Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nhiều vấn đề lý luận về phát triển kinh tế - xã hội của một thành phố thủ đô theo hướng hiệu quả, bền vữ
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
_
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐÁNH GIÁ KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XVI (2015-2020)
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2025,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
MÃ SỐ: CT20/07-2018-2
HÀ NỘI - THÁNG 4/2020
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC CÁ NHÂN THAM GIA ĐỀ TÀI v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HỘP ix
MỞ ĐẦU 1
I Sự cần thiết của Đề tài 1
II Tổng quan nghiên cứu 2
2.1 Nghiên cứu ngoài nước 2
2.2 Nghiên cứu trong nước 4
III Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
3.2 Đối tượng nghiên cứu 6
3.3 Phạm vi nghiên cứu 7
IV Cách tiếp cận, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 7
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
4.3 Dữ liệu nghiên cứu 8
V Đóng góp của Đề tài 8
VI Kết cấu của Báo cáo Đề tài 9
PHẦN THỨ NHẤT 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VỀ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 10
I Cơ sở lý luận cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội 10
1.1 Một số quan niệm, cách tiếp cận 10
1.2 Phát triển bền vững 17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế 19
II Hiện đại hóa phát triển kinh tế - xã hội 22
2.1 Xu hướng hiện đại hóa nền kinh tế 22
2.2 Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế và các đột phá chiến lược của Việt Nam 29
Trang 3III Cơ sở pháp lý về phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội 31
3.1 Định hướng, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô 31
3.2 Các chủ trương, đường lối về phát triển Thủ đô trong thời gian tới 35
IV Tổng quan về kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội trong và ngoài nước 37 4.1 Xây dựng mối quan hệ đô thị - nông thôn hài hòa, bền vững và phát triển 37
4.2 Tăng cường năng lực cạnh tranh dựa trên đổi mới sáng tạo 39
4.3 Tái cơ cấu kinh tế địa phương trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0) 40
4.4 Phát triển các loại hình văn hóa đa dạng, có bản sắc và có tính độc đáo 46
4.5 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội một số tỉnh, thành phố của Việt Nam 47
PHẦN THỨ HAI 51
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XVI (2015-2020) 51
I Bối cảnh thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 51 1.1 Bối cảnh quốc tế 51
1.2 Bối cảnh trong nước 51
1.3 Bối cảnh tác động đến Hà Nội 52
II Đánh giá thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu 53
2.1 Tổng quan dự kiến thực hiện các chỉ tiêu phát triển nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI (2015-2020) 53
2.2 Phát huy tiềm năng và thế mạnh của Thủ đô, đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh 54
2.3 Công tác quy hoạch, quản lý, phát triển và chỉnh trang đô thị, xây dựng nông thôn mới 66
2.4 Phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin 75
2.5 Phát triển các lĩnh vực xã hội 79
2.6 An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; công tác quốc phòng, quân sự địa phương 87
2.7 Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế và hợp tác phát triển vùng 88
III Đánh giá thực hiện các khâu đột phá 90
3.1 Phát triển đồng bộ, hiện đại hóa từng bước kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn 90
Trang 43.2 Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo bước chuyển biến mạnh về kỷ luật,
kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán
bộ, công chức; cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả đầu
tư và sản xuất kinh doanh trên địa bản Thủ đô 91
3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh và phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới 93
IV Bài học kinh nghiệm 96
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 98
I Bối cảnh quốc tế, trong nước và những vấn đề nổi lên 98
1.1 Những vấn đề đáng chú ý từ bối cảnh 98
1.2 Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức 100
II Đề xuất quan điểm và mục tiêu phát triển 104
2.1 Quan điểm phát triển giai đoạn 2021-2025 104
2.2 Mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển 105
2.3 Dự báo một số cân đối lớn giai đoạn 2021-2025 114
III Nhiệm vụ chủ yếu và các khâu đột phá 115
3.1 Nhiệm vụ chủ yếu 115
3.2 Khâu đột phá 116
IV Nhiệm vụ phát triển các ngành, lĩnh vực 116
4.1 Tiếp tục tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế 116
4.2 Phát triển các thành phần kinh tế đi đôi với tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước 118
4.3 Huy động, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực 119
4.4 Phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh 121
4.5 Phát triển giáo dục và đào tạo 122
4.6 Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ 123
4.7 Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao thể chất, chất lượng cuộc sống của người dân 125
4.8 Thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo, thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ, trẻ em 126
4.9 Quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, nông thôn, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai 127
Trang 54.10 Thực hiện công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, thực hành
tiết kiệm chống lãng phí 132
4.11 Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm 133
4.12 Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hợp tác phát triển vùng 133
V Tổ chức triển khai thực hiện 134
5.1 Tuyên truyền, phổ biến và quán triệt thực hiện Kế hoạch 134
5.2 Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội 135
5.3 Xây dựng các chương trình, đề án, dự án cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Kế hoạch 138
5.4 Một số kiến nghị 139
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 142
Trang 6DANH SÁCH CÁC CÁ NHÂN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Trần Ngọc Nam Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
2 TS Nguyễn Thái Đông Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
3 ThS Bùi Việt Nga Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
4 CN Đỗ Hoài Giang Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
5 ThS Nguyễn Hồng Minh Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
6 TS Trần Đức Phương Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
7 TS Hoàng Văn Giang Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
8 ThS Lê Thị Thanh Huyền Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
9 ThS Bùi Việt Hưng Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
10 TS Lê Hồng Thăng Giám đốc Sở Công Thương
11 ThS Trần Đức Hải Giám đốc Sở Du lịch
12 ThS Hà Minh Hải Giám đốc Tài chính
13 TS Nguyễn Hải Bắc Sở Tài chính
14 TS Lê Ngọc Anh Sở Khoa học và Công nghệ
15 ThS Nguyễn Thúy Chinh Phó Cục trưởng Cục Thống kê Hà Nội
16 ThS Chu Phú Mỹ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
17 CN Nguyễn Tiến Nam Cục Thống kê Hà Nội
18 ThS Lê Vinh Sở Quy hoạch kiến trúc
19 ThS Lê Văn Dục Sở Xây dựng
20 TS Nguyễn Ngọc Kỳ Sở Thông tin Truyền thông
21 GS TS Nguyễn Kế Tuấn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
22 ThS Nguyễn Hoàng Hà Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
23 CN Nguyễn Trường Linh Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
24 TS Nguyễn Hữu Khánh Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
25 KS Nguyễn Văn Quyết Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 726 TS Trần Anh Tuấn Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
27 ThS Đinh Thị Ninh Giang Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
28 PGS.TS Nguyễn Thị
Nguyệt
Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
29 ThS Nguyễn Tiến Huy Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
30 ThS Phạm Minh Hiền Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
31 ThS Lê Thị Thùy Linh Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
32 ThS Hoàng Thọ Vương Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
33 ThS Đỗ Thu Trang Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
34 ThS Đoàn Thị Thu Hà Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
35 ThS Trần Hoàng Ngân Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
36 ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
37 ThS Nguyễn Thị Hương Giang Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
38 ThS Hà Thị Quỳnh Hương Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
39 ThS Trịnh Quang Anh Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
40 ThS Nguyễn Tuấn Khải Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
41 ThS Ngô Xuân Hùng Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
42 KS Nguyễn Doãn Thành Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
43 CN Bùi Thị Nguyên Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
44 ThS Nguyễn Thảo Ninh Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
45 ThS Lê Văn Bằng Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
46 ThS Nguyễn Thu Hằng Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
47 ThS Nguyễn Thị Huyền Trang Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
48 ThS Tô Đức Giang Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
49 ThS Vũ Thùy Dương Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
50 CN Phạm Thùy Linh Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
51 CN Phan Huy Cường Sở Du lịch
52 ThS Nguyễn Thị Mai Sở Khoa học và Công nghệ
53 ThS Phạm Quang Anh Sở Khoa học và Công nghệ
54 ThS Lê Trần Phong Sở Khoa học và Công nghệ
55 ThS Lê Mỹ Hạnh Sở Khoa học và Công nghệ
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á
BĐKH - Biến đổi khí hậu
CMCN - Cách mạng công nghiệp
CNH - Công nghiệp hóa
CNTT - Công nghệ thông tin
CPTPP - Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộxuyên Thái Bình Dương DNNN - Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV - Doanh nghiệp nhỏ và vừa
EVFTA - Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA - Hiệp định thương mại tự do
ICOR - Incremental Capital Output Ratio/
Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PAPI - Chỉ số Hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh
PAR Index - Chỉ số Cải cách hành chính
PCCC - Phòng cháy, chữa cháy
PCI - Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
PPP - Đối tác Công - Tư
Trang 9PTBV - Phát triển bền vững
QHPK - Quy hoạch phân khu
QPPL - Quy phạm pháp luật
RTA - Hiệp định thương mại khu vực
STEM - Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ và Toán học
TTHC - Thủ tục hành chính
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Các giai đoạn công nghiệp hóa 28
Hình 2 Văn hóa với phát triển bền vững 46
Hình 3 Đóng góp của các yếu tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế 54
Hình 4 So sánh Hà Nội và một số thành phố, thủ đô khác (xem Phụ lục 7a, 9) 57
Hình 5 Tiến trình của các cuộc cách mạng công nghiệp 98
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc tới năm 2030 18
Bảng 2 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội 34
Bảng 3 Những thay đổi về phương thức sản xuất trong các ngành kinh tế 41
Bảng 4 Các định nghĩa về “thành phố thông minh” 42
Bảng 5 Các chiều hướng của đô thị thông minh và khía cạnh liên quan 44
Bảng 6: Dự báo dân số đến năm 2045 106
Bảng 7: Dự báo tỷ giá VNĐ/USD 107
Bảng 8: Chỉ số giảm phát DGDP 107
Bảng 9 Tổng hợp các phương án tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 110
Bảng 10: Các phương án tăng trưởng đến năm 2045 111
DANH MỤC HỘP Hộp 1 Tổng quan về mô hình kinh tế của Hàn Quốc (từ 1961) 25
Hộp 2 Mức độ tập trung công nghiệp tại các đô thị vệ tinh còn hạn chế 69
Hộp 3 Mỗi năm, Hà Nội thiệt hại hơn 1 tỷ USD vì ùn tắc giao thông 70
Hộp 4 Hà Nội ô nhiễm không khí thứ 2 ở Đông Nam Á 73
Hộp 5 Định hướng đối với các khu vực nội đô và đô thị vệ tinh và nông thôn 127
Trang 11MỞ ĐẦU
I Sự cần thiết của Đề tài
Để chuẩn bị nội dung phục vụ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVII, Thành uỷ Hà Nội đã ban hành Chương trình số 20-CTr/TU ngày 13/02/2018 về việc nghiên cứu khoa học trọng điểm thành phố Hà Nội “Những luận cứ khoa học
để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ thành phố 2020), định hướng phát triển Thủ đô giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030” (gọi tắt là Chương trình 20); Ban chủ nhiệm Chương trình 20 đã ban hành
(2015-Kế hoạch số 01-KH/BCN ngày 17/4/2018 về việc triển khai thực hiện Chương trình nghiên cứu khoa học số 20-CTr/TU
Theo Chương trình và Kế hoạch đặt ra có 08 nhiệm vụ nghiên cứu, trong đó
có nhiệm vụ “Đánh giá kinh tế - xã hội Thủ đô nhiệm kỳ Đại hội XVI (2015 - 2020) và định hướng phát triển đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” Đây là nhiệm vụ vừa đòi hỏi nghiên cứu sâu về phát triển kinh tế của Thủ đô, vừa tổng hợp cả các lĩnh vực xã hội thuộc các đề tài còn lại nghiên cứu để đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI (2015-2020); đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và quan trọng nữa là xây dựng
dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nhiều vấn đề lý luận về phát triển kinh tế - xã hội của một thành phố thủ
đô theo hướng hiệu quả, bền vững, gia tăng sức cạnh tranh chưa được nghiên cứu thỏa đáng (nổi bật như đánh giá chất lượng phát triển, phát triển đô thị bền vững, hiện đại hóa nền kinh tế) Tương lai phát triển bền vững kinh tế - xã hội của Thủ
đô ra sao trước ảnh hưởng của toàn cầu hóa, của cách mạnh công nghiệp 4.0 cũng như của biến đổi khí hậu; quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội đối với Thủ đô nên thế nào… là những vấn đề phải được nghiên cứu làm rõ cả phương diện lý luận và thực tiễn
Xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội định kỳ 5 năm của Thành phố là một nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng nhằm cụ thể hơn chủ trương đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô trong giai đoạn 5 năm và xa hơn Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch là gì, giải pháp kế hoạch ra sao cần được nghiên cứu thỏa đáng làm căn cứ triển khai Nghị quyết Đảng bộ lần
thứ XVII Đề tài “Đánh giá kinh tế - xã hội Thủ đô nhiệm kỳ Đại hội XVI (2015
- 2020) và định hướng phát triển đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” sẽ là
tài liệu đầu vào quan trọng trong việc dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII và xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 của thành phố Hà Nội
Trang 12II Tổng quan nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Đề tài đã thu thập các tư liệu, tài liệu và tiến hành tổng quan nghiên cứu nước ngoài để xác định khả năng có thể kế thừa và nhận biết những vấn đề cần phải đi sâu nghiên cứu thêm:
- Thứ nhất, về đường lối phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia: thu thập
được 12 tài liệu đề cập tới con đường phát triển của một nền kinh tế
+ Ba giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Ohno với hàm ý lấy hiện đại hóa làm tiêu chí phân kỳ phát triển nền kinh tế: giai đoạn 1 - nông nghiệp truyền thống cộng với tiếp nhận công nghiệp của các nước phát triển; giai đoạn 2 - phát triển mạnh công nghiệp gia công cho nước ngoài và phát triển công nghiệp, công nghệ trong nước cộng với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của nước ngoài; và giai đoạn 3 - công nghiệp trong nước tự sáng tạo công nghệ cho quốc gia
và phát triển kinh tế ở trình độ các nước công nghiệp
+ Năm giai đoạn phát triển của Rostow với hàm ý thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: (i) nền kinh tế nông nghiệp truyền thống; (ii) chuẩn bị cất cánh (áp dụng cách thức mới trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phát triển; tạo tiền đề
để cất cánh: tỷ lệ đầu tư không dưới 10% GDP; đã hiện hữu một số ngành công nghiệp chế tạo; có thể chế có lợi cho hiện đại hóa); (iii) cất cánh (áp dụng cách thức phát triển và tổ chức hiện đại); trưởng thành (chín mùi về kinh tế, kinh tế thương mại phát triển); xã hội tiêu dùng cao (thịnh vượng, dịch vụ chiếm ưu thế) + Ba giai đoạn phát triển xã hội khá giả của Trung Quốc: (i) xây dựng xã hội
no đủ, thoát khỏi nghèo khó: thực hiện 4 hiện đại hóa; (ii) chuyển sang xã hội sung túc (khoảng 28 năm tính từ khi thực thi cải cách, mở cửa: 1978); và (iii) xây dựng
xã hội khá giả Người Trung Quốc dự kiến sau năm 2034 đạt được mức này
Nhìn chung, các nghiên cứu này đã đề cập đến con đường (các giai đoạn) phát triển của nền kinh tế của một quốc gia, nhưng chưa xét đến con đường phát triển kinh tế của Thủ đô nói chung cũng như Thủ đô Hà Nội nói riêng
- Thứ hai, về ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài tới phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia và của một thành phố: thu thập được 08 tài liệu đề cập tới vấn
đề này Nhìn chung các tài liệu cho biết yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới sự phát triển của một quốc gia hay của một thành phố có thể kể ra như sau:
+ Tác động của toàn cầu hóa: chi phối của các nước lớn, của chuỗi giá trị và mạng phân phối (hoặc mạng cung ứng) toàn cầu Ngày nay toàn cầu hoá thể hiện trên các phương diện: toàn cầu hóa công nghệ (công nghệ hiện đại có mặt trên phạm vi rộng nhờ đầu tư FDI), chất lượng sản phẩm là yêu cầu quan trọng đối với
cả người sản xuất và người tiêu dùng; giá cả sản phẩm cũng mang tính toàn cầu, một quốc gia không thể tự đặt ra giá sản phẩm một cách tùy tiện mà phải tính tới yêu cầu cạnh tranh quốc tế
Trang 13+ Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0): công nghệ quyết định suy nghĩ và hành động của con người, doanh nghiệp và quốc gia Ai nắm công nghệ nguồn người đó sẽ giữ vị trí chi phối Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới và công nghệ gen-sinh học chế định sự phát triển của thế giới Tham gia chuỗi giá trị sáng tạo, liên kết kinh tế trở nên quan trọng hàng đầu
+ Tác động của cộng đồng kinh tế ASEAN: với quy mô dân số khoảng 600 triệu người, các quốc gia ASEAN là một thị trường lớn; vị trí địa chiến lược tạo ra tiền đề phát triển hấp dẫn nhưng cùng xuất hiện sự tranh chấp mạnh mẽ trên biển Đông Tự do sẽ là xu thế tất yếu trong các cuộc chơi của các quốc gia ASEAN nên mỗi quốc gia trong cộng đồng cần chuẩn bị điều kiện và tham gia cuộc chơi sao cho thu được nhiều lợi ích kinh tế hơn
- Thứ ba, một số vấn đề lý luận chung về tái cơ cấu kinh tế, hiện đại hóa và
chất lượng phát triển:
+ Về tái cơ cấu kinh tế và hiện đại hóa:
Các công trình nước ngoài đề cập nhiều đến vai trò của cơ cấu kinh tế (trường phái trọng cơ cấu) Họ nhấn mạnh rằng, cơ cấu quyết định tăng trưởng và chất lượng phát triển kinh tế Đối với tất cả các quốc gia, xu hướng mang tính nguyên tắc về phát triển cơ cấu kinh tế là: (i) giai đoạn cơ cấu kinh tế truyền thống: nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; (ii) giai đoạn cơ cấu nặng về công nghiệp: công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ; và (iii) giai đoạn cơ cấu nặng về dịch vụ: phi nông nghiệp và nông nghiệp (nông nghiệp chỉ chiếm vài phần trăm trong GDP) Một số quốc gia không có công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Hàn Quốc… nhưng họ vẫn đứng trọng nhóm các quốc gia phát triển hàng đầu của thế giới do thực thi hiện đại hóa (như Thụy Sĩ, New Zealand, Canada, Singapore…) và có mức GDP/người đạt tới 45-60 nghìn USD, thậm chí cao hơn nữa Ngay từ năm 1978, Trung Quốc thực thi bốn hiện đại hóa thay vì phát triển ồ ạt công nghiệp (phong trào phát triển công nghiệp hưng trấn, ly nông bất ly hương) và họ đã thành công to lớn, nền kinh tế Trung Quốc đã lớn và đứng thứ hai sau Mỹ
Sau thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu người ta nói nhiều đến tái cơ cấu kinh tế, với mong muốn dựa trên cơ sở công nghệ cao để tái
cơ cấu lại nền kinh tế, tái cơ cấu lại các ngành kinh tế của quốc gia hay của địa phương
+ Về chất lượng phát triển và phát triển bền vững: Nhìn chung, các công trình nước ngoài nhấn mạnh quan hệ giữa chất lượng và số lượng phát triển Chất lượng phát triển đảm bảo sự phát triển bền vững và mức sống người dân Khi bàn về chất lượng phát triển, người ta đi sâu phân tích hiệu quả phát triển (mà nó cấu thành bởi
ba yếu tố: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường) Tốc độ tăng trưởng được xem như chỉ tiêu quan trọng để phân tích số lượng của sự phát triển Còn năng suất lao động, ô nhiễm môi trường, tỷ kệ người nghèo, chi phí giải quyết ô nhiễm môi trường được xem như những dấu hiệu phản ánh về chất lượng phát triển
Trang 14Liên hợp quốc cho rằng, phát triển bền vững là việc khai thác các sản phẩm tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại không gây phương hại đến việc thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai Nhưng vấn đề “mờ” ở đây là nhu cầu của thế hệ tương lai là gì khó mà biết được và liệu có “xung đột” với nhu cầu hiện tại hay không?
Năm 2015, Hội nghị thượng đỉnh các quốc gia Liên hợp quốc đồng nhất phát triển bền vững với chất lượng phát triển Một hệ thống gồm 17 tiêu chí về phát triển bền vững đến 2030 được đưa ra cho các quốc gia trên thế giới Có lẽ như thế
là quá nhiều và lại có những chỉ tiêu không trực tiếp phản ánh yêu cầu của phát triển bền vững
- Thứ tư, về vai trò của nhà nước hay của chính quyền địa phương đối với tái
cơ cấu kinh tế và phát triển có chất lượng: Trong các tài liệu nước ngoài thu thập được, nổi bật là cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại: quyền lực, thịnh vượng
và đói nghèo” của Daron Acemoglu và James Robinson do nhà xuất bản trẻ phát hành bằng tiếng Việt năm 2012 Họ cho rằng, thể chế quyết định sự thành bại của các nền kinh tế (họ lấy các trường hợp Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc; Trung Quốc trước và sau cải cách mở cửa; Việt Nam trước và sau đổi mới để chứng minh) Thể chế do nhà nước “đẻ” ra và tổ chức thực hiện nên suy cho cùng nhà nước quyết định sự thành bại của các nền kinh tế
2.2 Nghiên cứu trong nước
- Thứ nhất, về ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài tới phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia và của một thành phố: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia sẽ có tác động chi phới tới phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội, khi Việt Nam mở rộng giao thương quốc tế, thu hút các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh và xây dựng nhiều tập đoàn kinh tế mạnh của người Việt sẽ ảnh hưởng nhiều đến các quyết sách làm ăn của các địa phương, trong đó có Hà Nội
- Thứ hai, về chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô của
Đảng bộ và chính quyền thành phố: Các văn bản định hướng chủ yếu là: (i) Nghị quyết Đại hội lần XVI của Đảng bộ thành phố về phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô;
và (ii) các quyết định của UBND thành phố về phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô
- Thứ ba, về một số vấn đề lý luận chung về tái cơ cấu kinh tế, hiện đại hóa và
chất lượng phát triển:
+ Về tái cơ cấu kinh tế và hiện đại hóa:
Ngoài quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng chính phủ về tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đề tài đã thu thập được các tài liệu đề cập vấn đề tái cơ cấu kinh tế Tuy không giống nhau nhưng các học giả đều thống nhất ở một điểm quan trọng là đổi mới cơ cấu kinh tế đi đôi với hiện đại hóa công nghệ và tổ chức sản xuất kinh doanh để phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững hơn
Các công trình nghiên cứu của Việt Nam chỉ ra rằng, tỷ trọng doanh nghiệp
sử dụng công nghệ cao là thước đo quan trọng về hiện đại hóa Học giả Ngô Doãn
Trang 15Vịnh trong cuốn “Giải thích thuật ngữ trong nghiên cứu phát triển” - do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành, đã cho biết, tỷ trọng lĩnh vực sử dụng công nghệ cao trong nền kinh tế, tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao chiếm trong tổng giá trị xuất khẩu cần được coi trọng khi phân tích hiện đại hóa đối với nền kinh tế
Nhiều báo cáo khoa học và báo cáo của chính phủ cho biết, ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ Việt nam đã triển khai chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp không ngừng tăng lên và tỷ trọng nông nghiệp trong GDP không ngừng giảm đi (về số tương đối) tuy nhiên dấu hiệu hiện đại hóa chưa rõ Trong tổng số doanh nghiệp mới có khoảng 6% sử dụng công nghệ tiên tiến, 30% sử dụng công nghệ trung bình còn lại là các doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu
+ Về chất lượng phát triển và phát triển bền vững: Nhìn chung các tài liệu cũng tiếp cận vấn đề chất lượng phát triển và phát triển bền vững như các học giả nước ngoài nhưng họ cố gắng cụ thể hơn đối với Việt Nam
Nhóm chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra hệ thống chỉ tiêu gồm 32 chỉ tiêu phản ánh về phát triển bền vững (trong đó có cả tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ người sử dụng nước sạch, tỷ lệ đi học, nhà ở/người…)
Đáng chú ý có công trình đề cập tương đối nhiều tới chất lượng phát triển Tiêu biểu là học giả Ngô Doãn Vịnh, trong cuốn “Nguồn lực và động lực phát triển nhanh cho nền kinh tế Việt nam thời kỳ đến 2020” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành, cho rằng, “lượng nào thì chất đó, khi lượng đổi đến một mức nào đó thì dẫn tới chất đổi”; hệ thống kinh tế phát triển có chất lượng khi phát triển có hiệu quả và thân thiện với môi trường Theo đó năng suất lao động, tỷ lệ người giàu, tỷ lệ người nghèo, tình trạng ô nhiễm môi trường là những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu phản ánh chất lượng phát triển Học giả Ngô Doãn Vịnh cho rằng, hai dấu hiệu quan trọng của phát triển bền vững là: hiệu quả cao, thân thiện với môi trường và phát triển trong trạng thái tương đối ổn định (nghĩa là chỉ tiêu nào cần tăng thì phải tăng tương đối ổn định như tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư…) và chỉ tiêu nào cần giảm thì phải giảm tương đối ổn định như số người nghèo, tệ nạn xã hội, số người thất nghiệp…
Trong báo cáo “Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và nguy cơ tụt hậu của Việt Nam” công bố vào năm 2015 của Tổng cục thống kê cho rằng, năng suất lao động, tỷ trọng chi phí trung gian trong tổng giá trị sản xuất, tiêu tốn điện năng để tạo ra một đơn vị GDP đều phải coi trọng khi phân tích chất lượng phát triển
- Thứ tư, về vai trò của nhà nước hay của chính quyền địa phương đối với tái
cơ cấu kinh tế và phát triển có chất lượng: Cuốn sách “Phát triển: điều kỳ diệu và
bí ẩn” của học giả Ngô Doãn Vịnh do nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành cho rằng, trong 3 chủ thể tham gia phát triển: nhà nước, doanh nghiệp và người dân thì nhà nước giữ vai trò quyết định Trong cuốn sách “Bàn về phát triển kinh tế: nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang” học giả Ngô Doãn Vịnh cho rằng, vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế nói chung và tái cơ cấu kinh tế nói riêng thể
Trang 16hiện ở mấy phương diện: (i) ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, trong đó có phát triển doanh nghiệp và thu hút các tập đoàn kinh
tế xuyên quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách về phát triển kinh tế và tái cơ cấu kinh tế (nhất là chính sách tu hút vốn đầu tư FDI và tham gia thương mại quốc tế); và (iii) triển khai thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, luật pháp, chính sách phát triển kinh tế và tái cơ cấu kinh tế
- Thứ năm, về kinh nghiệm và bài học từ một số thành phố ở Việt Nam cho
Hà Nội: Có một số kinh nghiệm và bài học rút ra từ một số tài liệu về xây dựng chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thông qua các Nghị quyết đại hội Đảng bộ các thành phố nêu trên và các dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến 2025 và tầm nhìn đến 2050 Theo đó:
+ Quan điểm phát triển chủ đạo đối với hai thành phố là phát triển kinh tế tri thức, phát triển hiệu quả và bền vững gắn với thực thi chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tính tới toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và đường lối đổi mới của Việt Nam Gắn chặt yêu cầu phát triển bền vững với phát triển xanh
+ Coi trọng hiện đại hóa đi kèm với thu hút các nhà đầu tư chiến lược có vốn đầu tư lớn (từ tỷ USD trở lên), nắm giữ công nghệ hiện đại và có thị trường rộng khắp thế giới Thu hút công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, du lịch chất lượng cao, logistic, xây dựng bất động sản và Trung tâm thương mại hiện đại Đồng thời thúc đẩy phát triển nhân lực chất lượng cao, phát triển khởi nghiệp và cải cách hành chính (gia tăng thứ hạng các chỉ số PCI, PAPI)
III Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một Đề tài cấp thành phố, Ban chủ nhiệm Đề tài tập trung đánh giá thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 2016-2020 và đề xuất định hướng, nhiệm vụ và khâu đột phá phát triển kinh
tế - xã hội Thủ đô giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là:
- Xác định một số vấn đề nhận thức về lý luận phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI (2015 - 2020)
- Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động kinh tế - xã hội, quản lý phát triển ở cấp độ vĩ mô, tổng thể của
Hà Nội
Trang 173.3 Phạm vi nghiên cứu
3.3.1 Không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu của Đề tài là Thủ đô Hà Nội, tuy nhiên để thể hiện sự đối sánh quốc tế và trong nước, không gian nghiên cứu được mở rộng hơn trong những trường hợp như vậy, ví dụ như vùng Đồng bằng sông Hồng, cả nước, một
số thành phố của cả nước và quốc tế
3.3.2 Thời gian nghiên cứu
Phạm vi thời gian đối với đối tượng nghiên cứu (hiện trạng): giai đoạn được nghiên cứu 2011-2020, trọng tâm ở giai đoạn 2016-2020 (trong đó 2019-2020 được ước tính)
Phạm vi thời gian đối với đối tượng nghiên cứu (dự báo): giai đoạn được dự
báo 2021-2025, có định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045
3.3.3 Trọng tâm nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một Đề tài cấp thành phố, Ban chủ nhiệm Đề tài tập trung vào đánh giá thực hiện và đề xuất phương hướng, các nhiệm vụ chủ yếu và khâu đột phá của Thủ đô
IV Cách tiếp cận, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Đề tài bám sát nội dung Văn kiện Đại hội lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố,
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 của thành phố Hà Nội để đánh giá, phân tích hiện trạng Bên cạnh đó, các phân tích về Hà Nội cũng được dựa trên sự đối sánh về các chỉ tiêu phát triển chủ yếu với các địa phương trong nước, khu vực và quốc tế để xác định được vị trí chính xác của Hà Nội trên bản đồ phát triển của cả nước và khu vực Trong khi đó, các phương hướng, giải pháp phát triển được xây dựng dựa trên cách tiếp cận tổng thể, tích hợp, bền vững và dài hạn
để đảm bảo tính bao quát, đa chiều và khả thi
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như định tính, định lượng, thống kê mô tả, chuyên gia:
- Phương pháp phân tích hệ thống: sử dụng phương pháp này để phân tích, đánh giá các vấn đề có tính hệ thống, đặc biệt là trong phân tích về cơ cấu kinh tế
và lao động
- Phương pháp phân tích thống kê: trên cơ sở thu thập số liệu sơ cấp, xử lý số liệu thứ cấp sẽ phân tích thực trạng và dự báo phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô qua các năm và các giai đoạn
- Phương pháp so sánh: sử dụng để so sánh qua các năm và giai đoạn, cũng như so sánh với các thành phố, thủ đô của các nước khác trong một số chỉ tiêu
Trang 18- Phương pháp phân tích chính sách: sử dụng để phân tích những quy định, cơ chế, chính sách mà thành phố đã hoặc sắp ban hành trong thời gian tới, đánh giá những kết quả đã thực hiện của chính quyền thành phố trong quản lý phát triển
- Phương pháp dự báo: xây dựng các kịch bản và tham vấn chuyên gia để dự báo tăng trưởng cho thời kỳ 2021-2025 và xa hơn đến năm 2045; dự báo các mục tiêu, chỉ tiêu cũng như các định hướng phát triển và giải pháp thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: thu thập thêm thông tin, các quan điểm và thẩm định các nhận định, kết quả nghiên cứu
4.3 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là những dữ liệu có nguồn đáng tin cậy từ Cục Thống kê
Hà Nội và các địa phương, Tổng cục Thống kê, các báo cáo của các Sở, Ban, ngành Hà Nội, báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, báo cáo của một số Bộ, các báo cáo và nghiên cứu quốc tế về thành phố, thủ đô một số nước được sử dụng để đối sánh với Hà Nội
V Đóng góp của Đề tài
- Đề tài đã hệ thống hóa và luận giải những vấn đề nhận thức về lý luận phát triển kinh tế - xã hội, phát triển bền vững Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, cần thúc đẩy xây dựng và nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo, từ đó năng cao sức cạnh tranh, tạo ra năng suất lớn hơn và sự thịnh vượng cho người dân một cách bền vững và dài hạn; phát thành phố thông minh; phát triển kinh tế dựa trên một mối quan hệ biện chứng với văn hóa; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn;… nhằm bảo đảm phát triển bền vững
- Phân tích xu hướng hiện đại hóa nền kinh tế và tổng hợp một số kinh nghiệm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tham khảo một số mô hình phát triển kinh tế của nước ngoài và một số tỉnh, thành phố trong nước
- Hệ thống cơ sở pháp lý về phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội
- Đề tài đã đề xuất một số điểm mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo:
1) Đề xuất xây dựng phát triển hạ tầng nông thôn theo hướng đô thị; đề xuất
chỉ tiêu tỷ lệ huyện đạt tiêu chí nông thôn mới (thay thế tỷ lệ xã NTM) vào năm
2025
2) Đề xuất tiếp tục phát triển theo chiều rộng đến năm 2025, huy động tối đa
các nguồn lực khu vực Hà Nội mở rộng (đất đai) cho phát triển, cùng với việc phát triển theo chiều sâu, tập trung hiện đại hóa các ngành kinh tế
3) Phát triển mạnh không gian kinh tế và coi là ưu tiên hàng đầu để tạo tiềm
lực và dư địa phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội cho giai đoạn tiếp theo
4) Triển khai xây dựng 05 đô thị vệ tinh phân kỳ thực hiện theo tiến độ, trước
mắt tập trung kêu gọi đầu tư đồng bộ, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho
Trang 192-3 đô thị có tiềm năng (đô thị Hòa Lạc, Sóc Sơn và Phú Xuyên) để thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh và tạo ra đơn vị ở cho người dân định cư, góp phần giải tỏa cho đô thị trung tâm; nghiên cứu mô hình “thành phố trong thành phố”
5) Đề xuất định hướng và một số chỉ tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045 (có so sánh chỉ tiêu Hà Nội, cả nước)
VI Kết cấu của Báo cáo Đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và các Phụ lục, Báo cáo tổng hợp Đề tài được kết cấu thành 03 phần như sau:
(1) Một số vấn đề nhận thức về lý luận phát triển kinh tế - xã hội
(2) Đánh giá tình hình thực hiện kinh tế - xã hội Thủ đô nhiệm kỳ Đại hội XVI (2015-2020)
(3) Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 20PHẦN THỨ NHẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VỀ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI
I Cơ sở lý luận cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội
1.1 Một số quan niệm, cách tiếp cận
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội
Kinh tế học phát triển, xét về nguồn gốc, là một phạm trù liên quan tới các vấn đề phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển Khi nói về phát triển kinh tế, các học giả thường là nói về các vấn đề của các nước kém phát triển Ngược lại, tăng trưởng kinh tế có liên quan nhiều hơn tới các nước phát triển Nhiều học giả
đã có các phát biểu phân biệt hai khái niệm này:
- Schumpeter (1934): “Phát triển là sự thay đổi có tính tự phát, không liên tục
của “trạng thái ổn định” của một nền kinh tế, làm thay đổi trạng thái cân bằng tồn
tại trước đó; trong khi tăng trưởng là sự thay đổi từ từ, ổn định trong dài hạn, có
được nhờ vào sự gia tăng dần của tỷ lệ tiết kiệm và dân số”
- Kindleberger (1965): “Tăng trưởng kinh tế nghĩa là đạt được mức sản lượng nhiều hơn, trong khi phát triển kinh tế mang hàm ý cả về sản lượng và những thay
đổi trong tổ chức/sắp xếp về thể chế và kỹ thuật, thông qua đó sản lượng được tạo
ra và phân phối Tăng trưởng không chỉ là sự gia tăng sản lượng nhờ vào số lượng đầu vào lớn hơn, mà còn nhờ vào hiệu quả lớn hơn, hay là sự gia tăng sản lượng bình quân trên một đơn vị đầu vào”
- Friedman định nghĩa tăng trưởng là sự mở rộng của một hệ thống theo một
hay nhiều chiều, sự mở rộng này nằm ngoài những thay đổi trong cấu trúc của hệ
thống đó Còn phát triển là một quá trình đổi mới, dẫn tới sự chuyển đổi về cấu
trúc của hệ thống xã hội
Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định đi kèm với sự mở rộng của các yếu tố như lao động, tiêu dùng, vốn và thương mại… Chỉ tiêu đo lường thường được sử dụng là mức tăng giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Giả sử kết quả đầu ra của nền kinh tế (GDP) của một quốc gia được ký hiệu là Y Yk là kết quả đầu ra của năm k, Yn là kết quả đầu ra của năm n Khi đó chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế năm n so với năm k được biểu thị bằng mức tăng tuyệt đối hoặc tốc
độ tăng trưởng như sau:
Mức tăng trưởng tuyệt đối: ΔYn = Yn – Yk
Tôc độ tăng trưởng (%): g = 100 x (Yn – Yk)/Yk
Như vậy, khi xác định được mục tiêu tăng trưởng GDP (g%) cho năm sau, quy mô GDP (giá cố định) sẽ tính được theo công thức:
Trang 21GDPn= GDPk + g x GDPk/100 (1)
Phát triển kinh tế là một khái niệm có ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng Theo Myrdal1 tổng kết: “Phát triển có nghĩa là tăng trưởng cộng với những thay đổi” Những thay đổi ở đây là thay đổi về mặt chất, liên quan tới các lĩnh vực như đói nghèo, đáp ứng các nhu cầu, các ưu đãi/khuyến khích, thể chế và tri thức, hay là
“xu hướng tiến bộ của toàn hệ thống xã hội”
Tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ
lạc hậu đến văn minh hiện đại Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát từ con người, vì con người và hướng tới sự tiến bộ của con người Sự tiến bộ xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng
và ý thức xã hội Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia Công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường cong Lorenz và Hệ số GINI; mức độ đói nghèo; Mức độ thỏa mãn nhu cầu
cơ bản của con người;
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế - xã hội Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện cải thiện mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Tăng trưởng kinh tế cao
và bền vững là thước đo của tiến bộ và công bằng xã hội Tiến bộ, công bằng xã hội là nhân tố động lực để có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là mong muốn của hầu hết các quốc gia và trong mọi thời đại Giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn luôn là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước Bài toán đặt ra là thực hiện tăng trưởng kinh tế trước, sau đó mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội hay đặt tiến bộ và công bằng xã hội lên trước, sau đó mới chú trọng cho việc tăng trưởng kinh tế hay là giải quyết hài hòa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy không thể thực hiện tiến bộ hay công bằng xã hội trước nếu như không bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao, liên tục theo hướng phát triển bền vững Mặt khác, nếu sự tăng trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng trưởng này cũng không có ý nghĩa Những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Mặt khác, những chính sách dựa trên ưu tiên mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội có thể dẫn
1 Nhà kinh tế học Thụy Điển, cùng với Hayek đạt giải Nobel kinh tế năm 1974 cho “lý luận về tiền tệ và chu kỳ kinh
tế, phương pháp phân tích các hiện tượng kinh tế, xã hội, thể chế trong mối quan hệ của chúng với nhau”
Trang 22đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế, kết cục cả mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế đều không thực hiện được
Trong tiến trình phát triển, mỗi khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc mang tính phổ biến: Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được càng tăng thêm, môi trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, gây ra những thiên tai vô cùng thảm khốc; Tăng trưởng kinh tế không cùng nhịp với tiến bộ và phát triển xã hội, có tăng trưởng kinh tế nhưng văn hóa, đạo đức bị suy đồi, sự phân hóa giàu nghèo gia tăng, bất ổn trong xã hội Vì vậy, quá trình phát triển cần có sự đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội, bảo vệ môi trường hay phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với toàn thế giới
1.1.2 Một số mô hình tăng trưởng
a) Mô hình Harrod - Domar
Mô hình Harrod – Domar lý giải về mối quan hệ hàm số giữa vốn (ký hiệu K)
và tăng trưởng sản lượng (ký hiệu là Y) Mô hình này cho rằng sản lượng của bất
kỳ một thực thể kinh tế nào đều phụ thuộc vào số lượng vốn đã đầu tư đối với thực thể kinh tế đó và được biểu diễn dưới dạng:
Trong đó: t là năm tính toán; t0 là năm trước năm tính toán
Đối với nền kinh tế quốc dân, Y(t)/Y(t0) chính là tốc độ tăng GDP, K(t)/Y(t0)
là tỷ lệ đầu tư của năm tính toán trên GDP của năm trước đó Có nghĩa là để đạt được tốc độ tăng trưởng nào đó thì nền kinh tế phải đầu tư theo một tỷ lệ nhất định trong GDP
Từ quan hệ (2) cũng có thể khai triển (vi phân hai vế) thành dạng:
Trang 23hội Khi có mục tiêu tăng trưởng, mô hình cho phép xác định được nhu cầu tích luỹ, đầu tư cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra
b) Hàm sản xuất Cobb – Douglas
Hàm sản xuất Cobb – Douglas biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các
yếu tố lao động, lượng vốn, công nghệ (yếu tố tổng hợp) có dạng:
) 1 ( t t t
A = năng suất toàn bộ các nhân tố
α là hệ số co giãn theo sản lượng của lao động, 0< < 1 Ở đây hàm sản xuất được giả định có lợi tức không đổi theo quy mô và vốn
Với giả thiết hàm Cobb-Douglass là hàm liên tục theo thời gian, có thể diễn đạt tốc độ phát triển theo thời gian của Qt như sau:
dt
dF A
) K , L ( F dt
dA dt
dQ
t t
dt
dK K
F A dt
dL L
F A ) K , L ( F
dt
dA
t t
K dt
dK K
Q L
1 Q
L dt
dL L
Q A
1 dt
dA Q
dK Q
K K
Q L
1 dt
dL Q
L L
Q A
1 dt
Vế trái của công thức (5) chính là tốc độ tăng của sản lượng (Q t ) Vế phải của
công thức này gồm có ba thành phần: (i) tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp; (ii) tốc độ tăng năng suất cận biên của lao động (
Q
L L
Q
); (iii) tốc độ tăng năng suất biên duyên của vốn (
Q
K K
K ( MPK )
L ( Gr ) Q
L ( MPL )
A ( Gr )
Q
(
Trong đó:
Gr (Q): tốc độ tăng của sản lượng
Gr (L): tốc độ tăng của lao động
Gr (K): tốc độ tăng của vốn
MPL và MPK là năng suất cận biên tương ứng của yếu tố lao động và vốn
Trang 24MPK(K/Q) là tỷ lệ đóng góp của vốn trong sản lượng và MPL(L/Q) là tỷ lệ đóng góp của lao động trong sản lượng Cụ thể hoá công thức (6) hàm sản xuất Cobb-Douglass có dạng:
)()α1()(α)()
Công thức (6) cho thấy tỷ lệ đóng góp của tốc độ tăng lao động cho tốc độ tăng của sản lượng bằng , còn tỷ lệ đóng góp của tốc độ tăng vốn cho tốc độ tăng của sản lượng bằng (1-)
Dựa vào công thức (7), có thể tính tốc độ tăng của năng suất các nhân tố tổng hợp (Gr(A) hay Gr(TFP)) theo công thức:
)}
()1
()({
)()
Trong đó Gr(Q) là tốc độ tăng của giá trị tăng thêm, Gr(L) là tốc độ tăng lao động, còn Gr(K) là tốc độ tăng vốn Phương trình (8) thường được dùng để ước lượng tốc độ tăng năng suất của các yếu tố tổng hợp (TFP)
c) Mô hình tăng trưởng của J.M Keynes
J.M Keynes (1883-1946) cho rằng nền kinh tế có thể và cần cân bằng đối với sản lượng thực tế chứ không thể cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng Tức là, sản lượng thực tế bao giờ cũng nhở hơn sản lượng tiềm năng Tập hợp các điều kiện để sản lượng tiềm năng đạt được không phải lúc nào cũng có đủ Vì vậy, với một số điều kiện cụ thể chỉ có thể đạt được một sản lượng đầu ra nào đó, chính sản lượng
ấy là mức thực tế có thể đạt được và người ta gọi là sản lượng thực tế
Lý thuyết của Keynes đã mô tả mối quan hệ vòng tròn giữa chi tiêu và thu nhập (tổng cầu), tiết kiệm, tỷ lệ thất nghiệp Trong đó, tổng cầu là tổng lượng cầu
về dịch vụ và hàng hóa trong một nền kinh tế và thường được cho là tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của một nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể GDP có bốn nhân tố chính cấu thành: Tiêu dùng (C); Đầu tư (I); Chi tiêu chính phủ (G); Xuất khẩu ròng (NX)
Keynes khẳng định vai trò của nhà nước đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trong nền kinh tế thị trường Chính phủ có thể có chính sách định hướng phát triển nền kinh tế thông qua sự kiểm soát về cung tiền, bằng khả năng thay đổi lãi suất hoặc là mua hay bán các trái phiếu chính phủ Chính phủ có vai trò can thiệp, không cần chờ đợi cho các lực lượng thị trường cải thiện GDP và việc làm
Trang 251.1.3 Tiêu chí đo lường phát triển kinh tế - xã hội
Có 04 tiêu chí/nhóm tiêu chí đo lường phát triển kinh tế - xã hội thường được
áp dụng: (i) tổng sản phẩm hay thu nhập (GDP, GNP hay GRDP); (ii) tổng sản phẩm hay thu nhập bình quân đầu người; (iii) phúc lợi xã hội; (iv) các chỉ tiêu xã hội hay các nhu cầu cơ bản
a) Tổng sản phẩm/thu nhập
Một trong những thước đo phát triển kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực
tế trong một khoảng thời gian dài Tuy vậy, thước đo này là chưa đầy đủ vì một số lý do: chưa tính tới khác biệt về giá cả; chưa tính tới sự thay đổi về dân số; chưa thể hiện các chi phí xã hội kèm theo (ô nhiễm môi trường, đô thị hóa, gia tăng dân số); chưa đề cập đến phân phối thu nhập; và nhiều khó khăn trong tính toán;…
Việc xem GDP, GNP hay GRDP là một chỉ tiêu phát triển kinh tế là dựa trên
áp dụng kinh nghiệm của các nước phát triển đối với các nước kém phát triển hơn, vốn khác nhau cơ bản về cấu trúc kinh tế - xã hội2 Điều này là chưa khả thi trong giải quyết các vấn đề về giảm nghèo, thất nghiệp và bất bình đẳng, cũng như nâng cao đời sống người dân ở các nước đang phát triển (McNamara - cựu Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, 1970) Và do vậy, thước đo này chưa thể được coi là thước đo đầy đủ cho phát triển kinh tế - xã hội như đã nói ở trên
b) Tổng sản phẩm/thu nhập bình quân đầu người:
Thước đo thứ hai là sự gia tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người trong một khoảng thời gian dài Các nhà kinh tế đã gần như đạt được sự thống nhất trong định nghĩa phát triển kinh tế là sự gia tăng thu nhập, hay sản lượng bình quân đầu người Ví dụ, theo Meier, phát triển kinh tế “là một quá trình, trong đó thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia tăng lên trong một khoảng thời gian dài, cùng với điều kiện là tổng số người dưới mức “chuẩn nghèo tuyệt đối” không tăng
và phân phối thu nhập không trở nên bất bình đẳng hơn”
Mặc dù vậy, vẫn có một số khó khăn trong việc sử dụng chỉ tiêu này: sự tăng lên của thu nhập bình quân có thể không làm gia tăng mức sống thực tế; chưa thể hiện được sự bất bình đẳng về thu nhập; chưa đánh giá một số vấn đề quan trọng (như cấu trúc xã hội, quy mô dân số, thể chế, văn hóa, mô hình nguồn lực); so sánh GDP bình quân đầu người giữa các nền kinh tế thiếu chính xác (do tỷ giá và thiếu mặt bằng giá chung); chưa tính tới các vấn đề về nhu cầu
cơ bản của con người;…
Dù còn những hạn chế như vậy nhưng khi nói về phát triển kinh tế - xã hội thì
GDP thực tế bình quân đầu người vẫn là thước đo được sử dụng phổ biến nhất
2 Theo OECD (1973): “các nước phát triển mặc nhiên xem rằng, sự gia tăng GDP, chủ yếu tập trung trong khu vực công nghiệp, sẽ tự động kèm theo việc làm đầy đủ và giảm đói nghèo Họ quên rằng thời kỳ phát triển của họ là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, khi tốc độ tăng dân số thấp, công nghệ chủ yếu là thâm dụng lao động, khả năng di cư khá dễ dàng trong trường hợp không tìm được việc làm, và nhất là không có sự cạnh tranh từ các
xã hội đã công nghiệp hóa ở mức cao, hay sự hạn chế tiếp cận thị trường các nước này”
Trang 26c) Phúc lợi xã hội
Cũng có một xu hướng đo lường phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm phúc lợi kinh tế: phát triển kinh tế là một quá trình trong đó có sự tăng lên về tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ của cá nhân Theo Okun và Richardson, phát triển kinh tế là “sự cải thiện bền vững, lâu dài về các phúc lợi vật chất, cần được xem xét thông qua sự gia tăng của các luồng hàng hóa và dịch vụ”
Chỉ tiêu này cũng có một số hạn chế là: việc gán tỷ trọng tiêu dùng cho cá nhân mang tính chủ quan; chưa xem xét cấu trúc của tổng sản lượng (gồm cả hàng hóa tư bản bên cạnh tiêu dùng); những khó khăn trong việc định giá; chưa đề cập tới khía cạnh hàng hóa được sản xuất ra như thế nào; chưa xem xét liệu phân phối thu nhập có được thực hiện công bằng hay không; và quan trọng nhất, khó có thể coi sự tăng lên của sản lượng bình quân ngang với gia tăng phúc lợi kinh tế và không cân nhắc các vấn đề khác - thị hiếu, các chi phí thực, các thay đổi liên quan đến gia tăng thu nhập thực
d) Các chỉ tiêu xã hội hay các nhu cầu cơ bản
Nhiều chỉ số đại diện cho các chỉ tiêu về xã hội thường được nhắc đến là các nhu cầu cơ bản cho phát triển Hicks và Streeten (1979) xem xét các nhu cầu cơ bản theo 06 chỉ tiêu: (i) sức khỏe; (ii) giáo dục; (iii) lương thực, thực phẩm; (iv) nước sạch; (v) điều kiện vệ sinh; và (vi) nhà ở Các chỉ tiêu xã hội có ý nghĩa ở chỗ, chúng gắn với mục tiêu cuối cùng của phát triển - đó là phát triển con người Việc áp dụng các chỉ tiêu xã hội cũng có những giới hạn: không có sự thống nhất về một chỉ số tổng hợp; việc gán các trọng số tính toán mang tính chủ quan; các chỉ số liên quan tới phúc lợi ở hiện tại và không liên quan tới tương lai; đa số là các chỉ số về đầu vào, không phải là đầu ra (như giáo dục, sức khỏe…); và khó khăn trong đánh giá giá trị
Tóm lại, có nhiều thước đo đánh giá trình độ phát triển – xã hội Tuy nhiên,
để tránh những khó khăn trong định giá và loại bỏ vấn đề đánh giá chủ quan, các nhà kinh tế và Liên hiệp quốc (UN) khuyến nghị và thường dùng tổng sản phẩm/thu nhập bình quân đầu người là thước đo phổ biến nhất cho phát triển
Một câu hỏi đặt ra là liệu có mâu thuẫn nào trong chiến lược/kế hoạch tăng trưởng kinh tế với thỏa mãn các nhu cầu cơ bản? Như đã đề cập, các nhu cầu cơ bản liên quan đến mục tiêu cuối cùng hướng đến, và tăng trưởng cũng chỉ là một phương tiện hướng đến mục tiêu này - phát triển con người Do vậy, không có mâu thuẫn nào giữa đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân và tăng trưởng kinh tế3
Để thể hiện một bức tranh rõ ràng hơn về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, trên thực tế, ngoài chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, các nhà kinh tế còn đề cập tới các chỉ tiêu xã hội về các nhu cầu cơ bản, thông qua sử dụng một số thước
3 Goldstein (1985) đã phát hiện được mối tương quan mạnh giữa tăng trưởng kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, đo lường thông qua các tỷ lệ chết trẻ; Fei, Ranis và Stewart (1979) cho rằng, việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản không làm suy giảm đầu tư sản xuất ở các nước đang phát triển
Trang 27đo như: chỉ số phát triển con người (HDI), hệ số về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (GINI), mức độ đói nghèo…
1.2 Phát triển bền vững
1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững: ý nghĩa và mục tiêu
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu được nói đến trong Chiến lược bảo tồn Trái đất (Liên đoàn quốc tế về Bảo tồn tự nhiên và các tài nguyên tự nhiên, 1980) Có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững, nhưng nổi tiếng nhất là định
nghĩa của Báo cáo Brundtland (1987): “Phát triển bền vững là đáp ứng các nhu
cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại tới thế hệ tương lai”
Phát triển bền vững quan niệm rằng, quá trình phát triển cần phải được “tiếp tục diễn ra”, là sự phát triển kéo dài không ngừng Nó nhấn mạnh tới việc có được
sự cải thiện lâu dài về chất lượng sống của toàn bộ người dân, nhờ nâng cao thu nhập bình quân, cải thiện về y tế, giáo dục và chất lượng sống tổng thể, cũng như cải thiện về chất lượng các nguồn tài nguyên tự nhiên Phát triển bền vững, do vậy
có sự liên hệ gần với phát triển kinh tế, bao trùm các lĩnh vực: kinh tế - xã hội - môi trường
Phát triển bền vững hướng tới việc tạo ra sự cải thiện lâu dài về chất lượng cuộc sống cho toàn bộ người dân, coi đó là mục đích chính của các chính sách phát triển Theo đó, phát triển bền vững có nhiều mục tiêu cụ thể:
- Bên cạnh tăng trưởng kinh tế và đáp ứng các nhu cầu cơ bản, mục tiêu nâng cao mức sống bao gồm một số mục tiêu cụ thể, như “cải thiện các cơ hội
về giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người dân, tạo cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào các hoạt động đời sống chung, giúp đỡ để đảm bảo môi trường trong lành, hỗ trợ cải thiện dần sự công bằng” Như vậy, đáp ứng các nhu cầu của con người của thế hệ hiện tại là cần thiết đề duy trì các nhu cầu cho thế hệ tương lai
- Hơn nữa, phát triển bền vững hướng tới tối đa hóa các lợi ích ròng thu được từ phát triển kinh tế, trong khi vẫn bảo vệ/duy trì nguồn dự trữ các tài sản, nguồn lực tự nhiên và môi trường theo thời gian (gồm có vốn vật chất, con người và tự nhiên) Khi nhìn nhận như vậy, các nhà kinh tế phân biệt các khái niệm bền vững mạnh và bền vững yếu Bền vững mạnh nghĩa là sự không suy giảm về giá trị của nguồn dữ trữ vốn tự nhiên; còn bền vững yếu đòi hỏi sự không suy giảm tổng giá trị của các nguồn vốn vật chất, con người và tự nhiên4
Tóm lại, phát triển bền vững hướng tới việc gia tăng tốc độ phát triển kinh
tế, đồng thời bảo tồn và tăng cường dự trữ các nguồn vốn môi trường, con người và vật chất, mà không làm tổn hại tới các thế hệ tương lai Chương trình nghị sự về phát triển bền vững (SDGs) đến năm 2030 đề ra 17 tiêu chí về phát triển bền vững:
4 Pearce và một số học giả khác ủng hộ cho bền vững yếu, lý do là bởi sự tăng lên của các nguồn dữ trữ vốn khác có thể bù đắp cho sự suy giảm của dự trữ vốn tự nhiên
Trang 28Bảng 1 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc tới năm 2030
1 Xóa nghèo Chấm dứt nghèo nàn trong tất cả mọi hình thức ở mọi nơi
2 Xóa đói Chấm dứt nạn đói, đạt được an ninh lương thực, cải thiện
dinh dưỡng và thúc đẩy nông nghiệp bền vững
4 Giáo dục chất lượng Đảm bảo giáo dục chất lượng toàn diện và công bằng, thúc
đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người
5 Bình đẳng giới Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả mọi phụ nữ
16 Xã hội hòa bình Thúc đẩy xã hội hòa bình, cung cấp quyền tiếp cận tư pháp
cho tất cả mọi người, xây dựng thể chế hiệu quả, trách nhiệm
Trang 291.2.2 Các chính sách phát triển bền vững
Các vấn đề môi trường của các nền kinh tế tùy thuộc vào trình độ phát triển, cấu trúc nền kinh tế, công nghệ sản xuất sử dụng và các chính sách môi trường của quốc gia đó Các nước kém phát triển thường phải đối mặt với các vấn đề môi trường sau: (i) ô nhiễm không khí; (ii) ô nhiễm nguồn nước; (iii) chất thải rắn và độc hại; (iv) suy thoái rừng; (v) suy thoái đất; và (vi) mất đa dạng sinh học Đồng thời, có nhiều nguyên nhân dẫn tới các hiện tượng này: dân số tăng nhanh; nghèo đói; phát triển nông nghiệp; công nghiệp hóa; phát triển giao thông; đô thị hóa; nợ nước ngoài5; và thất bại của thị trường6
Tác động gây suy thoái môi trường từ quá trình phát triển kinh tế có thể giảm thiểu nhờ lựa chọn sáng suốt giữa các chính sách kinh tế và môi trường, cùng các khoản đầu tư thích đáng cho môi trường Việc lựa chọn này cần hướng tới sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững Sau đây là một số giải pháp chính sách thường được đề cập: (i) giảm đói nghèo; (ii) giảm các trợ cấp7; (iii) mở rộng các quyền sở hữu; (iv) sử dụng các phương pháp tiếp cận chính sách dựa theo thị trường; (v) đổi mới chính sách điều hành; (vi) ưu đãi kinh tế; (vii) chính sách thương mại; (viii) thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; và (ix) sự tham gia vào các
nỗ lực chung bảo vệ môi trường toàn cầu
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Các yếu tố chung
a) Các yếu tố kinh tế
Các nhà kinh tế nói đến các yếu tố sản xuất và coi đó là các lực lượng kinh tế chính để có được tăng trưởng: sản lượng của nền kinh tế tăng hay giảm là hệ quả
từ những thay đổi của các yếu tố này Sau đây là các yếu tố chủ yếu:
(1) Nguồn lực tự nhiên: Nguồn lực tự nhiên là yếu tố cơ bản tác động tới tăng
trưởng của một nền kinh tế Nó bao gồm: đất đai, tài nguyên rừng, khoáng sản, khí hậu, tài nguyên nước, tài nguyên biển… Để có thể tăng trưởng, sự sẵn có các nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng là rất cần thiết nhưng chưa đủ, mà chúng cần được khai thác và sử dụng một cách đúng đắn, thông qua các công nghệ giúp hạn chế lãng phí và sử dụng bền vững hơn8
(2) Tích lũy vốn: Vốn ở đây nghĩa là trữ lượng các yếu tố vật chất có thể tái sử
dụng trong sản xuất Quá trình hình thành vốn được tích tụ và tăng trưởng qua 03
5 Để trả nợ nước ngoài, các nước kém phát triển phải khai thác nhiều khoáng sản và sản xuất các loại cây trồng thương mại để xuất khẩu (làm suy giảm dự trữ vốn tự nhiên ở các nước này)
6 Thất bại của thị trường, hay còn gọi là các ngoại ứng, có nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu vắng các quy định về quyền tài sản, và sự “chia sẻ chung” trong các hoạt động sản xuất và tiêu dùng Ví dụ, ngoại ứng tiêu cực xảy ra khi nông dân vùng cao khai thác rừng làm sói mòn đất, gây lũ lụt làm ảnh hưởng tới người dân vùng hạ lưu
7 Trợ cấp cho sử dụng điện, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu, khí gas, thủy lợi… dẫn tới việc sử dụng lãng phí kéo theo các vấn đề về môi trường; trợ cấp cho các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và gây ô nhiễm môi trường ở cả khu vực công và tư cũng dẫn tới suy thoái môi trường
8 Người ta thường cho rằng, tăng trưởng kinh tế vẫn có thể đạt được với một nền kinh tế thiếu hụt về tài nguyên tự nhiên Theo Lewis: “Một quốc gia bị coi là nghèo nàn về tài nguyên hôm nay có thể lại được coi là rất giàu có về tài nguyên vào một thời điểm khác sau này, không chỉ bởi vì các dạng nguồn lực chưa biết chưa được khám phá,
mà cũng bởi vì khám phá ra các cách sử dụng mới đối với các nguồn lực đã biết”
Trang 30giai đoạn có liên quan: (i) có các khoản tiết kiệm thực và sự tăng lên của các khoản này; (ii) có các thể chế tín dụng và tài chính để huy động các khoản tiết kiệm và hướng chúng vào các kênh mong muốn; và (iii) sử dụng các khoản tiết kiệm này để đầu tư vào các hàng hóa vốn Kuznets cho rằng, hệ số gia tăng vốn trên sản lượng (ICOR) có một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế hiện đại
(3) Vấn đề tổ chức/quản trị: Tổ chức liên quan tới việc sử dụng một cách tối
ưu các yếu tố sản xuất trong hoạt động kinh tế Trong tăng trưởng hiện đại, người chủ doanh nghiệp chính là người đảm nhiệm chức năng này, chấp nhận các rủi ro, đương đầu với bất định để đạt được lợi nhuận Do vậy, khả năng làm chủ doanh nghiệp, phát triển các doanh nhân/doanh nghiệp và tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo
là yếu tố không thể thiếu trong phát triển
(4) Tiến bộ công nghệ: Công nghệ được cho là yếu tố quan trọng nhất trong
tăng trưởng dài hạn, liên quan tới những thay đổi về phương pháp sản xuất và là kết quả của nghiên cứu hoặc đổi mới sáng tạo Thay đổi công nghệ dẫn tới gia tăng năng suất lao động, vốn và các yếu tố sản xuất khác9 Với các nước kém phát triển hơn, “nhập khẩu công nghệ hiện đại” có thể là giải pháp đẩy nhanh năng lực sản xuất ngắn hạn, nhưng điều không thể không làm là phát triển các tri thức và kỹ năng/năng lực bản địa
(5) Phân công lao động và quy mô sản xuất: Chuyên môn hóa và phân công
lao động hợp lý sẽ giúp nâng cao năng suất Chúng hướng đến một nền sản xuất có lợi ích kinh tế tăng dần theo quy mô, nhờ vậy thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp và gia tăng tốc độ phát triển kinh tế
(6) Chuyển dịch cơ cấu: Thay đổi cơ cấu hàm ý về sự chuyển đổi từ một xã
hội truyền thống sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, liên quan tới sự chuyển hóa về cơ bản của các thể chế hiện có, tư tưởng/thái độ xã hội và các yếu tố mang tính động lực khác Những chuyển đổi này sẽ dẫn tới gia tăng các cơ hội việc làm, năng suất lao động và lượng vốn tích tụ cao hơn, cũng như khai thác các nguồn lực mới và cải thiện về công nghệ
b) Các yếu tố phi kinh tế
Theo Nurkse: “Phát triển kinh tế liên quan nhiều tới tài nguyên con người, thái độ xã hội, tình trạng chính trị và yếu tố lịch sử” Do vậy, các yếu tố xã hội, văn hóa, tâm lý, con người, chính trị và hành chính cũng có tầm quan trọng tương tự như các yếu tố kinh tế trong phát triển kinh tế
(1) Các yếu tố xã hội: Thái độ, các giá trị và thể chế xã hội là những điểm
khác biệt giữa các nền kinh tế phát triển và kém phát triển Ở những nước phát triển hơn, nền văn hóa và giáo dục hướng tới tư duy lý luận và biết hoài nghi - điều
mà Lewis gọi là “thái độ thực hành kinh tế” - được cho là tạo điều kiện cho các khám phá, phát minh mới, dẫn tới sự phát triển của tầng lớp doanh nhân
9 Theo Kuznets, có 05 hình thái gia tăng công nghệ trong tăng trưởng kinh tế hiện đại: (i) một khám phá khoa học hoặc bổ sung về kiến thức kỹ thuật; (ii) một phát minh; (iii) một sự đổi mới; (iv) một sự cải tiến; và (v) sự phổ biến của phát minh thường đi kèm với những cải tiến Schumpeter cho rằng đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất trong 05 yếu tố trên, giúp làm phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế
Trang 31(2) Yếu tố con người: Tăng trưởng kinh tế sẽ không chỉ phụ thuộc vào quy mô
mà còn cả hiệu quả của nguồn nhân lực Yếu tố con người ở đây thể hiện trong sự gia tăng hiệu quả hay năng suất của lực lượng lao động, hay sự hình thành vốn con người Đó là “quá trình gia tăng tri thức, kỹ năng, và các năng lực của toàn bộ người dân trong một quốc gia”, gồm các khoản đầu tư cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội nói chung
(3) Các yếu tố chính trị và hành chính: Tăng trưởng nhanh ở nhiều nước phát
triển có được một phần nhờ vào ổn định chính trị và năng lực quản trị Ngược lại, cấu trúc chính trị và quản trị lại là điểm nghẽn cho phát triển ở các nền kinh tế kém phát triển hơn Một nền hành chính mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và không tham nhũng là rất cần thiết cho phát triển
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới xác định mô hình tăng trưởng của một địa phương
Tăng trưởng kinh tế của địa phương sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố mang tính khách quan và chủ quan khác nhau Từ góc độ địa phương, có thể hệ thống những nhân tố ảnh hưởng chính sau đây:
a) Trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trình độ phát triển của địa phương là yếu tố ảnh hưởng tới việc xác định nhu cầu cần có một mô hình tăng trưởng thích ứng Với trình độ phát triển và đặc điểm khác nhau, mức thu nhập và nhu cầu về mức sống cả về mặt vật chất và phi vật chất khác nhau, sẽ là một nhân tố khá quan trọng góp phần định dạng mục tiêu cần đạt tới của tăng trưởng phù hợp với nó
Với một địa phương có trình độ phát triển cao (thành phố, đô thị lớn), mục tiêu tăng trưởng đòi hỏi cao hơn về “độ an toàn” cho cuộc sống, tức là mục tiêu hiệu ứng lan tỏa tích cực của tăng trưởng đến môi trường cũng như xã hội
b) Tư duy, quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội của các nhà lãnh đạo và hệ thống chính sách
Đây là nhân tố mang tính chủ quan ảnh hưởng quyết định đến việc thiết kế một mô hình tăng trưởng Với quan điểm cho rằng điều kiện cần và đủ để phát triển kinh tế là yếu tố quy mô và mức độ đạt được mức thu nhập cao của nền kinh
tế (tức là dựa vào tăng trưởng), quan điểm này sẽ dẫn tới chủ trương tạo dựng một
mô hình tăng trưởng nhanh, nóng, chấp nhận những sự đánh đổi về xã hội và môi trường trong tăng trưởng (hoặc không tính đến yếu tố đánh đổi này) Ngược lại, nếu tư duy cho rằng (hiện nay đây là tư duy đúng) tăng trưởng kinh tế phải song hành với giải quyết các mục tiêu phát triển khác, trong đó tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần mang tính tiên quyết, thì sẽ thiết kế một mô hình tăng trưởng “vì con người” ngay từ đầu, trong đó vẫn có những yếu tố tạo dựng tăng trưởng nhanh ở mức độ hợp lý
c) Yếu tố điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội
Trang 32Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành mô hình tăng trưởng mang tính đặc thù của địa phương Điều kiện địa lý, địa hình thuận lợi, cho việc “mở cửa”, ví dụ như giao thông, nhất là giao thông đường sông, đường biển, hay có biên giới tiếp giáp với nước ngoài hoặc các địa phương phát triển, sẽ cho phép địa phương hình thành và phát triển mô hình tăng trưởng theo thế mở của và liên kết thuận lợi hơn, động lực và phương thức thực hiện tăng trưởng chủ yếu được xây dựng từ việc thiết lập các mối liên kết kinh tế với bên ngoài để phát triển Các địa phương khó khăn về địa lý, địa hình, nằm sâu trong lục địa hay hiểm trở chia cắt thì việc tạo dựng mô hình tăng trưởng theo thế mở khó khăn hơn
Các điều kiện khác về tự nhiên, lịch sử, xã hội sẽ là các dấu hiệu của sự khác biệt trong mô hình tăng trưởng khi hình thành các động lực tăng trưởng hay các phương thức thực hiện tăng trưởng Cụ thể, với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau sẽ cho phép mỗi địa phương hình thành những ngành động lực tăng trưởng khác nhau trên cơ sở các dấu hiệu về lợi thế so sánh, dẫn đến các mô hình đầu tư phát triển khác nhau để biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, và dẫn đến các cách thức sử dụng nguồn lực khác nhau trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng
Sự sáp nhập các địa phương với nhau cũng là yếu tố lịch sử xã hội ảnh hưởng mạnh đến mô hình tăng trưởng kinh tế Nếu các địa phương sáp nhập có các đặc điểm kinh tế, xã hội hay trình độ phát triển khác nhau đòi hỏi phải hình thành một
mô hình tăng trưởng theo kiểu hỗn hợp hay kết hợp, và khó khăn hơn trong việc tổ chức thực hiện mô hình tăng trưởng
d) Yếu tố quốc gia và quốc tế
Đây là các yếu tố tạo ra các cơ hội hoặc thách thức cho việc hình thành và thực thi một mô hình tăng trưởng của địa phương Theo xu hướng mở cửa, với sự phát triển của phân công lao động, các địa phương có thể đặt mình trong chuỗi giá trị quốc gia, trong các vành đai kinh tế hay các vệ tinh phát triển cho quốc gia hay quốc tế Điều này có tác động khá quyết định đến việc hình thành các động lực tăng trưởng hay phương thức thực hiện mục tiêu tăng trưởng Các động lực tăng trưởng của địa phương có thể là một mắt xích trong chuỗi giá trị quốc gia hay toàn cầu mà địa phương tham gia Điều này có liên quan đến hình thành và phát triển các ngành kinh tế động lực, mũi nhọn theo hướng có hiệu quả trong tổ chức chuỗi giá trị và là cơ sở để đầu tư theo hướng hoàn thiện và nâng dần lợi thế cạnh tranh trong chuỗi giá trị này, có sự liên kết trong áp dụng các mô hình tăng trưởng kinh
tế như mô hình phát triển khu công nghiệp, khu đô thị Mặt khác cho phép các địa phương sẽ sử dụng mối quan hệ liên kết để thực hiện việc thu hút nguồn lực cũng như hoàn thiện các nguồn lực của mình
II Hiện đại hóa phát triển kinh tế - xã hội
2.1 Xu hướng hiện đại hóa nền kinh tế
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế hiện đại: ý nghĩa và các đặc trưng
Trang 33Tăng trưởng kinh tế hiện đại thường được dùng để nói về sự phát triển của các nền kinh tế đã hoàn thành quá trình hiện đại hóa, điển hình như các quốc gia Tây Âu, Mỹ, Canada, Australia và Nhật Bản
S Kuznets, trong bài diễn văn nhận giải Nobel kinh tế (1971), đã nêu định nghĩa về tăng trưởng kinh tế là “sự gia tăng trong dài hạn về năng lực cung ứng các sản phẩm kinh tế ngày một đa dạng cho người dân, và năng lực gia tăng này dựa vào những tiến bộ công nghệ và điều chỉnh về thể chế và tư tưởng mà nó đòi hỏi”10 Khái niệm này như vậy gồm 03 yếu tố:
- Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của một nền kinh tế được xác định bởi sự gia
tăng được duy trì dài hạn của khả năng cung cấp các sản phẩm
- Thứ hai, tiến bộ công nghệ là một nhân tố quan trọng của tăng trưởng kinh
tế, giúp tăng cường sự gia tăng khả năng cung ứng các sản phẩm đa dạng cho người dân
- Thứ ba, để có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và phổ biến, cũng
như để phát triển công nghệ, thì cần phải có những điều chỉnh về thể chế và tư tưởng nhằm đảm bảo áp dụng đúng đắn những đổi mới có được từ nguồn tri thức nhân loại ngày một gia tăng
Tăng trưởng kinh tế hiện đại đã đánh dấu một kỷ nguyên kinh tế mới11 và Kuznets chỉ ra 06 đặc trưng của tăng trưởng kinh tế hiện đại nổi lên qua các phân tích của ông ở các quốc gia Trong 06 đặc trưng này, có 02 đặc trưng định lượng về tổng sản lượng và tăng trưởng dân số, 02 đặc trưng liên quan tới chuyển đổi về cơ cấu và 02 đặc trưng còn lại liên quan tới sự lan rộng ở quy mô quốc tế:
(1) Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm bình quân đầu người và dân số ở mức cao
- Tốc độ tăng dân số ở 13 nước phát triển (trừ Pháp) đều ở mức cao trong thời
kỳ hiện đại hóa, so với thời kỳ trước: khoảng từ 6-7% và cao hơn nữa, đặc biệt là các nước Canada, Mỹ và Austrilia từ 19-24%
- Tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng sản phẩm bình quân đầu người ở tất
cả các nước phát triển đều cao: trên 13% (trừ Australia chỉ 8%)
(2) Gia tăng năng suất
- Tăng trưởng nhanh của tổng sản lượng bình quân chủ yếu là nhờ gia tăng chất lượng các đầu vào, dẫn tới hiệu quả cao hơn hay năng suất trên đơn vị đầu vào tăng lên Điều đó có thể là nhờ sự gia tăng các nguồn lực như lao động và vốn, hoặc sự gia tăng về hiệu quả, hoặc là cả hai yếu tố
- Dân số tăng dẫn tới sự tăng nhanh của lực lượng lao động
10 Trước đó, trong sách “Tăng trưởng kinh tế hiện đại” (1966), Kuznets định nghĩa tăng trưởng kinh tế là “sự gia tăng kéo dài trong dài hạn của sản lượng bình quân đầu người hoặc bình quân lao động, thường đi kèm với sự gia tăng dân số và những thay đổi nhanh chóng về cấu trúc”
11 Được coi là bắt đầu từ cuối thế kỷ 18, thời điểm khởi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
Trang 34- Tổng sản phẩm tăng lên lại làm gia tăng lượng tích tụ vốn và do vậy tăng lượng vốn tái sản xuất
- Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế đi kèm với sự giảm xuống dài hạn của số giờ làm việc bình quân Xu hướng này phản ánh sự gia tăng hiệu quả và năng suất lao động
- Hệ số ICOR nội địa tăng lên do lượng vốn đầu vào tăng nhanh
(3) Chuyển dịch cơ cấu diễn ra ở mức cao
- Tỷ trọng của khu vực kinh tế nông nghiệp giảm trong tất cả các nước phát triển (trừ Australia); ngược lại, tỷ trọng của khu vực công nghiệp tăng mạnh Tỷ trọng của khu vực dịch vụ thì hoặc giảm (Thụy Điển, Australia) hoặc tăng (Canada, Nhật Bản), hoặc không thay đổi đáng kể
- Sự thay đổi đáng kể trong phân bố lực lượng lao động trong ba khu vực kinh
tế so với thời kỳ trước
- Sự chuyển dịch giữa các ngành/lĩnh vực đi kèm với tăng trưởng về quy mô của các doanh nghiệp và thay đổi về hình thái tổ chức/quản lý (nhất là trong các ngành như chế biến, chế tạo và thương mại: từ các doanh nghiệp nhỏ tích hợp sang các tập đoàn lớn), cùng với sự chuyển đổi nhanh trong cấu trúc ngành và thay đổi nhanh về công nghệ
(4) Đô thị hóa
- Ở các nước, kể cả ở nước phát triển, cũng ghi nhận xu hướng tăng nhanh tỷ
lệ dân số từ vùng nông thôn sang vùng thành thị: đô thị hóa là một “sản phẩm” của quá trình công nghiệp hóa Hiệu ứng của nó dẫn tới giảm tỷ lệ sinh và chuyển sang
mô hình gia đình quy mô nhỏ hơn… làm thay đổi lối sống xã hội (khuyến khích trao đổi, hợp tác hơn)
- Đô thị hóa ảnh hưởng tới mức độ và cấu trúc của tiêu dùng theo 03 cách: (i) gia tăng phân công lao động, chuyên môn hóa và chuyển hướng từ các hoạt động phi thị trường ở hộ gia đình và làng nghề sang các doanh nghiệp chuyên môn hóa định hướng thị trường; (ii) chi phí đáp ứng các nhu cầu cơ bản ngày một tốn kém (nạn tắc đường, dân số quá đông dẫn gây khó khăn trong cung ứng các dịch vụ nhà
ở, vệ sinh, nước, giao thông đô thị…); (iii) tiêu dùng của một lượng lớn người nhập cư cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống thành thị (sự bắt chước mô hình tiêu dùng) làm chi tiêu tiêu dùng tăng lên
(5) Sự lan rộng (hiện đại hóa) ra bên ngoài các nước phát triển
- Sự lan rộng ra bên ngoài (của tăng trưởng hiện đại) từ các nước phát triển Châu Âu trước đây chủ yếu nhờ vào cách mạng công nghệ trong các lĩnh vực giao thông và truyền thông: tới Nhật Bản (vào cuối thế kỷ 19), Liên bang Xô Viết (thập niên 1930)…
- Thất bại trong lan truyền hiện đại hóa nền kinh tế tới các nước kém phát triển (LDCs) được cho là do hai nguyên nhân: (i) những nước này không có được khuôn khổ chính trị và xã hội đủ lĩnh hoạt và ổn định, giúp điều tiết và thích nghi nhanh chóng với những thay đổi cơ cấu và khuyến khích các nhóm người trong xã
Trang 35hội có khả năng đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế; và (ii) các chính sách bị giới hạn tự
do về chính trị và kinh tế ở các nước LDCs, kết quả là các nước LDCs thất bại trong việc tận dụng sự lan rộng của tăng trưởng hiện đại và tiếp tục lạc hậu (trừ một số trường hợp như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…)
(6) Các dòng chảy quốc tế về nhân lực, hàng hóa và vốn
- Dòng chảy của nhân lực: hiện tượng nhập cư gia tăng
- Dòng chảy của hàng hóa: thương mại hàng hóa quốc tế cho tới hiện tại là nhân tố chính cho sự mở rộng ra phía bên ngoài của các nước đang phát triển Tăng trưởng thương mại thế giới đã ở mức cao trong một số thời kỳ từ thế kỷ 19 tới nay; với tỷ trọng cao của một số ít các nước phát triển trong thương mại thế giới: các nước Tây Bắc Châu Âu và Mỹ, hay Canada và Australia (trước Chiến tranh thế giới thứ 2), sau đó là Nhật Bản, Đức và đặc biệt là Trung Quốc hiện tại
- Dòng chảy của vốn: quá trình phát triển cũng kèm theo nhiều cơ hội đầu tư
từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Các đặc trưng của tăng trưởng kinh tế hiện đại nêu trên có mối quan hệ với nhau: chúng có vai trò đan xen trong một chuỗi các nguyên nhân - hệ quả Trong một nền kinh tế có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong tổng dân số ổn định, sự tăng nhanh của tổng sản phẩm bình quân hàm ý gia tăng về năng suất ao động Điều này sẽ dẫn tới gia tăng thu nhập bình quân đầu người và kéo theo là tiêu dùng bình quân Chi tiêu bình quân tăng lên lại là kết quả của một loạt các yếu tố như tiến bộ công nghệ, những thay đổi trong quy mô sản xuất và hoạt động của doanh nghiệp, hay chính là những thay đổi từ phía doanh nghiệp Các doanh nghiệp, tới lượt nó, lại cung ứng các sản phẩm, không chỉ cho thị trường trong nước mà còn phục vụ các thị trường nước ngoài Đó là chuỗi tăng trưởng kinh tế hiện đại đã dẫn tới sự lan rộng từ các nước phát triển đã kéo dài cho tới thời điểm hiện tại
Hộp 1 Tổng quan về mô hình kinh tế của Hàn Quốc (từ 1961)
Mô hình phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong nhiều thập kỷ qua là một trong những ví dụ điển hình về sự thành công, đưa Hàn Quốc trở thành một trong bốn “con rồng kinh tế Châu Á” vào đầu thập niên 1990
Vào đầu những năm 1960, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới Tuy nhiên, Hàn Quốc đã vươn lên chinh phục thế giới, bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,6% liên tục trong 40 năm (cho tới 2011) Xét về thu nhập GDP bình quân đầu người, Hàn Quốc còn giàu hơn mức trung bình của Liên minh Châu Âu, hiện nay đạt khoảng 31.360 USD Hiện tại, Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 13 thế giới, có thủ đô Seoul đứng thứ 7 trong nhóm các thành phố bền vững nhất thế giới và đang hướng đến trở thành một thành phố toàn cầu, là trung tâm tài chính và thương mại ở Đông Bắc Á
Bắt đầu từ thập niên 1960, chính sách phát triển công nghiệp của Hàn quốc khởi động với sự chuyển đổi chiến lược từ chính sách sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu sang sản xuất hàng hóa xuất khẩu: tận dụng tối đa lao động rẻ, duy trì lãi xuất cao để khuyến khích người dân tiết kiệm, tái đầu tưu, và ra Luật khuyến
Trang 36khích tư bản nước ngoài Trong vòng 10 năm, Hàn Quốc nhanh chóng đạt được lượng xuất khẩu đủ để trả nợ nước ngoài
Năm 1973, xuất phát từ triển vọng thị trường thế giới, Hàn Quốc đã đề ra kế hoạch phát triển các công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng, gồm các máy móc
kỹ thuật phức tạp, máy mọc hạng nặng, công nghệ đóng tàu, kỹ thuật xe hơi,… Kết quả là trong giai đoạn 1973-1996, tăng trưởng kinh tế đạt tới 11,2%/năm
Sau khi rơi vào khủng hoảng Châu Á 1997-1998, Hàn Quốc thực hiện cải cách cơ cấu triệt để, giảm bớt vai trò của các tập đoàn kinh tế (Chaebol), phát triển
đa dạng các thành phần kinh tế và quy mô doanh nghiệp Nền kinh tế lại tiếp tục
“cất cánh” với rất nhiều thương hiệu như Samsung, LG, Huyndai, Deawoo,… đứng vào hàng ngũ các tên tuổi lớn trên thế giới
Tóm lại, sự tăng trưởng nhanh và đều đặn là yếu tố quan trọng tạo nên “kỳ tích sông Hàn” Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người lên đến mức “không tưởng”: 38,4% (năm 1974), 35% (năm 1976), 33,1% (năm 1978)
Nhiều nguyên nhân tạo nên “kỳ tích sông Hàn” đã được đề cập, có thể tóm lược như: tính cách và tố chất dân tộc; biết khơi dậy tinh thần dân tộc mạnh mẽ; nâng cao dân trí và cải cách giáo dục; phát triển nông nghiệp và nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông; công nghiệp hóa; thể chế kinh tế thị trường; huy động vốn đầu tư nước ngoài; và cuối cùng nhưng không kém quan trọng, là yếu tố lãnh đạo với vai trò của tổng thống Park Chung Hee
2.1.2 Xu thế công nghiệp hóa theo hướng bền vững
Xu thế công nghiệp hóa theo hướng bền vững trên thế giới hàm ý về những
xu hướng của thời đại để sự phát triển của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng phải tương thích, phù hợp với dòng chảy chung Một số đặc điểm trong xu hướng phát triển công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa trên thế giới:
- Thứ nhất, theo Szirmai và các cộng sự (2013) hiện có 06 thách thức đối với
quá trình công nghiệp hóa nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng của các nước đang phát triển: (1) làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa trong nền kinh
tế thế giới toàn cầu hóa với sự bất bình đẳng lớn giữa các quốc gia, bị chi phối bởi các công ty đa quốc gia lớn và được định hình bởi các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) phân tán; (2) sự co hẹp về không gian chính sách (chủ yếu do các cam kết toàn cầu hóa) ảnh hưởng đến các nước công nghiệp hóa muộn trong trật tự kinh tế quốc tế hiện nay; (3) sự nổi lên của các nền kinh tế châu Á đầu tàu (như Trung Quốc và Ấn Độ) và những tác động của nó đối với triển vọng công nghiệp hóa của các nước đi sau cũng như khả năng cạnh tranh công nghiệp của các nền kinh tế tiên tiến; (4) làm thế nào để đối phó với tình trạng thất nghiệp gia tăng trong ngành công nghiệp chế biến; (5) tạo ra hệ thống các trung gian tài chính đủ năng lực để đảm bảo các nguồn vốn dài hạn cần thiết cho đầu tư công nghiệp trong thời gian sắp tới; và (6) là các chính sách công nghiệp phải làm thế nào có thể phản ứng với các mối đe dọa từ sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu
Trang 37- Thứ hai, trong khi tìm kiếm một ngưỡng để xác định nhóm các nước đã
công nghiệp hóa, Thống kê UNIDO (2012) đã dựa vào kết luận được rút ra từ các nghiên cứu nội bộ, cho thấy rằng giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến bình quân đầu người (MVApc) là một tiêu chí thích hợp MVApc cho biết trình độ sản xuất công nghiệp của một quốc gia so với quy mô dân số của nó Nghiên cứu của UNIDO coi đây là chỉ tiêu quan trọng về mức độ công nghiệp hóa của một quốc gia Đồng thời, bất kỳ một nền kinh tế có GDP bình quân đầu người trên 20.000 USD được xem là nằm trong nhóm các nền kinh tế đã công nghiệp hóa, không kể MVApc của quốc gia đó là bao nhiêu Tóm lại, MVApc (đã điều chỉnh) từ 2.500 USD hoặc GDP đầu người (PPP) từ 20.000 USD (giá cố định năm 2011) là các ngưỡng xác định một nền kinh tế đã công nghiệp hóa
- Thứ ba, mức độ cạnh tranh về phát triển công nghiệp trên toàn cầu ngày
càng khốc liệt trong một thế giới “phẳng mà không phẳng” với những rào cản rất tinh vi cần phải vượt qua đối với các nước đang phát triển: toàn cầu hóa song hành với hội nhập hóa, song phương xen lẫn với đa phương, bảo hộ đi cùng với chống độc quyền, nhà nước và tư nhân Những nước phát triển đi trước đã từng là các nước thực hiện sự bảo hộ đối với ngành công nghiệp, tuy nhiên giờ đây, trong các điều khoản của các hiệp định thương mại tự do giữa các nước, việc bảo hộ thường
bị kiện dưới hình thức “chống phá giá” hoặc sự sẵn sàng trả đũa bằng nhiều hình thức khác nhau giữa các nước khi vi phạm điều khoản
- Thứ tư, xu hướng phi công nghiệp hóa quá sớm ở các nước đang phát triển
và đã công nghiệp hóa đã gây ra nhiều tác động đến nền kinh tế của các nước, chủ yếu là tiêu cực Theo Rodrik (2013) các nước đang phát triển nếu có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 10.000 USD sẽ gặp bất lợi lớn nếu phi công nghiệp hóa Trong khi đó Friedly và các cộng sự (2014) thậm chí đưa ra các bằng chứng cho thấy ngay cả các nước phát triển như Mỹ hay Đức đều gặp phải rất nhiều khó khăn khi phi công nghiệp hóa bởi ngành công nghiệp chế biến có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của ngành nông nghiệp và ngành dịch vụ Quá trình phi công nghiệp hóa sớm có những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi quốc gia Về kinh tế, quá trình phi công nghiệp hóa sớm cản trở sự tăng trưởng và trì hoãn những nước đang phát triển theo kịp những nền kinh tế tiên tiến Những ngành công nghiệp chế tạo được gọi là “ngành công nghiệp thang cuốn”: năng suất lao động của nhân công trong ngành chế tạo có xu hướng gia tăng, ngay
cả trong các nền kinh tế nơi chính sách, các thể chế, và địa lý cùng nhau góp phần làm chậm sự tiến bộ của các ngành khác trong nền kinh tế Sự giới hạn công nghiệp hóa gần như chắc chắn đồng nghĩa với việc sẽ có ít hơn những phép màu tăng trưởng trong tương lai Do vậy, các nước phương Tây đang thực hiện một cuộc công nghiệp hóa mới, phù hợp hơn với trình độ phát triển và bối cảnh phát triển hiện nay Tuy nhiên, các nước đang phát triển không thể đi theo mô hình cũ
mà cần phải có sự chủ động để tiếp nhận công nghệ “sạch hơn” và việc lựa chọn đối tác (từ các nước phát triển) trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
- Thứ năm, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang hình thành và theo
Trần Hồng Quang và Nguyễn Hoàng Hà (2016), so sánh với các cuộc cách mạng
Trang 38công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ phát triển với tốc
độ ở cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng như các cuộc cách mạng trước đó về phạm vi và chiều sâu mang tính hệ thống Đây là cuộc cách mạng được xuất hiện cùng hàng loạt công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa
và sinh học, làm thay đổi căn bản giữa đời sống thế giới thực, ảo và sinh vật của xã hội loài người với 03 đặc trưng nổi trội như sau (Schwab 2016; Garbie 2016; Gilchrist 2016): (i) những tiến bộ căn bản trong thế giới thực với sự phát triển của các thiết bị tự động hóa, công nghệ in 3D, rô-bốt hiện đại và các dạng vật liệu mới; (ii) những bước tiến vượt bậc về thế giới số (digital world) hay thế giới ảo làm tăng khả năng tương tác với thế giới thực nhờ phát triển của Internet of Things - IoT (Mọi vật Kết nối) và sự ra đời của các cảm biến hiện đại; và (iii) những đột phá về thế giới sinh vật với việc xây dựng biểu đồ gen tiết kiệm rất nhiều nguồn lực tài chính và thời gian so với trước
Việt Nam vẫn đang trong quá trình công nghiệp hóa và dường như mục tiêu
“đến năm 2020, trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” đã không thể đạt được Nếu xét theo tiêu chí của UNIDO (2012) trên đây thì Việt Nam vẫn chưa phải là một quốc gia đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa Theo cách thức phân nhóm này, Việt Nam có MVApc chỉ vào khoảng trên 1.000 USD và thuộc vào nhóm các nước công nghiệp mới nổi Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Ohno (2009), kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng nhiều lao động có giá rẻ, dồi dào, kỹ năng thấp và nhiều tài nguyên Vị trí của kinh tế Việt Nam trong tiến trình phát triển của công nghiệp hóa mới chỉ ở mức 1 Khoảng cách đến “trần thủy tinh” hay bước vào giai đoạn phát triển “dựa trên tính hiệu quả” vẫn còn khá xa
Hình 1 Các giai đoạn công nghiệp hóa
Nguồn: Ohno (2009)
Trang 392.2 Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế và các đột phá chiến lược của Việt Nam
2.2.1 Quá trình chuyển đổi định hướng chính sách phát triển
Từ những năm đầu của thời kỳ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011-2020, ngay sau Đại hội lần thứ XI của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội cả nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức từ cả bối cảnh trong và ngoài nước Tình hình quốc tế xuất hiện nhiều biến động phức tạp hơn so với dự báo, nhất là ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Ở trong nước, nhiều bất ổn dồn tích từ nhiều năm chưa được giải quyết bộc lộ ngày một gay gắt, đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách có hệ thống và cấp bách
Trước diễn biến đó, Đảng và nhà nước đã chủ động, kịp thời chuyển đổi định hướng chính sách phát triển Đầu tiên, Chính phủ đã có Nghị quyết số 11/NQ-CP (ngày 24/02/2011) chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội” - sự chuyển hướng được xem là nhạy bén, kịp thời, bám sát thực tiễn và được chỉ đạo quyết liệt Quan điểm đó được khẳng định tại Kết luận số 02-KL/TW (ngày 16/3/2011) của Bộ Chính trị, theo đó “tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội” Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ra Kết luận số 10-KL/TW (ngày 18/10/2011) tiếp tục khẳng định “trong năm 2012 và những năm tiếp theo… ưu tiên hàng đầu cho kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn”; đồng thời, Kết luận này cũng xác định 03 trọng tâm tái cơ cấu kinh tế của giai đoạn tới 2015
Ngày 19/02/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020, với mục tiêu tổng quát là “đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”
339/QĐ-Để cụ thể hóa các chủ trương trên, Chính phủ đã thực hiện một số biện pháp, nổi bật là điều chỉnh một số mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là mục tiêu tăng trưởng, và điều chỉnh trọng tâm các định hướng, giải pháp chính sách cụ thể Một loạt các chính sách vĩ mô từ nới lỏng để kích thích, thúc đẩy tăng trưởng đã chuyển sang thắt chặt có điều chỉnh linh hoạt để ổn định kinh tế vĩ mô Đồng thời, nhiều chương trình, đề án tái cơ cấu nền kinh tế, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh được ban hành và thực hiện Về bản chất, đó là những cải cách, thay đổi các yếu
tố vi mô nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng các khía cạnh từ phía cung của nền kinh tế; qua đó, thay đổi cách thức tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng hướng tới bền vững Những thay đổi nói trên là phù hợp và tạo ra tiền đề vững chắc cho tăng trưởng nhanh và ổn định cho những năm tiếp theo
Trang 402.2.2 Các tư tưởng và khung chính sách của thời kỳ 2016-2020
Bối cảnh của thời kỳ 2016-2020 có những điều kiện thuận lợi hơn, do được hưởng lợi từ quá trình chuyển hướng chính sách và những thành quả có được từ thời kỳ 2011-2015, mà nổi bật là đã khắc phục về cơ bản các yếu tố bất ổn vĩ mô
và phục hồi dần tốc độ tăng trưởng kinh tế
Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngay
từ đầu thời kỳ, nhiều giải pháp chính sách đã được ban hành và tích cực triển khai, tiêu biểu là:
- Nghị quyết số 05-NQ/TW (ngày 01/11/2016) của Ban Chấp hành Trung ương Đản khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới
mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Nghị quyết số 07-NQ/TW (ngày 18/11/2016) của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững
- Nghị quyết số 24/2016/QH14 (ngày 08/11/2016) của Quốc hội về Kế hoạch
cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020
- Nghị quyết số 27/NQ-CP (ngày 21/02/2017) của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW và Nghị quyết số 24/2016/QH14 trên đây
- Từ năm 2016, hàng năm Chính phủ đều ban hành các nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia…
Nhìn chung, định hướng tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn hiện tại đã và đang được thực hiện tích cực và thực chất hơn Kinh tế vĩ mô tiếp tục được ổn định, sức chống chịu của nền kinh tế có cải thiện nhất định Các mục tiêu, chỉ tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dự kiến sẽ đạt được về cơ bản: cách thức và chất lượng tăng trưởng được cải thiện nhất định (thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cải thiện hiệu quả đầu tư
và năng suất lao động); cơ cấu tổng thể nền kinh tế có chuyển dịch tích cực (khu vực kinh tế nhà nước giảm, khu vực kinh tế tư nhân có khởi sắc với sự xuất hiện một số tập đoàn kinh tế tư nhân đa ngành nghề) Mặc dù vậy, xét trong dài hạn và chất lượng của sự chuyển đổi, vẫn còn không ít những vấn đề cần giải quyết: thu chi ngân sách chư bền vững; tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng; độ
mở của nền kinh tế ở mức cao; và sự phụ thuộc nhiều vào đầu tư nước ngoài trên nhiều mặt…