1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của chùa phật tích đối với sự phát triển phật giáo thời lý (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII)

129 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt chặng đường dựng nước và giữ nước, từ buổi đầu dành độc lập, tự chủ phải kể đến vai trò của Phật giáo thời Lý, như là một hiện tượng hoàn bị nhất, từ sự dung hòa các lớp văn h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TIẾN THIỆN

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trên bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Dương Văn Đức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Tôn giáo học đã giảng dạy, trang bị kiến thức giúp tác giả nắm vững những vấn đề

lý luận và phương pháp luận để hoàn thành tốt luận văn này Đặc biệt, tác giả

xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tiến Thiện - người thầy đã tận

tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình làm luận văn

Con xin đê đầu đảnh lễ và tri ân chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã quan tâm, tạo nhiều thuận duyên cho con trong suốt quá trình học tập, bên cạnh đó nhờ sự động viên và trợ duyên quý báu của gia đình cũng như đàn na thí chủ

Kính chúc Chư Liệt vị pháp thể khinh an, đạo lộ tấn pháp, chúng sinh

dị độ, Phật đạo viên thành!

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Dương Văn Đức

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÙNG ĐẤT PHẬT TÍCH VÀ LỊCH SỬ KHỞI DỰNG CHÙA PHẬT TÍCH 7

1.1 Đặc điểm tự nhiên xã Phật Tích 7

1.1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Đường đi đến xã Phật Tích 8

1.2 Vị thế danh lam xã Phật Tích 9

1.3 Lịch sử xã Phật Tích 11

1.4 Tình hình đời sống dân cƣ, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội xã Phật Tích 13

1.4.1 Tình hình đời sống dân cư, kinh tế xã Phật Tích 13

1.4.2 Về tình hình chính trị, văn hóa, xã hội 14

1.5 Vị thế di tích chùa Phật Tích 15

1.6 Lịch sử chùa Phật Tích 17

1.7 Quy mô kiến trúc khảo cổ và hiện nay tại chùa Phật Tích 18

1.7.1 Quy mô kiến trúc chùa Phật Tích hiện nay 18

1.7.2 Quy mô kiến trúc khảo cổ chùa Phật Tích 25

1.8 Những di tích bảo vật quốc gia tại chùa Phật Tích 43

1.8.1 Tượng Phật A Di Đà 43

1.8.2 Hàng linh thú 44

1.8.3 Tượng nhục thân Chuyết Công hòa thượng 45

1.9 Lễ hội 46

Chương 2: NHỮNG KHÍA CẠNH THỂ HIỆN VAI TRÕ CỦA CHÙA PHẬT TÍCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ LÝ (TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XIII) 49

2.1 Chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo thời Lý 49

2.1.1 Nơi hội tụ các luồng tư tưởng và dấu ấn tam giáo đồng nguyên 49

2.1.2 Buổi đầu du nhập Đạo Phật đến thế kỷ X 51

2.2 Chùa Phật Tích là trung tâm Phật giáo thời Lý 57

Trang 6

2.2.1 Đôi nét về lịch sử Phật giáo thời Lý 57

2.2.2 Chùa Phật Tích trở thành trung tâm Phật giáo thời nhà Lý 59

2.3 Dấu ấn kiến trúc và điêu khắc thời Lý tại chùa Phật Tích 66

2.3.1 Pho tượng A Di Đà: 69

2.3.2 Đầu tượng tiên nữ 71

2.3.3 Tượng nữ thần đầu người mình chim (Kinnari) 72

2.3.4 Lá đề chạm rồng 72

2.3.5 Bệ chân cột trang trí các nhạc công thiên thần (Gandharva) 73

2.3.6 Tượng thần hộ pháp (Dvarapala) 73

2.3.7 Hàng linh thú: 74

2.4 Tinh thần dung thông các thiền phái tại chùa Phật Tích 79

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY 92 3.1 Đánh giá vai trò của chùa Phật Tích đối với Phật giáo thời Lý 92

3.2 Tồn tại 95

3.3 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay 96

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nghị quyết Trung ương 5, Khóa VIII đã đề ra nhiệm vụ xây dựng chính sách văn hóa đối với tôn giáo “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng” Văn kiện Đại hội XII cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Đó là những chính sách đúng đắn đối với các tôn giáo, nhằm phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững của dân tộc ta được hun đúc đối với sự phát triểnlịch sử dân tộc là một trong những nhiệm vụ trong tâm hiện nay của Đảng

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo Trong đó Phật giáo cũng được quan tâm bảo tồn, gìn giữ và phát huy Các vấn đề về di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh Phật giáo được nhận thức về vai trò, ý nghĩa ngày càng được nâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Trong suốt chặng đường dựng nước và giữ nước, từ buổi đầu dành độc lập, tự chủ phải kể đến vai trò của Phật giáo thời Lý, như là một hiện tượng hoàn bị nhất, từ sự dung hòa các lớp văn hóa, tín ngưỡng du nhập với văn hóa, tín ngưỡng bản địa cách kỳ diệu, uyển chuyển thành một sắc thái đặc trưng của phong cách Phật giáo Việt Nam, đối với tiến trình lịch sử của dân tộc, từ một tôn giáo ngoại lại Phật giáo đã trở thành quốc giáo Triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm (1009-1225) với chín đời vua Trong lịch sử Việt Nam,

Trang 8

triều Lý là một triều đại lớn và để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các lĩnh vực khác nhau, nổi bật và gắn liền là những dấu ấn Phật giáo, sự kế thừa từ buổi dầu du nhập và tiền để tiếp tục phát triển Phật giáo thời Trần Vai trò của Phật giáo đối với những quyết sách quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội dựng nền độc lập, tự chủ buổi đầu và những thăng trầm qua các thời đại Lý - Trần Đó cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo

Nhắc đến thời kỳ nhà Lý, là phải nhắc đến thời kỳ Phật giáo được hưng thịnh nhất, hàng trăm ngôi chùa được xây dựng, các hệ thống kinh, luật, luận và tư tưởng, chính sách ủng hộ hoằng dương Phật pháp Nhưng một trong những ngôi chùa được đầu tư kiến thiết với quy mô lớn phải kể đến chùa Phật Tích tọa lạc trên núi Phật Tích (còn gọi là núi Lạn Kha) – xã Phật Tích – Huyện Tiên Du – Tỉnh Bắc Ninh,với tên chữ là “Vạn Phúc Tự” Với ý nghĩa, vai trò quốc tự Phật Tích là trung tâm Phật giáo thời kỳ nhà Lý Và việc nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn những giá trị di sản vật thể và phi vật thể đặc biệt khu di tích lịch sử Quốc gia Chùa Phật Tích trong lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam từ buổi đầu dựng nước và giữ nước

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của luận văn, trên cơ sở lược khỏa tổng quan các tài liệu bàn về: Vai trò của Chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Thời Lý (Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII) nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu

Chùa Phật Tích với vị thế là ngôi chùa cổ, có vai trò quan trọng đối với Phật giáo thời Lý nói riêng, dòng chảy Phật giáo Việt Nam nói chung, vì vậy, các vấn đề xoay quanh chùa Phật Tích được đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở nhiều góc độ khác nhau:

Tài liệu gốc chúng tôi tiếp cận nghiên cứu có thể kể đến như: Hồ sơ xếp hạng

di tích Quốc gia đặc biệt chùa Phật Tích, Hồ sơ là sự tổng hợp tất cả các thông tin

về chùa Phật Tích Trong đó các tài liệu cổ xưa cũng được tập hợp đầy đủ

Tài liệu của các nhà nghiên cứu có đề cập đến liên quan trực tiếp như:

Thích Đức Thiện (2014), Di sản Phật Tích, Nxb Mỹ Thuật

Trang 9

Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh năm 2013 tái bản cuốn sách Di tích Lịch sử - văn

hóa tỉnh Bắc Ninh, cuốn sách gồm hai phần nội dung chính: giới thiệu toàn bộ các

di tich lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh theo địa danh, địa giới hành chính và phần phụ lục ảnh Cuốn sách là kết quả của việc sử dụng các tư liệu thực tiễn kết hợp với tư liệu lưu trữ của Bảo tàng và các cơ quan chuyên môn tại tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan lưu trữ khác

Nhận thức được vai trò của chùa Phật Tích với sự phát triển lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Nghiên cứu Phật học phối hợp với Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: Phật Tích đối với sự phát triển lịch sử Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, khoa học quan tâm đến lĩnh

vực này, các kết quả nghiên cứu được thể hiện trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phật

Tích đối với sự phát triển lịch sử

Ngoài ra trong các công trình nghiên cứu Phật giáo Việt Nam nói chung, có nhiều tác phẩm đề cập ít nhiều đến các khía cạnh liên quan của chùa Phật Tích: lịch

sử, mỹ thuật, lễ hội,…, như: Thích Đức Thiện – Nguyễn Quốc Tuấn (Đồng chủ

biên), Phật giáo thời Lý với 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, Nguyễn Bá Lăng (1972), Kiến trúc Phật giáo, Nxb Vạn Hạnh, Kiều Thu Hoạch (1965), Tìm hiểu Thơ văn các nhà sư thời Lý – Trần, Tạp chí Văn học

Ở khía cạnh khác, các công trình nghiên cứu về vùng đất kinh Bắc xưa cũng không thể không đề cập đến các vấn đề có liên quan đến chùa Phật Tích: Ty Văn

hóa và Thông tin (1982), Địa chía Hà Bắc, Thư viện tỉnh Bắc Ninh; Đỗ Trọng Vĩ (1997), Bắc Ninh dư địa chí, Nxb Văn hóa Thông tin, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Bắc Ninh (1997), Văn hiến Kinh Bắc, tập 1; Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Bắc Ninh (2002), Văn hiến Kinh Bắc, tập 2

Nhìn chung với vai trò đặc biệt của mình, chùa Phật Tích được đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên một công trình nghiên cứu đầy đủ về vai trò của chùa Phật Tích đối với sự phát triển

Trang 10

Phật giáo thời Lý thì còn bỏ ngỏ, luận văn sẽ là công trình bù đắp vào khoảng trống nói trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Khảo cứu sự du nhập, tiếp biến văn hóa Phật giáo, văn hóa Ấn Độ với văn hóa bản địa của người Việt những năm đầu Công nguyên qua việc nghiên cứu chùa Phật Tích

- Khẳng định vai trò, giá trị của chùa Phật Tích đối với sự phát triểnlịch sử Phật giáo Việt Nam

- Trên cơ sở nghiên cứu chùa Phật Tích đối với sự phát triển lịch sử dân tộc

ta, luận văn đề xuất định hướng, giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề như sau:

- Luận văn nghiên cứu các thư tịch cổ, tài liệu nghiên cứu về chùa Phật Tích thời kỳ đầu Công nguyên khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam

- Nghiên cứu tổng quan về chùa Phật Tích qua các thời kỳ lịch sử ( thời Lý.)

- Nghiên cứu khảo sát thực trạng chùa Phật Tích hiện nay (kiến trúc, điêu khắc, tài liệu cổ vật, hoạt động tâm linh, lễ hội )

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Phật Tích trong thời kỳ hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu về chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo Thời kỳ Nhà Lý (thế kỷ XI – XIII)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chùa Phật Tích đối với sự phát triểnlịch sử Phật giáo và phát triển đến thời kỳ nhà Lý (Bởi theo sử liệu từ thời Lý Thánh Tông chùa được xây dựng thành Đại danh Lam và dấu tích vật chất vẫn còn giữ được đến nay)

- Phạm vi không gian: Ngoài nghiên cứu khảo sát chùa Phật Tích, luận văn

Trang 11

còn mở rộng phạm vi nghiên cứu một số ngôi chùa từng là đại danh lam cổ tự như: chùa Dâu, Chùa Dạm, chùa Bách Môn, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

Đề tài của luận văn là đề tài mang tính lịch sử, tính hồi cố, chủ yếu sử dụng tài liệu lịch sử học, khảo cổ học, phật học, xã hội học để khái quát, bàn luận những vấn đề nghiên cứu Tài liệu lịch sử hay sử liệu cũng hết sức phong phú, đa dạng, theo quan điểm hiện đại là tất cả những gì chứa đựng những lượng thông tin

về lịch sử, giúp người nghiên cứu khai thác, gạn lọc để tái hiện và nghiên cứu quá khứ lịch sử Không những tài liệu chữ viết, mà tài liệu vật chất, những di tích di vật, những huyền thoại và truyền thuyết dân gian, những phong tục, tập quán cho đến tiếng nói tín ngưỡng tất cả đều được coi là nguồn sử liệu Do vậy, vấn đề thu thập tài liệu và phân loại tài liệu là phương pháp nghiên cứu quan trọng Vận dụng phương pháp này, nghiên cứu sinh đã tập hợp các tư liệu thành văn

và không thành văn, phân loại các tài liệu theo lĩnh vực, tiêu chí sau:

- Các tài liệu chính sử đã công bố: lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt Nam

- Các trước tác: tư tưởng, đạo đức, văn chương, nghệ thuật, của các nhà cầm quyền, các nhà tu hành, các tác gia thời nhà Lý

- Các tài liệu của các nhà khoa học nghiên cứu về chính trị, văn hóa, Phật giáo thời nhà Lý

- Các tài liệu của các khoa học nghiên cứu về chùa Phật Tích

- Các tài liệu có liên quan đã hoặc chưa được công bố mà học viên sưu tầm, phát hiện Đây vừa là một nội dung phương pháp vừa là một thao tác nghiên cứu cần thiết để thực hiện đề tài của bản luận văn

* Phương pháp liên ngành:

Khi nghiên cứu một hiện tượng Phật giáo, người nghiên cứu có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu, các phương pháp, các khái niệm, phạm trù của các ngành khoa học xã hội và nhân văn liên quan đến hiện tượng đó vào việc nghiên cứu của

Trang 12

mình Luận văn sẽ vận dụng phương pháp này vào nghiên cứu biểu hiện của quan

hệ giữa Phật giáo thời đại Lý, mà cụ thể là vai trò của chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo thời kỳ nhà Lý

* Phương pháp phân tích và tổng hợp

Đây là phương pháp nghiên cứu phổ biến trong các khoa học mà khoa học luận phương Tây đã đề xướng Phương pháp phân tích là phân chia sự vật thành các bộ phận, các yếu tố để nghiên cứu, còn phương pháp tổng hợp là tìm ra các mối liên hệ giữa các yếu tố, các bộ phận đã được phân tích Từ đó xác định cái nhìn khái quát đối với sự vật Cái khái quát mà người nghiên cứu thu được là kết quả nhận thức khoa học, không phải là cái cụ thể giản đơn của vấn đề nghiên cứu

Học viên vận dụng phương pháp này vào nghiên cứu đề tài luận văn để phân tích là vai trò của chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo thời kỳ nhà Lý

Sau đó tổng hợp lại để thấy được ảnh hưởng của Phật giáo đối với toàn bộ nền văn hóa, kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng của vương triều Lý một cách tổng quát

Ngoài ra, trong luận văn, học viên còn sử dụng các phương pháp khác như: Tiếp cận lịch sử; So sánh và đối chiếu; Logic và lịch sử; để nghiên cứu, bổ sung cho các phương pháp đã nêu trên

6 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn nghiên cứu chùa Phật Tích đối với sự phát triểnlịch sử Phật giáo

và phát triển đến thời kỳ nhà Lý, trên cơ sở đó đề xuất với cấp có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn định hướng, giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích nói chung, chùa Phật Tích nói riêng trong thời kỳ hiện nay

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các cho các đề tài khoa học khác có liên quan về các lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 16 tiết

Trang 13

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÙNG ĐẤT PHẬT TÍCH

VÀ LỊCH SỬ KHỞI DỰNG CHÙA PHẬT TÍCH

1.1 Đặc điểm tự nhiên xã Phật Tích

1.1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên

Phật Tích là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Mã hành chính: 9349

Phía Tây xã Phật Tích giáp xã tri Phương và Hoàn Sơn có các ngọn đồi: Mâm Xôi, Con Lợn, Con Nghê, Con Phượng… đồi đất không cao, ẩn hiện những cây tràm, vườn tram, cây chè xum xuê cổ thụ Phía Đông xã Phật Tích giáp xã Việt Đoàn, khu vực xóm Núi Đất (Làng Ngõ Xá) có một gò đất, gò đất nằm thoai thoải, trông xa giống như một hạt ngọc

Phía Nam Phật Tích giáp xã cảnh Hưng và Minh Đạo Đoạn đê sông Đuống

từ xã Minh Đạo đến xã Tri Phương là đường phân gianh giữa xã Phật Tích và xã Cảnh Hưng Thủa xưa, sông ngòi nước ta chưa được định hình, những nhánh sông lớn, sông nhỏ hầu như không có đê bao bọc vì thế hang năm mỗi mùa mưa về, cả một vùng rộng lớn ngập chìm dưới nước Khi mùa khô nước rút nhanh xuống các lòng sông, còn trơ lại lớp phù sa phủ dày khắp các gò bãi, đồng ruộng…

Dân số khoảng 5945 người với diện tích đất tự nhiên là 543,81 ha Trong đó đất nông nghiệp chiếm 293,45 ha, được chia như sau: Đất ven đê: Do phù sa sông Đuống bồi đắp, quá trình bồi tụ hàng ngàn năm, lớp phủ thực vật bị phân giải thành than bùn Lớp phù sa bồi lấp thành những cánh đồng bát ngát phì nhiêu Đặc tính của loại đất này là mùn cao, ít chua, lượng đạm khá, dễ tiêu, thành pần cơ giới nhẹ Phù hợp với việc canh tác, cấy lúa, trồng hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày

Đất phù sa ngập nước xen kẽ đồi núi: Do đặc điểm của địa hình, đồi núi xen kẽ tạo hình lòng chảo, nước ứ đọng, tập trung ở các lang Ngô Xá, Cổ Miếu, Phúc Nghiêm

Trang 14

Đất đồi núi Feralíttích: Thành phần sa thạch và phiến thạch sét, đặc tính dễ xói mòn, rửa trôi, dẫn đến bạc màu Loại đất này phù hợp với việc trồng cây ăn quả

và trồng rừng: Trám vàng, thông, bạch đàn…

Vấn đề trị thủy là vấn đề nan giải Dưới thời Nguyễn, dòng sông Thiên Đức

bị bồi lấp gây lụt lội triền miên Năm 1837 tổng đốc Tôn Thất Bật tâu vua “Cửa sông Thiên Đức lối nước chảy bồi lấp gần thành bình địa Phía ngoài cửa sông ấy tiếp giáp với sông Nhị Hà lại có đất bãi tầm xa nối liền ở giữa sông đã lâu năm, trước mấy lần khơi thông, lối nước chảy cũ vừa khơi ra lại tắc liền” Năm 1851 Nguyễn Tư Giảm được cử làm Hiệp Lý Đê Chính đã đem tài năng xin được khơi thẳng một đoạn sông nhưng không được chấp nhận Tháng 7/1858 nước sông Thiên Đức lên co, gây lụt lội hai huyện Đông Ngàn và Tiên Du Năm 1861 vua Tự Đức mới đồng ý cho di dân 15 xã ngoại đê và nắn dòng khơi sông đắp đê, xây thêm các cống thoát nước Năm 1872, thổng Thụ Chiền lại một lần nữa được phép thực hiện

dự án nạo vét lòng sông Thiên Đức, đắp đê ngăn nước lũ đoạn từ Nghĩa Chỉ (Minh Đạo) chạy sát xã Phù Lập (Sộp) nối vào thôn Cao Đường (Tri Phương) Ven theo chân đê, len lỏi giữa cánh đồng làng Phật Tích và Vĩnh Phú có dòng Tào Khê (Khe cựu) rộng chừng 15m – 20m “là hạ lưu của sông Tiêu Tương, huyện Đông Ngàn chảy qua các xã Dương Húc, Đại Vi, Đại Sơn, Vĩnh Phú, Phật Tích, Nội Viên, Chi

Nê xuống xã Lam Miệt của huyện Quế Dương, dài 4 dặm, rộng 3 trượng, bình thường nước sâu ba bốn thước, khoảng giữa hạ thu nước sáu, bảy, tám thước” Dòng Tào Khê là nguồn cung cấp nước tưới, tiêu cho đồng ruộng khu vực phía Nam xã Phật Tích

1.1.2 Đường đi đến xã Phật Tích

Từ thủ đô Hà Nội ngược phái về phía Bắc theo Quốc lộ 1A hướng Hà Nội – Lạng Sơn đi khoảng 20km đến thị xã Từ Sơn rẽ phải theo tỉnh lộ, qua cầu Đồng Xép đi 5km là đến di tích

Hoặc từ Hà Nội đi theo Quốc lộ 1B hướng Hà Nội – Lạng Sơn đi 20km đến cầu Đồng Xép rẽ phải đi 5km là đến di tích

Trang 15

Đường thủy: Từ Hà Nội xuôi theo dòng sông Đuống qua hết địa phận Hà Nội, đi tới bến phà Tri Phương, bên kia là xã Đình Tổ, bên này là xã Tri Phương và Phật Tích, lên bến phà thuộc địa phận Tri Phương lên bờ đê đi khoảng 2km là đến

di tích

Nói chung, đường đi đến xã Phật Tích đều thuận lợi cho mọi phương tiện giao thông đương bộ

1.2 Vị thế danh lam xã Phật Tích

Ngược dòng lịch sử, thời các vua Hùng dựng nước, Tiên Du nằm trong bộ

Vũ Ninh, vùng đất trù phú của nước Văn Lang xưa Đến buổi ngàn năm Bắc thuộc miền này là địa vực của huyện Long Biên Đến khi đất nước độc lập, lịch sử đặt cho

nó cái tên Tiên Du phản ánh một vùng đất kỳ vĩ và lãng mạn Tiên Du là chiếc nôi

ra đời của thiên anh hùng ca ông Gióng, một mô hình anh hùng cứu nước điển hình

mà mọi người Việt hôm nay vẫn còn xúc động tự hào Phật Tích - Tiên Du là vùng đất cổ, một địa danh đầy ắp những huyền tích ly kỳ

Trong hệ thống Trong hệ thống đồi núi của xã Phật Tích, đẹp nhất là núi Lạn Kha (còn gọi là núi Tiên Du) Núi Lạn Kha nằm trong địa phận làng Phật Tích nên người dân quanh vùng thường lấy tên làng đặt ten cho núi Phật Tích (Núi Lạn Kha)

là đoạn cuối của dãy Nguyệt Hằng Sơn có tên nôm là Núi Chè (Trà Sơn) Núi Chè không ao, nhưng ở đó mọc lên muôn ngàn mỏm đá đứng với thông reo vi vút, chứa đựng nhiều huyền tích, huyền thoại kỳ thú Trên đỉnh núi có khối đá vuông rất lớn, theo các cụ cao niên kể lại đó là bàn cờ tiên gắn liền với sự tích Tiều phu Vương Chất gặp Tiên Non cao, non Xỉ, non Nghè là các ngọn của núi Phật Tích Non Xỉ được giải thích câu chuyện tranh chấp uy tín giữa bà Chúa Chè (Đặc Thị Huệ) và Trạng Bựu Non Nghè nơi nhân dân xây dựng Nghề Thần Cao Sơn

Núi Bát Vạn nằm ở phái Bắc xã Phật Tích, tiếp giáp xã Việt Đoàn và Liên Bão Tương truyền rằng: Cao Biền là tướng giặc phương Bắc, sang đánh dẹp phương Nam, vốn giỏi phép thuật, ông phát hiện trên đỉnh Non Tiên (núi Phật Tích)

có huyệt đế vương Để dân Nam không thể xưng vương mà chống lại triều đình Phương Bắc, Cao Biên đã cho mở ở dưới chân núi làng Trùng Minh một lò gạch,

Trang 16

nung 8 vạn bảo tháp và yểm trên núi Trùng Minh để trấn long mạch, nên gọi là núi Bát Van Sử chép “Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp, tiếp chiến ở núi Bát Vạn, đắp thành dưới chân núi, khi chết người địa phương lập đền thờ” Nguyễn Thủ Tiệp, người Phúc Kiến (Trung Quốc), cha là Nguyễn Nê, làm quan đời Tấn (936 – 946) đến chức Kiêu Kỵ Đại Tướng Quân Đô Đốc Quản Bình Dương Hầu Nhân lúc nước Nam có loạn, Nguyễn Nê mang 1.000 lừa và 8 vạn tinh binh Lúc bấy giờ Thiên Sách Vương (tức Ngô Xương Ngập) bỏ triều cống Nguyễn Nê đem đại quân đến xã Thanh Quả, truyền quân hạ trại, sau lấy người con gái xã Thanh Quả là Nguyễn Thị Mối, sinh được 3 người con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu đều tinh bẩm phi thường Nguyễn Nê muốn mưu tính việc lớn, bèn ân uy, giáo dưỡng kiêm thi Lớn lên 3 ông đều trở thành tướng giỏi đánh đâu được đấy

Ngày 03 - 3 năm Giáp Thìn, Nguyễn Nê không bệnh mà chết, tướng sỹ là Đỗ Hiệu, Trần Mưu đưa về táng dưới núi Thanh Xuân (tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc) con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu ở ại quê mẹ - đất Nam thay nhau nắm giữ binh quyền Ngô Quyền xưng vương, phong cho Nguyễn Khoan làm Điều hạt Tướng quân, Nguyễn Thủ Tiệp làm Tứ Xuyên Đô Quân, chiếm cứ vùng đất Tiên Du Ngày nay tại thôn Phúc Nghiêm – xã Phật Tích vẫn còn đền thờ Tướng quân Nguyễn Thủ Tiệp cùng nhiều giai thoại xung quanh những nhân vật truyền thuyết, thêm khẳng định về vùng đất ngàn năm văn vật nơi đây

Xung quanh truyền thuyết tên làng, tên núi, tên chùa, làng Phật Tích nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện mang đậm tính huyền thoai có màu sắc đọa giáo, Phật giáo: Bà chúa Vĩnh, tích chùa Kim Ngưu, chuyện am Mở Mang vị tăng sĩ Ấn Độ Khâu Đà La - Man Nương và đền Nguyên Phi Ỷ Lan thôn Vĩnh Phú, truyền thuyết lăng Quốc Hoa Công Chúa thôn Cổ Miếu, truyền thuyết Từ thức gặp Tiên

Với vị trí địa linh, cảnh quan có nhiều lợi thế khiến cho làng quê, thôn, xóm trù mật, dân cư đông đúc Từ trước đời thuộc Tùy – Đường, Phật Tích đã trở thành một trung tâm Phật giáo của người Việt cổ, là nơi hành đạo của nhiều cao tăng, đạo sỹ; chùa tháp được xây dựng khá nhiều Từ ngôi tháp đổ lộ ra pho tượng A Di Đà vì vậy làng có tên Phật Tích

Trang 17

1.3 Lịch sử xã Phật Tích

Năm 1975 đoàn khảo cổ học do giáo sư sử học Trần Quốc Vượng làm trưởng đoàn, cùng một số cán bộ bảo tàng Sở văn hóa thông tin tỉnh Hà Bắc đã tiến hành điều tra, khảo cứu một số di chỉ dọc bờ sông Tiêu Tương cổ và núi Lạn Kha, núi Hiên Vân, núi Hổ đã phát hiện nhiều hiện vật các loại công cụ chết tác bằng đá, vòng khuyên, hoa tai, chuỗi hạt, những mảnh gốm hoa văn hình sóng nước, hình xoắn ốc khắc vạch, vân thừng… bằng phương pháp khoa học Viện khảo cổ đã xác định tương đương với thời đại Đông Sơn, có niên đại cách ngày nay trên 3.5000 năm Điều đó khẳng định: Vào thời đại đá chuyển tiếp sang thời đại đồ đồng đã có con người đến các địa bàn này cư trú, khai phá rừng núi như các địa danh rừng Nìa, rừng Sộp, rừng Nỗ… xây nhà dựng cửa, lập xóm làng Ban đầu các cư dân đã chọn các đồi gò, sườn đồi, chân núi, nhưng khu đất cao, thuận lợi cho phòng ngự, sản xuất, săn bắn, trồng tỉa…

Những dấu tích cổ xưa ngày nay phần nào còn được phản ánh bằng các tên làng: kè Mưỡn, kè Ngò, kè Sộp… tên gọi các cánh đồng ở Phật Tích: Trùng Mẹo, đồng Xi, đồng Dé… Đặc biệt mới đây lại phát hiện thêm những lưỡi Bôn, chiếc Rìu

có vai bằng đá cứng, Rìu lưỡi xéo bằng đồng có lỗ tra cán ở khu vực thùng lò gạch

xã Tri Phương, di chỉ bãi Tháp Đại Trung (Đại Đồng) Tất cả các hiện vật đều được xác định có từ thời đại Hùng Vương Căn cứ vào các tài liệu của ngành khỏa cổ học

và ngành khoa học lịch sử, khẳng định: Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước Phật Tích đã là một trong những điểm quần cư sớm của con người Thuở ấy, cư dân sống thanh bình trong quốc gia Văn Lang, không chia ra cấp bậc, uy quyền, không có ai xâm lấn, Vua – Tôi cùng cầy cấy yêu thương nhau

Trải qua nhiều năm, nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, nhờ phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp lại có quân mạnh, tướng hùng trở thành quốc gia giàu mạnh Năm Quý Mão (258 TCN) Thục Phán thấy nước Văn Lang giàu có, liền mang quân đánh Hùng Vương, thống nhất các bộ tộc Vua Hùng vào bộ tộc mình, cho xây thành, đắp lũy, đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa), đổi hiệu là nước Âu Lạc, xưng là An Dương Dương

Trang 18

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí - Phạm Trọng Điềm, Nxb Thuận Hóa 2006; Đại Việt địa dư toàn biên – Phan Huy Chú - nxb Văn hóa, 1997; Địa chí Hà Bắc – nxb thông tin truyền thông; Bắc Ninh dư địa chí – Đỗ Trong Vĩ – nxb Thông tin truyền thông; Lịch sử Đảng bộ xã Phật Tích –nxb thông tin truyền thông Lịch sử xã Phật Tích được thống nhất qua các thời kỳ như sau:

Thời thuộc Hán (207 TCN) Hai Bà Trưng (năm 40 SCN) Phật Tích là địa vực ủa huyện Long Biên, quận Giao Chỉ; năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1417) thuộc Phủ Bắc Giang, châu Vũ Ninh

Thời Trần vững mạnh (1226-1400) nhà ước phong kiến lập thêm cấp Phủ; thời lê Thánh Tông (niên hiệu Quang Thuận 1460 – 1469) huyện Tiên Du thuộc phủ

Từ Sơn, trấn Kinh Bắc Năm Minh Mệnh thứ hai (1821) trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh Thời Nguyễn Năm Minh mệnh thứ 12 (1831) trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh Năm 1895 thực dân Pháp chai tỉnh Bắc Ninh thành 2 tỉnh, phía Nam sông Cầu là tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc sông Cầu là tỉnh Bắc Giang Các làng xã Phật tích thuộc huyện Tiên Du – phủ Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh

Huyện Tiên Du có 9 tổng là: Phù Đổng, Dũng Vi, Đại Vi, Đông Sơn (Thụ Phúc), Trụ Triền, Nội Duệ, Khắc Niệm, Chi Nê, Nội Viên Lỵ sở đóng ở xã Đông Sơn – tổng Đông Sơn Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) chuyển về xã Hồi Bão, tổng Nội Duệ

Tổng Thụ Triền có 7 xã, thôn: Thụ Phúc (Chiềng), Phù Lập (Sộp, Trung, Thượng), Trung Minh (Trùng Quang) có 2 xóm: Ngò (Ngô Xá) và Phúc Nghiêm, xã

Cổ Miếu (Mưỡn), Vĩnh Phú, Cao Đình và Phật Tích

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ Năm 1948 xã Phượng Hoàng được thành lập bao gồm 5 thôn: Phật tích, Trùng Quang (Phúc Nghiêm), Ngô Xá (Ngô) Cổ Miếu Mướn) và Vĩnh Phú

Năm 1963 hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hợp lại thành tỉnh Hà Bắc Ngày 14-3-1963 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 25/QĐ sáp nhập huyện Tiên Du và

Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn Huyện Tiên Sơn có 27 xã, 1 thị trấn; xã Phượng

Trang 19

Hoàng đổi tên là xã Phật Tích Năm 1997 tỉnh Bắc Ninh được tái lập (theo Nghị quyết tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) Ngày 9/8/1999 Chính phủ ra Nghị quyết số 68/1999 NĐ-CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn Huyện Tiên Du chính thức hoạt động có 15 xã và 1 thị trấn, trung tâm huyện lỵ đóng tại chân núi Lim (Hồng Vân Sơn) thị trấn Lim Xã Phật Tích là 1 trong 16 xã, thị trấn của huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh

1.4 Tình hình đời sống dân cƣ, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội xã Phật Tích

1.4.1 Tình hình đời sống dân cư, kinh tế xã Phật Tích

Xã Phật Tích có tỉnh lộ 270 (180 cũ) và 295 chạy qua, hai tuyến đường giao thông gặp nhau ở địa phận xóm Núi Đất tạo thành ngã ba Một nhánh 270 nối Phật Tích với quốc lộ 1 - cách thị trấn Lim trung tâm huyện lỵ Tiên Du 6,5km, đường

295 từ xóm Núi Đất chạy qua làng Phật Tích và Vĩnh Phú; nối Phật Tích với trung tâm huyện lỵ Tiên Du, đoạn chạy qua Phật Tích chừng 2 km

Ở vào vị trí thuận lợi, cách đây hàng ngàn năm, Phật Tích đã một thời là tủng tâm quân sự, văn hóa quan trọng Phật Tích là địa bàn cư trú lâu đời của dân nông nghiệp trồng lúa nước, cư dân sống quần tụ thành từng xóm, làng gắn bó với nhau bằng mối quan hệ “Trong họ, ngoài làng”, nhà nọ liền kề nhà kia, xóm này nằm cạnh xóm kia, “Tối lửa tắt đèn có nhau”

Trải qua hàng ngàn năm, bằng khối óc thông minh và bàn tay lao động vùng lấp trũng cải tạo đồng ruộng, chế ngự thiên nhiên để lao động sản xuất, từ một năm cấy một vụ, năng suất chỉ đạt 30-60kg thóc/sào, chuyển sang cấy một năm hai vụ, năng suất đạt 150kg – 200kg thóc/ sào Ngoài ra người nông dân còn làm thêm được vụ xuân, trồng các loại cây lương thực khác như: Ngô, khoai, sắn, các loại cây màu: Lạc, đỗ… rau xanh Chăn nuôi gia súc, gia cầm, góp phần thu nhập nâng cao đời sống nhân dân

Dựa vào nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, mang tính thời vụ, những lúc nông nhàn, nhân dân đã biết tranh tủ thời gian rỗi để làm nghề phụ Làm đậu, xay sát, làm hàng xáo, thợ xây, thợ nề… Một số làng trước đây có nghề thủ công phát

Trang 20

triển lâu đời như: Làng Phật Tích, Vĩnh Phú có nghề trồng dâu nuôi tằm, làm hương đen, đan sọt Làng Cổ Miếu có nghề đục cối, làng Ngô x/á có nghề đan thuyền…

Ngày nay một số nghề thủ công vẫn còn được giữ gìn tồn tại và phát huy, nghề đan dế xoong nồi, làm bột lọc gạo nếp, gạo tẻ, nấu chè, bánh khoai Làng Ngô

Xá phát triển nghề đan thuyền nan, phục vụ cho sản xuất đánh cá, được nhân dân trong vùng tín nhiệm, ưu chuộng

Thu nhập từ phát triển kinh tế vườn đồi, phát triển trang trại, trồng các loại cây ăn quả, góp một phần không nhỏ nâng cao đời sống nhân dân Phật Tích còn nổi tiếng với các sản vật chè xanh, trám đen, trám trắng… những sản phẩm từ lúa gạo, hoa màu, các sản phẩm nghề phụ, nghề thủ công chủ yếu được trao đổi bán mua giữa người dân với nhau, giữa làng này với làng kia, tạo thành một hệ thống chợ làng, chợ chùa, họp lúc sáng, khi trưa hoặc lúc xế chiều

Trước đây, cửa chùa Phật Tích có chợ, bán mua các sản phẩm của địa phương, quang cảnh sầm uất

Cảnh chùa Phật tích vui thay

Tam quan có chợ, mỗi ngày một phiên

* Truyền thống khoa bảng

Trong chặng đường 844 năm cử nghiệp Hán học (1075 – 1919) quê hương Phật Tích đã cung cấp cho đất nước nhiều trí thức tài đức, hiểu rộng, biết nhiều Làng

xã Phật Tích xưa nổi tiếng có truyền thống khoa bảng, các dòng họ lớn đều có người

đỗ đạt làm quan Dòng họ Nguyễn Đức làng Phật Tích thời hậu Lê có tới 4 người thi

đỗ tiến sỹ Dòng họ Đỗ có 8 vị kế tiếp nhau làm quan thái y, số người của các dòng

họ đỗ cử nhân, tú tài, hương cống, sinh đỗ làm đến các chức quân sát sứ, đốc học thì

có rất nhiều Làng Phật Tích hiện còn 2 tấm bia khắc tên tuổi các vị đại khoa

1.4.2 Về tình hình chính trị, văn hóa, xã hội

Trải qua hàng nghìn năm, người dân Phật Tích đã xây dựng cho mình một truyền thống lao động cần cù, sáng tạo; đấu tranh kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm Truyền thống lịch sử quý báu đó đã được nhân lên gấp bội kể từ khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo

Trang 21

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam nhân dân Phật Tích đã vùng lên đấu tranh giành chính quyền, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đánh Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đặc biệt trong công cuộc đổi mới Đảng bộ và nhân dân Phật Tích đã quán triệt sâu sắc các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào hoàn cảnh địa phương, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế văn hóa, tang cường

hệ thống chính trị, ổn định trật tự an toàn xã hội, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong thời kỳ mới

Công tác văn hóa, văn nghệ cũng có những chuyển biến tích cực Đảng ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân tích cực vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện nếp sống mới trong việc may chay, cưới xin; đồng thời đấu tranh kiên quyết bài trừ các tệ nạn xã hội mê tín, dị đoan, từng bước xây dựng nếp sống mới lành mạnh văn minh

Công tác quốc phòng, an ninh thường xuyên được củng cố, tang cường vững chắc Qua các giai đoạn, phong trào quần chúng gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội ở Phật Tích phát triển Chính quyền đã làm tốt công tác quản lý hộ khẩu, hộ tịch, hạn chế các vụ việc tiêu cực, góp phần làm trong sạch quan hệ xóm làng và đem lại sự bình yên cho nhân dân Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng đến từng thôn, thường xuyên duyệt tập và tham gia có hiệu quả các đợt diễn tập, hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu tuyển quân hàng năm Trong đó các tổ chức đoàn, hội được kiện toàn và phối hợp nhịp nhàng với nhau trong những nhiệm vụ tình hình thực tế của địa phương

1.5 Vị thế di tích chùa Phật Tích

Chùa Phật Tích (Phật Tích tự còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Là công trình văn hóa tín ngưỡng thờ Phật khởi dựng từ lâu đời, đến thời Lý

TK XI chùa được xây dựng với quy mô lớn Đến thời Lê Trung Hưng được trùng tu tôn tạo và mở rộng hơn

Trang 22

Chùa được xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" và nhiều lớp nhà tạo thành kiểu "trăm gian" Tổng thể công trình chùa Phật Tích được bố trí đăng đối Không kể Tam Quan và gác chuông đứng ở phía trước, tòa Tam bảo được khuôn kín trong một hình chữ nhật lớn giới hạn bởi Tiền Đường phía trước và Hậu đường

ở phía sau và hai dãy hành lang

Hai bên và phía sau những công trình chính là nhà Tổ, nhà Mẫu, Phủ chúa, trong vườn chùa xây những cây tháp cổ bằng gạch và đá cao vút Từ xưa đến nay, tháp chùa được xem như một công trình kiến trúc không thể thiếu, nó góp phần tôn vinh giá trị cho các ngôi danh lam cổ tự và thu hút đông đảo khách thập phương đến

du ngoạn cảnh chùa Vườn tháp cùng hệ thống di vật cổ độc đáo có giá trị văn hóa nghệ thuật cao

Tuy nhiên, năm 1947, do chiến tranh, chùa bị phá hủy hoàn toàn Nhà nước cho dựng tạm một nhà kho nhỏ để lưu giữ đồ vật

Chùa Phật Tích được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa tại Quyết định số 313/VH-VP, ngày 28 tháng 4 năm 1962 của Bộ Văn hóa và được Thủ tướng chính phủ ký và xếp hạng 62 Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam

Năm 1986, nhân dân địa phương dựng tạm ngôi chùa nhỏ để thờ phụng và năm 1991, ngôi chùa nhỏ này được mở rộng thành chùa Phật Tích như ngày nay Tuy nhiên, do kinh tế eo hẹp, khó khăn nên quy mô ngôi chùa xây mới năm 1986 và

1991 không đáp ứng yêu cầu về diện tích, quy mô, kiến trúc, mỹ thuật, không xứng đáng với một di tích có thời thời Lý

Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng bào Phật tử thập phương và địa phương

có nguyện vọng tha thiết muốn phục dựng lại chùa Phật Tích cho xứng đáng với quy mô và tầm cỡ của di tích lịch sử cấp quốc gia, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng, tham quan, du lịch của nhân dân

Để bảo tồn nhiều di vật thời Lý và tôn tạo ngôi chùa có lịch sử gần 1.000 năm, từng là một trung tâm giáo dục và văn hóa của Đại Việt, ngày 11-10-2008, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã cùng chùa tổ chức long trọng lễ khởi công trùng tu, tôn tạo Di tích lịch sử văn hóa chùa Phật Tích với kinh phí khoảng 35 tỷ đồng do

Trang 23

Công ty cổ phần Tu bổ di tích và Thiết bị văn hóa trung ương thi công từ năm 2008 đến năm 2010, gồm: Tứ trụ, gác chuông, tòa Tam Bảo, nhà Tổ Đệ nhất, phủ Mẫu… theo mẫu kiến trúc chùa Phật Tích thời Lê

Căn cứ kết quả khảo sát, nghiên cứu tại di tích và phân loại di tích theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010, chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự) thuộc loại hình di tích Lịch sử

1.6 Lịch sử chùa Phật Tích

Theo sách "Đại Việt Sử Ký toàn thư" và các dấu tích còn lại, cũng như các di

vật tìm thấy ở khu vực chùa, thì Vạn Phúc tự được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VII-X và được xây dựng thành Đại danh lam vào triều Lý Thánh Tông năm Đinh Dậu, niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057)

Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ

"Phật" dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích

Thời Trần, chùa Phật Tích vẫn là một trong những trung tâm Phật giáo trong vùng Năm Xương Phù năm thứ 8 (1384): Mùa xuân tháng 2, Thượng Hoàng cho thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, [lấy đỗ] bọn Đoàn Xuân Lôi, Hoàng Hối Khanh 30 người

Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am -

đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về

tu ở chùa này

Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây Năm

1846, vua Thiệu Trị triều Nguyễn cho trùng tu chùa

Trang 24

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947, chỉ còn lại pho tượng A Di Đà, đây là kiệt tác điêu khắc thời Lý và đã được Nhà nước công nhận là bảo vật quốc gia năm 2013; Ngoài ra có hàng linh thú đá 10 con trước cửa Tiền đường và hệ thống Tháp mộ ở phía sau chùa Năm 1958, chùa được dựng lại

sơ sài Năm 1991, với sự hảo tâm của khách thập phương và nhân dân trong vùng, chùa được xây dựng lại nhưng có qui mô nhỏ

Từ tháng 10 năm 2008, UBND tỉnh Bắc Ninh và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng chùa Phật Tích bắt đầu tiến hành đại trùng tu chùa theo nguyên mẫu thời Lê…

Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010 – 2010), di tích chùa Phật Tích đã được Nhà nước quan tâm đầu tư kinh phí lớn để phục hồi di tích khang trang to đẹp như hiện trạng ngày nay

Với những giá trị cơ bản trên, chùa Phật Tích được xác định tên gọi di tích như sau:

Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự)

xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

1.7 Quy mô kiến trúc khảo cổ và hiện nay tại chùa Phật Tích

1.7.1 Quy mô kiến trúc chùa Phật Tích hiện nay

Hiện chùa Phật Tích nằm trên thửa đất ô số 2/20.087.8 tờ bản đồ địa chính số

29, 30 xã Phật Tích, đo vẽ năm 2012, tỷ lệ 1/1000

Từ ngoài vào, qua cổng chùa là đến một con đường nhỏ dẫn lên chùa nằm giữa hai ao chùa hình chữ nhật Trước khi bước lên bậc cấp dẫn lên tầng nền của Gác chuông ta gặp một khẩu giếng đá tròn ở bên phải, có đường kính 1,50m nước rất trong, có cây đa cổ thụ xòe bóng che phủ Dưới đáy giếng có đầu rồng đá rất đẹp Xung quanh giếng xây tường đá thấp có kết cấu trụ, chân lan can và mặt trên bằng đá xanh, tường lan can xây bằng đá Hải lựu

Trang 25

Từ cổng ngoài theo trục trung tâm có con đường lát đá rộng 4m đi 30 bậc lên đến cấp nền 2 tới Gác chuông 3 gian 2 tầng, rộng 8,20m, dài 10,40m, cao 4,10m, phía trên treo một quả chuông đồng và một khánh đồng, nằm ở trục giữa phía trước, hai bên phía sau là vườn mít và rặng nhãn dọc hai bên đường trục chính Sân này, chính là vườn chùa, trước kia trồng mẫu đơn để đầu Xuân mở hội xem hoa, cũng ở đây, ra đời mối tình duyên trong truyền kỳ về Từ Thức Tầng nền thứ hai rộng 62m, suốt cả chiều dài của sân cũng được kè đá tảng dật 3 cấp, bước tường cao tới 5m

Phía bên phải có nhà Sắp lễ gồm 7 gian gỗ lim, bộ vì kiểu giá chiêng, xung quanh để không gian mở, không có tường bao, nền cao hơn sân 0,30m

Ở giữa bức tường cũng mở một lối lên chùa (cũng làm bằng những bậc đá) to rộng như tầng dưới

Nằm đối xứng qua hai bậc cửa lên chùa và ngay rìa mép của tầng này có hai dãy con thú bằng đá, mỗi bên năm con, gồm: ngựa, tê giác, trâu, voi, sư tử

Những con thú này đều có kích thước rất lớn cao gần 2m, tất cả đều được nghệ sĩ cho leo lên bệ sen hình hộp nằm thoải mái Thú và bệ liền một khổ đá, hợp thành một khối đồ sộ và trang trọng

Vị trí dẫy tượng thú ở chùa Phật Tích được đặt ở thềm bậc thứ hai, dàn hàng ngang, mỗi bên 5 con, giữa là lối đi Với vị trí như thế, có nhiều cách lý giải khác nhau Ý nghĩa thứ nhất đều thống nhất là các linh thú có vai trò canh giữ Phật pháp, giám hộ người qua lại Ý nghĩa thứ hai thì theo nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh cho đây là hệ thống các vị thần Hộ pháp, hai con voi là thần Indra (Đế Thích) nhiếp chính phương Đông, hai con trâu là thần Yama (Diêm Vương) nhiếp chính phương Nam, hai con là tê giác là thần Agni (thần lửa) nhiếp chính phương phụ Đông Nam, hai con ngựa là thần Vaynu (thần Gió) nhiếp chính phương phụ Tây Bắc

Lớp nền thứ hai, bề sâu tới 33m và mép sân bên trong mở rộng ra tới 66m Toàn bộ những kiến trúc trọng yếu đều được xây dựng ở tầng này

* Tòa Tam Bảo:

Tòa Tam Bảo hiện nay được làm lại dựa trên quy mô, hình thức kiến trúc của tòa Tam Bảo đã được Bezacier ghi lại vào những năm 30 của thế kỷ XX Tuy nhiên,

Trang 26

kiến trúc này cũng được điều chỉnh bổ sung để phù hợp với các yêu cầu và công năng sử dụng cũng như các yêu cầu về kỹ thuật

Chính giữa là ngôi chùa kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc, có tổng diện tích là 1.064m2, với 11 gian Tiền đường, 3 gian Thiêu hương, 3 gian 2 chái Thượng điện, 11 gian nhà Hậu Hai bên, có hai dẫy hành lang, mỗi dãy 7 gian

- Thiêu Hương:

Thiêu hương gồm 3 gian bước gian 2,80m; 2,80m; 2,80m So với bản vẽ của Bezacier phần Thiêu hương (Ống muống) được bổ sung 1 hàng cột giữa trục 5 và 6; giữa 7 và 8 Đây là kết cấu cần thiết bổ sung để đảm bảo tính kỹ thuật đỡ xà nách, bẩy, kẻ xối ăn vào từ Tiền đường và Thượng điện (trước đây gối vào tường, điều này ảnh hưởng lớn tới kết cấu và tuổi thọ của di tích)

Thiêu hương nền lát gạch bát 300x300x50, cao độ nền hơn Tiền đường 0,20m Chiều cao của thượng lương Thiêu hương cũng lớn hơn Tiền đường 5,05m

và 5,25m, phần cao hơn của Thiêu hương được biển tự trên nóc của Tiền đường che kín Hệ thống khung cột gỗ lim, bộ vì nóc theo kiểu chồng rường câu đầu kê đầu cột, vì nách kẻ liền bẩy, cột cái đường kính 0,39m, cột quân đường kính 0,30m

Phía dưới là chân tháp thời Lý, phía trên được bài trí pho tượng A Di Đà, 7 pho tượng Dược sư, dọc hai bên tường bài trí tượng Thập điện Diêm Vương, mỗi bên 5 pho, ngồi trên ngai sơn son thếp vàng

Trang 27

- Thượng Điện:

Thượng điện gồm 3 gian, 2 chái, gian giữa 3,50m, gian bên 2,80m Nền Thượng điện lát gạch bát 300x300x50, cao độ nền là 0,65m, hệ thống khung cột gỗ lim, cột cái giữa đường kính 0,39m, cột cái bên đường kính 0,35m, cột quân đường kính 0,30m, bộ vì nóc, vì nách của Thượng điện cũng được làm tương tự như Thiêu hương nhưng có kích thước nhỏ hơn vì giữa 3,0m; vì nách 1,8m

Bên trong Thượng điện gian giữa bài trí tượng Tam Thế; A Di Đà Tam Tôn, hai bên có 2 tượng chầu là Anan đà và Ca diếp và Thích ca sơ sinh Ở gian bên phải có tượng đức Địa tạng; Thánh tăng Gian bên trái có tượng Quan âm tọa sơn; Sơn thần

- Hành Lang:

Hành lang gồm 2 bên, mỗi bên có 7 gian, hai hàng chân cột, đường kính 0,28m, phía trước trống không có cửa vách, nền lát gạch bát Hệ thống khung cột gỗ lim Vì nóc kiến trúc theo kiểu chồng rường giá chiêng Để tiện cho giao thông và việc thờ cúng, chuyển 2 gian thờ hai bên Hành lang về phía sau 2 bên của tòa Hậu đường Hai bên Hành lang bài trí hệ thống tượng Thập bát La Hán

Trong Nhà Hậu được bài trí các tượng như: Quan âm Chuẩn đề; Văn Thù; Phổ Hiền; Tổ Tỳ ni đa lưu chi; Lý Thái Tổ; Lý Thái Tông; Lý Thánh Tông; tượng Hậu; Tổ Khương Tăng Hội; Trần Nhân Tông; Pháp Loa; Huyền Quang

Trong cụm kiến trúc chính, còn có các tòa nhà như: Nhà Tổ, nhà Mẫu, Phủ chúa; nhà Khách

Trang 28

Đối xứng qua cụm kiến trúc chính về bên phải có miếu tiên chúa thờ Trịnh Thị Ngọc Am

Phía trước miếu có dựng một ngọn tháp Linh Quang xây năm Chính Hòa 20 (1699) Tháp Linh Quang chỉ gồm 1 tầng nhưng khá cao, mặt trước mở cửa vuông, phía trước cửa và bia trong lòng tháp có thể hiện chữ Hán theo kiểu trang trí đẹp và

ít gặp Phiến đá trên cửa dòng trên cùng khắc chữ Hán: “Nam vô A Di Đà Phật”,

“Sắc kiến” bên dưới là ba chữ: “Linh Quang tháp” mỗi chữ đều được chạm tách riêng trong một vòng tròn nổi Diềm hai bên chữ Hán theo lối dọc, bên phải viết:

“Chính Hòa nhị thập niên đồ duy, Đan át thái chương cốc nhật tạo”, bên trái viết:

“Phụng Phật ngọai hộ Thái bảo Tuyên Quận Công kị đạo tràng chúng đẳng” Trong lòng tháp đặt bia đá với ba mặt trời cách điệu với hình vòng tròn nổi, chính giữa là dòng chữ hán (viết theo chiều dọc): Phụng Phật tự tổ Sa di minh linh hiển thân chi thiền tọa

Bên trái Tam Bảo có nhà Tổ đệ nhất với 5 gian trước và 5 gian điện phía sau Tầng nền thứ ba cũng được kè đá phẳng phiu, hùng vĩ như 2 tầng dưới Ở tầng nền này chỉ được san bằng ở phía ngoài, còn bên trong vẫn giữ nguyên khung cảnh thiên nhiên

Chính giữa cửa tầng nền này, cánh mép nền 14m30 có một ao nhỏ hình chữ

nhật gọi là “Long trì” Ao dài 8,20m, rộng 5,85m, sâu hơn 2,20m Bốn bề đều được

kè đá tảng, vách thẳng, vuông góc Long trì nay đã cạn khô, đáy ao lộ ra nhiều đá khối Tương truyền đây là đuôi của con rồng mà đầu của nó là Giếng Ngọc dưới kia Đường dẫn xuống Long Trì có cầu than đá rộng 2m với 13 bậc cấp Ở đầu cầu thang có một nền nhà bằng đá tảng mài nhẵn hình chữ nhật dài 4m25 rộng độ 3m Người già kể rằng công trình kiến trúc dựng trên nền này cũng được cất bằng đá xanh huyền diệu

Trên mặt nền này, nằm chen vào đá núi, nhấp nhô 35 ngọn tháp lớn nhỏ, cái được dựng bằng đá, cái được xây bằng gạch

Phần lớn các tháp lớn đều được đặt tên ghi năm dựng:

- Tháp Phổ Quang dựng năm Cảnh Trị 2 (1664):

Trang 29

Gồm 4 tầng, tầng 2 rỗng có trần khắc hình trọn bát quái, 3 mặt vách chạm tới

7 tượng phật ngồi trên tòa sen Tháp Phổ Quang được trang trí theo một hình thức đặc biệt khác với trần phía trong chạm các biểu tượng giống như tháp Bồ Đề, mặt chính phía trong chạm mổi phù điêu Tam Thế Phật ngồi tĩnh tọa trên tòa sen (gồm hai lớp cánh chạm kép để trơn), hai tay kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi, mình mặc áo cà sa với các nếp áo phủ tràn xuống chân mềm mại Hai mặt bên chạm nổi phù điêu tứ vị Quan Âm Bồ Tát cũng trong thế ngồi thiền trên đài sen, đàu đội mũ thiên quan, chính giữa mũ chạm nổi hình đức Phật A Di Đà

- Tháp Viên Dung dựng năm Kỷ Mùi (1679?),

Cũng cao 4 tầng, mặt trước của tầng 2 chạm nổi hình tròn trên hình chữ nhật, dường như muốn biểu hiện trời tròn, đất vuông

- Tháp Hiểu Quang dựng năm Vĩnh Trị 5 (1680)

- Tháp Viên Quang dựng năm Chính Hòa 5 (1684):

Cao 2 tầng và Bồ Đề trong lòng tháp có an trí tượng, mặt trước khắc chữ Hán tên tháp và đặc biệt trên trần phía trong lòng tháp (tầng 1) có chạm nổi hình vòng tròn

ở giữa, bao quanh là quẻ dịch với các vạch khắc thể hiện 8 cung: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài Phía ngoài, tại 4 góc của trần tháp Bồ Đề chạm hình hoa sen năm cánh và các dải mây cách điệu dạng tia lửa – phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê

Tháp Viên Minh gồm 3 tầng, trong lòng của tầng 1 đặt 1 bài vị bằng đá nguyên khối, diềm bài vị chạm mặt trời với các tia lửa, các đường xoắn cong đối xứng nhau và cách dải mây nhọn đầu Trên trần tầng 1 chính giữa khắc một vòng tròn chia hai nửa với các vách nổi đen - trắng đối xứng nhau thể hiện sắc sắc không không của đạo Phật Vòng tròn bao ngoài khắc Lục tự đại minh thần chú (chữ Phạn)

OM MANI PADME HUM

Tháp Báo Nghiêm dựng năm Chính Hòa 13 (1692)

Nổi cao nhất với 4 tầng Mặt tháp có chạm tượng Phật ngồi trên tòa hoa sen trong vòm tròn lá đề ở mặt chính tầng thứ 3, hai mặt bên của tầng thứ 2 chạm thủng chữ Vạn Trong lòng tháp an trí tượng thiền sư ở tầng 2 và tượng Tổ - Thiền sư

Trang 30

Chuyết Chuyết ở tầng 1 Tư liệu PGS TS Nguyễn Lân Cường cho biết, vào một đêm mưa bão cuối tháng 8/1989, kẻ gian đã lẻn sau chùa phá ô cửa nhỏ bằng đá của tháp Báo Nghiêm nhưng trong lòng tháp chỉ vỏn vẹn có một vại sành, trong đó đựng xương và những mảnh vỡ của một pho tượng cổ Được sự giúp đỡ của các chuyên gia, nhà sư trụ trì chùa Phật Tích, nhân dân địa phương và các cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh, trong những năm từ 1991-1993, PGS TS Nguyễn Lâm Cường

và các chuyên gia đã phục dựng thành công một pho tượng nhục thân và xác minh được đó chính là tượng nhục thân của sư tổ của chùa là thiền sư Chuyết Chuyết (nay được đặt trong nhà Tổ của chùa)

Còn một số tháp như Tông Ỷ, Bồ Đề…đều không rõ năm xây dựng Sườn phía bên núi Phật Tích còn một số tháp gạch nhỏ Cộng tất cả 35 cây tháp, mỗi cây tháp, giữ xá lị của các hòa thượng đắc đạo Hơn bất cứ nơi nào, số lượng tháp ở Phật Tích đã chứng tỏ, đây là nơi biết bao nhiêu nhà tu hành đã về tu luyện

Trong tổng số 35 ngôi tháp hiện còn, có thể thấy hầu hết các tháp đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống như gạch chỉ nung già (27/35), miết mạch vôi vữa, không trát phía ngoài Các tháp đá (8/35) gồm những viên đá lớn xếp chồng lên nhau, hầu như không thấy mạch ghép Đa số các ngôi tháp đều có tên, Nhưng lâu năm nét chữ dần mờ phai nên không thống kê hết được Một số tháp có bia đá hoặc bài vị và ghi thời gian sinh, hóa và hoạt động Phật sự của các nhà sư… Thực

sự là nguồn tư liệu chân thực giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sấu sắc hơn về Phật giáo nói chung, lịch sử chùa Phật Tích nói riêng

Sau khi đi hết cả 3 tầng nền từ trên đỉnh cao nhìn xuống bao quát càng thấy kinh ngạc trước sức lao động vĩ đại của con người đã đổ mồ hôi xuống đây xẻ đồi,

san núi để xây dựng nên những công trình “lầu son gác tía ”

Mặt bằng kiến trúc Phật Tích cũng như nhiều chùa khác được dựng ở thời

Lý thường được làm trên sườn núi cao, dựa vào núi tạo nên một bộ phận đột xuất của thiên nhiên Mặt khác nó còn mang một nội dung Đất – Nước – Núi – Sông rõ rệt Độ cao của mặt bằng nhằm nâng kiến trúc bay bổng, gần với thế giới siêu nhiên hơn

Trang 31

Những bức tường đá ghép khéo léo đã bảo vệ các tầng nền rất hiệu quả Đã gần 1000 năm nay nó vẫn đứng vững với thời gian, chứng tỏ tài năng kiến trúc đặc sắc của cha ông ta thủa trước

1.7.2 Quy mô kiến trúc khảo cổ chùa Phật Tích

Thực hiện kế hoạch trùng tu tôn tạo di tích chùa Phật Tích đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt, tháng 11 năm 2008, công việc trùng tu, tôn tạo

di tích chùa Phật Tích đã được triển khai Trong quá trình thi công trùng tu tôn tạo chùa Phật Tích tại cấp nền này đó làm xuất lộ di tích móng tháp thời Lý được xây dựng bằng gạch Phát hiện có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ những kết quả nghiên cứu trước của học giả người Pháp Bơzacier và các nghiên cứu của các học giả Việt Nam trong nhiều năm qua, đồng thời đây là lần đầu tiên chúng ta nhận diện

rõ về vị trí, qui mô mặt bằng và trình độ xây dựng tháp Phật thời Lý tại di tích chùa

Phật Tích

Trước phát hiện quan trọng nói trên, để tìm hiểu giá trị và đề xuất hướng nghiên cứu, bảo tồn di tích, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo tiến hành khai quật khảo cổ học đợt 2 tại khu vực phát hiện dấu tích tháp gạch tại chùa Phật Tích, từ ngày 23/11/2008 đến ngày 25/12/2008, trước đó (đợt 1) đã tiến hành khai quật 1 hố nhỏ có diện tích khoảng 10m2 tại khu vực góc đông - bắc làm xuất lộ dấu tích rất đậm đặc được đoán định có thể là phần tháp đổ Như vậy, trong 2 đợt khai quật, một vẫn đề quan trọng ở đây đã được giải quyết: đó là dấu tích nền móng tháp, và hướng đổ của tháp

Nhằm bảo tồn, nghiên cứu, lập hồ sơ đánh giá giá trị của di tích trước khi tiến hành các bước tiếp theo, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã mời các nhà khoa học của Viện Khảo cổ để nghiên cứu, xây dựng hồ sơ tư liệu khoa học, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn di tích phục vụ cho việc trưng bày giới thiệu Theo hồ sơ Chùa Phật Tích di tích Quốc Gia Đặc Biệt ngày 4/3/2013 của Ban quản

lý di tích – Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã lập các hạng mục khai quật khảo cổ học tại chùa Phật Tích như sau:

Trang 32

1.7.2.1 Hiện trạng của móng tháp:

Khi các nhà Khảo cổ của Viện Khảo

cổ học có mặt thì toàn bộ ngôi chùa cũ đã

được hạ dải, đơn vị thi công đang tiến hành

các công việc xây dựng, gia cố nền móng

để phục vụ cho việc trùng tu, phục dựng lại

ngôi chùa cũ Một số móng trụ đã được xây

dựng trong phạm vi dấu tích nền chùa

Phần móng tháp đã được làm xuất lộ

toàn bộ với quy mô chân tháp xây dựng

bằng gạch hết sức to lớn Bề mặt của chân

móng đã được làm xuất lộ cho thấy nó bị

phá hủy theo chiều thấp dần về phía nam Trong tổng số 4 mặt của các cạnh tháp, bề mặt phía nam bị phá hủy nghiêm trọng nhất, ở đó có nhiều các viên gạch bị bong lên khỏi bề mặt, cao độ của bề mặt chỉ tương đương ở khoảng giật cấp 2 trong số 3 cấp tường móng quan sát được ở bờ tường phía bắc

Bờ tường phía bắc và phía đông còn nguyên vẹn nhất với dấu tích tường xuất

lộ với 3 cấp thu hẹp dần theo chiều từ dưới lên trên Tại bờ vách bắc còn nhận diện được dấu tích của tường xây của giai đoạn 1991 (một bộ phận nằm trong gian thờ chính của ngôi chùa cũ đã được hạ dải) Trên đoạn tường đó, bề mặt trong còn có dấu tích dùng vôi vữa trát khá bằng phẳng Pho tượng A-di-đà được đặt ở khoảng chính giữa của đoạn tường và nằm lui về phía bắc trên một đế đã được gia cố bằng bê-tông

Xung quanh bên ngoài các cạnh của móng tháp đã được khai quật sâu xuống, làm lộ hết toàn bộ chân móng tường của tháp

Trong lòng tháp cũng được khai quật sâu xuống, bóc đi toàn bộ lớp vật liệu lấp lại Theo suy đoán của những người tham gia xử lý khai quật, thì lòng tháp này

là dấu tích do Bơzacier đào, sau đó lấp lại Sau khi bóc bỏ đi toàn bộ lớp đất lấp đó, phần gia cố nền phía dưới được xuất lộ nguyên trạng với các lớp sỏi-đất sét đồi đầm chặt thành từng lớp riêng biệt

H1: Toµn c¶nh di tÝch mãng th¸p

Trang 33

Trên toàn bộ các cạnh tháp còn lại, góc tây-nam bị phá hủy mạnh nhất, thấp xuống tới bề mặt của giật cấp thứ nhất (tính từ dưới lên)

Góc tây-bắc có một khoảng (hình gần tứ giác) ở đó các viên gạch được đầm vụn, các viên gạch xung quanh có chiều hướng xô nghiêng vào tâm của khoảng đầm Do vậy, đoán định tác động này có thể hình thành từ thời Lê thế kỷ XVII (năm 1686) khi ngôi chùa được đại trùng tu, vị trí đó có thể là dấu tích của đầm cột để phục vụ cho việc xây dựng bên trên

Để triển khai công việc, từ dưới chân núi phía nam, lấy cos (0;0) tại điểm bậc thềm đá (nằm trong lòng của giếng cổ), dẫn điểm lên móng tháp, đồng thời dựng một trục toạ độ chuẩn nằm ngang theo chiều bắc-nam của móng tháp nhằm tạo cơ

sở cho việc vẽ lại toàn bộ di tích

1.7.2.2 Địa tầng di tích:

Tại các vách của hố khai quật, địa tầng

phía trên đều không còn, sự mất đi này có thể

do trong quá trình thi công xây dựng Tuy

nhiên, tại các vách vẫn còn nhận diện được

địa tầng, nhưng đứt đoạn, không liên tục

Địa tầng vách nam còn nguyên vẹn

nhất, do đó được xác định để nghiên cứu, sau

đó có thể quy chiếu, so sánh để tìm hiểu tại

các vách khác còn lại

Nhìn chung, trên tổng thể địa tầng

đều xuất lộ các lớp gia cố móng và xung

quanh tháp

Các lớp đầm gia cố xuất lộ với cao

độ tương đương nhau (960cm), đồng thời có

tính ổn định và chặt chẽ, cho thấy khi xây

dựng tháp, người ta đã phải tiến hành đầm

nền trên một quy mô rộng hơn diện tích của

móng tháp Theo hiện trường xuất lộ, thì các

H2: Địa tầng vách Nam

H3: Địa tầng vách Nam

Trang 34

lớp đầm này ngoài việc phục vụ cho việc xây dựng tháp, người ta còn đầm nền để xây dựng các khoảng sân xung quanh chân tháp Đây là một hiểu biết có thể mới nhất của kỹ thuật đầm nền xây dựng tháp thời Lý

Địa tầng được nghiên cứu ở đây đều nằm phía ngoài của chân móng tháp, điều này đưa đến suy đoán, sau khi xây dựng chân móng tháp bằng gạch, người ta tiếp tục đầm gia cố rộng ra xung quanh có thể để lát gạch tạo không gian thoáng cho tháp, đây cũng là không gian tâm linh của tháp

Tại vách nam, nghiên cứu kỹ còn quan sát được các lớp đất có niên đại muộn hơn nằm đè lên các lớp gia cố Niên đại của các lớp đất phủ lên bên trên lớp đầm có thể được hình thành vào thời Lê (1686) Mặt khác, do đây là hướng nam, nên có thể

có một lối vào trong lòng tháp từ hướng này, do đó người ta dùng các vật liệu đắp phủ lên còn để xây dựng một lối vào bên trong tháp

Từ trên xuống dưới, diễn biến địa tầng gồm 3 tầng văn hoá như sau:

- Tầng văn hoá (PT.08.N.TV01): ở

dạng đất đồi có màu nâu, dễ bở rời, xốp, pha

nhiều sạn sỏi, khi bị ẩm ướt rất dính, lồi lõm

không đều nhau, dày trung bình 20cm Bề mặt

lớp này không bằng phẳng, nhiều đoạn bị thấp

lõm xuống, đây có thể là do nguyên nhân khi

thi công xây dựng tạo thành Đây là lớp đất

hiện đại, được chúng tôi xác định là lớp đất mặt,

bị xáo trộn mạnh và xâm thực xuống tầng văn

Trang 35

+ Lớp PT.08.N.TV02-A:

Lớp này chỉ xuất lộ ở phạm vi nhỏ nằm về phía tây của vách, rộng 218cm, dày 60cm, mỏng dần về phía đông Đất ở dạng sét có màu vàng, bị laterit hoá nhẹ, lẫn nhiều các mảnh ngói có niên đại thế kỷ XVII Trong lớp đất loang nổ các ổ sét màu trắng xám, khá thuần, nằm xen kẽ trong lớp đất của lớp văn hóa

Tính chất của lớp này có thể vẫn là lớp đất xáo trộn, nhưng được hình thành vào thời Lê hoặc là lớp san lấp khi ngôi chùa thời Lê bị phá huỷ Khi trùng tu xây dựng, người ta đã tôn cao nền của ngôi chùa lên, phủ đè lên toàn bộ nền đầm gia cố của thời Lý Khi tôn cao nền, lớp đất này được dùng với công năng làm cao mặt bằng ngôi chùa, sau đó bên trên người ta dùng gạch lát chùm lên Tuy nhiên, phạm

vi này rất gần với bậc thềm từ phí dưới đi lên, do đó khu vực này có thể đảm trách công năng như là nền phía trước của chùa

+ Lớp PT.08.N.TV02-B:

Đất trong lớp này là loại đất sét thuần, có màu vàng trắng, không chứa di vật, xuất lộ tạo thành 2 khoảng ở 2 bên phía đông và tây của đường lên chùa (vách nam), dày trung bình 60cm Ở đáy của lớp này chứa các di vật vật liệu kiến trúc gạch, ngói của thời Trần và thời Lê

Lớp đất này có hình dạng xiên, theo chiều hướng đi từ trên xuống dưới, xen giữa lớp đất này có các ổ ken dày các vật liệu xây dựng như ngói, gạch vụn Hiện trạng xuất lộ như vậy đưa đến một giả thuyết đây là lớp đất san gạt, tân lấp, tôn cao nền của thời sau (thời Lê) Lớp đất này nhìn chung nằm dưới PT.08.N.TV02-A, nhưng tính chất thì tương đồng – đều là lớp tôn cao nền của thời Lê (1686) so với nền ban đầu của công trình kiến trúc

Khi ngôi chùa thời Lý-Trần bị xuống cấp, người ta đã tiến hành san gạt lại mặt bằng, sau đó xây dựng ngôi chùa thời Lê lên đó Vì vậy trong lớp này, nhận thấy có nhiều ngói thời Trần và đất sét thuần

+ Lớp PT.08.N.TV02-C:

Đây là lớp dưới cùng của tầng văn hóa 2 Đất sét có màu nâu đỏ xẫm, pha cát mịn (dạng cát đồi), dải đều trên bề mặt lớp gia cố, dày trung bình 17cm Đây là lớp đất ngăn cách giữa lớp đầm nền gia cố của thời Lý và lớp nền tôn cao của thời Lê

Trang 36

Nhìn chung lớp này khá ổn định, hình dạng nằm trải đều trên bờ vách, tuy nhiên bề mặt của lớp này vẫn không bằng phẳng, cao thấp ở nhiều vị trí khác nhau

do sự phá hủy và xâm thực của thời sau (thời Lê-1686)

Tính chất của lớp này có thể hiểu, ban đầu đây là lớp đầm nền của thời Lý (đáy lớp này rất ổn định, bằng phẳng, nối liền thể hiện sự tiếp nối liên tục lớp các lớp đầm phía dưới), đến thời Lê, khi chùa cũ được trùng tu, nền bị phá hủy tôn cao Việc này chỉ tác động, ảnh hưởng đến bề mặt của lớp này

Như vậy, mặc dù có niên đại thuộc thời Lý, nhưng do tính chất và dấu tích tác động của thời sau, nên lớp này vẫn được xếp vào thời Lê Đây là dấu tích cho thấy sự chuyển tiếp, trùng tu giữa hai giai đoạn Lý-Trần và thời Lê

- Tầng văn hoá 3 (PT.08.N.TV03):

Bắt đầu từ độ sâu 960cm (đáy của lớp đầm PT.08.N.TV02-C) đến độ sâu 1147cm (và còn có thể sâu nữa) là lớp gia cố móng nền của kiến trúc của thời Lý

Như đã trình bày phía trên, bề mặt lớp đầm nền thời Lý có thể đã bị phá hủy vào thời Lê, tuy nhiên bắt đầu từ đây xuống đến hết phạm vi móng, các lớp đầm rất

ổn định Tính ổn định không chỉ thể hiện trên vách nam, mà các lớp đầm còn ổn định, đều trên toàn bộ các vách địa tầng Điều này cho thấy, sau khi xây dựng chân

đế tháp âm xuống phía dưới, trên toàn bộ bề mặt người ta tiến hành đầm trên một diện rộng, đều, đồng nhất giữa các lớp đầm Điều đó cho thấy, việc xây dựng hết sức tỉ mỉ

Kỹ thuật gia cố hết sức kiên cố: cứ 1 lớp sỏi dầy từ 3cm đến 5cm rồi đến 1 lớp đất sét đồi dày trung bình 5cm Kiểu gia cố này giống với cách gia cố các móng trụ kiến trúc thời Lý tìm được ở Hoàng thành Thăng Long, nhưng vật liệu đất sét có khác nhau: nếu như ở Phật Tích, người ta dùng đất sét đồi có độ cứng cao nhưng dễ bở dời để đầm xen với các lớp sỏi, thì ở Hoàng thành Thăng Long người ta dùng đất sét dẻo, có độ dính cao để liên kết các lớp sỏi

Trang 37

1.7.2.3 Di tích:

Bề mặt di tích xuất lộ không đều nhau,

cạnh phía bắc còn cao nhất, ở đó còn dấu tích

nền chùa được xây dựng những năm 90

(1991) của thế kỷ trước đã nằm đè lên bề mặt

của tường, đồng thời móng bệ tượng được gia

cố bằng bê-tông chiếm mất 1/3 phần giữa của

chiều dài tường phía bắc Mặt tường tháp

xung quanh thấp dần về phía nam, góc

tây-nam thấp nhất (bị phá huỷ đến giật cấp 1 của tường tháp) Các viên gạch trên bề mặt tường tháp đều có dấu hiệu bị tác động mạnh từ bên trên, một số viên gạch bị bong lên khỏi bề mặt

Các tường tháp không bằng phẳng mà uốn cong lên ở 4 góc kiểu đao đình Hiện tượng này là do người xây dựng cố tình tạo ra, bằng chứng có thể nhận thấy rất rõ ở hàng dưới cùng của giật cấp 1, ở đó các hàng gạch không chạy thẳng theo hàng

mà bị ngắt quãng Có thể hiểu nôm na rằng đó là những hàng gạch đệm, kê cao các góc của tháp

Đặc điểm chi tiết còn lại của các

tường chân móng tháp như sau:

* Móng tường phía bắc: dài theo chiều

đông-tây 918cm, dày 250cm, lòng tháp tường

dài đông-tây: 418cm Đây là phần tường còn

nguyên vẹn nhất trong toàn bộ chân móng

tháp Hiện xuất lộ với chiều cao 3.6m, được

xếp 60 lượt gạch chập khối đều từ trên xuống

dưới Mặt ngoài khá bằng phẳng, mặt bên

trong lồi lõm không đều Còn quan sát được

3 giật cấp thu nhỏ dần vào từ dưới lên trên

Phía đông của tường, các hàng gạch còn thẳng hàng ngay ngắn, đều theo chiều đông-tây Tuy nhiên, từ vị trí bệ tượng A-di-đà về phía tây, các hàng gạch bị

xô nghiêng mạnh theo hướng cong võng về giữa Góc ngoài cùng phía tây cong vút

H5: Bề mặt tường bắc và dấu tích của nền chùa hiện đại nằm đè lên

H6: Vị trí góc tây-bắc và dấu tích gạch đầm vụn

Trang 38

mạnh lên bất thường (nhịp cong mạnh hơn so với các góc tường còn lại của chân móng tháp) Bề mặt tường ở vị trí này, các viên gạch bị vỡ vụn thành các mảnh rất nhỏ, nhiều vị trí ở dạng bột, do đó đây có thể là dấu tích đầm cột của thời Lê

Ngôi chùa được trùng tu vào thời Lê, có thể có một cột được đặt tại vị trí này, do vậy khi đầm cột, người ta đã làm biến dạng các viên gạch ở đây

Hiện tượng này cũng có một số ý kiến cho rằng, đó là do bản thân tường tháp

bị phá hủy, và là nguyên nhân làm cho tháp bị đổ

Tuy nhiên, giải thích này có những mâu thuẫn nhất định:

+ Thứ nhất, nếu vị trí này bị xuống cấp đến mức làm cho ngôi tháp bị đổ thì

chiều đổ của tháp phải nằm về phía tây-bắc

Như vậy mâu thuẫn với kết quả khai quật thám

sát lần 1, tìm được dấu tích của tháp đổ về phía

góc đông-bắc, cũng như mâu thuẫn với truyền

thuyết về một ngồi tháp đổ về phía này (ở đây

còn có địa danh Ngõ Gạch-tương truyền khi

tháp đổ về phía đó có nhiều gạch nằm ngổn

ngang, do đó dân trong vùng gọi là Ngõ Gạch)

+ Thứ hai, nếu vì vị trí này mà tháp bị

đổ thì các viên gạch ở đó không thể vỡ vụn

(dạng bột đầm chặt), các viên gạch xung quanh

bị xô nghiêng vào tâm của khoảng gạch đầm

Như thế, để có một hiện trạng như quan sát phải có một lực rất lớn và việc các viên gạch bị vỡ dạng bột phải theo một chủ ý nhất định và khả năng lớn là do vào thời Lê, khi đầm gia cố móng trụ kiến trúc tạo thành

Phía bên trong phần tường xây đè lên vào thời Lê được chát vữa bằng phẳng Lớp gạch xuất lộ bên trên cùng bề mặt có sử dụng một số viên gạch vuông thời Lê, mạch giữa các viên gạch được dùng vôi vữa để gắn kết Điều đó cho thấy đây cũng

là bề mặt nền của ngồi chùa trước khi được hạ dải Ngoài ra còn có một bờ móng chạy theo chiều đông-tây, được xây dựng bằng gạch bìa hiện đại, được trát bằng vôi vữa, mạch liên kết giữa các viên gạch được dùng vôi vữa Bên trong bức tường còn

H7: Bề mặt tường tháp phía Nam

Trang 39

có dấu tích của 4 hàng gạch bìa chạy dài theo chiều đông-tây, đây có thể là gạch lát của nền chùa trước khi được hạ dải

Nền gạch trên cùng nằm cách lớp gạch của móng tháp khoảng 7cm, đó là lớp lót trước khi lát nền, có màu nâu đậm, xốp

Rìa cạnh trong của bờ tường bị thời sau phá hủy sâu xuống 5 lượt gạch so với bề mặt của tường

* Móng tường phía nam: hiện xuất lộ dài đông-tây: 918cm, bề mặt rộng

bắc-nam: 250cm, trong lòng tháp tường dài đông-tây: 418cm Đây là dấu tích tường bị thời sau phá hủy mạnh nhất, dấu tích phá hủy có xu hướng vát theo chiều từ bắc xuống nam, đặc biệt góc tây-nam bị phá thấp xuống tới giật cấp 1

Tường phía nam hiện cao 230cm với 41 lượt gạch xếp chập khối từ trên xuống dưới

Nhìn tổng thể xuất lộ, các hàng gạch thẳng đều từ đông sang tây, phạm vi giữa tường cong võng đều xuống, 2 góc cong đều lên Hiện tượng này là do kỹ thuật xây dựng tạo thành Mặc dù bề mặt tường bị phá hủy như vậy, nhưng cạnh tường cho thấy, đó là các phá hoại mà lực tác động theo chiều ngang (chỉ tác động đến bề mặt tường)

Góc đông-nam, phần nối với tường phía đông còn nguyên vẹn nhất, sau đó dấu tích phá hủy thấp dần theo hướng tây-nam, và đặc biệt bị phá mạnh ở góc tây-nam Nếu tính từ điểm cao nhất của góc đông-nam và điểm thấp nhất của góc tây-nam chênh nhau 30 lượt gạch Khoảng giữa của móng tường có một dấu tích phá hủy rộng 80cm sâu 60cm, đáy của vị trí phá

tường bên trong lòng tháp rộng bắc-nam:

424cm Dấu tích xuất lộ còn khá nguyên vẹn cao H8: Tường tháp phía Đông

Trang 40

Cạnh trong của tường có dấu tích của một khoảng rộng bắc - nam 1.5m, đông

- tây 1.0m, sâu 1.0m, đặc biệt phía trong của cạnh tây cũng có một dấu tích tương tự nằm đối xứng Do vậy việc xuất lộ dấu tích đó ở 2 phía bên trong của bở tường đông và tây chắc hẳn có một mục đích cụ thể nào đó, tuy nhiên chưa thể lý dải được

sự hợp lý của xuất hiện này

Góc phía bắc, phần tiếp nối với bờ tường bắc có dấu tích của nền chùa xây năm 1991, đó là 2 viên gạch bìa xếp thành 1 hàng theo chiều bắc-nam, chất liên kết giữa các viên gạch này là vôi vữa

* Móng tường phía tây: kích thước dài

bắc-nam: 924cm, rộng đông-tây: 250cm, cao

hiện tại là 3.0m với 47 lượt gạch xếp chập khối

liền, cạnh bên trong lòng tháp dài bắc-nam là

424cm

Dấu tích xuất lộ của bờ tường này cho

thấy, sự phá hủy của thời sau và phạm vi của nó

thể hiện rõ nét nhất ở bờ tường này Toàn bộ bề

mặt của bờ tường tây thấp dần từ bắc xuống

nam, và thấp sâu hẳn xuống tại vị trí góc tây-nam

Đầu phía bắc của tường có dấu tích của sự đầm nèn làm cho các viên gạch ở

đó bị vỡ thành dạng bột màu đỏ Vị trí góc

tây - bắc bị phá hủy chỉ còn 2 lượt gạch nữa

là xuống đến bề mặt của giật cấp 1 Các viên

gạch ở vị trí đầm bị đạp choãi ra phía bắc,

nhưng xu hướng thì nghiêng vào trong

Bên cạnh phía nam của dấu tích

Ngày đăng: 17/07/2020, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w