệ thốngkhái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và những quy luật của nó’’[5] Cụthể là Luyện từ và câu ở tiểu học giúp cho học sinh hiểu về cấu tạo của từ, kháiniệm về từ và câu Những kĩ năng mà học sinh cần đạt trong giờ Luyện từ và câu:Biết dùng từ, câu trong nói và viết, nói đúng, dễ hiểu và sử dụng các câu văn hay,nhận ra những từ và câu không đúng, không phù hợp để loại ra khỏi vốn từ, ngoài
ra học sinh còn nắm được văn hoá chuẩn của lời nói
Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu còn rèn cho học sinh khả năng tư duylogic cao, khả năng nhìn nhận đánh giá sự vật xung quanh chính xác và khả năngthẩm mĩ Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ và câu giúp học sinh mở rộng, pháttriển vốn từ (phong phú hoá vốn từ), nắm được nghĩa của từ (chính xác hoá vốntừ), quản lí phân loại vốn từ (hệ thống hoá vốn từ và luyện tập sử dụng từ), tíchcực hoá vốn từ
Qua phân môn Luyện từ và câu các em nắm được cấu tạo từ và mở rộng vốn
từ, giải nghĩa từ, nắm được các kiểu câu, các dấu câu (dấu chấm hỏi, dấu chấmthan, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn), biết cách sử dụng từ và câuphù hợp với ngữ cảnh và lời nói
2.1.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ tiểu học.
“Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phảnánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúngtrực tiếp tác động lên giác quan Tri giác giúp cho trẻ định hướng nhanh chóng vàchính xác hơn trong thế giới Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động mộtcách hợp lý Trong sự phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai tròrất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh, hướngdẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe” [6]
Ở lứa tuổi này trí tuệ của các em được phát triển nhờ sự đối hoại giữa chủ
thể với đối tượng và môi trường Vì ở lứa tuổi của các em: nghe thì quên, nhìn thì
nhớ, làm thì hiểu Vừa chơi, vừa học các em lại thấy thoải mái hơn, hiệu quả hơn.
Đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số còn được thể hiện ở tư duy ngônngữ, logíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể Hứng thú là một khâu quan trọng,
là một hiện tượng trong tâm lý đời sống mỗi người Hứng thú tạo điều kiện chocon người học tập lao động được tốt hơn Nhà văn M.Goóc ki nói "Thiên tài nảy
nở từ tình yêu đối với công việc" Việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn TiếngViệt - Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là một việc làm cần thiết
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Thực trạng của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 Trường tiểu học Thạch Quảng 2.
Trang 62.2.1.1 Đối với nhà trường:
Nhà trường luôn quan tâm về chất lượng giáo dục và các phong trào hoạtđộng thể dục thể thao, văn nghệ, kể chuyện Nhưng bên cạnh đó tôi còn nhậnthấy:
- Nhà trường chỉ đạo công tác chuyên môn xây dựng nội dung các buổi sinhhoạt chuyên môn còn chưa quan tâm đến phương pháp dạy phân môn Luyện từ
và câu Sinh hoạt tổ còn chưa có chuyên đề Luyện từ và câu lớp 4
- Chưa chú trọng xây dựng giờ dạy minh họa về phân môn Luyện từ và câu
để giáo viên được góp ý, xây dựng tiết dạy,trao đổi học hỏi đồng nghiệp
- Đối với môn tiếng Việt, ngoài các tiết dạy học ở buổi chính khóa, nhàtrường còn bố trí cho học sinh được học ở buổi hai (trong đó giáo viên dành 1tiếtcho Luyện từ và câu) Như vậy, thời gian còn hạn chế để học sinh thực hành ôntập thêm các bài tập và củng cố kiến thức về Luyện từ và câu
2.2.1.2 Đối với giáo viên:
- Hầu hết giáo viên chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phânmôn Luyện từ và câu nên chưa dành nhiều thời gian để nghiên cứu phân mônnày
- Thực tế khi giảng dạy nhiều giáo viên còn chưa nghiên cứu kỹ, sử dụngphương pháp dạy học chưa linh hoạt Phân môn Luyện từ và câu là phần kiếnthức khó nên giáo viên đôi khi còn lúng túng và gặp khó khăn trong khi hướngdẫn học sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập Đôi lúcgiáo viên còn máy móc, phụ thuộc vào SGV, vào đáp án, gợi ý Chưa linh hoạt sửdụng phương pháp trong dạy học phù hợp với đối tượng, phân chia thời lượngcòn không đảm bảo, hoạt động cô trò còn thiếu nhịp nhàng, mang tính hình thức
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hútlôi cuốn học sinh Giáo viên còn chưa thật sự quan tâm đến việc mở rộng vốn từ,phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú vềTiếng Việt
2.2.1.3 Đối với học sinh:
- Học sinh đa số là học sinh dân tộc thiểu số Mức độ hiểu sâu về từ ngữchưa có, chưa biết sử dụng từ hợp lí Thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ nhiều Vốnngôn ngữ còn hạn chế
- Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó việc nhận diệnphân loại, việc xác định câu, từ còn nhầm lẫn, xác định hướng làm bài lệch lạc.Học sinh chưa chú trọng khi học Luyện từ và câu, chưa hứng thú với phân mônnày Một số ít đối tượng học sinh ngại học phân môn này
- Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
- Học sinh thường nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động nên chưa áp dụng kiến thức đã học vào thực tế giao tiếp hằng ngày
2.2.2 Kết quả của thực trạng.
a Kết quả khảo sát như sau:
Từ thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn đề xuất với Ban giám hiệu nhà trườngxin được khảo sát chất lượng phân môn Luyện từ và câu khối lớp 4 gồm lớp 4A
và lớp 4B (trong đó lớp 4A trực tiếp tôi giảng dạy) được nhà trường nhất trí Tôi
Trang 7đã tiến hành cho hai lớp 4 làm bài khảo sát vào chiều thứ 6 ngày 23 tháng 9 năm
2016 (Đề bài có phụ lục kèm theo).
Kết quả thu được như sau:
b Các lỗi học sinh thường mắc ở mỗi dạng bài cụ thể:
Trong quá trình trực tiếp dạy Luyện từ và câu ở lớp 4A năm học 2016 -
2017 tôi đã thống kê được một số lỗi sai điển hình ở mỗi dạng bài như sau:
Bài của học sinh : Nguyễn Thị Hoài
Dạng 3: Bài tập xác định từ loại: danh từ, động từ, tính từ
Ngoài một số ít học sinh làm sai do không nắm được khái niệm về mỗi từloại thì học sinh còn thường làm sai do không phân biệt được các tiểu từ loại.(Danh từ: Danh từ chỉ người, chỉ vật, chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị)
Cụ thể lỗi điển hình của học sinh trong lớp:
Trang 8Bài của học sinh : Nguyễn Đình Thành Bài của học sinh : Bùi Thị Kim Ngân
Dạng 4: Bài tập xác định các kiểu câu.
Học sinh thường mắc về viết câu, sử dụng chấm câu chưa đúng, không sửdụng dấu chấm câu, chưa đọc kỹ đề bài, không hiểu yêu cầu, dẫn đến viết sai mụcđích câu Đây là hình ảnh lỗi sai điển hình cụ thể của học sinh lớp 4A
Bài của học sinh : Bùi Thị Kim Huệ Bài của học sinh : Bùi Thị Ngọc Mai
Bảng thống kê số lượng học sinh mắc lỗi ở lớp 4 A qua quá trình học với từng nội dung bài cụ thể : (Tổng số học sinh lớp 4A: 30 học
lỗi
Chưa biết đặt câu, đặt câu sai mục đích 9 30.0
Trang 9Xuất phát từ tình hình thực tế và tôi mong muốn thử nghiệm một số biệnpháp tổ chức giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4, nên đã đề xuất với Bangiám hiệu nhà trường xếp thời khóa biểu phân môn Luyện từ và câu của hai lớp4A và 4B lệch nhau Tạo đề kiện cho tôi có thời gian dự giờ, trao đổi với đồngnghiệp (giáo viên dạy lớp 4B) về phương pháp, hình thức dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 4
2.3 Các giải pháp tổ chức thực hiện
2.3.1 Các giải pháp thực hiện với học sinh lớp 4 A:
- Khơi gợi sự tò mò, nuôi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh
- Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu
- Phân loại đối tượng học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp
- Phân loại dạng bài và giúp học sinh lớp 4A trường Tiểu học Thạch Quảng
2 làm tốt đối với mỗi dạng bài trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
- Thực hiện tốt Thông tư 30 và Thông tư 22 sửa đổi, bổ sung Thông tư 30 vềđánh giá học sinh tiểu học
- Đề xuất cho nhà trường tổ chức các buổi giao lưu, hoạt động ngoài giờ lênlớp
- Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn và phụ huynh
2.3.2 Các biện pháp tổ chức thực hiện ở lớp 4A:
2.3.2.1 Khơi gợi sự tò mò, nuôi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.
- Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật trong quátrình dạy học của người giáo dục Tạo hấp dẫn cuốn hút học sinh vào hoạt độnghọc và nhất là môn Luyện từ và câu đòi hỏi giáo viên cần có phương pháp và tổchức phong phú Giảm bớt sự căng thẳng, nhàm chán
- Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, tôi luôn tạo được sự thoảimái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kìdiệu của ngôn từ, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em Vì vậy tôi luôn biếtgây hứng thú học tập cho học sinh sẽ làm cho các em thích thú học tập không còngây cảm giác khô khan, chán học Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài tôi sửdụng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau (Phương pháp trò chơi, phươngpháp động não, phương pháp hỏi đáp…) phù hợp với từng dạng bài
a Khơi gợi sự tò mò tạo hứng thú từ cách giới thiệu bài.
Để bắt đầu tiết học thật thoải mái tôi thường gợi mở, dẫn dắt cho các em vàovấn đề dễ nhất, hiệu quả nhất, vừa giúp các em nắm vững kiến thức cũng vừagiúp các em không áp dụng máy móc trong thực tế cuộc sống Tôi đã sử dụngphương pháp hỏi đáp ( Phương pháp nêu vấn đề) khi giới thiệu bài
Ví dụ: Bài Mở rộng vốn từ : Ý chí – Nghị lực ( TV 4- tuần 12- trang 118)
* Tổ chức thực hiện: Giáo viên giới thiệu bằng cách đặt câu hỏi:
- Đọc bài Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi, các em thấy Bạch Thái Bưởi làngười thế nào mà từ hai bàn tay trắng ông đã vượt qua khó khăn để trở thành
“anh hùng kinh tế”? ( Học sinh trả lời) Giáo viên hỏi tiếp:
- Vậy theo em Ý chí là gì?, thế nào là nghị lực (HS trả lời)
- Giáo viên giới thiệu: Để giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được nghĩa
và cách dùng các từ ngữ ở chủ điểm Ý chí – Nghị lực Hôm nay chúng ta sẽ mởrộng vốn từ theo chủ điểm này học sinh sẽ dễ dàng hình dung và hiểu được những
Trang 10người có lời nói, cử chỉ, việc làm…như Bạch Thái Bưởi trong câu chuyện làngười giàu ý chí, nghị lực.
b Khơi hứng thú, thu hút sự chú ý của các em trong thực hành làm bài tập Để thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức,
hướng dẫn làm bài tập tôi cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứngthú đối với học sinh
Trò chơi chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn Tạo cơ hội giao lưu, hợp tácvới bạn bè trong nhóm trong tổ Sử dụng trò chơi trong học tập sẽ đạt được hiệuquả hơn, làm thay đổi hình thức học tập Thông qua trò chơi không khí lớp họctrở nên thoải mái dễ chịu Học sinh tiếp thu bài tự nhiên nhẹ nhàng và hiệu quả
Ví dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Trung thực – Tự trọng, tôi tổ chức cho
học sinh chơi trò chơi "Tìm đúng, gắn nhanh" khi làm bài tập 3
(Tiếng việt 4 - tập 1 - trang 63)
* Cách làm lâu nay là: một số giáo viên vẫn thường áp dạng cách dạy máy
móc như sách giáo viên là cho học sinh làm việc cá nhân rồi kết luận
* Tôi đã thực hiện là: Từ mức độ kiến thức của bài tôi có thể tổ chức được
trò chơi Giúp học sinh có khả năng phân biệt nhanh, rèn tính nhanh nhẹn chínhxác, tạo khí thế cho các em Giáo viên cần chuẩn bị các tấm thẻ có ghi sẵn các từ
đã cho trong bài (trung bình, trung thành, trung nghĩa, trung thực, trung thu,
trung hậu, trung kiên, trung tâm.)
a Trung có nghĩa là “ở giữa” b Trung có nghĩa là “một lòng một dạ” ………… ………
………
- Hình thức tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 3 đội, mỗi đội có 5 em thamgia Thời gian: 3 phút Tôi cho các em từng đội nhận giấy bìa, trong thời gian 3phút các em đính các tấm thẻ đúng vào bảng phụ Hết thời gian đội nào phân biệtđúng nhất, nhanh nhất thì đội đó thắng cuộc
Tóm lại: Phân môn Luyện từ và câu được đánh giá là phân môn khó trong
môn Tiếng Việt nên việc gây hứng thú đối với học sinh là rất quan trọng Tuynhiên trong quá trình lên lớp giảng dạy mỗi giáo viên phải tổ chức tiết học theophương châm: “ Học mà chơi, chơi mà học” để tạo hứng thú đặc biệt đối với các
em nhưng chú ý không biến giờ học thành giờ chơi vô ích
2.3.2.2 Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu.
Cũng như tất cả các bài tập ở môn học khác, để làm được bài tốt, bước đầutiên các em phải làm là phân tích đề bài Giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu,nắm bắt yêu cầu đề ra Đọc kĩ đề sẽ giúp học sinh hiểu yêu cầu của đề bài Giúphọc sinh đọc, phân tích để nắm vững yêu cầu của bài tập Tổ chức bằng nhiềuhình thức tùy vào mỗi dạng bài có thể tổ chức nhóm, cá nhân
Trang 11Tìm câu kể Ai là gì? Trong các câu thơ sau Xác định vị ngữ của cầu vừa
tìm được (Tiếng việt 4 tập 2 – trang 62)
* Cách làm lâu nay là: Giáo viên cho học sinh đọc yêu đề bài và nêu yêu
cầu của bài rồi cho học sinh thực hành làm bài
* Tôi đã thực hiện là: Hướng dẫn các em xác định yêu cầu của bài sau khi
các em đã đọc yêu cầu bài Giáo viên nêu các câu hỏi giúp các em hiểu và xácđịnh cách làm
+ Em hãy đọc kĩ yêu cầu bài tập và cho biết bài tập yêu cầu gì? (Tìm câu kể
Ai là gì ? và Xác định vị ngữ của cầu vừa tìm được)
+ Muốn xác định được câu kể Ai là gì? Ta phải làm gì? (Đọc kỹ đoạn văn
và tìm dấu hiệu nhận biết mẫu câu Ai là gì?)
+ Để xác định được vị ngữ câu kể Ai là gì cầm làm gì? (Đặt câu hỏi và trả
lời câu hỏi là gì?…)
2.3.2.3 Phân loại đối tượng học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.
- Theo dõi, kiểm tra thường xuyên để tìm lỗi sai của học sinh
- Chia nhóm đối tượng theo lỗi sai cụ thể ở mỗi dạng bài.
T
1 Bùi Văn Huy Dùng từ sai Chưa phân biệt được từ loại.
2 Nguyễn Thị Hoài Chưa phân biệt được từ loại; từ láy, từ ghép
3 Bùi Thị Kim Ngân Chưa biết đặt câu.
4 Bùi Văn Chí Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy.
5 Nguyễn Đình Thành Chưa phân biệt được từ loại.
6 Vũ Lê Xuân Mạnh Chưa xác định được kiểu câu.
7 Bùi Thị Quỳnh Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy.
8 Bùi Thị Ngọc Mai Dùng từ sai Chưa biết đặt câu.
9 Bùi Thị Kim Huệ Dùng từ sai Chưa phân biệt được từ loại.
Thông qua đó để tìm ra phương pháp dạy học hợp lý cho từng dạng bài tập,cho từng đối tượng học sinh, giúp các em phần nào khắc phục tình trạng trên
2.3.2.4 Phân loại dạng bài và giúp học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thạch Quảng 2 làm tốt đối với mỗi dạng bài tập phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
Với mỗi loại bài đều có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau
Vì vậy để tiết học đạt hiệu quả cao giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chươngtrình, xác định các loại bài cụ thể trong phân môn để từ đó vận dụng các phươngpháp, hình thức dạy học phù hợp
Dạng 1: Bài tập mở rộng vốn từ.
Cơ sở của việc hệ thống hoá vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức conngười, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố rời rạc mà làmột hệ thống Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định giữacác từ này với từ khác có một nét gì chung khiến ta phải nhớ đến từ kia nên từđược tích luỹ nhanh chóng hơn Từ mới có thể được sử dụng trong lời nói và khi
sử dụng nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh nhanh chóng huy động lựa chọn từphù hợp với yêu cầu giao tiếp.[7]