1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động từ thiện xã hội của một số tôn giáo ở tỉnh kiên giang hiện nay (qua nghiên cứu phật giáo và công giáo)

125 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 6,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn này được thực hiện sau quá trình học tập ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội và qua quá trình nghiên cứu, khảo sát tình hình thực tiễn về hoạt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN HOÀN KIẾM

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

(Qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN HOÀN KIẾM

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

(Qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 60 22 03 09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG:

PGS.TS NGUYỄN THANH XUÂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ BÁ TRÌNH

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Luận văn này được thực hiện sau quá trình học tập ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội và qua quá trình nghiên cứu, khảo sát tình hình thực tiễn về hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đặc biệt Phật giáo và Công giáo do chính học viên thực hiện

Các số liệu nghiên cứu, các nhận định, đánh giá, tài liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, các nội dung của luận văn

chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Kiên Giang, ngày … tháng … năm 2020

Người cam đoan

Trần Hoàn Kiếm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Hoạt động từ thiện xã hội của một số tôn

giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” (qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)

của cá nhân tôi được hoàn thành trên cơ sở kiến thức thu được trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ của nhiều người, nhiều tổ chức, đơn vị, sự động viên của người thân, gia đình, đồng nghiệp và quý thầy cô Do đó, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến:

Chư tôn đức lãnh đạo Ban trị sự GHPGVN tỉnhViệt Nam tỉnh Kiên Giang, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang, Chư tôn Hòa Thượng, Thượng tọa, Đại đức, tăng ni, quý Linh mục, Ban quản trị; các Trung tâm Từ thiện xã hội của Phật giáo và Công giáo trong tỉnh và các tín đồ theo đạo

Xin gửi lời cảm ơn đến Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập thu thập kiến thức tại trường

Đặc biệt là tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS

Lê Bá Trình, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn khoa học này, thầy không chỉ là người trực tiếp hướng dẫn

mà còn định hướng những vấn đề cần nghiên cứu, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Kiên Giang, ngày … tháng … năm 2020

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TÔN GIÁO 10

1.1 Khái niệm về HĐTTXH; chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các tôn giáo tham gia HĐTTXH: 10

1.1.1 Khái niệm TTXH và HĐTTXH: 10

1.1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các tôn giáo tham gia HĐTTXH: 14

1.2 Quan niệm của các tôn giáo về HĐTTXH 18

1.2.1 Phật giáo: 18

1.2.2 Công giáo: 22

Tiểu kết Chương 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO VÀ CÔNG GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 30

2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt đông của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang: 30

2.1.1 Phật giáo tỉnh Kiên Giang: 30

2.1.2 Công giáo tỉnh Kiên Giang: 37

2.2 Nội dung và phương thức thực hiện HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang: 41

2.2.1 Nội dung và phương thức thực hiện HĐTTXH của Phật giáo: 41

2.2.2 Nội dung và phương thức thực hiện HĐTTXH của Công giáo: 50

2.3 Đánh giá về kết quả HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang: 61

2.3.1 Thành tựu tích cực: 61

2.3.2 Khó khăn, hạn chế: 63

Trang 6

2.3.3 Nguyên nhân: 66

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HĐTTXH CỦA PHẬT GIÁO VÀ CÔNG GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG 74

3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay: 74

3.1.1 Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Phật giáo ở tỉnh Kiên Giang: 74

3.1.2 Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Công giáo ở tỉnh Kiên Giang: 75

3.2 Dự báo xu hướng tác động đến HĐTTXH của Phật Giáo và Công giáo tỉnh Kiên Giang: 76

3.2.1 Dự báo xu hướng chung: 76

3.2.2 Dự báo xu hướng HĐTTXH đối với Phật giáo: 78

3.2.3 Dự báo xu hướng HĐTTXH đối với Công giáo: 79

3.3 Đề xuất giải pháp và kiến nghị 80

3.2.1 Giải pháp chung: 80

3.2.2 Giải pháp cụ thể: 84

3.2.3 Kiến nghị: 87

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 7

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT TẮT ĐỌC LÀ

UBĐKCGVN Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam

Trang 8

hộ cận nghèo… đang rất cần những tấm lòng hảo tâm cưu mang, giúp đỡ [44, tr 2, 3]

Giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên cùng với cộng đồng, xã hội không chỉ là mục tiêu an sinh xã hội của mỗi quốc gia, cộng đồng quốc tế mà còn là hoạt động mang tính nhân văn, cao cả của xã hội văn minh Thời gian qua, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã rất nỗ lực thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo; kêu gọi, khuyến khích, tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, trong đó có các tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động nhân đạo từ thiện, giúp đỡ người nghèo khổ, bất hạnh

HĐTTXH của các tôn giáo nói chung và của Phật giáo, Công giáo nói riêng ở nước ta xuất phát từ chức năng xã hội của tôn giáo và là một nhu cầu tự thân trong việc thực hành giáo lý, giáo luật của chức sắc, tín đồ…

Trang 9

Xuất phát từ quy định của giáo lý, GHPGVN và GHCGVN rất chú trọng đến HĐTTXH với mong muốn thực hiện vai trò “nhập thế” của mình; trên cơ sở đó, GHPGVN và GHCGVN xác định HĐTTXH chính là trách nhiệm của mỗi Phật tử, mỗi Kitô hữu và cũng là một nội dung hành đạo của giáo hội Với số lượng tín đồ chỉ chiếm 14,5% tổng dân số cả nước, những tín

đồ Phật giáo và Công giáo Việt Nam với phương châm sống “Tốt đời đẹp đạo”, “Đồng hành cùng dân tộc” và tinh thần thương yêu tha nhân như chính mình, đã có những đóng góp không nhỏ cho công tác TTXH

Kiên Giang là một trong những địa phương mà Phật giáo và Công giáo có nhiều hoạt động tích cực Tinh thần từ bi, bác ái, giàu lòng thương yêu tha nhân của tín đồ Phật giáo và Công giáo hòa trộn với bản tính rộng rãi, khoáng đạt, trọng tình, trọng nghĩa, năng động, dám nghĩ, dám làm… là nét tính cách riêng

có của người phương Nam đã tạo nên một cộng đồng Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang nhiệt huyết, say mê làm việc thiện Công tác TTXH của hai tôn giáo này được tiến hành dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, nhân đạo, TTXH… mang lại sự hỗ trợ thiết thực cho những người có hoàn cảnh khó khăn Các hoạt động nhân ái này không chỉ góp phần tự củng cố đức tin cho người Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang,

mà còn đem đến cho họ sự trân trọng và tình cảm yêu thương của cộng đồng các dân tộc ở địa phương, là điều kiện để họ thực hiện phương châm sống “Tốt đời-đẹp đạo”

Bên cạnh những đóng góp cho an sinh xã hội, HĐTTXH của các tôn giáo nói chung, của GHPGVN và GHCGVN nói riêng cũng còn nhiều khó khăn, bất cập, còn nhiều hoạt động hiệu quả chưa cao Cùng với việc chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp của công tác xã hội, HĐTTXH của hai tôn giáo trên ở Kiên Giang còn tiềm ẩn các yếu tố tiêu cực, gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của địa phương, nhất là việc lợi

Trang 10

dụng chính sách tôn giáo cởi mở và sự khuyến khích tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia các HĐTT, nhân đạo của Đảng và Nhà nước, một số tổ chức, cá nhân nước ngoài đã thông qua các hoạt động tài trợ, phối hợp với các tôn giáo với HĐTHXH để móc nối, kết cấu với các đối tượng xấu trong nước nhằm thực hiện âm mưu chống phá chế độ và truyền đạo trái pháp luật Cần phải có giải pháp cụ thể để phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế những khó khăn, yếu kém Đây là một trong những vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược trong công tác tôn giáo hiện nay

Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu thực trạng HĐTTXH của GHPGVN và UBĐKCGVN ở tỉnh Kiên Giang để đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy những hiệu quả và giảm thiểu những hạn chế, tiêu cực trong hoạt động này sẽ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược hiện nay Vì vậy, học

viên chọn nội dung nghiên cứu HĐTTXH của một số tôn giáo ở tỉnh Kiên

Giang hiện nay (qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo) làm đề tài cho

luận văn Thạc sĩ Tôn Giáo học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về HĐTTXH của các tôn giáo nói chung và của Phật Giáo, Công giáo nói riêng; những chủ trương, chính sách, pháp luật và một số cuốn sách, bài báo, tạp chí, bài tham luận Hội thảo, báo cáo về HĐTTXH của tôn giáo và các tấm gương tiêu biểu trong hoạt động này, trong đó có các công trình đáng chú ý sau:

1 Trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm xã hội trong nền

kinh tế thị trường” (2009), PGS.TS Nguyễn Đức Lữ có bài viết “Vai trò của GHCG trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, bài viết đã khái quát tình hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và nêu lên vai trò, trách nhiệm của GHCG với dân tộc và xã hội trong nền kinh tế thị trường; Bài viết

Trang 11

“Cái nhìn và tâm tư của nữ tu trước xã hội” của Nữ tu Trần Thị Quỳnh Giao có đề cập đến đời sống của các nữ tu Công giáo ở Việt Nam trước và sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, những tâm tư, trăn trở của họ trước các vấn đề xã hội và những đóng góp của họ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo… và Bài viết của TS Nguyễn Văn Khảm, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh có bài viết bàn đến mối tương quan giữa trách nhiệm của Giáo hội Công giáo và chính quyền trước những vấn đề xã hội

2 Đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (số 100, tháng 4/2003),

tác giả Nhật Tảo có bài viết “Thánh Gioan Baptiste de Salle – Đấng bảo trợ các nhà giáo dục (1651- 1791), bài viết đề cập đến những nguyên nhân dẫn dắt Thánh Gioan Baptiste de Salle quyết định dấn thân vào sự nghiệp giáo dục

từ thiện cho trẻ em nghèo

3 Đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử (10/01/2015) tác giả Nguyễn Hữu

Tuấn có bài viết “Tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia chủ trương xã hội hóa y

tế, từ thiện nhân đạo”, trong đó, nêu lên sự tham gia của các tổ chức, cá nhân tôn giáo vào hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo đã góp phần làm đa dạng việc huy động các nguồn lực xã hội cho công tác xã hội nói chung, chăm sóc y tế nói riêng; chia sẻ gánh nặng với chính quyền địa phương, với Nhà nước và xã hội

4 Đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (Số 389, năm 2016), các tác

giả Hoàng Thu Hương, Bùi Phương Thanh viết về “Tâm thế tham gia HĐTT của Phật tử ở Việt Nam hiện nay”, bài viết có nêu sự xuất hiện của nhiều câu lạc bộ, nhóm từ thiện cũng như sự gia tăng vai trò của các tổ chức Tôn giáo

với HĐTT

5 Đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội (số 07, 2018), tác giả Hoàng

Văn Chung dịch bài viết “Hướng tới một khung tìm hiểu các hoạt động kinh

tế và từ thiện của các tôn giáo - Trường hợp nước Mỹ”, Brett G Scharrffs,

Trang 12

bài viết đã giới thiệu những loại hình hoạt động từ thiện mà các tôn giáo thực hiện và đề xuất một khung pháp lý quản lý các HĐTT, kinh tế của các giáo hội ở Mỹ

6 Đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 11, 2009), tác giả Nguyễn Ngọc

Sơn viết “Trách nhiệm xã hội của Ủy ban Bác ái xã hội - Caritas Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường”, bài viết đã nêu bật những kết quả trong hoạt động bác ái xã hội mà Ủy ban Bác ái xã hội Caritas Việt Nam đã đạt được

7 Cuốn sách “Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam”,

PGS.TS Trần Hồng Liên (2010), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và xã hội trong tình hình phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất Nam Bộ góp phần vào việc tìm hiểu vai trò xã hội của Phật giáo, thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa tôn giáo và xã hội

8 Đăng trên Website Mặt trận (12/9/2017) PGS.TS Lê Bá Trình, có bài

viết “Phát huy vai trò của các tôn giáo Việt Nam tham gia công tác xã hội từ thiện”, Bài viết khẳng định việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tôn giáo

ở Việt Nam tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện là một yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay

9 Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học “Phát huy vai trò Phật giáo

tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện” của PGS.TS Lê Bá Trình,

PGS.TS Trần Thị Kim Oanh, TS Trần Văn Anh (đồng chủ biên) , Nxb Tôn giáo, 2017 có nhiều bài viết đề cập trực tiếp đến HĐTTXH của Phật giáo cả nước: giáo dục mầm non, nuôi dạy trẻ mồ coi, khuyết tật, khám chữa bệnh từ thiện, những giải pháp của Phật giáo góp phần an sinh xã hội,… và đưa ra nhiều giải pháp nhằm phát huy vai trò của Phật giáo trong HĐTTXH Đáng chú ý là có một số bài viết đề cập đến HĐTTXH của Phật giáo Kiên Giang như: “Từ Trung tâm từ thiện Phật Quang, nghĩ về những giải pháp phát triển bền vững cho HĐTTXH Phật giáo” của PGS.TS Trần Hồng Liên; “Nhà

Trang 13

dưỡng lão, mái ấm tình thương và trách nhiệm của xã hội” Thượng tọa Thích Minh Tiến, Trưởng Ban quản lý nhà dưỡng lão Thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang; “Trung tâm TTXH Phật Quang, một mô hình nhập thế của Phật giáo Kiên Giang”,…

10 Đăng trong cuốn Đào tạo Tôn Giáo học ở Việt Nam: quá trình hình

thành và phát triển (2016), TS Từ Thành Đạt có bài viết “Hoạt động giáo dục

tại Trung tâm TTXH Phật Quang” bài viết đề cập đến khá chi tiết các hoạt động giáo dục của một cơ sở TTXH điển hình ở tỉnh Kiên Giang…

Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu, tìm hiểu nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề HĐTTXH theo từng mức độ, các góc độ

và một phần liên quan đến HĐTTXH Các công trình nghiên cứu trên đây là những tư liệu, tài liệu quý liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công tác nhân đạo, TTXH nói chung, của các tôn giáo nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về HĐTTXH một cách tổng thể của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng HĐTTXH của các tôn giáo ở tỉnh Kiên Giang (cụ thể là Phật giáo và Công giáo) và đề xuất các giải pháp phát huy hiệu quả HĐTTXH của các tôn giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐTTXH của các tôn giáo nói chung và HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang nói riêng trong bối cảnh đất nước đang trên đà phát triển thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Trang 14

Phân tích, đánh giá thực trạng về HĐTTXH của các tôn giáo ở tỉnh Kiên Giang; những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hoạt động này trong thời gian qua Đồng thời nêu lên những xu hướng, cơ hội và thách thức đối với việc phát huy vai trò của tôn giáo với HĐTTXH trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

và định hướng phát triển trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Nghiên cứu HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo trong

15 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Thời gian: Các số liệu, dẫn liệu để phân tích, đánh giá chủ yếu trong giai đoạn 2010 - 2018 có tham chiếu số liệu từ năm 2006 và dự báo đến năm 2020

5 Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tôn giáo; giáo lý, giáo luật liên quan đến HĐTTXH của Phật giáo, Công giáo và những chủ trương, định hướng của tỉnh Kiên Giang về xã hội hóa HĐTTXH

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Tôn Giáo học; đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác

Trang 15

như: kết hợp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học, nhân học, thống kê, tổng kết thực tiễn…

Các số liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu được thu thập từ nguồn dữ liệu của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Ban Tôn giáo tỉnh, Cục thống kê tỉnh, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh, HĐTTXH của UBĐKCG, Hội đồng Giám mục Việt Nam, GHPGVN tỉnh Kiên Giang và tìm hiểu, khảo sát thực tế tại hai tôn giáo Phật giáo và Công giáo

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Góp phần làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan HĐTTXH của tôn giáo với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và ở tỉnh Kiên Giang nói riêng

Đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của các tôn giáo nói chung, của Phật giáo và Công giáo nói riêng tham gia vào HĐTTXH ở tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và mở rộng ra trong phạm vi cả nước

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm rõ thêm lý luận về tôn giáo với HĐTTXH nói chung và tôn giáo với HĐTTXH ở tỉnh Kiên Giang nói riêng, từ đó giúp cho người đọc nhận thức đúng hơn về vấn đề này

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng ở Kiên Giang trong công tác lãnh đạo, quản lý nhằm phát huy hiệu quả của tôn giáo với HĐTTXH phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo ở địa phương; đồng thời làm cơ sở phát triển việc nghiên cứu ở tầm mức cao hơn những nội dung liên quan đến đề tài

Trang 16

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 8 tiết

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐTTXH và

HĐTTXH của các tôn giáo

Chương 2: Thực trạng về HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

Chương 3: Xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang

Trang 17

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG

TỪ THIỆN XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA

Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội xuất bản năm 1994 (do Hoàng Phê chủ biên) giải thích: “Từ thiện: (người có của) có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc”

Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Hoàng Phê chủ biên), Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2008 định nghĩa “Từ thiện là có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc”

Còn “hoạt động”, theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ

và Văn hóa Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên), do nhà xuất bản Văn hóa và Thông tin xuất bản năm 1999, có nghĩa là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội”

Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Hoàng Phê chủ biên), Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2008 định nghĩa: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định”

Trang 18

Từ là lòng thương, sự hiền lành Thiện là điều tốt Từ thiện theo nghĩa thông thường là lòng thương yêu, muốn làm điều tốt cho người khác Tiếng Anh/ Pháp: Charity/ Charité, có gốc Latin là Caritas, Carus nghĩa là tình thương quảng đại

Từ thiện được hiểu theo nghĩa là sự giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, thường được thể hiện bằng những hoạt động biếu tặng tiền bạc, thức ăn, giúp đỡ những người đang cần giúp đỡ vì họ đang bệnh hoạn, nghèo khổ, không nơi nương tựa… Trong ý nghĩa này, từ thiện là sự thể hiện của Từ

bi, Bác ái Từ bi, Bác ái theo quan niện của Phật giáo và Công giáo không chỉ

có nghĩa là thương yêu chúng sinh mà còn có nghĩa là thể hiện lòng thương yêu ấy bằng hành động, bằng việc làm cụ thể, tức là từ thiện

Như vậy, ta có thể hiểu rằng: TTXH là những việc làm, hành động tốt đẹp hướng đến cá nhân hoặc cộng động xã hội nhằm giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

Đối với khái niệm “hoạt động xã hội” là toàn bộ những hành động của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội nhằm đem lại quyền và lợi ích hợp pháp cho xã hội nói chung, con người nói riêng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội, đem lại cho con người cuộc sống ngày càng hạnh phúc, tươi đẹp hơn

Đối với khái niệm “xã hội” thì các từ điển trên giải thích “Xã hội là một tập thể hay nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác được các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và

có cùng văn hóa”

HĐTTXH được hiểu là việc tiến hành những việc làm tốt đẹp hướng đến các cá nhân và tập thể trong cộng đồng xã hội nhằm giúp đỡ những người gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống

Trang 19

Đối tượng của HĐTTXH là những người có hoàn cảnh khó khăn, khiếm khuyết về trí tuệ hoặc thể chất, nghèo đói, neo đơn, bệnh tật, hoặc các nạn nhân thiên tai, những người mắc các căn bệnh xã hội như mại dâm, nghiện ma túy, HIV/AIDS

Nguồn lực để thực hiện HĐTTXH là nguồn đóng góp của các tổ chức và cá nhân có lòng hảo tâm chia sẻ những khó khăn cho những người bất hạnh

HĐTTXH được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức có lòng hảo tâm, thương xót những người có hoàn cảnh bất hạnh

Trên thế giới có rất nhiều tổ chức TTXH, dưới đây là một số tổ chức TTXH đang hoạt động tại Việt Nam như: Phong trào Chữ thập đỏ-Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức từ thiện lớn nhất thế giới, thường được gọi

là Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự Tổ chức trên được thành lập ngày 29/10/1863 tại Geneve (Thụy Sỹ) gồm Ủy ban Chữ Thập đỏ quốc tế ở Geneve, Hiệp hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ và 183 Hội Chữ thập

đỏ và Trăng liềm đỏ quốc gia; có hơn 115 triệu tình nguyện viên Tổ chức này hoạt động ở Việt Nam từ ngày 23/11/1946, có trụ sở tại 82, Nguyễn

Du, Hà Nội

Quỹ Phẫu thuật Nụ cười (Operation Smile) là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động trên lĩnh vực y tế, sức khỏe con người Tổ chức này thành lập vào năm 1982, trụ sở tại Norfolk, Virginia (Hoa Kỳ); mục tiêu hoạt động là tiến hành các ca phẩu thuật bị sứt môi và hở hàm ếch cho trẻ em trên toàn thế giới, đồng thời giúp trang bị cho các nước năng lực cần thiết để tiến hành các ca phẩu thuật này Quỹ Phẫu thuật Nụ cười hoạt động tại Việt Nam

từ năm 1989, có trụ sở tại 16, Ngô Quyền, Hà Nội

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations Children‟s Fund) là một quỹ cứu tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thành lập ngày

Trang 20

11/12/1946, Quỹ này hoạt động tại Việt Nam vào năm 1975, có trụ sở tại 81A Trần Quốc Toản, Hà Nội

Một số tổ chức TTXH của công giáo: sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất (1914 - 1918), nhiều tổ chức Công giáo quốc tế chuyên HĐTTXH được thành lập trên phạm vi toàn cầu Mục tiêu của các tổ chức này là tham gia xây dựng xã hội trần thế và dấn thân phục vụ Giáo hội địa phương, nhằm “đem sức mạnh cứu độ của Đức Kitô đến với mọi quốc gia, các tổ chức chính trị, kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, văn minh và phát triển” Điển hình trong số các

tổ chức này là Hiệp hội Từ thiện Quốc tế (International Association of Charities), lập năm 1617 tại Chatillon les Dombes, Pháp Ủy ban Công giáo Quốc tế Điều dưỡng viên Chăm sóc Y tế và Xã hội (International Catholic Committee of Nurses and Medico-Social Assistants), lập năm 1933 tại Bỉ Caritas Quốc tế (Caritas Internationalis), thành lập năm 1951 tại Roma, Italia, hiện đang hoạt động tại 194 nước Ngoài ra, nhiều tổ chức Công giáo khác tham gia trợ giúp người di cư, giúp phát triển y tế cho các nước đang phát triển, giúp đỡ bệnh nhân, người khuyết tật…, điển hình như: Huynh đoàn Kitô cho Bệnh nhân và Người khuyết tật (Christian Fraternity of the Sick anh Handicapped) trụ sở tại Thụy Sĩ, Y học Quốc tế Toàn cầu (Medicus Mundi Internationalis) thành lập năm 1964 tại Đức

Giáo hội Công giáo hết sức đa dạng, nhưng đều có chung động lực là góp phần giảm bớt đau khổ, giúp con người thăng tiến Tính đến ngày 1/1/2003, Giáo hội Công giáo hoàn vũ có 11.675 viện điều dưỡng, 8.968 cô nhi viện, 14.432 viện dưỡng lão, 678 trại phong, 16.526 trạm y tế, 5.393 bệnh viện

Đối với các tổ chức TTXH trong các tôn giáo, đây là các tổ chức có vai trò quan trọng trong việc liên kết, chắp nối để hoạt động TTXH các tôn giáo trong đó có Phật giáo và Công giáo được tiến hành rộng khắp, mang lại hiệu

Trang 21

quả cao và quy mô lớn Đây là một tập thể xã hội tôn giáo làm việc tự nguyện, mang thiết chế phi chính phủ, hoạt động với mục đích là giúp đỡ mọi người khó khăn trong xã hội Hoạt động của các tổ chức này gồm có vận động gây quỹ, chuyển trợ giúp bằng hiện vật và tiền đến các đối tượng cần trợ giúp, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, tạo việc làm trợ giúp khẩn cấp và các hoạt động góp phần an sinh xã hội ở địa phương thường được sự giúp đỡ của GHPG, GHCG và Hội Chữ thập đỏ ở Việt Nam

1.1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các tôn giáo tham gia HĐTTXH:

1.1.2.1 Chủ trương, chính sách về xã hội hóa công tác xã hội (trong đó

có HĐTTXH của các tôn giáo):

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, xã hội hóa là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề xã hội Quan điểm này được nêu cụ thể tại Nghị quyết Trung ương

4 khóa VII (1993) là: “Đa dạng hóa các hình thức chăm sóc sức khỏe trong đó

y tế Nhà nước là chủ đạo” Đây là lần đầu tiên có một nghị quyết Trung ương

đề cập đến vấn đề xã hội hóa công tác y tế Tuy nhiên, trong giai đoạn này các

tổ chức tôn giáo chưa tham gia nhiều vào lĩnh vực xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe, y tế bởi chưa có những hành lang pháp lý cụ thể rõ ràng trong lĩnh vực y tế

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), xã hội hóa trở thành một trong những quan điểm lớn để thực thi các chính sách xã hội và thuật ngữ “xã hội hóa” được chính thức đưa vào văn kiện: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”.[8 tr 83, 84]

Trang 22

Đến Nghị quyết Đại hội IX (2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội” [10, tr 108]

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng ghi rõ: “Bảo đảm an sinh xã hội… trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo

vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ

bị tổn thương” Chủ trương này của Đảng rất phù hợp với tinh thần vì con người của tôn giáo, sự tương đồng này là một trong những cơ sở quan trọng, giúp cho các tôn giáo phát triển, đồng hành cùng dân tộc, thể hiện tinh thần nhập thế hành đạo, thường xuyên tổ chức các HĐTTXH, hòa quyện cùng những triết lý sống của người dân “Lá lành đùm lá rạch”, „Thương người như thể thương thân”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”…

Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01-6-2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

đã đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người

có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão Nghị quyết nêu: “Coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm

hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân” [29, tr 4]

Trang 23

Đến Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tháng 01-2016) nêu rõ: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, khuyến khích tham gia của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hoá, xã hội để thực hiện bảo đảm an sinh xã hội Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế [11, tr 228]

Từ những chủ trương trên đây cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng cụ thể hóa, hoàn thiện chủ trương, huy động các nguồn lực của xã hội tham gia công tác TTXH góp phần giải quyết những vấn đề xã hội vừa mang tính hiệu quả cao và đề cao tinh thần đoàn kết, phát huy những giá trị nhân văn “Lá lành đùm lá rách” của dân tộc Việt Nam

Trong các thành phần tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện, các tôn giáo ở nước ta có vai trò hết sức quan trọng, nếu phát huy đúng mức sẽ là nguồn lực rất lớn góp phần thành công việc thực hiện chủ trương, chính sách

xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá

IX số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, ngày 12-3-2003, nêu rõ: “Giải quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của Nhà nước, theo nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia phù hợp với chức năng, nguyên tắc

tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật Cá nhân tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia với tư cách công dân thì được khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật.” [30, tr 5]

Như vậy, từ chủ trương thực hiện xã hội hóa công tác xã hội, việc tham gia xã hội hóa công tác xã hội từ thiện của các tôn giáo ở Việt Nam là một chủ trương cụ thể của Đảng trong thời kỳ đổi mới, là căn cứ để Nhà nước thể chế hóa bằng chính sách pháp luật trên lĩnh vực này

Trang 24

1.1.2.2 Chính sách, pháp luật của Nhà nước về các tôn giáo tham gia công tác xã hội, từ thiện:

Chủ trương của Đảng về xã hội hóa các hoạt động xã hội được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, trong những giai đoạn lịch sử cụ thể, như:

Nghị quyết số 50/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao

Nghị định số 53/2006/NĐ-CP, ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập

Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; mở rộng các lĩnh vực và chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hóa và hoàn thiện hệ thống cơ chế khuyến khích với ưu đãi cao hơn nhằm hình thành và phát triển hệ thống các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập

Đối với các tôn giáo, trên cơ sở quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước ta có những quy định về các tôn giáo tham gia xã hội hóa công tác TTXH cụ thể: Nghị định 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, quy định tại Điều 17 “Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội như mọi công dân khác Chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định của Nhà nước Các cơ sở từ thiện do chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo bảo trợ hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng của Nhà nước” [31, tr 4]

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 11 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã quy định: tại Chương 5, hoạt động tôn giáo, hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã

Trang 25

hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo Điều 55 Được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan” [26, tr 27]

Những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về các tôn giáo tham gia công tác xã hội, từ thiện ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện để các tôn giáo tổ chức các HĐTTXH, góp phần quan trọng trong thực hiện công tác an sinh xã hội; tạo nên sự gắn bó, đoàn kết giữa đồng bào theo đạo với toàn xã hội

1.2 Quan niệm của các tôn giáo về HĐTTXH

1.2.1 Phật giáo:

Trong giáo lý của Phật giáo ghi rõ: Pháp Lục độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ) là con đường dẫn đến sự giác ngộ, điều thực hành đầu tiên là Bố thí, hiểu cho đúng nghĩa, đó không phải là sự ban ơn, ban phúc mà là chia sẻ nổi đau của người khác với mình, tạo điều kiện cho người khác vượt qua khó khăn và xây dựng một cuộc sống an vui Thực hành

bố thí, làm điều thiện giúp cho tình cảm con người hướng về cuộc sống chung quanh, hòa đồng với mọi người, Kinh Pháp cú viết: “Pháp thí, thắng mọi thí/Pháp vị, thắng mọi vị/Pháp hỷ, thắng mọi hỷ/Ái diệt, thắng mọi khổ” (Kinh Pháp cú, 354 HT Thích Minh Châu dịch), hay “không làm mọi điều ác/Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch/ Chính lời chư Phật dạy” (Kinh Pháp cú, 183 HT Thích Minh Châu dịch)

Những việc làm như phóng sanh, tu phước, làm việc thiện chính là con đường để giúp con người có được một cuộc sống bình an, thoát khỏi tai họa Trong kinh Diệu pháp Liên Hoa kinh và các kinh khác đều nhắc đến tinh thần vô ngã, vị tha, tức khuyên con người sống có trách nhiệm với cộng đồng, biết thể hiện lòng nhân ái của mình đến với người khác Đồng

Trang 26

thời, thực hành “từ”, “bi”, “hỉ”, “xả” (Tứ vô lượng tâm) là phương châm tu tập của người Phật tử để đi đến con đường giải thoát

Theo quan niệm của giáo lý Phật giáo:

“Từ” nghĩa là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh Đây là sự thương yêu rộng lớn cùng khắp đối với chúng sinh, kể cả kẻ thù, con sâu, con kiến, do đó một người thực hiện công tác từ thiện thì cần phải nuôi dưỡng tâm, từ mới phát đại tâm giúp đỡ, thực thi việc tài thí và pháp thí để giúp người khác thoát khổ

“Bi” là lòng thương xót cứu khổ, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh Đây là sự rung động, xót thương trước khổ nạn của người khác,

từ đó muốn cho người đó thoát khỏi khổ nạn Sống trong một thế giới đầy sự biến động, con người đang chịu khổ vẫn diễn ra do nghèo đói, bệnh tật, áp bức, bóc lột, bạo lực, chiến tranh , Tâm từ luôn đi đôi với tâm bi Theo Phật giáo, một người thương yêu chúng sinh, đau lòng vì chúng sinh phải chịu khổ, đấy là người ấy đang thể hiện tâm từ bi Thực ra, tâm bi xuất phát từ tâm từ,

và cũng chính là từ tâm từ Có từ thì mới có bi, thực hiện tâm bi cũng chính là thực hiện tâm từ, tất cả các gương bố trí, hy sinh, cứu độ trong ý nghĩa vô vụ lợi đều là những thể hiện của từ bi

“Hỉ” là lòng vui, tự mình vui và mừng dùm cho người được điều thiện Đây là niềm vui khi thấy người khác được hạnh phúc, trong khi bi là sự xót xa khi thấy người khác bị đau khổ Người có tâm hỷ thì không nghĩ đến mình, loại bỏ sự ganh tỵ nhỏ nhen Vui với cái vui của người khác là biểu hiện một tấm lòng quảng đại Không thiếu gì người thấy người khác giàu sang, danh vọng, được kính mộ, yêu thì buồn bực cho mình, ghen tức với người kia, rồi mong mỏi, thậm chí tìm cách làm cho người kia phải lụn bại cho mình được

hả dạ Tuy nhiên, vui với niềm vui của người khác không phải là dễ, nếu ta không tạm quên với ngã của mình Nhờ có tâm hỷ như thế, con người mới

Trang 27

phát tâm thực thi việc làm từ thiện với niềm vui của chính mình khi thấy người khác được hạnh phúc

“Xả” là lòng buông xả ra mọi vật của mình cho tất cả chúng sinh không phân biệt kẻ oán người thân Đây là sự nhận định đúng đắn, được hiểu

là nhận thấy không có gì phải chấp thủ, không ưa ghét, vui buồn, oán giận; tức là xả bỏ, tự tại, thanh thản trong lòng Xả không có nghĩa là dửng dưng, đứng một chỗ, gần như ý câu “được không vui, mất không buồn” vậy Một người làm từ thiện thì cần giữ được tâm xả không còn tham ái, không hận thù, luôn vững vàng trước những trở ngại, mới phát huy được mọi năng lượng đem đến an lạc cho người khác

Pháp “Lục hòa” (Thân hòa cộng trụ; Khẩu hòa vô tránh; Ý hòa đồng sự;

Giới hòa đồng tu; Kiến hòa đồng giải; Lợi hòa đồng quân), trong đó, Lợi hòa

đồng quân có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác TTXH hiện nay, vì Lợi hòa đồng quân là tất cả mọi thứ của cải vật chất có được từ sự hỷ cúng của các thí chủ được chia đều cùng nhau một cách bình đẳng, một cách hợp pháp,

có nghĩa là bình đẳng trong đồng đẳng [56, tr 3]

Như vậy, Lợi hòa đồng quân không chỉ để dạy các Phật tử xuất gia xây dựng nếp sống Tăng đoàn hòa hợp, mà còn vận dụng để xây dựng cuộc sống cộng đồng an vui, hòa hợp, “Một người vì mọi người”

HĐTTXH không chỉ là sự thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn của tín đồ Phật giáo mà còn là một biểu hiện quan trọng chức năng hỗ trợ xã hội của Phật giáo Ở góc nhìn Tôn giáo học, chức năng hỗ trợ xã hội được hiểu:

“Dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy,

thất bại, thiên tai, bệnh tật,…cái chết của những những người thân thuộc, yêu quí và cái chết của chính bản thân mình Trong những lúc như thế, cuộc sống con người rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn Một số tôn giáo còn cung cấp

Trang 28

cho con người những biện pháp cầu nguyện, cúng bái thần linh trong niềm tin rằng những việc làm như vậy sẽ giúp cải thiện được tình hình” [25, tr 37] Ở

đây, chức năng hỗ trợ xã hội không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, tin tưởng,…, mà còn biểu hiện qua những hành động mang tính thực tiễn, cụ thể nhất là sự hỗ trợ vật chất của các tôn giáo Không chỉ có Phật giáo, các tôn giáo lớn trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng thể hiện rõ nét điều này Ngoài ra, đây còn được xem là một trong những nguồn vốn xã hội quan trọng Ở đây, vốn xã hội được biểu hiện rõ nhất với các hoạt động an sinh xã hội ngay trong bản thân từng cộng đồng, thông qua việc giúp đỡ những người nghèo khó, góp phần duy trì mạng lưới xã hội, cùng nhau gắn kết để góp phần vào việc nâng cao chất lượng sống của họ Phật giáo một tổ chức xã hội mang tính rộng rãi ở Việt Nam sẽ là nguồn vốn xã hội quan trọng, tham gia trong các HĐTTXH để hỗ trợ người dân, góp phần trong việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội của quốc gia

Trong cơ cấu tổ chức của GHPGVN các cấp thường có 11 Ban trong đó

có Ban TTXH để chăm lo việc tổ chức các hoạt động nhân đạo, xã hội, từ thiện của chức sắc và Phật tử Ngoài ra Ban TTXH phối hợp chặt chẽ trong các công tác TTXH, triển khai, thực hiện tốt công tác Phật sự của Giáo hội và các cấp chính quyền đề ra; quan hệ phối hợp giữa các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chăm lo cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống, giảm bớt nổi đau, góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

Với tinh thần nhập thế, gắn bó đồng hành cùng dân tộc, kể từ khi hiện diện

ở Việt Nam đặc biệt từ khi GHPGVN thành lập (11/1981) đến nay, GHPGVN đã

và đang góp phần trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực HĐTTXH chung tay xây dựng và phát triển đất nước và được thể hiện qua từng nhiệm kỳ như: Nhiệm

Trang 29

kỳ I (1981-1987), nhiệm kỳ II (1987-1992): GHPGVN vừa được thành lập, đang trong thời kỳ xây dựng củng cố, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân cũng như đời sống tăng, ni còn nhiều thiếu thốn nên công tác an sinh xã hội còn nhiều khó khăn Nhiệm kỳ III (1992-1997): Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới trong điều kiện mở cửa và hội nhập, GHPGVN tích cực đẩy mạnh các hoạt động TTXH từ trung ương đến cơ sở, tổ chức, quản lý và điều hành chặt chẽ,

có phương hướng xây dựng, giúp đỡ và khuyến khích phát triển lâu dài Nhiệm kỳ

IV (1997-2002): GHPGVN tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống Tuệ Tĩnh Đường và phòng thuốc y học dân tộc, nhất là những nơi đông dân cư lao động, ở vùng sâu, vùng xa Tổ chức các hoạt động: Cung cấp kiến thức cơ bản về y tế cộng đồng, văn hóa xã hội, xây dựng ý thức và tình cảm đoàn kết tương trợ trong nhân dân Nhiệm kỳ V (2002-2007): GHPGVN đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng hệ thống hóa các HĐTTXH; xây dựng thêm trường dạy trẻ khuyết tật,

cô nhi viện, xây dựng cầu bê tông, xóa cầu khỉ, xây dựng lớp học tình thương, củng cố hệ thống Tuệ Tĩnh Đường, các cơ sở chăm sóc người HIV/AIDS Nhiệm kỳ VI (2007-2012): Ban TTXH Trung ương GHPGVN đã phát huy tính tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực và đạt được những thành tự to lớn Nhiệm

kỳ lần thứ VII (2012-2017) GHPGVN cùng toàn thể tăng ni, Phật tử đã và đang phát huy tinh thần nhập thế tích cực, tiếp tục có những việc làm ích đạo, lợi đời, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Qua 7 nhiệm kỳ đại hội, GHPGVN đang ngày càng hoàn thiện công tác TTXH và hoạt động ngày càng hiệu quả, xứng đáng là tổ chức đại diện cho tăng ni, tín đồ Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước [8, tr 83, 84]

1.2.2 Công giáo:

Trên cơ sở của đức bác ái và là biểu hiện sinh động của bác ái trong thực tiễn đời sống, HĐTTXH của Công giáo không chỉ là tôn chỉ đời sống đạo của

Trang 30

nhiều dòng tu, hội đoàn, mà đó còn là một nét đạo đức, một hạt nhân tích cực trong giáo lý của tôn giáo này Có thể khẳng định, ngay từ sơ khai, Công giáo đã

đề cao HĐTTXH HĐTTXH của Công giáo dựa trên cơ sở Thánh Kinh, Thần học Công giáo về lòng bác ái và đường hướng đạo của Giáo hội Kinh thánh đặc biệt nhấn mạnh và khuyến khích tín đồ làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khổ, bệnh tật trên cơ sở đề cao tình yêu thương bác ái Tín đồ, tổ chức Giáo hội làm TTXH là thực hiện lời răn dạy của Thiên Chúa: “Hãy yêu thương con người”

Hoạt động của Công giáo gắn liền với từ “Caritas”, theo Từ điển Công giáo phổ thông, “bác ái (Agapê) là hình thức yêu thương điển hình nhất của Kitô giáo Đức Kitô đã dùng từ này để mô tả tình yêu giữa Ba ngôi Thiên Chúa Đó cũng là tình yêu Người truyền cho các môn đồ phải dành cho nhau (Ga 13, 34-35) Tình yêu này hoàn toàn vị tha, không vụ lợi mà chỉ mưu cầu lợi ích cho người khác hay biết chia sẻ với người khác

Theo nguyên ngữ tiếng Latinh, từ “Caritas” có nghĩa là bác ái, là tình thương quảng đại hay HĐTT Như vậy, HĐTTXH của Công giáo chính là Bác ái và được xuất phát từ lòng bác ái, yêu thương bao la HĐTTXH của Công giáo là tiến hành những việc làm mang tính tập thể nhằm thể hiện lòng bác ái và tinh thần nhập thế, dấn thân vào đời sống xã hội của người Công giáo với mục đích cứu giúp nhười nghèo khổ để làm phúc

Kinh Thánh đặc biệt nhấn mạnh và khuyến khích tín đồ làm việc thiện, cứu giúp người nghèo khổ, bệnh tật trên cơ sở đề cao tình yêu thương, bác ái Tình yêu thương đã trở thành nội dung cốt lõi của Công giáo Đức ái được cả Kinh Cựu ước lẫn Tân ước tập trung phân tích

Đức ái Kitô giáo có nội hàm rất rộng, không chỉ là tình yêu thương giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau, mà nó còn bao gồm cả tình yêu thương bản thân và tình yêu thiên nhiên Nhưng trên tất cả là tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân “mến Chúa yêu người” Chúa Jesu

Trang 31

ban ra 10 điều răn của Chúa nhằm quy định và điều chỉnh hành vi của tín đồ, trong đó nhấn mạnh: “Hãy yêu thương con người”

Theo quan niệm của Công giáo, Đức ái trong Kitô giáo sâu sắc và độc đáo còn bởi Đức Giêsu chính là Thiên Chúa tình yêu nhập thể Không một vị cha tâm linh nào có thể sánh được với Đức Giêsu, bởi vì Đức Giêsu không chỉ thuần túy thuyết giáo về tình yêu Thiên Chúa như họ, mà chính bản thân Người là tình yêu và là con Thiên Chúa Người đã tìm đến với con người, đã yêu thương con người và đã chết cho con người, ngay cả khi con người còn đang thù địch với Thiên Chúa Tấm bánh trong “Bữa tiệc biệt ly” được Chúa Giêsu bẻ ra chia cho môn đệ thể hiện sự chia sẻ, đó chính là biểu tượng “mình Chúa” đã hy sinh cho loài người, là tình yêu cao cả nhất Người dành cho nhân loại Tín đồ đạo Công giáo thực hiện tình yêu thương con người là hành động cao cả làm theo tấm gương của Thiên Chúa; “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em”

Về HĐTTXH, Kinh Thánh cho rằng, trong mọi hành động của con người, thì hành động từ thiện, bác ái xã hội được coi trọng hơn cả lễ tế Nếu chỉ quan tâm đến các nghi lễ tôn giáo được cử hành trọng thể trong các nhà thờ, mà quên chia sẻ tình yêu bác ái một cách cụ thể với những người xung quanh ta, thì những lễ tế ấy không có giá trị gì Sở dĩ, điều làm cho lễ tế của Đức Kitô trên cây Thập giá có giá trị vĩnh viễn, trở thành lễ tế tình yêu chính

là sự chia sẻ, hy sinh vì nhân loại của Người

Làm điều thiện, giúp đỡ mọi người là một cách thể hiện sống động đức tin Công giáo, biến đức tin đó trở thành hiện thực Tình yêu thương theo Kinh thánh không chỉ là tình yêu lý thuyết, trong tâm tưởng và suy nghĩ, mà nó còn phải được biểu hiện cụ thể bằng những hành động từ thiện tốt đẹp Tín đồ Công giáo không chỉ là thuộc lòng những điều Thiên Chúa răn dạy về đức ái như: yêu thương Thiên Chúa, yêu thương bản thân, yêu thương thiên nhiên và yêu thương người khác, mà trước hết và họ phải nhiệt tâm thể hiện lòng yêu

Trang 32

thương ấy bằng việc “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống”, cứu giúp những con người bất hạnh

Theo Kinh Thánh, bên cạnh việc giữ các điều răn, thì muốn đi lên thiêng đường, con người phải biết làm phúc, như Giêsu đã dạy một thanh niên

có nhiều của cải: “Nếu anh muốn hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời” (Mt 19, 22) Trong

“Bài giảng trên núi” (Kinh Tân ước), Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cách làm

từ thiện, đó là phải kín đáo, không phô trương khi bố thí cho người khác Việc

từ thiện phải xuất phát từ “cái tâm”, không nhằm mục đích khoe khoang lấy tiếng: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,

để việc anh bố thí được kín đáo” (Mt 6, 1-4) Đây là những nét đẹp của HĐTTXH của Công giáo

Những việc làm từ thiện, bố thí mà Chúa Giêsu chỉ ra rất đa dạng và phong phú, từ việc cứu chữa cho người bệnh tật, đến việc thương xót dân chúng lầm than, hay việc cứu vớt linh hồn những kẻ tội lỗi Kinh Tân ước

đã viết về Chúa Giêsu hết lòng cứu chữa cho các bệnh nhân mắc các căn bệnh hiểm nghèo: Người chữa cho người bị phong hủi lành lặn như cũ (Mt 8, 1), chữa bệnh cho đầy tớ của một đại đội trưởng (Mt 8, 5), chữa cho người bị bại liệt đi lại được (Mt 9, 1), chữa cho người đàn bà bị băng huyết và con gái một

vị thủ lĩnh sống lại (Mt 9, 18) Người dùng bữa với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi, bởi vì “Tôi không đến để kêu gọi người thu thuế và những

kẻ tội lỗi, bởi vì “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mt 9, 13) Người chạnh lòng thương đám đông lầm than vất vưởng, không có gì ăn, “để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường”, nên đã hóa bánh cho họ ăn đỡ đói (Mt 16, 32)

Trên cơ sở của đức bác ái và là sự biểu hiện sinh động của bác ái trong thực tiễn đời sống, HĐTTXH của Công giáo không chỉ là tôn chỉ đời sống

Trang 33

đạo của nhiều dòng tu, hội đoàn, mà đó là nét đẹp đạo đức, một hạt nhân tích cực trong giáo lý của tôn giáo này

HĐTTXH của Công giáo ở Việt Nam là một trong những phương thức thực hiện đường hướng hành đạo của GHCGVN: “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”

Năm 1980, Đại hội đồng Giám mục Việt Nam đầu tiên họp tại Thủ đô

Hà Nội đã ra Thư chung 1980 khẳng định đường hướng mục vụ: “Sống phúc

âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” GHCGVN kêu gọi người Công giáo coi hoạt động bác ái xã hội là một trong những phương cách thể hiện “sự đồng cảm, chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc” và mỗi người Công giáo “khắc phục các khó khăn và các xu hướng cá nhân ích kỷ, nêu cao tinh thần phục vụ của bác ái phổ quát, hướng tới cảnh Trời mới, đất mới, trong đó tất cả hòa hợp hạnh phúc” [16, tr 6]

Năm đầu tiên của thế kỷ XXI, trong Thư chung 2001, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổng kết lại 21 năm kể từ ngày GHCGVN thực hiện đường hướng hành đạo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” Giáo hội đánh giá cao sự có mặt của giáo dân trong mọi lĩnh vực

mà xã hội cho phép và sự dấn thân phục vụ trong các lĩnh vực giáo dục, y tế,

xã hội đặc biệt đối với người nghèo khổ và bệnh tật của đội ngũ linh mục và nam, nữ tu sĩ Trong Thư chung năm 2001 nêu rõ: “Để yêu thương và phục

vụ, trước hết ta phải tiếp tục đường hướng đồng hành với dân tộc, đồng cảm, chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc trong tiến trình phát triển xã hội và thăng tiến của con người Ta không nhìn những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục như những kẻ đứng ngoài cuộc, nhưng nhận đó là những vấn đề của

ta và chủ động góp phần giải quyết, hầu cho mọi người được sống và sống dồi dào Ta không thể thờ ơ với những chương trình phát triển cũng như tình trạng nghèo đói và những tệ nạn xã hội, bởi vì ta thành viên của cộng đồng dân tộc với tất cả quyền lợi và nghĩa vụ” [17, tr 2]

Trang 34

Giáo hội chủ động kêu gọi giáo dân quan tâm đến những nhóm đối tượng yếu thế, cần sự trợ giúp Đó là những người nghèo cả về phương diện của cải vật chất lẫn phương diện kiến thức, phẩm giá Theo GHCGVN, không nên coi người nghèo là đối tượng của việc làm từ thiện, mà cần tôn trọng và lắng nghe họ Đó là những người di cư, bơ vơ nơi đất khách quê người Các giáo xứ địa phương cần quan tâm và giúp đỡ họ Đó là cộng đồng dân tộc thiểu số cư trú tại những khu vực vùng dâu, vùng xa hẻo lánh của Tổ quốc Cần phải yêu quý, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi cho họ

Tinh thần canh tân, đổi mới phần nào đã thúc đẩy GHCGVN tích cực dấn thân vào các hoạt động xã hội, nhất là tham gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và từ thiện nhân đạo Vào những năm 1960, sau khi hàng giáo phẩm Việt Nam được thành lập, GHCGVN có 93 trường trung học với 60.412 học sinh, 1.122 trường tiểu học với 234.749 học sinh, 28 cô nhi viện nuôi dưỡng 6.616 trẻ, 48 bệnh viện với 6.453 dường bệnh, 35 viện dưỡng lão với 244 người, 8 trại phong với 3.465 bệnh nhân và 159 phòng phát thuốc cho khoảng 1.870.073 lượt người sự Sau năm 1975, GHCGVN bước vào một thời kỳ mới Nhiều cơ sở giáo dục, y tế, TTXH của Giáo hội đã chuyển sang sở hữu Nhà nước, bàn giao cho chính quyền mới Lúc này, các tu sĩ, linh mục tập trung vào học hỏi và giảng dạy giáo lý, âm thầm thể hiện đức ái, đức tin trong đời sống tu trì khiêm tốn

Phát huy truyền thống tương thân, tương ái, sống đạo tình thương, thực hành nội dung giáo huấn của “Tin Mừng” hôm nay, do đó HĐTTXH của Công giáo luôn là điểm sáng trong phong trào yêu nước của giới Công giáo thu hút được đông đảo linh mục, tu sĩ, cá nhân, tập thể tín đồ tham gia HĐTTXH của Công giáo được thể hiện qua các hoạt động giáo dục, y tế, chăm sóc người già, trẻ em, mở trường, cứu trợ, đã đạt được những hiệu quả tích cực trong xã hội Những HĐTTXH của người Công giáo Việt Nam

Trang 35

không chỉ thể hiện tinh thần “mến Chúa yêu Người” của Kinh Thánh và quan điểm nhập thế của Công giáo, mà còn khẳng định trách nhiệm công dân và bổn phận dân chúa của mỗi tín đồ Công giáo trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Tiểu kết Chương 1

Từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội hóa công tác xã hội nói chung và của tôn giáo nói riêng, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị, xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta Hệ thống pháp luật và chính sách phát triển các lĩnh vực xã hội hóa công tác xã hội của các tôn giáo ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Các lĩnh vực xã hội hóa đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Ðời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị, xã hội Những thành tựu đạt được trên là nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công tác xã hội ngày càng thông thoáng và hoàn hiện, tạo điều kiện cho các tôn giáo tổ chức các HĐTTXH, góp phần quan trọng thực hiện công tác

xã hội hóa công tác xã hội; tạo nên sự gắn bó, đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và toàn xã hội

HĐTTXH là hoạt động không thể thiếu của mọi tôn giáo HĐTTXH của các tôn giáo rất đa dạng với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau Trên thực tế, các HĐTTXH của các tôn giáo ở phương diện nào đó đã góp phần chia sẻ, giải quyết những gánh nặng về xã hội cho Nhà nước

Trang 36

HĐTTXH của các tôn giáo mặc dù còn những tồn tại song những tích cực của nó cũng đáng ghi nhận như tinh thần tự nguyện, nhiệt tình mong muốn đem lại niềm vui cho mọi người nghèo khổ; các chức sắc, nhà tu hành thực hiện đúng theo giáo lý, tôn chỉ tôn giáo, cũng như luôn tuân thủ pháp luật hiện hành của Nhà nước, không có sự vụ lợi cá nhân; được người dân đồng tình ủng hộ và tiếp đón nhiệt tình Với những thuận lợi và được sự chỉ đạo, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ của các đoàn thể chính trị,

xã hội về các HĐTTXH của tôn giáo, HĐTTXH của các tôn giáo đã và đang được phát huy và đóng góp nhiều hơn cho xã hội trong thời gian tới

Trang 37

12 gia đình Phật tử, 247 đoàn sinh [5, tr 11]

GHPGVN tỉnh Kiên Giang có các hệ phái như: Phật giáo Bắc tông và Khất sỹ; Phật giáo Nam tông Khmer và Nam tông Kinh

* Hệ thống tổ chức của GHPGVN tỉnh Kiên Giang:

Ban Chứng minh có 05 thành viên gồm các vị trưởng lão Hòa thượng, Hòa thượng có nhiều đóng góp cho hoạt động GHPGVN Trung ương cũng như tỉnh Kiên Giang

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh gồm 57 ủy viên trong đó Ban Thường trực

có 25 vị; có 11 Ban chuyên môn, tham mưu, giúp việc cho Ban Trị sự GHPGVN tỉnh để điều hành công việc của Giáo hội (Ban Pháp chế; Ban TTXH; Ban Hướng dẫn Phật tử; Ban Hoằng pháp; Ban Nghi lễ; Ban Kinh

tế Tài chính; Ban Phật giáo Quốc tế; Ban Thông tin Truyền thông; Ban Văn hóa; Ban Cư sĩ Phật tử; Ban Giáo dục Tăng Ni, mỗi ban có từ 05 đến 15 thành viên)

Trang 38

Ban Trị sự GHPGVN các huyện, thành phố: gồm 14 Ban Trị sự, 244

vị ủy viên, 14 Trưởng ban và 35 vị Phó Trưởng ban; mỗi Ban trị sự có 01 thư ký

2.1.1.2 Về hoạt động:

* Hoạt động Phật sự:

Xây dựng quy chế làm việc, tổ chức họp định kỳ và sinh hoạt Tăng sự:

Thường trực Ban Trị sự họp định kỳ hàng tháng vào ngày 25DL, nội dung kiểm tra hoạt động Phật sự, thống nhất về chủ trương và chương trình làm việc của tháng tiếp theo Thường trực Ban Trị sự thống nhất, Chánh Thư

ký Ban trị sự chịu trách nhiệm lập kế hoạch triển khai các chương trình của Thường trực Ban Trị sự; giữa hai kỳ họp các Phó Trưởng ban đặc trách cùng Chánh Thư ký trực tiếp xử lý công việc

Hàng tháng, tổ chức sinh hoạt Tăng sự vào ngày mùng 02AL, dành cho tất cả Tăng ni Trụ trì trong toàn tỉnh, nội dung phổ biến và triển khai các văn bản của Trung ương Giáo hội, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và thông báo các chương trình phối hợp của MTTQ với các tổ chức thành viên; báo cáo công tác Phật sự trong tháng và triển khai nội dung công tác Phật sự tháng tới được Thường trực Ban Trị sự thông qua tại

kỳ họp thường trực định kỳ

Hoạt động bồi dưỡng Trụ trì:

Hàng năm Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đều mở khoá bồi dưỡng cho các tăng ni, trụ trì trong toàn tỉnh Ngoài ra, phối hợp với các cơ quan chức năng mở khoá bồi dưỡng Trụ trì dài hạn từ năm 2014 - 2016 mỗi tháng học 02 ngày và 02 khóa tập huấn cho các vị Phó Trụ trì, Ban Quản trị các chùa Phật giáo Nam Tông Khmer

Về bổ nhiệm các Ban Trị sự Phật giáo huyện, thành phố:

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh ra quyết định bổ nhiệm Ban Trị sự Phật giáo cấp cơ sở; mỗi Ban Trị sự có từ 15 đến 21 thành viên và được phân công trách

Trang 39

nhiệm trong điều hành công tác Phật sự; Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đã hoàn thiện hệ thống tổ chức từ tỉnh đến cấp cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi trong xu thế phát triển và hoàn thành mọi công tác Phật sự

Thành lập các Ban, ngành trực thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh:

Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đã thành lập và bổ nhiệm các Ban ngành trực thuộc, mỗi Ban ngành trực thuộc có trung bình từ 15-25 thành viên, đảm bảo được tính nguyên tắc bình đẳng, quyền và lợi ích chung của các Hệ phái Phật giáo

Công tác hỗ trợ hệ phái Phật giáo Nam tông:

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh được UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Ban Tôn giáo, Ban Dân tộc tỉnh, Chư Tôn đức các chùa, các Ban Quản trị và Phật tử hỗ trợ kinh phí một phần cho việc tổ chức mở các khoá thi tốt nghiệp Tiểu học Pali và Kinh luận giới Được Nhà nước quan tâm giúp đỡ, cấp phát một số sách giáo khoa chữ Khmer từ lớp 1 đến lớp 5 để giảng dạy và học tập, Ban Tôn giáo Chính phủ và Trung ương GHPGVN in ấn hỗ trợ cho việc dạy, học và tụng niệm với tổng số 51.504 quyển sách và trên 40 đầu sách (từ năm 2012-2017), chính quyền các cấp hỗ trợ kinh phí tổ chức Đại hội Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước cấp tỉnh và các huyện, thành phố Được Nhà nước

hỗ trợ trùng tu xây dựng Tháp 4 sư Liệt sĩ, di tích Chùa Phật lớn, Chùa Xẻo Cạn, Chùa Tổng Quản, xây mới và sửa chữa các lò hỏa táng tổng kinh phí gần

42 tỷ đồng; các chùa Phật giáo Nam tông Khmer đã vận động Phật tử và được Nhà nước hỗ trợ để trùng tu xây dựng mới các tự viện, tổ chức các lễ hội truyền thống, các lớp học Pali song ngữ

Công tác mở các khóa đào tạo:

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh mở các khoá tin học văn phòng và nghiệp vụ báo chí- thư ký cho các vị thư ký các Ban trị sự GHPGVN huyện, thành phố

có trên 55 vị tham dự; phối hợp với Sở Y tế tỉnh mở khoá sơ cấp cứu chăm

Trang 40

sóc sức khoẻ ban đầu có 185 học viên tham dự; phối hợp Ban Tôn giáo-Sở Nội vụ mở khoá phổ biến kiến thức quốc phòng có gần 300 vị tham dự; mỗi năm khoá tu mùa hè cho gần 1.000 sinh viên, học sinh tham dự và tổ chức chương trình tiếp sức mùa thi cho các thí sinh thi Đại học tại thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang và Kiên Giang

Học tập và phổ biến các văn kiện Trung ương GHPGVN:

Tuân thủ sự lãnh đạo của Trung ương GHPGVN, đồng thời để mọi hoạt động Phật sự theo đúng chánh pháp và những quy định của Hiến chương Giáo hội, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đã phổ biến và triển khai học tập Hiến chương, nội quy các Ban ngành, Viện trực thuộc Trung ương GHPGVN, các nghị quyết, chương trình hoạt động và các văn kiện khác của Trung ương GHPGVN đến các thành viên Ban Trị sự, các ban, ngành trực thuộc, Ban Trị

sự GHPGVN các huyện, thành phố, các tự viện, tăng ni, Phật tử Từ đó, mọi hoạt động Phật sự của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh, các ban, ngành trực thuộc, Ban Trị sự GHPGVN huyện, thành phố sinh hoạt và tu học đều đi vào nề nếp

và ổn định

Khóa tu mùa hè:

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh hàng năm đều tổ chức khóa tu mùa hè dành cho học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên tham gia tu học; nhằm hạn chế các vấn nạn của thanh thiếu niên hiện nay như: lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và bạo lực Đồng thời kết nối lại những giá trị tinh thần cao đẹp và nâng cao đời sống hướng thiện, phát huy tinh thần trách nhiệm đối với tự thân, cộng đồng và nâng cao nghệ thuật sống của thanh thiếu niên, đặc biệt là hướng dẫn về tư tưởng đạo hiếu của nhà Phật để các em phát huy tốt tinh thần tri ân và báo ân, uống nước nhớ nguồn, con cháu thảo hiền Nội dung của tu học gồm các hoạt động vui chơi, ca hát, học tập các oai nghi tế hạnh, thực tập thiền quán; tham dự các buổi thuyết giảng của các chư tôn đức giảng sư trong

Ngày đăng: 17/07/2020, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w