1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng bằng kỹ thuật Real-time PCR và reverse dot blot hybridization

4 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 386,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV có nguy cơ gây ung thư cao ở các bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.

Trang 1

TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 15(02),

Vũ Văn Tâm, Phan Thị Thanh Lan, Lưu Vũ Dũng

Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HPV Ở BỆNH NHÂN CÓ

TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

HẢI PHÒNG BẰNG KỸ THUẬT REAL - TIME PCR VÀ

REVERSE DOT BLOT HYBRIDIZATION

Tác giả liên hệ (Corresponding author):

Phan Thị Thanh Lan,

email: bsthanhlan@gmail.com

Ngày nhận bài (received): 01/03/2017

Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):

15/03/2017

Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 28/04/2017

Từ khóa: Tỷ lệ nhiễm HPV,

tổn thương cổ tử cung, Real -

Time PCR và Reverse Dot Blot

Hybridization.

Keywords: HPV prevalence,

distribution of HPV, Real - Time

PCR and Reverse Dot Blot

Hybridization.

Tóm tắt

nguy cơ gây ung thư cao ở các bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

Blot Hybridization trên máy X-4800 Cobas của hãng Roche- dianostique (Thụy Sỹ), nghiên cứu trên 533 mẫu dịch phết cổ tử cung

khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 10,1% (54/533), trong đó số bị nhiễm type 16 là 20,4% (11/54); type 18 là 12,9 % (7/54) và 66,7% (36/54) dương tính với 1 trong 12 type (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 53, 56, 58, 59,

66, 68 ) Tỷ lệ nhiễm 1 type là 88,9% (48/54), đồng nhiễm 2 type là 11,1%

(6/54); Không phát hiện ca nào đồng nhiễm từ 3 type trở lên 100% đồng nhiễm giữa 1 type nguy cơ cao với 1 type nguy cơ trung bình, đồng nhiễm hay gặp nhất là giữa type 16 và 1 type nguy cơ trung bình (66,67%)

phụ khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 10,1%, cao hơn tỷ lệ nhiễm HPV khi khảo sát ở phụ nữ nói chung trên cộng đồng

và Reverse Dot Blot Hybridization.

Abstract

STUDY ON HPV PREVALANCE IN PATIENTS AT HAI PHONG GYNECOLOGY-OBSTETICQUE HOSPITAL BY REAL-TIME PCR AND DOT BLOT HYBRIDIZATION

types in patients at Hải Phòng gynecology- obstetrics Hospital

study 533 cervical swab specimens

type is 10.1%, which were infected with type 16 is 20.4%; type 18 is

Trang 2

VŨ VĂN TÂM, PHAN THỊ THANH LAN, LƯU VŨ DŨNG

Tập 15, số 02 Tháng 05-2017

12.9% and 66.7% positive with 1 in 12 type (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 53, 56, 58, 59, 66, 68 ) The infection rate with 1 type is 88.9%, coinfection with 2 types is 11.1%; No any cases of co-infection

of 3 types Co-infection between one high-risk type with one type of average-risk is the highest rate (100%), the most common co-infectionis between types 16 and 1 average-risk type (66.67%)

highrer than that in pulication.

1 Đặt vấn đề

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư được xếp

hàng thứ hai trong số các ung thư phổ biến của

phụ nữ trên thế giới, nhưng lại chiếm vị trí hàng đầu

trong các ung thư của phụ nữ tại các nước đang

phát triển Ước tính mỗi năm có khoảng 288.000

ca tử vong do ung thư cổ tử cung trên khắp thế giới,

85% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước

đang phát triển [1] Nhiều nghiên cứu gần đây cho

thấy ung thư cổ tử cung có liên quan chặt chẽ với

nhiễm các type Human papillomavirus (HPV) nguy

cơ cao đường sinh dục [2],[3] Có 3 yếu tố nguy

cơ phát sinh ung thư cổ tử cung là: bệnh nhân có

tổn thương cổ tử cung tồn tại từ trước, đồng thời

nhiễm 1 HPV nguy cơ cao mà cơ thể không tự đào

thải được, do suy giảm miễn dịch Thì từ một tái

tạo không hoàn toàn sẽ biến đổi thành tổn thương

trong biểu mô Malpighi (loạn sản), trước hết là mức

độ thấp (CIN 1), sau đó, tiến triển lên mức độ cao

hơn (CIN 2, CIN 3, K cổ tử cung) [4]

Dựa trên khả năng gây ra các tổn thương mô

học, đặc biệt là khả năng gây ung thư cổ tử cung,

HPV được chia làm hai nhóm: nhóm nguy cơ cao và

nguy cơ thấp Nhóm nguy cơ cao (HPV-16,18…)

gây các tổn thương tiền ung thư và ung thư, trái

lại nhóm nguy cơ thấp (HPV-6,11…) hiếm gặp

trong các trường hợp ung thư mà chủ yếu gây các

tổn thương lành tính Do đó, việc phát hiện và xác

định các type HPV có vai trò vô cùng quan trọng

trong việc đánh giá nguy cơ ung thư cổ tử cung và

một số ung thư đường sinh dục khác [2],[5],[6]

Hiện có nhiều phương pháp phát hiện nhiễm HPV như PAP’s smear, ts-PCR (type specific PCR), PCR-Elisa, Reverse Dot Blot, Sequencing, song chính xác nhất vẫn là các kỹ thuật sinh học phân tử, trong

đó có xét nghiệm định type HPV bằng kỹ thuật Reverse Dot Blot Hybridization Vì vậy, chúng tôi

sử dụng kỹ thuật Real-time PCR và Reverse Dot Blot Hybridization nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ nhiễm HPV

2 Xác định sự phân bố các type HPV các bệnh nhân tổn thương cổ tử cung khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ năm 6/2016 -3/2017

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

- Thời gian thu thập mẫu: từ tháng 6/2016 đến tháng 3/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu hồi cứu với cỡ mẫu thuận tiện

- số liệu thống kê từ phần mềm quản lý xét nghiệm Labconn

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

• Phụ nữ đã có quan hệ tình dục

• Hiện tại không có thai

* Bệnh nhân đã được khám, soi cổ tử cung và xét nghiệm Thinprep pap test Những bệnh nhân được chẩn đoán tổn thương cổ tử cung lành tính được nhận vào nghiên cứu

Trang 3

TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 15(02),

• Không thụt rửa âm đạo trước khi xét nghiệm

• Không đặt thuốc điều trị phụ khoa trước đó ít

nhất 7 ngày

• Khi xét nghiệm không trong thời kỳ hành kinh

• Không quan hệ tình dục trước xét nghiệm

3 ngày

- Quy trình thực hiện định type HPV:

• Thu nhận bệnh phẩm: dịch phết cổ tử cung

• Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp

Phenol - chloroform

• Thực hiện phản ứng Nested Real-time PCR:

trên máy X- 4800 Cobas của hãng Roche-

dianostique (Pháp),

• Phân tích, so sánh, đối chiếu kết quả với sơ

đồ màng lai

3 Kết quả

3.1 Tỷ lệ nhiễm HPV

Như được chỉ ra ở biểu đồ 1, tỷ lệ phát hiện

HPV-DNA dương tính với HPV type nguy cơ cao và nguy cơ

trung bình ở phụ nữ tổn thương cổ tử cung đến khám

phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là 10,1%

3.2 Sự liên quan nhiễm HPV theo

nhóm tuổi

Hình 1 HPV Real-time PCR và nguyên lý của kỹ thuật Reverse Dot Blot

Hình 2 Kết quả định type HPV bằng kỹ thuật Reverse Dot Blot

Biểu đồ 1 Tỷ lệ nhiễm HPV

3.3 Sự phân bố các type HPV

Như được chỉ ra ở biểu đồ 2, chúng tôi đã phát hiện được 14 type HPV trong số 24 type có thể xác định được bằng kỹ thuật này Trong đó, Type 16 chiếm tỷ lệ (20,4%), type 18 (12,9%) Tỷ lệ dương tính với 1 trong 12 type (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52,

53, 56, 58, 59, 66, 68) là 66,7% Đặc biệt có 11,1%

có sự đồng nhiễm 2 type HPV Không xuất hiện ca nào nhiễm từ 3 type trở lên Kiểu đồng nhiễm phổ biến nhất là giữa type nguy cơ cao với nguy cơ trung bình (100%), trong đó hay gặp nhất đồng nhiễm type 16,

18 với một type khác nhưng không xuất hiện đồng nhiễm 2 type 16 và 18 Đồng nhiễm 16 với một type nguy cơ trung bình chiếm 66,7% Đồng nhiễm 18 với một type nguy cơ trung bình chiếm 33,3% Không có trường hợp nào đồng nhiễm giữa các type nguy cơ trung bình với nguy cơ trung bình

4 Bàn luận

4.1 Về phương pháp xét nghiệm

Hiện có nhiều phương pháp để phát hiện và định type HPV như: PAP’s smear, ts-PCR (type specific PCR), PCR-Elisa, Reverse Dot Blot, Sequencing PAP’s smear chỉ cho biết sự thay đổi hình thái tế bào bị nhiễm HPV, không xác định được type HPV, có độ nhạy chỉ 44-78% và độ đặc hiệu 91-96% PCR-Elisa và ts-PCR phải qua bước phát hiện sản phẩm PCR điện di agarose sử dụng Ethidium Bromide rất độc, nguy cơ ngoại nhiễm cao, chỉ xác định được 18 type HPV (13 type nguy cơ cao và 5 type thấp) Sequencing được đánh giá là tiêu chuẩn vàng trong xác định các type HPV Tuy nhiên,

Tuổi HPV DNA (-) HPV DNA (+) Tổng

Trung bình 38,3 ±9 36,7 ± 8,8

Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi

Biểu đồ 2 Tỷ lệ các type HPV

Trang 4

VŨ VĂN TÂM, PHAN THỊ THANH LAN, LƯU VŨ DŨNG

Tập 15, số 02 Tháng 05-2017

kỹ thuật này có giá thành cao, tốn nhiều thời gian và

không xác định được đồng nhiễm Trong đề tài này,

chúng tôi áp dụng phương pháp Real - time PCR và

Reverse Dot Blot vì kỹ thuật này có nhiều ưu điểm hơn

so với các phương pháp khác như: thao tác đơn giản,

cho kết quả nhanh, có độ nhạy cao đến 1 IU/phản

ứng, độ đặc hiệu 100%, xác định được 24 type HPV

(18 type nguy cơ cao và 6 type nguy cơ thấp) Phương

pháp này cũng có lợi thế so với Sequencing vì nó có

thể xác định dễ dàng sự nhiễm và đồng nhiễm các

type HPV trên cùng một mẫu bệnh phẩm

4.2 Về độ tuổi nhiễm HPV

Tuổi trung bình giữa 2 nhóm nhiễm và không

nhiễm HPV không có sự khác biệt p> 0,05

Trong nhóm tuổi dưới 25 (độ tuổi còn có thể tiêm

vắc xin phòng HPV) thì tỷ lệ dương tính với HPV đã

là 4/32 (12,5%) Do vậy, khuyến nghị xét nghiệm

định type HPV trước khi quyết định tiêm phòng cho nữ

giới dưới 25 tuổi đã có quan hệ tình dục

Trong nhóm tuổi dưới 35, tỷ lệ dương tính với HPV

là 25/207 (12,1%) Tuy nhiên, theo tác giả Remi

Catabelle (Pháp), có đến 80% bệnh nhân ở nhóm tuổi

này, HPV được đào thải tự nhiên nhờ hệ miễn dịch

(được gọi là khỏi tự nhiên hay nhiễm trùng tạm thời)[7]

Trong nhóm tuổi trên 35, tỷ lệ dương tính là

25/269 (9,3%) Theo tác giả Remi Catabelle (Pháp)

nếu tồn tại nhiễm trùng trên 1 năm thì có khoảng

10-20% ca nhiễm, sau 2 – 5 năm có thể tiến triển

từ một tổn thương cổ tử cung lành tính thành tổn

thương trong biểu mô Malpighi mức độ thấp (CIN

1) Sau đó, 3 đến 5 năm tiến triển thành tổn thương

trong biểu mô Malpighi mức độ cao (CIN 2-3) Sau

đó 4 đến 10-15 năm thành ung thư [7]

4.3 Về tỷ lệ nhiễm các type HPV

Với 533 phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh

viện Phụ sản Hải Phòng được xác định có tổn thương

cổ tử cung, kết quả thu được có 54/533 (10,1%) ca

nhiễm HPV, tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Hữu Quyền cũng sử dụng kỹ thuật Real

- time PCR và Reverse Dot Blot khảo sát ở phụ nữ viêm cổ tử cung là 29,8% [8] Sự khác nhau là do tác giả Nguyễn Hữu Quyền khảo sát cả 24 type HPV (2 type nguy cơ cao, 16 type nguy cơ trung bình và

6 type nguy cơ thấp) Còn chúng tôi tiến hành khảo sát 2 type HPV nguy cơ cao (16,18) và 12 type nguy

cơ trung bình (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58,

59, 66, 68,) Trong khi đó, khi khảo sát ở phụ nữ nói chung trên cộng đồng, tỷ lệ nhiễm HPV theo kết quả nghiên cứu của Lê Trung Thọ và Trần Văn Hợp tại Hà Nội (2009) là 5,13% [6], của Vũ Thị Nhung khi khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh (2007) là 12% [9] Điều này cho thấy lệ nhiễm HPV ở phụ nữ tổn thương

cổ tử cung cao hơn nhiều so với nhóm phụ nữ bình thường tại cộng đồng Trong các trường hợp HPV (+), chúng tôi đã xác định được 33,3% bệnh nhân bị nhiễm 2 type nguy cơ cao Trong đó type 16 chiếm

tỷ lệ cao nhất 66,7%, type 18 (33,3% Do vậy, nhóm phụ nữ tổn thương cổ tử cung cần được tư vấn khám định kỳ kết hợp với Thinprep PAP test, soi cổ tử cung

để phát hiện sớm tiền ung thư và ung thư cổ tử cung

5 Kết luận

Sử dụng phương pháp Real-time PCR và Reverse Dot Blot Hybridization nghiên cứu trên 533 mẫu dịch phết cổ tử cung, chúng tôi thu được các kết quả như sau:

1 Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có tổn thương cổ

tử cung đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là 10,1%, cao hơn tỷ lệ nhiễm HPV khi khảo sát ở phụ nữ nói chung trên cộng đồng

Tỷ lệ nhiễm type nguy cơ cao là 33,3%; nguy cơ trung bình là 66,7%

2 Tỷ lệ nhiễm 1 type là 88,9%, đồng nhiễm 2 type là 11,1%; không phát hiện ca nào đồng nhiễm

từ 3 type trở lên 100% đồng nhiễm giữa 1 type nguy cơ cao với 1 type nguy cơ trung bình Đồng nhiễm hay gặp nhất là giữa type 16 và 1 type nguy

cơ trung bình (66,7%)

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Bá Đức Tổng quan về ung thư cổ tử cung Tạp chí Y học Việt Nam

2007; 98-104.

2 Kumar, Vinay; Abbas, Abul K.; Fausto, Nelson; Mitchell, Richard Chapter 19

The Female Genital System and Breast Robbins Basic Pathology 2007 (8 ed.);

Philadelphia: Saunders ISBN 1-4160-2973-2977.

3 Lee Hyo-Pyo, Sang-Soo Seo The application of human papilloma virus testing

to cervical cancer screening Yousei Medical Journal 2002;43(6): 763-768

4 Muñoza N, Castellsaguéb X, Berrington de Gonzálezc A, Gissmann L (2006)

Chapter 1: HPV in the etiology of human cancer Vaccine 2006; 24 (3): S1-S10.

5 Parkin DM The global health burden of infection-associated cancers in the

year 2002 Int J Cancer 2006; 118 (12): 3030-44.

6 Lê Trung Thọ và Trần Văn Hợp Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở cộng đồng phụ

nữ Hà Nội và một số yếu tố liên quan Y Hoc TP Hồ Chí Minh 2009; 13 (1): 185-189.

7 Remi Catabelle Chẩn đoán, điều trị, dự phòng ung thư cổ tử cung Bài

giảng cho bác sỹ sản phụ khoa 23/05/2016 Đại học y Hải Phòng.

8 Nguyễn Hữu Quyền Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC bằng kỹ thuật Real - Time PCR và Reverse Dot Blot Hybridization Tài liệu lưu hành nội bộ.

9 Vũ Thị Nhung Khảo sát tình hình nhiễm các týp HPV (Human Papiloloma Virus)

ở Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử Tạp chí Y học TP

Hồ Chí Minh Phụ bản chuyên đề Ung bướu học 2006; 10(4): 402-407.

Ngày đăng: 17/07/2020, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm