1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về phật giáo nam tông khmer từ thực tiễn tỉnh cà mau

88 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các khái niệm như đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN đối với tôn giáo nói chung cũng như PGNT Khmer nói riêng đều hoạt động trên cơ sở tôn giáo như nhau và đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LIÊU HOÀNG PHIÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG

KHMER TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LIÊU HOÀNG PHIÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG

KHMER TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “ Quản lí Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer từ thực tiễn tỉnh Cà Mau”, đây là một công trình nghiên cứu của riêng

tôi, được sự hướng dẫn của TS ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH

Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, các kết luận khoa học của luận văn đảm bảo sự tin cậy chính xác và được trích dẫn đầy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội và giảng viên của Học viện đã tận tình truyền đạt, làm trang thiết bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trong suốt thời gian học tập Đây là những kiến thức quý báo giúp tôi trong quá trình hoạt động thực tiễn, cũng như hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô TS ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH là người tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Xin

chân thành cảm ơn tất cả các bạn học viên ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính, đợi I năm 2018 luôn động viên và giúp đỡ tôi suốt hai năm vừa qua

Xin cảm ơn các anh chị lãnh đạo các cơ quan ban ngành tỉnh Cà Mau đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có đủ tài liệu, văn kiện để viết luận văn tốt nghiệp

Với kiến thức còn hạn chế và khuyết điểm nhất định cá nhân tôi trong việc nghiên cứu viết luận văn thạc sĩ này, thì không thể không tránh khỏi thiếu xót Rất mong quý thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh luận văn của mình được hoàn thiện

Xin chân thành cảm ơn!

Cà Mau, ngày 10 tháng 3 năm 2020

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9 1.2 Đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer 13 1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer 17 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer 23

Kết luận chương 1: 29 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TẠI TỈNH CÀ MAU 30

2.1 Sự hình thành và phát triển Phật giáo Nam tông Khmer ở tỉnh Cà Mau 30 2.2 Thực tiễn quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Cà Mau 37 2.3 Đánh giá chung quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Cà Mau 47

Kết luận chương 2: 55

Trang 6

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM KHMER TỪ THỰC TIỄN TỈNH

CÀ MAU 57

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer 57

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông từ thực tiễn tỉnh Cà Mau 62

Kết luận chương 3: 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

QLNH: Quản lý Nhà nước

Hội ĐKSSYN: Hội đoàn kết sư sãi yêu nước GHPGVN: Giáo hội Phật giáo Việt Nam PGNT Khmer: Phật giáo Nam tông Khmer

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

UBND: Ủy ban Nhân dân

TNTG: Tín ngưỡng, Tôn giáo

MTTQ: Mặt trận tổ quốc

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của công tác tôn giáo Các quan điểm của Đảng về công tác tôn giáo qua các thời kỳ lịch sử đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong lĩnh vực phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, tôn giáo là một phần đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm linh, phong tục tập quán của dân tộc cộng đồng người, việc QLNN đối với tôn giáo nhằm đảm bảo hoạt động tôn giáo diễn ra đúng với quy định Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm

2016 và QLNN về hoạt động tôn giáo tại vùng, miền trong cả nước

Cà Mau là tỉnh tận cùng phía Nam của nước Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 5,294,87 km2, có 3 mặt tiếp giáp với biển, phía Bắc giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Bạc Liêu Với dân số 1.235.912 người, chủ yếu có 3 dân tộc sinh sống Kinh, Hoa, Khmer Cà Mau còn là tỉnh tập trung nhiều tôn giáo, có 6 tôn giáo gồm Phật giáo (có hai hệ phái, Bắc tông và Nam tông Khmer), Công giáo, Tin lành, Tịnh độ cư sĩ, Cao đài và Phật giáo Hòa hảo Việc QLNN và hướng dẫn các hoạt động của đồng bào tín đồ, chức sắc, nhà tu hành còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp Bằng kinh nghiệm và lòng tận tụy, yêu nghề các cán bộ làm công tác tôn giáo tỉnh đã không ngừng cố gắng, nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho, luôn lắng nghe tâm tư nguyện vọng của đồng bào có đạo, kết hợp với các cấp chính quyền tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bà con có đạo sinh hoạt quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng tạo được lòng tin trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo

Trang 9

Phật giáo nói chung trong đó có hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh

Cà Mau nói riêng, trong thời gian qua luôn tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cùng nhau hoạt động ổn định tuân thủ pháp luật, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước Tuy nhiên, trong những năm gần đầy hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer (PGNT Khmer) trong tỉnh Cà Mau đã có nhiều vấn

đề cần quan tâm như:

Thứ nhất, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) thống nhất,

nhưng vì PGNT Khmer đã có mặt trên vùng đất đồng bằng sông Cửa Long (ĐBSCL) khá sớm và có giáo lí, giáo luật riêng, PGNT Khmer đã có tổ chức bộ máy hành chính ở các tỉnh khác nhau gọi chung là Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh (Hội ĐKSSYN) vì vậy việc QLNN về Phật giáo không đồng bộ

Thứ hai, việc quản lý hành chính Nhà nước của từng cở sở chùa về việc bổ

nhiệm, bãi nhiệm trụ trì theo truyền thống nên một số chức sắc, nhà tu hành và tín đồ không nhất trí đã xảy ra mâu thuận nội bộ

Thứ ba, một số chức sắc, nhà tu hành PGNT Khmer sang biên giới các

nước trong khu vực tham gia lễ hội tôn giáo và học tập các lớp giáo lí trái phép, không tuân thủ quy định pháp luật của Nhà nước

Thư tư, một số trụ trì và tín đồ PGNT Khmer lợi dụng chức vụ, danh lợi

của chùa để hoạt động trái pháp luật, một số chức việc lấy danh Trưởng ban hay phó ban hoạt động riêng lẻ nhằm mục đích nắm toàn quyền việc chùa

Bên cạnh đó, việc công tác QLNN về PGNT Khmer trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng đúng mức, cán bộ, công chức làm công tác quản lý chưa hiểu hết tính

Trang 10

cấp thiết và tầm quan trọng của việc công tác QLNN về tâm tư nguyện vọng của chức sắc, nhà tu hành và tín đồ PGNT Khmer

Xuất phát từ tình hình thực tiễn tôn giáo tại địa bàn tỉnh Cà Mau, tôi chọn

đề tài “Quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer từ thực tiễn tỉnh Cà Mau” để thực hiện nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật học, ngành Luật Hiến Pháp

và Luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua đã có công trình nghiên cứu, nhiều bài viết liên quan đến pháp luật về tôn giáo nói chung và pháp luật về PGNT Khmer nói riêng trước khi có Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (TNTG) ra đời, với nhiều quan điểm khác nhau của từng tác giả Bên cạnh đó, có nhiều học viên cũng đã đăng kí đề tài cho luận văn của mình về QLNN đối với tôn giáo, trong đó có một số công trình nghiên cứu như:

- GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo

ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Luận cứ khoa học được đưa ra làm

cơ sở quản lý việc thực hiện chích sách tôn giáo, nghiên cứu đặc điểm và vai trò của tôn giáo Việt Nam trong đời sống hiện nay Đồng thời, đề cập đến một số vấn đề về chủ trương, chính sách pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước

- TS Đỗ Thị Kim Định (2013), Một số ý kiến về hoàn thiện pháp luật về

tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nhân lực khoa học xã hội số 1- 2013 Tác giả đã

nêu lên sự cần thiết việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo, quan điểm và nội dung hoàn thiện pháp luật về tôn giáo Những ý kiến đó đã góp phần cung cấp luận cứ

Trang 11

cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và đã ban hành Luật TNTG và được thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

- Phan Thuận (2014), Vai trò của PGNT Khmer đối với sự ổn định và phát

triển xã hội ở ĐBSCL hiện nay, tạp chí khoa học Trường đại học Cần Thơ

Tuyên truyền vận động nhà tu hành, tín đồ thực hiện tốt phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Xã hội chủ nghĩa”, tham gia phòng trào thi đua yêu nước, giữ gìn an ninh trật tự và góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Bên cạnh đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện đối với hoạt động PGNT Khmer

- TS Nguyễn Thị Thanh Dung (2018), Vài trò của PGNT Khmer trong

quản lý xung đột xã hội ở các tỉnh Tây nam bộ, tạp chí lý luận chính trị số

8-2018 Bài viết này tác giả đã nghiên cứu vấn đề giữ vững an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, sống “tốt đời, đẹp đạo”, cùng chung sức xây dựng địa phương giàu mạnh và đưa ra những vấn đề nảy sinh, nhằm có hướng giải pháp trong quản lý xung đột xã hội hiện nay

Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt động QLNN đối với tôn giáo, tập trung xây dựng và hoàn thiện làm rõ những vấn đề lý luận của hệ thống pháp luật về hoạt động tôn giáo Từ đó, tìm ra về mặt thực tiễn và

đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng của pháp luật về công tác hoạt động từng tôn giáo, trong đó có PGNT Khmer để thấy được những mặt ưu điểm, nhược điểm

và đề xuất phương hướng hoàn thiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 12

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN đối với tôn giáo nói chung và PGNT Khmer tại tỉnh Cà Mau nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhằm hoàn thiện pháp luật trong công tác QLNN về PGNT Khmer tỉnh Cà Mau

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ chính sau đây:

- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung của QLNN đối với PGNT Khmer, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về PGNT Khmer

- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về PGNT Khmer tại tỉnh Cà Mau; phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của việc hạn chế

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về PGNT Khmer

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về PGNT Khmer tại tỉnh

Cà Mau, những quy định chính sách pháp luật về tôn giáo đối với PGNT Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: tại địa bàn tỉnh Cà Mau

- Phạm vi thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu QLNN về PGNT Khmer trong phạm vị quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về TNTG Đồng thời, tập trung nhiên cứu các văn bản pháp luật từ

Trang 13

năm 2003 (từ khi Nghị quyết 25-NQ/TW, và Pháp lệch TNTG năm 2004) cho đến ngày nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng trên cơ sở lý luận chủ Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, những thành tựu của các triết học, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật về tôn giáo, các văn bản quy phạm pháp luật QLNN đối với tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh pháp luật cũng như kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương

Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích lý luận cơ bản QLNN về tôn giáo, tập trung phân tích hệ thống QLNN đối với PGNT Khmer, thu thập các thông tin, tài liệu có liên quan đến tài đề luận văn Qua đó, cho thấy việc QLNN đối với PGNT Khmer rất cần thiết, để triển khai thực hiện một cách toàn diện, đúng theo quy định của pháp luật

Chương 2: Sử dựng phương pháp phân tích, tổng hợp, khảo sát trực tiếp, thống kê, so sánh, diễn đạt Từ đó, đặt vấn đề cho các cơ quan ban ngành tỉnh Cà Mau, cần phải tập trung quan tâm hoạt động tôn giáo, tìm ra giải pháp khắc phục

Trang 14

hiệu quả một cách chính đáng đối với công tác QLNN về PGNT Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trên thực tiễn công tác QLNN đối với PGNT Khmer tỉnh Cà Mau

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả công trình nghiên cứu luận văn QLNN về tôn giáo cũng như PGNT Khmer mang tính toàn diện, đã có nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu từ trước đến nay Nhưng riêng công trình nghiên cứu về QLNN đối với PGNT Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ hoặc trên địa bàn tỉnh, thành phố chưa có công trình nào nghiên cứu tới Luận văn này nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu phục vụ cho cán bộ làm công tác QLNN trong lĩnh vực tôn giáo, có sự hiểu biết sâu rộng hơn về PGNT Khmer ở

khu vực Tây Nam Bộ

Luận văn này cũng có thể làm tài liệu tham khảo thiết thực đối với việc áp dụng QLNN đối với tôn giáo nói chung và QLNN đối với PGNT Khmer nói riêng, có được thông tin, luận điểm và đề xuất để đưa vào áp dụng trong công tác QLNN đối với tôn giáo tại tỉnh Cà Mau

Trang 15

Luận văn gồm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Cà Mau

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

về Phật giáo Nam tông Khmer từ thực tiễn tỉnh Cà Mau

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT

GIÁO NAM TÔNG KHMER 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm Phật giáo, Phật giáo Nam tông Khmer

Phật giáo ra đời từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ (nay thuộc lãnh thổ Nêpan) người sáng lập ra là Thái tử Tất-Đạt-Đa (Buddha) của Vương quốc dòng họ Thích Ca (Sakya), pháp hiệu là Thích Ca Mâu Ni, có nghĩa là “người giác ngộ” sau nhiều năm tu khổ hạnh để

tìm ra chân lí làm thế nào để con người thoát khỏi cạnh luân hồi “khổ - đau –

sinh – tử” và từ đó, ngài đã đắc đạo chánh quả, tự mình tìm ra được con đường

giải thoát vòng sinh tử luân hồi hướng đến niết bàn Sau 45 năm hành đạo, quá

độ chúng sanh đã có nhiều lời dạy của đức Phật được thế hệ đệ tử là Tăng, Ni đã ghi chép thành Kinh Tạng (Suttanta-pitaka), Luật Tạng (Vinaya-pitaka) dành cho giới tu sĩ và Phật tử, từ đó các vị đệ tử đã truyền đạo theo chân đức Phật mở rộng phạm vi các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Khái niệm về PGNT Khmer: Phật giáo được chia thành hai hệ phái lớn

trong đó là hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Theravada hay thường gọi là Nam truyền hoặc là Nam tông), và hệ phái Đại thừa (Mahayana hay thường gọi là Bắc tông) Phật giáo Nam tông đã có mặt rất sớm ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ IV trên vùng đất ĐBSCL, theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi qua con đường biển tới Srilanka, Mianma, Thái Lan tới vùng Mê Kông Campuchia

Trang 17

đồng tình đón nhận, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer, đã trở thành tôn giáo

chính thống của người Khmer, nên thường gọi là “PGNT Khmer” [40, tr 50]

Tính đến thời điểm này thì ngôi chùa PGNT Khmer đã có 462 chùa và trên 8.000 vị sư (giới xuất gia) Được tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và một

số tỉnh vùng Đông Nam Bộ [36]

PGNT Khmer cũng là một tôn giáo của đạo Phật Thích Ca Mâu Ni, triết

lý, giáo lý hành thiện tránh xa cái ác, cơ bản đều giống nhau với hệ phái khác

trong đạo Phật, tất cả đệ tử Phật đều hướng đến con đường Chân – Thiện – Mỹ,

để giải thoát hận thù, để gieo trồng hạnh phúc… PGNT Khmer nói riêng và Phật giáo Bắc tông nói chung, chỉ khác nhau về hệ phái trong đạo Phật, về giới luật, cách hành đạo, y phục và sự gắn kết khi Phật giáo hòa nhập vào từng vùng, miền, từng sắc tộc trên lãnh thổ Việt Nam để tu hành và việc xây dựng chùa, tịnh

xá phụ thuộc vào lối kiến trúc của dân tộc đó mà thôi

PGNT Khmer gắn liền tập quán truyền thống của người Khmer vùng ĐBSCL, mang đậm nét văn hóa của các nước Đông Nam Á, đặc biệt là văn hóa nước Campuchia, là một hệ phái được thống nhất các chùa Khmer ở địa phương

và các tỉnh Đông Nam bộ, nên thường gọi là “PGNT Khmer” đến ngày nay

Đặc biệt dân tộc Khmer luôn xem trọng chùa PGNT Khmer là nơi hoạt động văn hóa tâm linh Song ngôi chùa Khmer cũng là nơi để các nhà sư tu hành, thờ Phật mà còn là nơi trung tâm sinh hoạt văn hóa, thông qua các lễ hội truyền thống, các buổi nhà sư thuyết giảng giáo lý và nghi thức truyền thống mang đậm nét Phật giáo Nam truyền của người Khmer như: lễ Phật Đản, lễ Dâng Y

Trang 18

Kathina, lễ nhập hạ và gắn liền lễ hội truyền thống của dân tộc Khmer, tết Chôl Chnăm Thmây (tết nguyên đán), lễ Sen Đôlta (cúng ông bà hoặc gọi là lễ Vu Lan), lễ Ócc om bok (cúng trăng) Tất cả các lễ hội này đều gắn liền với các nghi thức của tôn giáo, trong ngày lễ người dân đều tập trung tại chùa tụng niệm cầu phúc và nghe nhà sư thuyết giảng, cầu mong cho quốc thái dân an Người Khmer

quan điểm rằng; “khi sống chùa là nơi gởi thân, khi chết chùa là nơi gởi cốt”, từ

khi lọt lòng mẹ cho đến ngày nhắm mắt, hình ảnh của ngôi chùa đượm mãi trong tâm hồn của mỗi người Khmer

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước, quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer

QLNN là hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong

đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa, quản lý xã hội là tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý và quy luật khách quan Có thể hiểu QLNN là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả cơ quan Nhà nước tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội

Như vậy, QLNN là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong

hệ thống hành pháp Theo đó, QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý xã hội đặc biệt của Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng chính sách pháp

Trang 19

sống kính tế, xã hội do cơ quan Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Từ các khái niệm như đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra khái niệm

về QLNN đối với tôn giáo nói chung cũng như PGNT Khmer nói riêng đều hoạt động trên cơ sở tôn giáo như nhau và được chia thành hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực Nhà nước (quyền Lập pháp,

Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh hướng các quá trình PGNT Khmer và hành vi hoạt động PGNT Khmer của tổ chức, cá nhân và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quá trình PGNT Khmer và mọi hành

vi hoạt động PGNT Khmer diễn ra theo quy định của pháp luật

Theo nghĩa hẹp: QLNN đối với PGNT Khmer là một dạng quản lý xã hội

mang tính chất Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động PGNT Khmer của tổ chức, cá nhân trong PGNT Khmer diễn ra theo quy định của pháp luật [25]

Như vậy, QLNN về PGNT Khmer có thể hiểu, các hoạt động tôn giáo đều chấp hành theo pháp luật, từ các tổ chức tôn giáo tập hợp những người cùng tin theo một hệ phái giáo lí, giáo luật, nghi lễ và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận, việc truyền bá, thực hành giáo lí, giáo luật, nghi lễ, quản lý tổ chức tôn giáo Có thể thấy, QLNN về hoạt động PGNT Khmer là một hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền thuộc Nhà nước quản lý nhằm bảo

Trang 20

đảm quyền tự do TNTG và quyền tự do theo hoặc không theo TNTG của nhân dân, hướng các hoạt động PGNT Khmer phục vụ lợi ích chính đáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam

1.2 Đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer

1.2.1 Đặc điểm quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer

PGNT Khmer là một tín ngưỡng truyền thống, có tính đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán riêng, nên ngôi chùa PGNT Khmer cũng là nơi thờ tự, thờ cúng ông bà tổ tiên, cũng là nơi tập trung sinh hoạt tôn giáo của nhân dân Vì vậy, việc QLNN về PGNT Khmer thể hiện qua những đặc điểm sau:

- Đặc điểm về chủ thể quản lý: chủ thể chính đó là chức năng QLNN đối

với hoạt động PGNT Khmer do cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan Nhà nước thuộc hệ thống hành pháp như: cấp trung ương có Ban tôn giáo Chính phủ, thuộc Bộ Nội vụ, cấp tỉnh được giao cho Ban tôn giáo, thuộc sở Nội vụ, cấp huyện, thành phố thuộc phòng nội vụ phân công hai đồng chí QLNN về tôn giáo, cấp xã được giao cho phó chủ tịch xã quản lý xã hội và kiêm quản lý tôn giáo Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác được Nhà nước trao quyền quản lý trong khu vực nhất định như; Mặt trận tổ quốc (MTTQ) các cấp để hoạt động một số tổ chức xã hội…

- Đặc điểm về khách thể quản lý: là những người đang theo một tổ chức

tôn giáo như: chức sắc, nhà tu hành và tín đồ PGNT Khmer

- Đặc điểm về phương pháp quản lý: phương pháp QLNN đối với PGNT

Khmer là phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động dân chúng

Trang 21

- Đặc điểm đối tượng quản lý: về hoạt động tôn giáo bao gồm tín đồ, nhà

tu hành, chức sắc và các tổ chức tôn giáo, là công dân Việt Nam, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành tôn giáo vừa mang những đặc điểm chung của người Việt Nam, đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo

- Đặc điểm của tín đồ PGNT Khmer: Tín đồ là những người tin theo

PGNT Khmer và được tổ chức tôn giáo thừa nhận Tín đồ là đồng bào dân tộc Khmer với số lượng theo PGNT Khmer khoảng 95% và được Nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền quyền tự do tín ngưỡng của công dân, thực hiện nhu cầu sinh hoạt tôn giáo Đây chính là đặc điểm quan trọng mà chủ thể QLNN đối với PGNT Khmer

Ở vùng Nam bộ đại đa số đồng bào tín đồ PGNT Khmer điều là nông dân

và nhân dân lao động, bản chất của người nông dân vốn dị là những con người cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc ngoại xâm và bọn bóc lột nhân dân Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhà sư và tín đồ người Khmer đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng bào có đạo luôn gắn bó với cách mạng Trong công cuộc đổi mới hiện nay, họ có nguyện vọng tha thiết là sống “tốt đời, đẹp đạo”, cùng toàn dân đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu xây dựng quê hương đất nước

- Đặc điểm của nhà tu hành, chức sắc PGNT Khmer: chức sắc, nhà tu

hành theo PGNT Khmer là những thanh niên được gia đình gửi vào chùa để tu học giáo lý, giáo luật, lèn luyện đức tính, họ là những người tình nguyện thực hiện cuộc sống gắn bó với chùa và nếp sống riêng theo tôn giáo của đức Phật mà mình tin theo [21, tr.24-25]

Trang 22

+ Chức sắc PGNT Khmer: Là vị sư được Hội ĐKSSYN tỉnh và tổ chức

giáo hội phong phẩm, suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức và được Nhà nước công nhận

+ Chức việc PGNT Khmer (Ban Quản trị và Ban hoằng pháp): là những

người được tổ chức PGNT Khmer trực thuộc, được Hội ĐKSSYN phê chuẩn cho phép hoạt động tôn giáo được bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử của nhà chùa và tín

đồ, để tiếp công việc xây dựng và quản lí chùa

- Đặc điểm của tổ chức PGNT Khmer: QLNN về PGNT Khmer mang tính

quyền lực Nhà nước, bằng biện pháp chính sách pháp luật về tôn giáo, chí phối các hoạt động của tôn giáo, các đối tượng chịu quản lý giữa trên cơ sở điều hành,

sự lãnh đạo của Nhà nước và giáo hội, tập hợp các nghi thức, giáo lý, giáo luật,

lễ hội truyền thống PGNT Khmer được tổ chức theo quy định của pháp luật Nhà nước, chức năng điều hành quản lý, tổ chức lễ hội diễn ra đúng quy định với Điều lệ của Hội ĐKSSYN được Nhà nước công nhận, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và ổn định chính trị, có mối quan hệ chặt chẽ trong công tác QLNN đối với PGNT Khmer, có sự điều chỉnh tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đúng theo quy định

- Mục tiêu QLNN đối với PGNT Khmer: Trong thực tế, tổ chức, cá nhân

tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được Nhà nước thừa nhận, do vậy phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước Hoạt động tôn giáo phải tuân thủ những quy định của Nhà nước, hoạt động tôn giáo nằm trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật, các hoạt động tôn giáo giữa trên pháp luật mà định hướng cho chức sắc, nhà tu hành và đồng bào có đạo đồng hành cùng nhân dân cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Trang 23

1.2.2 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer

PGNT Khmer đối với người Khmer không chỉ là một tôn giáo mà còn có vai trò đặt biệt quan trọng là nơi gìn giữ và phát triển giá trị bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer Các chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước đối với PGNT Khmer luôn giữ vị trí quan trọng, không những đảm bảo sự ổn định lâu dài, tạo điều kiện phát triển đồng bào tín đồ PGNT Khmer mà còn là nhấn tố đảm bảo sự phát triển đồng bộ của cả nước

Một là, QLNN đối với PGNT Khmer luôn giữ vai trò quan trọng thực hiện

chính sách pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước, góp phần củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh quốc phòng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Hai là, QLNN về PGNT Khmer giúp phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao

đời sống vật chất, tình thần, nâng cao dân trí cho đồng bào có đạo, tạo ra mối quan hệ tốt giữa quần chúng nhân dân, phát huy dân chủ, tâm tư nguyện vọng của chức sắc, nhà tu hành PGNT Khmer, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng, miền ở địa phương, góp phần vào sự ổn định chính trị xã hội ở địa phương

Ba là, là cơ sở chính trị trong vùng tôn giáo, các chức sắc, nhà tu hành

PGNT Khmer tập trung quan tâm xây dựng, củng cố, phát huy vai trò công tác QLNN đối với PGNT Khmer, đó là người có uy tín để vận động đồng bào có đạo, phát triển thêm nhiều cán bộ, đảng viên, hội viên các đoàn thể là chức sắc, nhà tu hành PGNT Khmer; tạo điều kiện cho chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở được

Trang 24

hoạt động thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật từ khâu tuyển chọn đào tạo, thuyên chuyển, bổ nhiệm đến việc hoạt động tôn giáo

Bốn là, QLNN về PGNT Khmer khuyến khích chức sắc, nhà tu hành và

tín đồ PGNT Khmer tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, hoạt động nhân đạo

và đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với đất nước, tham gia các hoạt động

có lợi cho sự phát triển đất nước, phù hợp với pháp luật và đạo lý “tốt đời, đẹp đạo” Đồng thời, ngăn chặn được những hoạt động lợi dụng công việc từ thiện, nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn giáo trái pháp luật

Năm là, QLNN về hoạt động đối ngoại, thông qua PGNT Khmer mà nhiều

người trong nước và ở nước ngoài biết đến về đồng bào dân tộc Khmer nhiều hơn và có sự quảng bá đến các nước trên thế giới, có sự gắn kết mật thiết với các dân tộc khác, tạo thêm sự phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước

1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer

Nội dung cơ bản của QLNN đối với hoạt động PGNT Khmer: Xây dựng chính sách tôn giáo, ban hành văn bản quy định quy phạm pháp luật về TNTG; quy định tổ chức bộ máy Nhà nước về TNTG, tổ thực hiện chính sách pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật về TNTG, nghiên cứu trong lĩnh vực TNTG, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác TNTG, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TNTG Nội dung

cụ thể của QLNN đối với hoạt động PGNT Khmer được thể hiện tại Điều 60, Luật TNTG năm 2016 [30]

Trang 25

1.3.1 Xây dựng chính sánh, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với PGNT Khmer

Để đảm bảo quyền tự do TNTG theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân, đồng thời Nhà nước là chủ thể xây dựng chính sách, ban hành văn bản pháp luật về tôn giáo, với chính sách nhất quán về tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do TNTG, coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng chủ trưởng của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về tôn giáo

Việc xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và ban hành kế hoạch thực hiện cũng như hướng dẫn thực hiện các nội dung QLNN về hoạt động của PGNT Khmer trên cơ sở trình tự, thủ tục, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong quá trình xây dựng chính sách pháp luật về tôn giáo

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước được cụ thể hóa bằng pháp luật và bảo đảm quyền tự do TNTG Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh người đã ký

Sắc lệnh số 234/SL xác định việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi

của nhân dân, các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như

mọi tổ chức khác của nhân dân Kế thừa quan điểm, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo trong các giai đoạn sang thời kỳ đổi mới Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo và cụ thể hóa Hiến pháp năm

1992 và 2013 về quyền tự do tín ngưỡng như: Nghị quyết 24 và 25-NQ/TW Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh TNTG năm 2004

Trang 26

Trước khi Luật TNTG năm 2016 ra đời và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày

30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TNTG

1.3.2 Quy định tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về Phật giáo Nam tông Khmer

Tổ chức bộ máy QLNN về PGNT Khmer bao gồm: Bộ Nội vụ, Ban tôn giáo Chính phủ, UBND cấp tỉnh và Ban tôn giáo thuộc Sở Nội vụ, UBND cấp huyện, phòng Nội vụ, UBND cấp xã Theo quy định tại Điều 61 Luật TNTG năm 2016 về chức năng, nhiệm vụ QLNN về TNTG như sau:

- Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước QLNN các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trong đó có hoạt động PGNT Khmer

- Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện QLNN đối với PGNT Khmer Ban Tôn giáo Chính phủ

có chức năng, quyền hạn theo quy định của pháp luật về TNTG, tham mưu giúp

Bộ trưởng Bộ Nội vụ để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo Điều 2, Quyết định số 32/2018/QĐ-TTg ngày 3/8/2018 Đối với các cơ quan ban ngành khác có liên quan phối hợp với Bộ Nội vụ trong lĩnh vực có liên quan về QLNN đối với tôn giáo, UBND các cấp có thẩm quyền QLNN về PGNT Khmer ở địa phương Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan QLNN về công tác tôn giáo ở các địa phương đều có cơ quan chuyên môn giúp UBND làm công tác tôn giáo và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện

1.3.3 Tổ chức thực hiện chính sánh pháp luật về Phật giáo Nam tông

Trang 27

Tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đối với PGNT Khmer là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QLNN, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan

hệ xã hội, nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, thể hiện thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về công tác hoạt động tôn giáo của người dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từng bước thấy

rõ mối quan hệ giữa Nhà nước đối với tôn giáo nói chung và PGNT Khmer nói riêng về công tác QLNN, chính sách pháp luật cũng là công cụ để bảo vệ quyền

tự do tín ngưỡng của công dân, nhằm ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả các tổ chức lợi dụng tôn giáo, đảm bảo an ninh, trật tự vùng có đồng bào theo đạo

Để thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đã được đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đảm bảo quyền tự do TNTG đáp ứng nhu cầu trong đời sống xã hội trên thực tiễn phát triển đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo tuân thủ theo pháp luật trong việc hành đạo, tiến hành sinh hoạt bình thường, ổn định, việc sinh hoạt lễ hội tổ chức trang nghiêm, cơ cấu tổ chức của các tôn giáo phù hợp với pháp luật, được chính quyền các cấp cho công nhận

1.3.4 Phổ biến, giáo dục pháp luật về Phật giáo Nam tông Khmer

Thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao dân trí là đều cần thiết, nó mang tính chất quan trọng trong đời sống xã hội của một cộng đồng, phổ biến, giáo dục cho đồng bào có đạo là việc cần thiết đầu tiên trong hệ thống thực thi pháp luật, để đối tượng chủ thể là chức sắc, nhà tu hành và tín đồ nắm vững về pháp luật mà mình đang hoạt động trong lĩnh vực TNTG để áp dụng trong thực tiễn

Trang 28

Các cấp, các ngành, đoàn thể trong việc thực hiện QLNN đối với PGNT Khmer trên địa bàn, có nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục có sự phối hợp của các cơ quan ban ngành triển khai thực hiện, tổ chức đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn, tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng và tìm hiểu pháp luật… nhằm tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm giữa các tôn giáo, các hệ phái khác nhau trong thực tiễn khi thực hiện pháp luật vào hoạt động tôn giáo của mình Bên cạch đó, thường xuyên vận động đồng bào có đạo thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện nề nếp giáo lý, giáo luật, nhằm tác động đến ý thức pháp luật và xử lý nghiêm các trường hợp hoạt động trái với quy định pháp luật

Thông qua việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho chức sắc, nhà tu hành

và tín đồ PGNT Khmer nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của mọi người theo quy định của Hiến pháp 2013 Qua hoạt động tuyến truyền, giáo dục này giúp cho các thành phần các tôn giáo trong đó có PGNT Khmer hiểu rõ quy định của pháp luật về TNTG và có thể vận động, truyền đạt lại cho đồng bào tín đồ của mình thực hiện tốt hơn, từ đó trở thành tuyên truyền viên tích cực phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo

1.3.5 Nghiên cứu trong lĩnh vực TNTG đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức viên chức làm công tác Phật giáo Nam tông Khmer

Tổ chức thực hiện sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo ở các ban, ngành, đoàn thể, công an, quân đội cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở phải thường xuyên, liên tục

Trang 29

lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính chuyên môn điều hành và thực thi công vụ cho đội ngụ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo

Thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu về kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác và kinh nghiệm trong giải quyết các vụ việc của tôn giáo

1.3.6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu kiện,khiếu nại và xử lí vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật và Luật TNTG Thanh tra chuyên ngành về TNTG (Điều 62); khiếu nại tố cáo, khởi kiện về TNTG (Điều 63); xử lí vi phạm pháp luật về TNTG (Điều 64) Thanh tra, kiểm tra việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật về TNTG, đảm bảo điều kiện cho thi hành pháp luật, tình hình tuân thủ pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật về TNTG, những kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân tồn tại, kiến nghị, đề xuất

Nội dung thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra theo Nghị định 92/2012/NĐ-CP ngày 8/11/2012, quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp

lệnh TNTG, Ban tôn giáo Chính phủ đã ban hành Kế hoạch số 05/KH-TGCP về

kiểm tra tình hình thi hành pháp luật và thực hiện về TNTG

Việc thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm pháp luật về tôn giáo, nhằm góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công tác QLNN về tôn giáo của chính quyền địa phương đảm bảo thi hành pháp luật được thống nhất nghiêm túc

1.3.7 Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 30

Việt Nam là một nước đang phát triển, với công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi hội nhập để phát triển trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi khu vực và thế giới, trong đó có PGNT Khmer thực hiện theo chính sách đối ngoại về tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Điều này cho thấy, chính sách Đảng, Nhà nước đối với sự hợp tác đối ngoại trên các lĩnh vực hoạt động Nhà nước nói chung và PGNT Khmer nói riêng trong bối cảnh hiện nay là đều hết sức cần thiết trong chính sách đối ngoại về tôn giáo và hội nhập của đất nước

Trên thực tế, sự ảnh hưởng của các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam là yếu tố chứa đựng mối quan hệ xã hội của quốc tế, cùng với sự phát triển của các lĩnh vực về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và các hệ phái trong tôn giáo đều có mối quan hệ quốc tế nhất định Đường lối của Đảng, Nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật đối với tôn giáo về hợp tác và hội nhập nhằm phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và phát triển vững mạnh của đất nước theo hướng Xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở QLNN được xác định quan hệ quốc tế đối ngoại của tôn giáo phải giữa trên chính sách và luật TNTG năm 2016, quy định tại khoản 7, Điều 60, chương VIII

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer

1.4.1 Các yếu tố bên trong

Trình độ văn hóa của chủ thể: đây là yếu tố tác động trực tiếp đến việc

thực hiện pháp luật, trình độ dân trí là điều kiện đầu tiên, cơ bản để có những hành vi ứng xử hợp pháp, với người có trình độ văn hóa cao, họ sẽ dễ dàng hiểu

Trang 31

biết pháp luật, nhận thức đúng pháp luật và dẫn đến thực hiện pháp luật tốt Đối với người có trình độ văn hóa thấp, điều đó sẽ ngược lại và sự tiếp thu pháp luật chuẩn mực xã hội mới rất khó khăn, trong đó có pháp luật Từ đó, họ sẽ không hiểu được sâu sắc bản chất, thậm chí còn có thể hiểu sai bởi những dị bản qua hình thức truyền miệng, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp luật của họ, đôi khi dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật

Yếu tố tâm lý: Trong xã hội hiện nay, nhất là ở nông thôn có đông đồng

bào người Khmer tập trung sinh sống, yếu tố tâm lý này cũng đang bộc lộ những tác động tích cực và tiêu cực của nó đối với hoạt động công tác QLNN đối với tôn giáo, từ truyền thống trọng tình, trọng nghĩa trong quan hệ dòng họ thân tộc,

đã tạo nên lối sống tập quán, đã được sinh hoạt lâu đời của người Khmer, có lối sống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong hoàn cảnh khó khăn Đây là nhân tố tích cực thúc đẩy các chủ thể thực hiện pháp luật tích cực hơn, nhiệt tình hơn vì họ không muốn mang tiếng xấu với người thân, cộng đồng phum sóc Tuy nhiên, cũng từ tâm lý đó đã gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và hoạt động thực thi, bảo vệ pháp luật

Yếu tố tâm lý đã được hình thành từ lâu đời và trở nên quá bền vững, thật không dễ gì thay đổi để một cộng đồng dân tộc tiếp nhận pháp luật một cách tự nguyện và tích cực

Phong tục tập quán và lối sống: cũng như các yếu tố khác, phong tục tập

quán cũng có tác động hai mặt đến thực hiện pháp luật, bao gồm cả tích cực và tiêu cực Phong tục tập quán của đồng bào tín đồ Khmer đã có từ khá lâu, điểm đặc biệt nhất là nó luôn gắn liền với ngôi chùa PGNT Khmer, đều này được thể hiện qua nếp sống, lễ hội, văn hóa nghệ thuật mang đậm đà bản sắc dân tộc Tất

Trang 32

cả các lễ hội truyền thống có sự phù hợp với ý chí Nhà nước thì sẽ được Nhà nước đảm bảo và thừa nhận, trở thành quy phạm pháp luật, còn những phong tục tập quán nào trái với ý chí Nhà nước sẽ bị hạn chế hoặc bài trừ, một số lễ hội truyền thống của người Khmer được lưu lại đến nay như; tết Chol Chnăm Thmây, lễ Sen Đôlta, Ócc om bok… riêng lễ hội mang tính trái với Nhà nước hay mang tính lạc hậu, ảnh hưởng đến cuộc sống xã hội thì đã bài trừ; như lễ hội thả đèn gió (lồng đèn), và lễ hội mang tính mê tín dị đoan… Chính vì vậy, những phong tục tập quán được duy trì, giữ gìn đến ngày nay đều mang đến cho xã hội tốt đẹp và tiến bộ hơn

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài

Yếu tố chính trị: là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động

thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật Một đất nước có môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo đường lối của Đảng Mặt khác, đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao động…và dẫn đến thực hiện pháp luật không tốt Đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả, chính xác, hiện nay Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sắt sao đối với việc tuyền truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như hiểu biết về pháp luật cho đội ngũ cán bộ, Đảng viên và tầng lớp nhân dân

Ngoài ra, tính chất mức độ của nền dân chủ xã hội cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động thực hiện pháp luật, trong điều kiện xã hội có nền dân chủ

Trang 33

kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình đối với các vấn đề pháp luật và các cơ quan pháp luật, sẵn sàng lên tiếng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chính vì vậy, hệ thống chính trị Việt Nam được ổn định, vững chắc và phù hợp với các tôn giáo

Hệ thống văn bản pháp luật quy định về hoạt động PGNT Khmer: bản

thân pháp luật sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật Song chính các mặt, các khía cạnh khác nhau của chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động pháp luật, người dân thực hiện pháp luật tốt hơn với một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ và phù hợp Có thể nói pháp luật là đời sống xã hội được khái quát hóa và nâng lên thành luật thông qua hoạt động lý trí và ý chí của con người Việc thống nhất, toàn diện, đồng bộ phù hợp với văn bản pháp luật, đặc biệt là các đạo luật là vô

cùng quan trọng, đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện pháp luật

Đối với việc ban hành văn bản pháp luật quy định về hoạt động PGNT Khmer, đã ảnh hưởng đến công tác QLNN, đòi hỏi văn bản pháp luật mang tính chính xác, thống nhất, đồng bộ phù hợp với từng đối tượng và từng tôn giáo khác nhau

Bộ máy quản lý Nhà nước về hoạt động PGNT Khmer: bộ máy Nhà nước

có ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện QLNN đối với tôn giáo, phải được tổ chức một cách khoa học, có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Quyết định 144-QĐ/TW ngày 30/8/2018 Để xử lí công việc nhanh chóng không chồng chéo lên nhau, thiếu đồng bộ và thiếu sự phối hợp với nhau ở các cơ quan QLNN sẽ dẫn đến sự chồng chéo trong cách giải quyết và sự đùn đẩy lẫn nhau

Trang 34

Hiện nay, bộ máy Nhà nước ta đã có nhiều hình thức chuyển biến khá tích cực,

về việc thực hiện pháp luật đạt kết quả tốt hơn

Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia có sự điều chỉnh pháp luật khác nhau, mà chủ yếu đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, vì lợi ích quốc gia, dân tộc Sự QLNN đối với hoạt động tôn giáo và PGNT Khmer là sự cần thiết, có yếu tố ảnh hưởng đến việc QLNN đối với hoạt động PGNT Khmer không chỉ xuất phát từ ý chí của Nhà nước mà còn xuất phát từ thực tế khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và những ảnh hưởng TNTG của nhân dân

Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về PGNT Khmer: QLNN về hoạt động tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, cơ

quan chuyên môn và đội ngũ cán bộ làm công tác trong lĩnh vực tôn giáo và cán

bộ, công chức làm công tác hoạt động trong PGNT Khmer, đã có bước hoàn thiện và khởi sắc hơn, do năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu của giới tu sĩ, tín đồ người Khmer có nhận thức đầy đủ về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính pháp luật của Nhà nước về lĩnh tôn giáo Tuy nhiên, cán bộ, công chức được phân công hoạt động quản lý còn nhiều khuyết điểm, xử lý vụ việc liên quan đến PGNT Khmer là một tôn giáo được xem là nhạy cảm và phức tạp liên quan đến một dân tộc Yếu tố đó cần được người làm công tác trong lĩnh vực này xử lí giải quyết vụ việc một cách mềm dẻo, khéo léo, để tránh dẫn đến vi

phạm quyền tự do TNTG của nhân dân

Vì thế, công tác QLNN đối với PGNT Khmer phải có tư tưởng vững vàng, năng lực trình độ tốt, am hiểu về các tôn giáo, để giải quyết vụ việc tốt và khắc phục được những sai lệch, mặc khác vừa đảm bảo quyền tự do TNTG, góp phần

Trang 35

Các thế lực xấu bên ngoài lợi dụng Phật giáo Nam tông Khmer: các thế

lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo vì họ coi dân tộc, tôn giáo là vũ khí lợi hại

để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt Mục đích xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của

các thế lực là lật độ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “diễn biến

hòa bình, bạo loạn” Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo tất yếu

đồng hành cùng dân tộc, trên thực tiễn dưới sự lãnh đạo cách mạng của chủ tịch

Hồ Chí Minh và Đảng ta chưa bao giờ có tư tưởng xóa bỏ, kỳ thị hay áp bức tôn giáo mà luôn nhất quán nhận thức TNTG là nhu cầu tinh thần của một bộ phận

nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng đất nước

Yếu tố đối ngoại, hợp tác quốc tế: trong bối cạnh mở rộng quan hệ quốc

tế và hội nhập, khi Nhà nước Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 180 nước ở khắp các châu lục, thì hoạt động tôn giáo nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ có liên quan đến tôn giáo tại Việt Nam cũng trở nên ngày càng nhộn nhịp hơn Bên đó, tìm hiểu và tham gia một số lễ hội lớn của các tôn giáo, trong

đó có đại lễ Vesak (Phật giáo) Liên Hợp Quốc là đại lễ kỷ niệm 3 sự kiện trọng đại trong cuộc đời đức Phật Thích Ca, ngày Phật Đản sinh, ngày thành đạo và ngày Phật nhập niết bàn, cùng diễn ra trong ngày rầm tháng 4 âm lịch Việt Nam được vinh dự tổ chức đại lễ này 3 lần vào năm 2008, 2014, 2019 mang ý nghĩa hết sức to lớn và thiết thực đối với đời sống văn hóa, xã hội của nước ta Đại lễ Vesak khẳng định truyền thống lịch sử, giá trị nhân văn của Phật giáo, một tôn giáo hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển trong suốt chiều dài lịch sử rất rộng, tăng cường mối quan hệ giữa GHPGVN với truyền thống Phật giáo trên thế giới[32, tr 5-10]

Trang 36

Kết luận chương 1

Trên cở sở phân tích lý luận cơ bản QLNN về tôn giáo nói chung và PGNT Khmer nói riêng Ở chương 1 này nêu lên những khái niệm cơ bản về PGNT Khmer và hoạt động của PGNT Khmer, đặc điểm và nội dung QLNN về PGNT Khmer, qua đó cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật về TNTG luôn không ngừng nâng cao hiệu quả QLNN trong công tác hoạt động được diễn ra bình thường, ổn định về mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, trật tự của đất nước… có như vậy, việc QLNN đối với tôn giáo được đảm bảo quyền tự do TNTG của nhân dân, thể hiện được lòng tin của nhân dân có đạo vào sự QLNN Đồng thời, nhằm phục vụ lợi ích chính đáng đối với chức sắc, nhà tu hành và tín đồ phục vụ vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Thực tiễn cho thấy, pháp luật về hoạt động QLNN về TNTG đã thật sự trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam QLNN về hoạt động TNTG giữ vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, với góc độ

lý luận Nhà nước và pháp luật, có thể thấy, nội dung cơ bản của pháp luật về hoạt động TNTG tập trung điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức giáo hội, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành trong các hoạt động quản đạo, hành đạo, truyền đạo, nghi lễ và hoạt động quan hệ quốc tế, những vấn đề đất đai, cơ

sở vật chất liên quan đến tôn giáo điều dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG

KHMER TẠI TỈNH CÀ MAU 2.1 Sự hình thành và phát triển Phật giáo Nam tông Khmer ở tỉnh Cà Mau

2.1.1 Khái quát tình hình Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh nằm phía cực Nam của Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 5,294,87 km2 có 3 mặt tiếp giáp với biển, phía Bắc giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Bạc Liêu, có 9 đơn vị tổ chức hành chính gồm; 8 huyện và 01 thành phố với 101 xã Dân số 1.235.912 người, có 13 dân tộc sinh sống chủ yếu có 03 dân tộc có dân số đông hơn: Kinh, Khmer, Hoa, các dân tộc khác với khoảng 246 hộ, 1.230 người Cà Mau còn là tỉnh tập trung nhiều tôn giáo, có 6 tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Tịnh độ cư sĩ, Cao đài và Phật giáo Hòa hảo

Với dân số trên 1,2 triệu người, trong đó có dân tộc Khmer chiếm thứ hai dân số trong tỉnh, với 9.671 hộ, khoảng 44.989 người, đa số dân tộc Khmer sống bằng nghề nông, địa bàn cư trú chủ yếu là vùng nông thôn, tập trung ở các huyện Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Đầm Dơi và thành phố Cà Mau Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc, đời sống bà con dân tộc Khmer nơi đây được cải thiện đáng kể

PGNT Khmer là một tôn giáo truyền thống mang tính biệt truyền trong cộng đồng dân tộc Khmer ở Cà Mau, hầu hết đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Cà Mau tin theo hệ phái này Trước năm 1996, nơi đây thuộc địa phận tỉnh Minh

Trang 38

Hải xưa, có 28 chùa PGNT Khmer hoạt động, đã hình thành và phát triển trên vùng đất Minh Hải cách đây hơn 350 năm, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau năm 1996 chia thành hai tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, riêng tỉnh Cà Mau còn lại 6 chùa Tính đến nay PGNT Khmer tỉnh Cà Mau

có 7 Chùa và 10 Salatel (nhà văn hóa sinh hoạt tôn giáo của đồng bào dân tộc Khmer) đang hoạt động, với 35 nhà sư, 02 Hòa thượng, 06 đại đức, còn lại là tỳ khưu và sadi, với trên 40.000 tín đồ, chùa Khmer chủ yếu tập trung ở các huyện Trần Văn Thời 03 chùa, Thới Bình 03 chùa và thành phố Cà Mau 01 chùa

Riêng các huyện khác trong tỉnh, không có ngôi chùa PGNT Khmer để sinh hoạt tôn giáo, nhằm phục vụ cho bà con tín đồ là người Khmer sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, thấy điều kiện khó khăn đó, Hội ĐKSSYN tỉnh kết hợp với Ban Dân tộc kiến nghị lên Trung ương, xin phép xây dựng 2 Salatel thuộc xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi và xã Khánh Hòa, huyện U Minh Từ năm 2016 đến nay, Ban dân tộc và Hội ĐKSSYN thực hiện Chỉ thị 19-CT/TW và Kế hoạch 68/KH-UBND, đầu tư xây dựng Salatel vùng đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016-2020 Đến nay, toàn tỉnh Cà Mau đã có 10 Salatel đang hoạt động, do Ban quản trị và Ban hoằng pháp Salatel quản lý, kết hợp với UBND xã tham mưu cho Hội ĐKSSYN và Ban dân tộc tỉnh Cà Mau

2.1.2 Sự tác động của Phật giáo Nam tông Khmer đến đời sống văn hóa,

xã hội của đồng bào dân tộc Khmer ở Cà Mau

PGNT Khmer tác động vào nền tảng đạo đức, lối sống, văn hóa, xã hội và phong tục tập quán của người Khmer, được đồng bào vận dụng vào cuộc sống một cách hài hòa và nhuần nhuyễn thông qua giáo lý của đức Phật như: Tam quy

Trang 39

đạo đức để góp phần vào việc xây dựng một gia đình an vui hạnh phúc, một cộng đồng an lạc, một lối sống văn hóa để duy trì đời sống tâm linh của bản thân mình Đó cũng chính là cầu nối trong sự giao lưu tiếp xúc văn hóa, tôn giáo của các dân tộc ở tỉnh Cà Mau Vì vậy, việc vận dụng giáo lý của nhà Phật vào cuộc sống nhằm đem lại lợi lạc cho bản thân và cho xã hội

Tác động của Phật giáo Nam tông Khmer về niềm tin đối với người dân tộc Khmer

Niềm tin tôn giáo luôn chiếm vị trí quan trọng trong cấu trúc tôn giáo, người ta không thể trở thành tín đồ của một tôn giáo nếu không có niềm tin Niềm tin là định hướng giá trị được xác định vững chắc trong nhận thức và chi phối hành động của con người, niềm tin không chỉ tác động đến trí tuệ mà còn tác động đến tình cảm, nó có thể làm thay đổi ý thức, động cơ và lối sống của cá

nhân [27, tr.273] Nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ T.Parson cho rằng, hành

động của con người bị chi phối bởi hệ thống văn hóa như giá trị, chuẩn mực xã hội, niềm tin tôn giáo

Người Khmer rất tin ở đức Phật, về kinh Pháp che trở mặt tinh thần giúp

họ vượt qua mọi nguy hiểm trong cuộc sống, khi gia đình có người ốm hay gặp khó khăn hoạn nạn, họ đều thỉnh nhà sư đến nhà tụng niệm mong cho tai qua nạn khỏi Vì vậy, mọi gia đình đều thờ Phật và được tôn nghiêm trang trọng nhất, thực hiện lòng tôn kính và thực hành các nghi lễ không thể thiếu trong cuộc sống, cho dù họ sống xa quê hương hay sống bất cứ nơi nào không thấy bóng chùa thì họ đều tự nguyện xem mình là tín đồ của PGNT Khmer, đấy không phải

là bổn phận hay trách nhiệm mà là một điều vinh dự Cộng đồng người Khmer tin rằng, việc thờ tự, thờ cúng ông bà, tổ tiên, các nghi lễ truyền thống có thể

Trang 40

đánh giá được nhân cách, lối sống của con người, qua việc tham gia vào các hoạt động tôn giáo cũng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong cuộc đời người Khmer từ khi sinh ra, lớn lên, học tập, kết hôn và khi mất đi, tất cả đều được tổ chức theo những tập tục riêng, trong các sự kiện ấy đều có sự tham gia của các nhà sư

Hay nói cách khác, đều được tổ chức mang tính dân gian vừa mang sắc thái tôn giáo Qua đó, niềm tin tôn giáo gắn liền với truyền thống đối với người Khmer ở tỉnh Cà Mau mang tính tuyệt đối

Tác động của giáo lý Phật giáo đến nhân cách, đạo đức, lối sống truyền thống của người Khmer

Đặc điểm chủ yếu trong giáo lý Phật giáo là hướng con người đến cái

thiện, Phật giáo theo đạo đức luận “lấy nhân quả làm phép tắc chủ yếu xuyên

suốt trong kinh sách để giáo dục con người, lấy nhân nghĩa làm nền tảng đạo đức, lấy tình thương xóa bỏ hận thù, lấy của cuộc sống giản dị chân chính, đoàn kết, bình đẳng, bác ái lẽ sống, lấy tinh thần dân chủ, công bằng, không phân biệt đẳng cấp làm chuẩn mực trong sinh hoạt cuộc sống, lấy con đường trung dung làm cơ sở hành động” [29, tr.109-110] Hệ thống giáo lý PGNT Khmer thể hiện

quan điểm nhân văn sâu sắc, các chuẩn mực đạo đức của Phật giáo rất cụ thể, gần gũi nên nó dễ đi vào đời sống của người Khmer

Bởi vì, chùa là nơi giáo dục đạo đức cho con người, là nơi để mọi người Khmer học hành, trao dồi và hoàn thiện bản thân Theo tập quán truyền thống, tất cả người Khmer được sinh ra và lớn lên, ông bà, cha mẹ đều dạy cho con cháu vào chùa tạo phước lành, tìm hiểu nhân cách đạo đức, lối sống của dân tộc mình Bên cạnh đó, vào chùa để được các vị sư giáo dục thêm về triết lý đức

Ngày đăng: 17/07/2020, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w