Với tiềm năng du lịch đa dạng của các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc, trong những năm qua các hoạt động khai thác tiềm năng du lịch, phát triển du lịch sinh th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS LÊ TRỌNG CÚC
Hà Nội - 2013
Trang 3Mục lục
LỜI CẢM ƠN 5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 8
1-Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3- Phạm vi nghiên cứu 11
4 Kết quả mong đợi 11
5- Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài 11
6 Cấu trúc luận văn 12
Chương :TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 12
1.1 Khái niệm về DLST, nguyên tắc và quan điểm phát triển DLST ở các VQG 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Nguyên tắc cơ bản phát triển Du Lịch Sinh Thái 16
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 16
1.2 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái 17
1.3 Phát triển du lịch sinh thái ở các Vườn Quốc gia 18
1.4 Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái 19
1.4.1 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên thế giới 19
1.4.2 Các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình Du lịch sinh thái ở các VQG trên thế giới 22
1.4.3 Thực trạng Du lịch sinh thái ở các VQG của Việt Nam 23
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Địa điểm và pham vị nghiên cứu 26
2.1.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Quan điểm nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp luận / Cách tiếp cận 27
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội VQG Cát Bà 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
a Địa hình Error! Bookmark not defined. b Địa chất và thổ nhưỡng 34
c Khí hậu thuỷ văn 35
d Tai biến thiên nhiên 37
3.1.2 Dân sinh kinh tế 39
a Dân
Trang 4b Kinh tế nông nghiệp 39
c Kinh tế lâm nghiệp 40
d Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản 40
3 2 Tài nguyên đa dạng sinh học 41
3.2.1 Đa dạng các hệ sinh thái 41
3.2.2 Khu hệ thực vật rừng 45
3.2.3 Khu hệ động vật rừng 47
3.2.4 Động, thực vật biển 48
3.2.5 Tài nguyên cảnh quan 49
3.2.6 Văn hóa lịch sử 51
3.3 Hiện trạng du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Cát Bà 511
3.3.1 Thực trạng hoạt động du lịch 51
3.3.2.Hiện trạng tuyến, điểm tham quan 53
a Các điểm tham quan du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng 53
b Các tuyến tham quan DLST 54
3.4 Hiện trạng quản lý VQG Cát Bà 56
3.4.1 Cơ chế chính sách 56
3.4.2 Tổ chức quản lý VQG 57
3.4.3 Hiện trạng quản lý 58
3.5 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và các mối đe dọa (SWOT) 661
Chương 4:ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DLST Ở VQG CÁT BÀ 64
4.1 Quan điểm, mục tiêu và nguyên lý phát triển DLST ở VQG Cát Bà 64
4.1.1.Quan điểm phát triển du lịch sinh thái 64
4.1.2 Các mục tiêu phát triển 65
4.1.3 Nguyên lý phát triển du lịch sinh thái bền vững 65
4.2 Định hướng phát triển DLST gắn với quản lý VQG Cát Bà 66
4.2.1 Định hướng phát triển các sản phẩm DLST 66
4.2.2 Định hướng phát triển thị trường 70
4.2.3 Đề xuất các tuyến DLST ở VQG Cát Bà 70
a Các tuyến du lịch sinh thái rừng……… 71
b Các tuyến du lịch sinh thái biển 71
c Tuyến du lịch đặc biệt vào khu bảo tồn Voọc 71
4.2.4 Đề xuất các điểm tham quan, khu dịch vụ nghỉ dưỡng 72
a Điểm tham quan 72
b Khu nghỉ dưỡng 75
4.2.5 Định hướng các hoạt động khuyến khích người dân tham gia 80
4.2.6 Dự báo các tác động môi trường từ hoạt động DLST 78
a.Tác động đến môi trường tự nhiên 79
b.Tác động đến môi trường kinh tế và văn hóa - xã hội 80
c.Những biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch 82
Trang 54.3 Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái 84
4.3.1.Kết hợp hai nhiệm vụ “bảo tồn” và “phát triển”……….…………845
4.3.2 Xây dựng và quy hoạch phát triển du lịch sinh thái 87
4.3.3 Xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý 8688
a Các chính sách 88
b Các cơ chế quản lý 88
4.3.4 Tổ chức hoạt động 89
a Thành lập hội đồng xúc tiến du lịch sinh thái địa phương 89
b Thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp DLST VQG Cát Bà 89
c Phát huy tối đa vai trò của Trung tâm Dịch vụ, du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường trực thuộc Vườn quốc gia Cát Bà để thực hiện một số nội dung sau: 89
d Phát triển nguồn nhân lực phục vụ DLST 90
e Tăng cường liên doanh, liên kết, hợp tác quốc tế 90
f Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái 91
g Maketing DLST và xúc tiến hỗn hợp, mở rộng thị trường 92
h Phát triển cơ sở hạ tầng 93
i Tăng cường công tác an ninh trật tự và an toàn phòng chống cháy nổ trong khu vực VQG Cát Bà 93
k Liên kết du lịch vùng 95
l Giải pháp tạo nguồn vốn 96
4.3.5 Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội 9596
a Hiệu quả kinh tế 9596
b Hiệu quả về xã hội 9597
c Hiệu quả về môi trường 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
* KẾT LUẬN 98
* KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
CÁC PHỤ LỤC: 99
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ
khoa học môi trường, chuyên ngành môi trường trong phát triển bền vững Tôi đã nhận được sự quan tâm giảng dạy nhiệt tình, sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu tài
Trang 6nguyên môi trường, của các Giáo sư tiến sĩ của trường đại học quốc gia Hà Nội; Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thày, cô, các anh chị em đồng chí, đồng nghiệp
và đặc biệt là GSTS Lê Trọng Cúc, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ các phòng ban của Vườn quốc gia Cát Bà, phòng Văn hóa – Thể thao và Du lịch huyện Cát Hải, Sở Văn hóa – Thể thao
và Du lịch TP Hải phòng đã tạo cho tôi điều kiện thuận lợi nhất, cung cấp số liệu đầy đủ nhất để tôi thực hiện luận văn và hoàn thành chương trình học này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự động viên to lớn về thời gian, vật chất và tinh thần
mà gia đình và bạn bè đã dành cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 28 tháng 11 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM VĂN THƯƠNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác khi chưa được công bố hoặc chưa được sự đồng ý Những kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Trang 7Hải Phòng, ngày 28 tháng 11 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Thương
CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTTN Bảo tồn Thiên nhiên
Trang 8NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
PHST Phục hồi sinh thái
PTBV Phát triển bền vững
QLRBV Quản lý rừng bền vững
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
TNTN Tài nguyên Thiên nhiên
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài
Đa dạng sinh học (ĐDSH) nói chung có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người và sự phát triển của xã hội Những giá trị đó không thể biểu thị hết bằng các con số thống kế về vật chất như: cung cấp lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyên vật liệu… mà giá trị vô cùng lớn là những giá trị phi vật chất như: Duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái, điều hòa khí hậu, ổn định các thành phần không khí, chắn sóng, chống bão, sạt lở Nhiều loại vật hoang dã mang, nhiều khu vực cảnh quan thiên nhiên đã đem lại cho con người những giá trị tinh thần to lớn về tham quan, giải trí, những giá trị nghiên cứu khoa học cho toàn nhân loại…Với những ý nghĩa to lớn như vậy, việc bảo tồn
Trang 9các giá trị đa dạng sinh học trong các Khu bảo tồn thiên nhiên, các Vườn quốc gia là điều tất yếu của quá trình phát triển
Việt Nam là một quốc gia được các nhà khoa học đánh giá có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới và là một trong các quốc gia yêu tiên cho bảo tồn toàn cầu Sự đa dạng về địa hình, đất đai, cảnh quan và khí hậu là cơ sở thuận lợi, tạo lên sự đa dạng của hệ sinh thái, loài và nguồn gen của Việt nam Trong thời điểm hiện nay với tốc độ phát triển của mọi ngành nghề, cùng với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đang đưa các quốc gia tiến tới một xã hội phát triển, có nền công, nông nghiệp hiện đại, mức sống của người dân ngày được nâng cao Tuy nhiên, với sự gia tăng dân số và nhu cầu của con người đòi hỏi ngày càng cao dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên cũng ngày càng nhiều Các hoạt động phát triển này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính đa dạng sinh học của Việt Nam nói chung và các vùng sinh thái trọng điểm nói riêng Vấn đề đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp, các ngành là làm thế nào để phát triển kinh tế xã hội mà vẫn đảm bảo quản lý các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên một cách bền vững
Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai
Du lịch sinh thái được coi là một trong những cách thức phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững đồng thời hỗ trợ đắc lực bảo tồn Tại đại hội các Vườn Quốc gia thế giới lần thứ V do IUCN tổ chức đã khẳng định “Du lịch Sinh thái ở trong và ngoài khu bảo tồn là một phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng cường nhận thức về các giá trị quan trọng của Khu bảo tồn như giá trị sinh thái, văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản văn hóa Du lịch sinh thái cũng đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa [13]
Những năm gần đây, trong sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội, lĩnh vực du lịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Quan trọng nhất là việc du lịch sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài
để suy ngẫm Ngược lại, nó đã trở thành hướng phát triển mang tính thời sự trên toàn cầu Hơn lúc nào hết khi vấn đề phát triển kinh tế xã hội hiện nay đang được đặt ra trên quan
Trang 10điểm phát triển bền vững, thì việc phát triển DLST được xem là một công cụ hiệu quả đáp ứng được mục tiêu là phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường
Với tiềm năng du lịch đa dạng của các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc, trong những năm qua các hoạt động khai thác tiềm năng du lịch, phát triển
du lịch sinh thái đã được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau Các hoạt động này thu hút một lượng đáng kể khách du lịch trong nước và quốc tế và số lượng ngày càng tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, với chức năng chính của Vườn quốc gia Cát Bà là bảo tồn sự
đa dạng sinh học nên việc đầu tư cho phát triển du lịch sinh thái chưa được quan tâm đúng mực, chưa khai thác một cách hợp lý các tiềm năng sẵn có, chưa phát huy được vai trò của
du lịch sinh thái đối với công tác bảo tồn thiên nhiên Lượng khách du lịch tăng nhanh hàng năm song dịch vụ còn khá đơn thuần, sức hấp dẫn chưa cao, thu nhập từ hoạt động
du lịch dịch vụ còn rất khiêm tốn Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế hiện nay nguồn ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động bảo tồn rất hạn chế, chưa đáp ứng thỏa đáng yêu cầu hoạt động của Vườn quốc gia Cát Bà, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động bảo tồn, đòi hỏi phải có những biện pháp khai thác hợp lý tiềm năng, tạo nguồn thu phục
vụ cho các hoạt động chuyên môn của Vườn Đồng thời chia sẻ lợi ích với cộng đồng và thu hút cộng đồng tham gia bảo vệ tài nguyên
Những lý do trên chính là cơ sở quan trọng để tiến hành đề tài “Đánh giá thực
trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với quản lý Vườn quốc gia Cát Bà bền vững”
2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Tìm ra những giải pháp thích hợp cho phát triển du lịch sinh thái, nhằm phục vụ cho quản lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư xung quanh VQG Cát Bà
Trang 11- Những ảnh hưởng và mối tác động qua lại giữa du lịch sinh thái với quản lý tài nguyên rừng, biển Vườn quốc gia
- Xây dựng và đề xuất các chương trình hành động, giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với quản lý Vườn quốc gia Cát Bà bền vững
3- Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn quốc gia Cát Bà- Huyện Cát Hải- TP Hải Phòng
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4-tháng 8 năm 2013
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá các điều kiện tự nhiên (đa dạng sinh học, cảnh quan), văn hóa lịch sử ở VQG Cát Bà và điều kiện kinh tế, xã hội vùng đệm, cơ chế chính sách, các mối liên hệ qua lại, những tồn tại thánh thức Từ đó đề xuất định hướng phát triển DLST gắn với quản lý tài nguyên Vườn quốc gia Cát Bà bền vững
4 Kết quả mong đợi
- Tìm hiểu được thực tế hoạt động du lịch sinh thái, đánh giá những thuận lợi, khó khăn của địa điểm nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
- Đề xuất được các định hướng phát triển DLST ở Vườn quốc gia Cát Bà nhằm khai thác tối ưu tiềm năng sẵn có kết hợp với bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ cho quản lý bền vững tài nguyên thiên nghiên ở VQG Cát Bà Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các dịch vụ du lịch, chia sẻ lợi ích từ du lịch dịch vụ, từ đó làm cải thiện thu nhập, giảm áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên
5- Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài
* Ý nghĩa thực tiễn
Tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, khai thác tốt tiềm năng sẵn có phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội nhưng vẫn bảo đảm được công tác bảo tồn đa dạng sinh học, gắn phát triển du lịch sinh thái với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cảnh quan, giải quyết được mối mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển
* Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu thực tế hoạt động du lịch để có những đánh giá cho định hướng phát triển đồng thời xác định được một số ảnh hưởng qua lại giữa DLST, bảo tồn đa dạng sinh
Trang 12học và cộng đồng dân cư vùng đệm của VQG, từ đó nêu lên các vấn đề cần quan tâm khi phát triển DLST ở VQG Cát Bà
6 Cấu trúc luận văn
Với sự đòi hỏi tất yếu của việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với quản lý VQG Cát Bà bền vững Cấu trúc chính của luận văn được trình bày trong 4 chương cụ thể như sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Đề xuất phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1 Khái niệm, nguyên tắc và quan điểm phát triển Du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực sự
đã có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới Đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu trong lĩnh vực này, điển hình như:
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái
đã định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá
Trang 13trong những khu vực này" (trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn) [7]
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ (1998) “DLST là du lịch có mục đích với các khu
tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” [7] Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”[13]
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”[13]
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái "là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” [4]
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì
“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường
và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [13]
Du lịch sinh thái là một khái niệm mở, có thể hiểu theo nhiều nghĩa ở các góc độ khác nhau hoặc theo từng lĩnh vực khác nhau Theo nghĩa hẹp, ta có thể hiểu DLST là sự ghép nối ý nghĩa đơn giản của hai khái niệm: “du lịch” và “sinh thái” Nhưng ở góc độ
Trang 14rộng hơn ta có thể hiểu DLST là một loại hình du lịch thiên nhiên Mọi hoạt động du lịch
có liên quan đến thiên nhiên môi trường, đến văn hóa, xã hội, ẩm thực… đều là DLST [18]
DLST còn có thể được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Du lịch thiên nhiên (natural tourist); Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural – based tourist); Du lịch môi trường (Environmental tourist); Du lịch đặc thù (Particular tourist); Du lịch xanh (Green tourist); Du lịch mạo hiểm (Adventure tourist); Du lịch bền vững (Sustainable tourist)…
Luật du lịch (2005), định nghĩa “DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động DLST tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, cũng quy định
“DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững” [14]
Ta có thể biểu thị các mối liên hệ, tương quan của các thành phần hợp thành DLST như hình dưới đây
DLST
Sơ đồ 1.1: DLST là kết tinh của khoa học, du lịch, văn hóa, kinh tế, xã hội
và sinh thái môi trường học [4]
Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các khu bảo tồn và Vườn quốc gia là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lịch sinh thái Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa hình hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên
Trang 15Những yếu tố này sẽ làm lợi cho các đơn vị tổ chức du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương do vậy các yếu tố này sẽ được bảo vệ tốt, chính đây là mối quan hệ giữa du lịch
và các Khu bảo tồn và Vườn quốc gia Hoạt động du lịch sinh thái ở đây phải được xây dựng bám sát định nghĩa về du lịch sinh thái Nhằm đảm bảo rằng phát triển du lịch sinh thái không làm tổn hại đến Vườn quốc gia và tăng nguồn thu nhập một cách bền vững cho cộng đồng địa phương bằng các hoạt động du lịch sinh thái
Hiện nay DLST đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tồn thiên nhiên và phát triển cảnh quan, các mục tiêu của DLST có liên quan đến các khu bảo tồn thiên nhiên là [13] :
- Sự tương thích về mặt sinh thái và văn hóa của phát triển du lịch là một điều kiện quan trọng
- Phát triển Du lịch phải hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn ở các VQG
- Tạo thu nhập cho người dân địa phương
- Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi người chấp nhận bảo tồn thiên nhiên là một kết quả gián tiếp của các hoạt động kinh tế
Du lịch sinh thái là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phương và các KBTTN
& VQG Đó cũng là một hợp phần lý tưởng của chiến lược phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên được sử dụng như một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực Là một công cụ quan trọng trong quản lý các KBTTN
& VQG Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo được phát triển phù hợp với hoàn cảnh
DU LỊCH HỖ TRỢ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DU LỊCH CÓ
Trang 16Sơ đồ 1.2: Cấu trúc Du lịch Sinh thái [7]
Ở mô hình này chúng ta thấy rõ hơn DLST có sự kết hợp hài hòa của các yếu tố, trong đó du lịch là chủ thể được chi phối bởi các yếu tố quản lý, kính tế, văn hóa, giáo dục môi trường, phát triển bền vững để trở thành DLST
Tóm lại, dù theo định nghĩa nào thì DLST cũng cần phải hội tụ đủ hai yếu tố: Sự quan tâm tới môi trường và thiên nhiên; trách nhiệm với xã hội và cộng đồng
Như vậy DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của cộng đồng địa phương, được thiết kế mang tính giáo dục môi trường cao Nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương và công tác bảo tồn, trong đó phát huy sự tham gia của cộng đồng địa phương
1.1.2 Nguyên tắc cơ bản phát triển Du lịch sinh thái
Những nguyên tắc đảm bảo trong du lịch sinh thái không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý tổ chức, điều hành du lịch mà cho cảc hướng dẫn viên, cộng đồng dân địa phương.[6]
- Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiểu tự nhiên và con người Đây chính là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động DLST
- Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ở các Vườn Quốc gia, khu bảo tồn nói chung Cụ thể là DLST phải được tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trường cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học
- Hỗ trợ kinh tế địa phương, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng dân địa phương, những người có quyền làm chủ cho sự phát triển và trong công tác hoạch định du lịch
Xuất phát từ những khái niệm về DLST ở trên chúng ta có thể thấy để phát triển DLST cần phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản trên Nếu các hoạt động du lịch mà không đáp ứng được các tiêu chí trên thì không thể xem là DLST
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
Các hoạt động DLST khác với các loại hình du lịch khác ở các đặc trưng chủ yếu sau[7]:
Trang 17* Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra
và thích hợp tại lãnh thổ các Vườn quốc gia và các khu Bảo tồn tự nhiên
* Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngược trở lại môi trường DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoài những lợi ích về văn hoá-xã hội Sự đóng góp về tài chính với một phần chi phí trong chuyến đi của
du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học
* DLST gắn liền với giáo dục môi trường: Đặc điểm GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác Giải thích và GDMT là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh nghiệm du lịch thú vị và nâng cao kiến thức và sự trân trọng môi trường cho du khách, dẫn đến hành động tích cực đối với bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của hoạt động DLST trong những khu tự nhiên
* Mang lại lợi ích cho địa phương: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực Cộng đồng địa phương chỉ
có thể tham gia vào những công việc vận hành DLST, trên phương diện cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế, các dịch vụ, các trang thiết bị và các sản phẩm phục vụ khách Những lợi ích này nhất thiết phải "nặng ký" hơn sự trả giá về môi trường và văn hoá-xã hội nảy sinh từ du lịch mà cộng đồng địa phương phải gánh chịu
* Thoả mãn nhu cầu về trải nghiệm du lịch cho du khách: Việc thoả mãn những mong muốn của khách tham quan với những kinh nghiệm du lịch lý thú là cần thiết đối với sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST, trong đó có một phần quan trọng là sự an toàn cho du khách và phải thoả mãn hoặc vượt quá sự mong đợi của du khách
1.2 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái
Theo Drumm (2002) ( được trích trong Cẩm nang quản lý và phát triển DLST cục kiểm lâm năm 2004), thì những yếu tố dưới đây có vai trò quyết định đối với việc tổ chức thành công hoạt động DLST: [13]
Trang 18- Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của KBTTN và VQG
- Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan tổ chức phi chính phủ
- Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương
- Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour tư nhân
- Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của KBTTN
- Giáo dục những người tham gia về vai trò của họ trong công tác bảo tồn
1.3 Phát triển du lịch sinh thái ở các Vườn Quốc gia
Khái niệm Vườn Quốc gia
Vườn quốc gia là một khái niệm đã rất phổ biến trong hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, hiện nay đang có nhiều khái niệm khác nhau như: Tổ chức IUCN đã đưa ra một định nghĩa về VQG [8]
Vườn Quốc gia là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:
- Ở đó có một hay nhiều hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai khác hay chiếm lĩnh của con người Các loài thực vật - động vật, các đặc điểm sinh thái, địa mạo và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí
- Ở đó ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ càng nhanh càng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cường sự tôn trọng những đặc trưng về sinh thái, hình thái học và cảnh quan
- Ở đó cho phép các hoạt động khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, giải trí và lòng ngưỡng mộ
Vườn quốc gia ở việt nam được hiểu theo khoản 1 điều 13 quy chế quản lý rừng ban hành theo quyết định 186/2006 của thủ tướng chính phủ [12]
Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp
Trang 19Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái
Như vậy ở các Vườn quốc gia chính là mảnh đất màu mở cho các hoạt động du lịch sinh thái
1.4 Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái
1.4.1 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên thế giới
Du lịch sinh thái đang dấy lên trong giới lữ hành và bảo tồn ngày một tăng, nguồn gốc của nó giống như sự tiến hóa hơn là một cuộc cách mạng Những du khách lũ lượt kéo đến Vườn quốc gia Yellowstone và Yasemite cách đây hàng mấy thế kỷ chính là những khách du lịch sinh thái đầu tiên Đến thế kỷ 20 đã chứng kiến sự thay đổi đầy kịch tính và liên tục của lữ hành thiên nhiên; với những trò chơi gây được sự quan tâm như: Săn Thú, Câu Cá cho đến thời đoạn ngày nay khách du lịch sinh thái thực sự đã có những hiểu biết hơn và phát triển ở mức cao hơn Hiện nay nhiều quốc gia phát triển Du lịch sinh thái trở thành một ngành công nghiệp chính đem lại nguồn thu quan trọng cho đất nước điển hình như: Một số nước châu phi; Nam Phi, Tanzania, và một số quốc gia khác như; Nê Pan, Úc, Thái Lan, [4]
Kinh nghiệm hoạt động DLST ở các Vườn Quốc gia
* DLST ở VQG Galapagos [7]
Vườn Quốc gia Galapagos ở Equado không chỉ là một VQG mà còn là một di sản thế giới, một khu dự trữ sinh quyển, và giờ đây còn là một khu dự trữ sinh thái biển Về mặt vị trí thì VQG Galapagos nằm tách khỏi lục địa, Có môi trường phù hợp cho các loài sinh vật thích nghi như Rùa, Kỳ Đà, Chim Sẻ, Xương Rồng khổng lồ và họ hàng hướng dương, Chim cốc không bay, Chim bói cá và còn rất nhiều giống động thực vật khác Những loài này mang những thông tin không gì sánh được trên thế giới về quá khứ và tương lai
Galapagos có lẽ là một trong những nơi thuận lợi nhất trên thế giới để nghiên cứu
về tiến hóa của hệ sinh thái Được thưởng thức những quang cảnh đại dương, ven biển và đất liền Nơi động vật hoang dã đã tiến hóa và như không có chút sợ hãi nào đối với con người đây chính là một cảm giác thật khó so sánh
Khác với các VQG khác ở Equado và các nước Châu Mỹ la tinh khác, nơi có thể
có người sống hợp pháp hoặc không hợp pháp trong phạm vi được bảo vệ, người dân ở Galapagos không được phép sống trong VQG Họ tập trung ở khoảng 4% diện tích của
Trang 20quần đảo trên đất thuộc sở hữu tư nhân Hầu hết khách tham quan từ đất liền đi bằng máy bay đến các đảo, sau đó đi thăm thú bằng các tua du lịch được thiết kế sẵn
Sau mười năm đầu kể từ khi đón khách, chiến lược quản lý và hỗ trợ quản lý đầu tiên của VQG được thực hiện tương đối suôn sẻ với một số lượng nhỏ du khách và phát triển liên tục trong những năm 1970 Từ ban đầu có 7000 khách tham quan đến năm 1973
là 12000 khách, năm 1981 là 25000 khách và năm 1989 đã thu hút gần 42000 khách Sau
đó, sự sa sút của nền kinh tế khu vực đã dẫn đến việc giảm ngân sách của dịch vụ DLST
ở VQG Galapagos Nhưng với những biện pháp hữu hiệu cộng với sự hỗ trợ nỗ lực của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ môi trường toàn cầu đã làm vực lại sự phát triển DLST ở đây
Chuyến du lịch truyền thống ở đây là một chuyến đi chơi biển bằng tàu thủy kéo dài một tuần đến các điểm du lịch khác nhau Những năm gần đây Galapagos phải tiếp ngày càng tăng lượng khách tới thăm, Các nhà điều hành đã rất linh hoạt ngoài tour Du lịch truyền thống thì họ đã tổ chức các tour ngắn ngày hơn, thậm chí là 1 ngày, để nhằm phù hợp hơn với các đối tượng khách khác nhau Nhìn chung các hoạt động ở đây đã đem lại lợi nhuận cao cho VQG Galapagos và cộng đồng người dân ở đây Hiện có 6 Du thuyền, bốn tàu thủy (chở được từ 34 người đến 90 người), 75 thuyền máy lớn và 10 thuyền buồm những năm gần đây nhu cầu cấp phép hoạt động thuyền du lịch ở đây là rất lớn, đã có nhiều bất cập xảy ra trong hoạt động này song, Ban quản lý VQG và chính phủ Equador đã có những điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế phù hợp số lượng thuyền hoạt động Với nguồn thu 40 $ lệ phí vào VQG và nguồn phí từ các hoạt động của các nhà điều hành du lịch được dùng để phục vụ cho các hoạt động của Vườn và hỗ trợ các hoạt động bảo tồn ở các khu bảo tồn khác ở Equador, đây là những đóng góp đáng kể mà không phải các VQG khác trên thế giới làm được Hiện nay thì Galapagos đang được coi là mỏ vàng của Equador
Một số kinh nghiệm của việc phát triển DLST ở VQG Galapagos:
- Các hoạt động dịch vụ VQG đã được tổ chức tập huấn cẩn thận và được cấp chứng nhận cho các hướng dẫn viên, các hướng dẫn viên này sẽ đi cùng với tất cả các đoàn tham quan, vừa đóng vai trò hướng dẫn vừa kiểm soát các hoạt động không tốt cho môi trường của khách du lịch
- Phương tiện tham quan là đa phần bằng thuyền, các dịch vụ ăn nghỉ đều ở trên thuyền phần nào đã giảm tác động vào các khu vực tham quan của khách Khu tham quan
Trang 21thường ngắn và có ranh giới rõ ràng Các hành trình của chuyến tham quan đều được cố định và không được vào các khu vực chưa bị xâm nhập của các loài nhập nội
- Các phương tiện hoạt động dịch vụ ở VQG đều kiểm soát và cấp phép khá chặt chẽ
- Các hoạt động của VQG đều được phân vùng quản lý và chiến lược quản lý các hoạt động DLST
* DLST ở KBT Annapurna [7]
KBT Annapurna, Nê Pan được bao bọc bởi các ngọn núi thuộc loại cao nhất thế giới Là một khu vực có các điều kiện tự nhiên rất khác biệt Do các điều kiện khí hậu khác nhau, từ cận nhiệt đới tới ôn đới, sa mạc và khô khu vực này được thiên nhiên ban tặng cho những điều kiện tuyệt vời cho các loài động, thực vật quý hiếm phát triển như: loài Báo tuyết, Cừu xanh, hơn 100 chủng loại phong lan và một trong các khu rừng Đỗ quyên lớn nhất thế giới Phần lớn dân cư sống ở đây là tá điền, sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong khu vực và phát triển các hệ thống quản lý truyền thống của riêng họ
Trong vòng hai thập kỷ qua các hoạt động du lịch được triển khai ở vùng này và phát triển một cách chóng mặt đã làm nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây bị khai thác tới mức giới hạn và KBT đã rơi vào bờ vực của sự khủng hoảng
Hàng năm có hơn 36.000 khách ưu mạo hiểm đã tới Annapurna, để chiêm ngưỡng
vẻ đẹp của phong cảnh và thưởng thức sự độc đáo của các bản sắc văn hóa bản địa, tạo nguồn thu nhập lớn cho nhiều người ở cộng đồng địa phương, nhưng nó cũng đã tạo nên một số vấn đề về môi trường nghiêm trọng Rừng bị chặt hạ để làm nhiên liệu nấu ăn, sưởi
ấm và làm nhà nghỉ, sự ô nhiễm nguồn nước, hệ thống xử lý rác yếu đã làm rác lan tràn trên các tuyến đường và các khu có hoạt động du lịch, cộng thêm sự gia tăng dân số nhanh
Hoạt động du lịch sinh thái là một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ chính của
Nê Pan, nhưng lại không đếm xỉa đến những người dân địa phương Chính vì thế những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lại càng trở nên trầm trọng Trước những nhu cầu
đó mà năm 1986 đã xuất hiện dự án xây dựng khu bảo tồn Annapurna Dự án đề cập đồng thời 3 khía cạnh chính là: Bảo tồn thiên nhiên, phát triển nhân lực và quản lý du lịch
Trang 22Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường tự nhiên và văn hóa vùng Annapurna vì lợ ích của 40.000 dân cư trong vùng cũng như du khách quốc tế, song song với hoạt động nâng cao nhận thức của họ về sự mong manh của Môi trường
Các hoạt động đã chia ra làm 8 nhóm bao gồm: Bảo tồn rừng, các nguồn năng lượng thay thế, giáo dục bảo tồn, quản lý du lịch, phát triển cộng đồng, sức khỏe và vệ sinh cộng đồng, các ủy ban quản lý cộng đồng, nghiên cứu
Kết quả dự án sau 5 năm thực hiện, khắp nơi trên vùng Annapurna đã chứng kiến
sự thay đổi theo chiều hướng tốt trong việc bảo vệ môi trường, văn hóa bản địa, mức sống của người dân được nâng lên, khách du lịch có được cảm giác tốt hơn khi các dịch vụ được nâng lên, mặt khác họ hiểu được rằng du lịch sinh thái không chỉ là những trải nghiệm mà còn giúp cho đời sống người dân ở đây, giúp ích cho hoạt động bảo tồn, bảo
+ Cần thay đổi quan niệm của mọi người về bảo tồn và phát triển Giáo dục tuyên truyền để nâng cao nhận thức của các đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng tài nguyên đến các tầng lớp nhân dân
+ Cần có cơ chế quản lý phù hợp trong đó có sự tham gia của người dân địa phương theo phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" để có thể quản lý tài nguyên và hoạt động du lịch hiệu quả Đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ quan quản
lý Quản lý chặt chẽ việc cấp phép xây dựng và hoạt động của các cơ sở dịch vụ DLST, tránh tình trạng xây dựng ồ ạt, lấn chiếm đất, phá vỡ cảnh quan tự nhiên và làm mất cân đối cung cầu trong vùng dự án
+ Cần có chính sách phù hợp nhằm phân phối rộng rãi hơn thu nhập du lịch Thu nhập du lịch phải được sử dụng để duy trì hoạt động du lịch và phát triển cộng đồng địa phương, tránh tình trạng thu nhập chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ, còn đa số người dân địa phương không được hưởng lợi gì từ việc phát triển DLST
Trang 23+ Cần có phương án sử dụng các nguồn năng lượng sạch thay thế như: điện mặt trời, điện sản xuất bằng sức gió, thủy chiều vừa thay thế cho nhiên liệu gỗ, củi vừa giúp bảo vệ môi trường
+ Tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong các trường học, trong cộng đồng địa phương và khách du lịch Xây dựng mối quan hệ tương hỗ giữa khách du lịch và cộng đồng địa phương và cơ quan quản lý các đơn vị rừng đặc dụng nhằm bảo vệ tài nguyên và phát triển du lịch bền vững
+ Khôi phục và phát triển các nghề truyền thống của địa phương phục vụ nhu cầu của khách du lịch như: sản xuất đồ lưu niệm, chăn nuôi, trồng trọt Tạo ra và duy trì thu nhập cho người dân địa phương
1.4.3 Thực trạng du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia của Việt Nam
Các hoạt động DLST thường bao gồm: Nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái; tham quan, tìm hiểu đời sống động thực vật hoang dã, và văn hóa bản địa Tuy nhiên, du khách đến các VQG mới chỉ tiếp cận được các hệ sinh thái rừng, các loài thực vật, và một số loài côn trùng Một vài đoàn may mắn có thể gặp được khỉ vàng, Voọc còn đa phần là rất hiếm khi bắt gặp thú trong rừng Chỉ ở VQG Cát Tiên du khách có thể quan sát được một số loài thú lớn như hươu, nai, lợn rừng, cầy, chồn, nhím vào ban đêm Tại Cúc Phương đã xây dựng khu nuôi thú bán hoang dã để bảo tồn và phục vụ khách tham quan Khu cứu hộ các loài linh trưởng, trạm cứu hộ rùa và cầy vằn tại VQG Cúc Phương cũng là điểm dừng chân thú vị cho khách du lịch
Các hệ sinh thái đất ngập nước với nhiều loài chim nước và các loài thuỷ sinh cũng đang thu hút nhiều khách du lịch VQG Xuân Thuỷ, với hệ sinh thái rừng ngập mặn là nơi
cư trú của hàng trăm loài chim, nổi tiếng nhất là loài Cò thìa KBTTN Vân Long (Ninh Bình) bao gồm cả hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Tại đây
du khách có thể ngắm nhìn từng bầy Voọc mông trắng và quan sát nhiều loài sinh vật thuỷ sinh và các loài chim nước như Sâm cầm, Le le, Cò quăm, Vịt trời VQG Tràm chim là nơi bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên Đồng Tháp Mười với loài đặc hữu là Sếu đầu đỏ đã thu hút hàng nghìn khách du lịch mỗi năm
Các khu DLST biển nổi tiếng như Hòn Mun, Côn Đảo, Phú Quốc đã và đang có kế hoạch sử dụng tài nguyên sinh vật biển để phát triển nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn như xem rùa đẻ, khám phá các rạn san hô, và cỏ biển… [22]
Tuy có nhiều tiềm năng phát triển DLST song lượng khách đến các KBTTN Việt Nam còn rất thấp Theo báo cáo điều tra đánh giá hiện trạng bảo tồn thiên nhiên, giáo dục
Trang 24môi trường, DLST ở hệ thống các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam năm 2006 thì lượng khách du lịch đến các khu rừng đặc dụng trong một năm dưới 2.000 khách chiếm 44,7%; từ 2.000 - 10.000 khách chiếm 32% và trên 10.000 khách chiếm 21,4%
Theo số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu DLST ở Việt Nam (2009) thì phần lớn là khách du lịch đến các VQG và KBTTN là khách nội địa (chiếm tới 80% tổng lượng khách) và cũng chưa thể thống kê được có bao nhiêu khách là khách DLST đích thực Tuy nhiên có những điểm thu hút được đa số khách du lịch quốc tế, điển hình là KBTTN đất ngập nước Vân Long với trên 82,3% lượng khách đến tham quan du lịch là khách quốc tế Năm 2006, KBTTN Vân Long đã đón được trên 40.000 lượt khách
du lịch quốc tế [3]
Các công ty du lịch như Buffalow Tours, Exotissimo, Hanspand, Wild Lotus đã
và đang tổ chức thành công một số tour DLST đến các KBTTN và đã xây dựng được các trang web riêng để quảng bá, xúc tiến DLST cho riêng mình [22]
Một số mô hình DLST cộng đồng đã hình thành, như ở Bản Khanh (VQG Cúc Phương), Bản Pác Ngòi (VQG Ba Bể), thôn Chày Lập (VQG Phong Nha Kẻ Bàng), bản A Đon (VQG Bạch Mã),….Do khó khăn trong khâu tiếp thị nên chưa thu hút được nhiều khách du lịch, lợi ích mang lại cho người dân còn rất khiêm tốn
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ cho phát triển DLST đã được xây dựng nhưng chất lượng và số lượng còn rất hạn chế Nhiều khu DLST như VQG Cúc Phương, Bái Tử Long, Bạch Mã, Cát Tiên đã xây dựng trung tâm du khách/Trung tâm thông tin và các đường mòn thiên nhiên có các biển diễn giải Qua các hiện vật trưng bày là các tiêu bản động thực vật, các mô hình mô tả hệ sinh thái và nhiều thông tin, tài liệu trưng bày trong Trung tâm làm cho du khách đã thấy được sự ĐDSH và ý nghĩa của việc thành lập VQG Đây còn là nơi triển khai các hoạt động giáo dục môi trường cho khách tham quan và sinh viên, học sinh
Nhiều khóa tập huấn về DLST và giáo dục môi trường đã được các dự án, các tổ chức quốc tế (JICA, WWF, IUCN…), Cục Kiểm lâm và Hiệp hội VQG và KBTTN Việt Nam triển khai cho các đối tượng liên quan
Công tác quy hoạch phát triển DLST đã được tiến hành ở một số nơi như: VQG Cúc Phương, Ba Vì, Côn Đảo, Phong Nha Kẻ Bàng, Yokdon, Bạch Mã, …
Một số chính sách có liên quan đến phát triển DLST đã được ban hành, như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, nghị định 23 về hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng, quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính
Trang 25phủ ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quản lý các hoạt động DLST tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, song đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của các hoạt động DLST và bảo tồn thiên nhiên Tuy đã có một số chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân
có thể tham gia đầu tư và quản lý hoạt động DLST ở các VQG, nhưng cho đến nay hoạt động DLST ở các VQG chủ yếu vẫn do các VQG tự tổ chức, vận hành Lợi ích từ hoạt động DLST vẫn chưa đến được với những cộng đồng địa phương một cách đầy đủ
Trang 26Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và pham vị nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu
VQG Cát Bà nằm trên địa giới hành chính thuộc 6 xã và một thị Trấn: xã Gia Luận, Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Trân Châu, Việt Hải và thị trấn Cát Bà, cách thành phố Hải Phòng khoảng 45km
về phía Đông, cách thành phố Hạ Long 25
km về phía Nam, có toạ độ địa lý:
Từ 20044’ - 20055’ vĩ độ Bắc
Từ 106054’ - 107010’ kinh độ Đông Bao bọc xung quanh các xã trên và VQG là sông, biển
Phía Bắc và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi Lạch Ngăn và Lạch Đầu Xuôi của Quảng Ninh
Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải Phòng
xã Việt Hải) và các vùng đệm ngoài thuộc các 5 xã, 1 thị trấn
Vị trí địa lý VQG Cát Bà cực kỳ
S
VQG Cát Bà
Trang 27thuận lợi, chỉ cách thành phố Hải Phòng 45km cách thủ đô Hà Nội 150km và nằm bên cạnh Vịnh Hạ long - Di sản thiên nhiên thế giới, gần với khu du lịch Đồ Sơn
Thành phố Hải Phòng là đô thị lớn thứ ba của cả nước, được coi là một cực của tam giác động lực phát triển kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Về mặt hành chính, Cát Bà thuộc huyện Cát Hải - TP Hải Phòng, nhưng trên thực tế Cát Bà gắn liền với Vịnh Hạ Long và nằm ở cửa ngõ của đường giao thông biển quan trọng nhất của Miền Bắc
Chính vì vậy, khách thăm quan du lịch từ nơi khác đến, đặc biệt là những thành phố khu vực phía Bắc sẽ không tốn quá nhiều thời gian để có thể có những chuyến du lịch thưởng ngoạn thiên nhiên tại VQG Cát Bà, đến VQG Cát Bà với hai sự lựa chọn Đi bằng đường thủy với tàu cao tốc từ Bến Bính (Hải Phòng) mất khoảng 45 phút Đi qua vịnh Hạ Long với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp, nơi đây được tổ chức UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, đến vịnh Lan Hạ tuy nhỏ hơn nhưng có nhiều đảo đá vôi, xếp đan xen gần nhau trông rất hùng vĩ Nếu đi bằng đường bộ, xe ô tô từ Hải Phòng đến bến cảng Ðình Vũ, theo tầu cao tốc sang bến Cát Hải rồi xuyên qua VQG Cát Bà bằng ô tô trên đường dài 31 km (đường nhựa)
VQG Cát Bà có khoảng cách tới thủ đô Hà Nội tương đối gần - nơi có cửa khẩu quốc tế quan trọng nhất Miền Bắc Thêm nữa, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 5km
có sân bay quốc tế Cát Bi, với những định hướng mở rộng trong tương lai sẽ là một lợi thế lớn để phát triển du lịch
VQG Cát Bà còn là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát bà, được UNESCO công nhận năm 2004 Với những tiềm năng lợi thế đó nên VQG Cát Bà
có nhiều cơ hội để phát triển du lịch không chỉ mức độ trong nước mà còn cả trong khu vực và tầm cỡ thế giới
Để đạt được mục tiêu thì đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các dạng tài nguyên
có thể được khai thác phục vụ cho phát triển du lịch gồm các tài nguyên thiên nhiên (Hệ động thực vật, cảnh quan, suối, hồ, vịnh, biển…) và các dạng tài nguyên nhân văn là các
di tích văn hoá lịch sử, đền chùa, lễ hội phong tục tập quán,…Các giá trị có thể khai thác phục vụ cho phát triển du lịch
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với quản lý bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Bà, và các vùng phụ cận, cùng với các thể chế chính sách của việc phát triển du lịch sinh thái và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 28- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013, các số liệu cập nhật cố gắng thực hiện đến sát thời gian nghiên cứu, với mong muốn có những số liệu gần nhất, mới nhất nhằm đưa ra được định hướng sát thực cho việc phát triển DLST ở VQG Cát Bà
2.2 Nội dung nghiên cứu
a Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái ở VQG và KBTTN
b Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà Tài nguyên đa dạng sinh học, điều kiện dân sinh kinh tế của dân cư các xã vùng đệm Mối quan hệ của phát triển kinh tế với việc bảo vệ rừng bảo vệ đa dạng sinh học của khu vực
c Hiện trạng hoạt động du lịch gồm cơ cấu tổ chức của Vườn Quốc gia Cát Bà, tình hình nhân sự, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái (Nhà ở, khách sạn, nhà ăn uống, khu vui chơi giải trí, đường nội bộ, các dịch vụ khác…), Nhu cầu phát triển du lịch
d Định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn Quốc Gia Cát Bà gồm các giải pháp kĩ thuật (quy hoạch cơ sở vật chất phục vụ du lịch, lôi kéo cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch), giải pháp xã hội như giáo dục môi trường
2.3 Quan điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu đề xuất phát triển DLST hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững
- Coi con người là trung tâm của các vấn đề bảo tồn, phát triển du lịch sinh thái nhằm cải thiện sinh kế hỗ trợ cộng đồng địa phương
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận / Cách tiếp cận
* Tiếp cận hệ sinh thái
Tiếp cận hệ sinh thái đặt con người và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của họ hướng trực tiếp đến trọng tâm của việc ra quyết định Bởi vậy, tiếp cận hệ sinh thái có thể được sử dụng để tìm kiếm một sự cân bằng thích hợp giữa việc bảo vệ và sử dụng tính đa dạng sinh học ở những vùng có nhiều người sử dụng tài nguyên và các giá trị quan trọng của thiên nhiên Chính vì vậy nó thích hợp với các nhà chuyên môn và những người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các vùng bảo tồn, quy hoạch đô thị và nhiều lĩnh vực khác
Tiếp cận hệ sinh thái bao gồm 12 nguyên lý cơ bản [23]:
Trang 291 Những mục tiêu của quản lý đất, nước và môi trường sống là một vấn đề của sự lựa chọn xã hội
2 Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý phù hợp nhất và thấp nhất
3 Các nhà quản lý hệ sinh thái nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động họ thực hiện tới những hệ sinh thái lân cận và các hệ sinh thái khác
4 Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý, đó là sự cần thiết thường xuyên để hiểu được và quản lý hệ sinh thái trong một bối cảnh kinh tế
5 Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, để duy trì dịch vụ hệ sinh thái nên được xem là một mục tiêu ưu tiên của tiếp cận hệ sinh thái
6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi chức năng của nó
7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiên trong một pham vi không gian và thời gian phù hợp
8 Mục tiêu của quản lý hệ sinh thái nên được thiết lập cho dài hạn
9 Quản lý phải nhận ra sự thay đổi là không thể tránh khỏi
10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng thích hợp với sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học
11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét tất cả các dạng thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học, kiến thức bản địa, sự đổi mới và thực tiễn
12 Tiếp cận hệ sinh thái nên thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên quan của một xã hội và những kiến thức khoa học
Gill Shepherd đã đưa ra 5 bước thực hiện nhằm áp dụng tiếp cận hệ sinh thái vào thực tiễn một cách hiệu quả [23]
Bước A: Xác định các bên tham gia chính, định ranh giới hệ sinh thái và xây dựng mối liên hệ giữa chúng
Bước B: Mô tả đặc trưng cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái và xây dựng cơ chế quản lý, quan trắc hệ sinh thái
Bước C: Xác định những vấn đề kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các thành phần của nó
Bước D: Chỉ ra những ảnh hưởng có thể có của hệ sinh thái mục tiêu đối với các hệ sinh thái lân cận
Bước E: Đưa ra các mục tiêu dài hạn và những cách thực hiện mềm dẻo nhằm đạt được các muc tiêu đó
* Tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng
Trang 30Quản lý thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng địa phương
“Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà người sử dụng tài nguyên cũng đồng thời là người quản lý tài nguyên đó Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác có tính tập trung cao hoặc không có sự tham gia của cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình mà qua đó những cộng đồng địa phương được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế để họ có thể dành quyền kiểm soát hợp lý và tiếp cận một cách hợp pháp đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên Phương pháp này hiện nay được áp dụng khá rộng rãi nhằm quản lý tài nguyên một cách mềm dẻo và cân bằng mối quan hệ của người dân với quản lý tài nguyên
+ Các nguyên tắc quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng
- Tăng quyền lực cho cộng đồng địa phương
- Đảm bảo sự công bằng
- Tính hợp lý về sinh thái và phát triển bền vững
- Tôn trọng tri thức truyền thông/ bản địa
- Sự bình đẳng của giới
+ Các thành tố của quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng
- Cải thiện quyền hưởng dụng các nguồn tài nguyên
- Xây dựng nguồn nhân lực
* Tiếp cận hệ thống trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tiếp cận hệ thống nhấn mạnh vào việc xác định và mô tả mối liên kết giữa các yếu
tố cấu tạo nên hệ thống và tương tác giữa chúng Mỗi hệ thống là một tập hợp các thành tố tương tác với nhau, sự thay đổi của một thành tố sẽ dẫn đến thay đổi một thành tố khác, từ
đó dẫn đến thay đổi thành tố thứ ba… và do đó có thể làm thay đổi toàn bộ hệ thống Bất
cứ mối tương tác nào trong hệ thống cũng vừa có tính nguyên nhân, vừa có tính điều
Trang 31khiển Một cách khái quát, tiếp cận hệ thống là nhìn nhân thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng; đó là một tiếp cận động và toàn diện Cách tiếp cận này là cách xử lý biện chứng nhất với các vấn đề môi trường và phát triển – các hệ thống mềm
và nửa mềm Phân tích và tổng hợp hệ thống, mô hình và mô phỏng là các phương pháp, công cụ cụ thể được sử dụng trong tiếp cận hệ thống [22]
Tiếp cận hệ thống trong quản lý tài nguyên thiên nhiên coi tài nguyên thiên nhiên
là một bộ phận của hệ thống tự nhiên Sự tồn tại, vận động và biến đổi của nó chịu sự chi phối của các yếu tố tự nhiên, đồng thời nó cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế xã hội
* Khái niệm tài nguyên du lịch:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử di tích cách mạng, giá trị nhân văn công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” [5]
Như vậy tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch Và thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả của
du lịch mang lại càng cao bấy nhiêu
* Quan điểm về đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái:
Đây là hoạt động được tiến hành sau điều tra tài nguyên du lịch, nhằm nhận xét và giám định giá trị của tài nguyên du lịch theo một số tiêu chuẩn về tài nguyên đã chọn Do
đó đánh giá tài nguyên du lịch phải tuân theo những nguyên tắc sau:[11]
* Nguyên tắc thực tế khách quan: Tài nguyên du lịch tồn tại như những biểu hiện giá trị của chúng đối với con người thì phụ thuộc vào bản thân tài nguyên du lịch và trình
độ mở mang khai thác của con người Khi đánh giá phải xuất phát từ thực tế tài nguyên, trình độ mở mang khai thác của khu vực
* Nguyên tắc phù hợp với khoa học: Phải phù hợp với tiêu chuẩn khoa học Cần đem lại cho du khách những tri thức chính xác, có tính giáo dục, cần vận dụng lí luận và kiến thức nhiều mặt để giải thích và đánh giá một cách khoa học những nội dung cốt lõi của tài nguyên DLST
* Nguyên tắc hệ thống toàn diện: Tài nguyên du lịch muôn màu muôn vẻ vì thế có rất nhiều phương diện, nhiều thứ hạng, nhiều hình thức và nhiều nội dung quyết định đến
Trang 32giá trị và công dụng của tài nguyên du lịch Khi đánh giá tài nguyên du lịch cần phải xem xét tổng hợp, tiến hành đánh giá hệ thống một cách toàn diện và hoàn chỉnh
* Nguyên tắc khái quát cao độ: Khi đánh giá tài nguyên du lịch bất luận là đánh giá định tính hay định lượng thì những lời bình hay lời kết đều phải rõ ràng, cô đọng và khái quát cao độ được giá trị và công dụng, nét đặc sắc của tài nguyên du lịch để người xem có thể hiểu được ngay
* Nguyên tắc cố gắng định lượng: Khi đánh giá cần cố gắng hết sức giảm thái độ chủ quan, cố gắng đánh giá một cách thực tế hệ thống và toàn diện Do đó yêu cầu cố gắng đánh giá định lượng hoặc bán định lượng, thông qua các con số để đánh giá và so sánh
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu (tiến hành trước khi bước vào giai đoạn thực địa): đó là các tài liệu, số liệu, các báo cáo liên quan đến khu vực nghiên cứu như tài
liệu về Du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học trong nước và nước ngoài, các tài liệu liên quan đến khu nghiên cứu Các tài liệu này được thu thập trước khi tiến hành nghiên cứu trên thực địa
Sau khi thu thập số liệu tiến hành thống kê, phân tích và xử lý các số liệu nhằm tổng hợp khái quát những thông tin, lựa chọn những mô hình điển hình, những bài học kinh nghiệm để có một cái nhìn tổng quan trước khi đi nghiên cứu thực địa phục vụ các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài
b Các phương pháp nghiên cứu thực địa: là phương pháp nghiên cứu truyền thống có vai
trò quan trọng Quá trình thực hiện phương pháp nghiên cứu thực địa dựa chủ yếu là:
- Đánh giá nhanh tài nguyên Du lịch Sinh thái
- Đánh giá hiện trạng kinh tế – xã hội của khu vực
- Đi thực địa theo tuyến – khảo sát và đánh giá về hiện trạng tài nguyên du lịch: loài/ sinh cảnh/ cảnh quan
Phương pháp này được tiến hành sau khi có những phân tích, nhận định khái quát
về tài nguyên DLST ở VQG Cát Bà Cụ thể, tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa để đánh giá các tuyến tiềm năng Sử dụng máy ảnh để lưu giữ hiện trạng rừng, những phong cảnh
có giá trị tham quan, sự xuất hiện của các loài sinh vật…
c Sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng phiếu phỏng vấn (32 phiếu):
Trang 33Tác giả đã xây dựng phiếu phỏng vần gồm 2 trang dành cho du khách tham quan trong và ngoài nước, tập trung vào các câu hỏi tìm hiểu về sự hiểu biết, cảm nhận về DLST, những nhu cầu tham quan du lịch và mong muốn sự đáp ứng của khu vực, khả năng phát triển
Tận dụng thời gian khi khách dừng chân giải lao trên tuyến, nghỉ ngơi tại các điểm
du lịch, giải thích mục đích phỏng vấn, phát phiếu, dịch các câu hỏi sang tiếng Anh đối với khách nước ngoài du khách có thể lựa chọn và điền nhanh vào các câu trả lời theo phiếu phỏng vấn Các phiếu sâu phỏng vấn được tổng hợp lấy theo nhóm ý kiến và theo
đa số để phân tích
d Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu: một số đối tượng quan trọng bao gồm các cán bộ
cấp xã, huyện và kết hợp với tham vấn cán bộ của VQG Cát Bà, và những người dân địa phương sẽ là kênh thông tin hữu ích
Sử dụng những câu hỏi đơn giản, thiết thực, tập trung vào việc nhận thức giá trị, tiềm năng du lịch, những ảnh hưởng của du lịch đến cộng đồng, khả năng tham gia để
tổng hợp đánh giá
e Phương pháp tham vấn chuyên gia Tham vấn những người có chuyên môn sâu và hiểu
biết rộng đã và đang làm trong lĩnh vực du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học
g Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, rừng
và kết hợp kết quả thực địa: Sử dụng phần mềm Mapinfo, GPS để xác định vị trí các
tuyến điểm du lịch trong khu vực nghiên cứu
h Phân tích SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa)
Điểm mạnh và điểm yếu tập trung vào các yếu tố bên trong, trong khi các cơ hội và các mối đe dọa lại phản ánh những tác động của hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng tới tổ chức, cộng đồng hoặc hoạt động Điều này bao gồm cả các khía cạnh về văn hóa-xã hội, chính trị, kinh tế, môi trường, kỷ thuật và các khía cạnh khác Phương pháp phân tích SWOT có thể bổ sung cho các công cụ khác bao gồm cả phương pháp phân tích những người liên quan và thể chế
- Điểm mạnh (S): Những điểm tích cực của nhóm, hoạt động hay của khu vực
- Điểm yếu (W): Những điểm tiêu cực của nhóm, hoạt động hay của khu vực
- Cơ hội (O): Các yếu tố thuận lợi trong môi trường
- Mối đe dọa (T): Các yếu tố không thuận lợi trong môi trường
Mục đích:
Trang 34- Xác định các điểm mạnh, các cơ hội và cân nhắc cách làm tối ưu các ưu điểm đó, xác định những điểm yếu, mối đe dọa và cách khắc phục chúng
- Phân tích khả năng của các tổ chức dựa vào cộng đồng để thực hiện một dự án cụ thể
và tìm các lựa chọn để các dự án có hiệu quả hơn
- Đánh giá một tổ chức, một hoạt động hay vùng dự án cụ thể liên quan đến sử dụng những phương thức sau:
- Đánh giá khả năng của một tổ chức để thực hiện các hoạt động
- Đánh giá các vùng dự án tiềm năng cho các hoạt động
- Đánh giá những chương trình cụ thể liên quan đến các nhu cầu của cộng đồng
- Một công cụ được sử dụng như là một phần của các quy hoạch có tính chiến lược
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội Vườn quốc gia Cát Bà
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Địa hình
Cát Bà nằm trong vùng quần đảo đá vôi bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, những hòn đảo này kéo dài tạo thành hình cánh cung và song song với cánh cung Đông Triều Các hòn đảo có độ cao phổ biến từ 100 - 150m so mặt nước biển, nơi cao nhất thuộc đỉnh Cao Vọng 331m Các đảo nhỏ có đầy đủ các dạng địa hình của một miền Karst bị ngập nước Về cơ bản VQG Cát Bà có một số dạng địa hình sau:
+ Địa hình núi đá vôi: Kiểu địa hình này do quá trình Karst chia cắt tạo thành các đỉnh, các chóp với nhiều hình dáng khác nhau Kiểu địa hình này dốc đứng, độ cao phổ biến từ 100-300m Ở đây khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật diễn ra rất chậm chạp và vô cùng khó khăn
Trang 35+ Địa hình đồi đá phiến: Kiểu địa hình này chiếm một diện tích không đáng kể ở VQG Cát Bà So với địa hình núi đá vôi thì địa hình đồi đá phiến có sườn thoải, đỉnh tròn và thấp hơn núi đá vôi Khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật tốt hơn cũng như thành phần thực vật phong phú hơn nhiều so với kiểu địa hình núi đá vôi
+ Địa hình thung lũng giữa núi: Thung lũng giữa núi là những vùng trũng với nhiều hình dạng khác nhau, thường kéo dài theo các vỉa đá vôi và nối với nhau qua các sống đá thấp tạo thành máng trũng dài Thung lũng trong vùng có dáng khá bằng phẳng và được phủ bởi tàn tích của đá vôi Khả năng sinh trưởng các loài thực vật ở đây khá tốt so với hai vùng trên
+ Địa hình thung đá vôi: Kiểu địa hình này chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong VQG Cát Bà, chúng thường phân bố rải rác trong các vùng đá vôi, dạng địa hình này thường thiếu nước vào mùa khô và ngập úng vào mùa mưa Tuy nhiên một số thung đá vôi đã bị
cư dân ở đây khai phá để trồng cây ăn quả hay cây nông nghiệp từ nhiều năm trước
+ Kiểu địa hình bồi tụ ven biển: Được hình thành do quá trình bồi tụ do sông, địa hình này thường bằng phẳng và luôn chịu ảnh hưởng cả thuỷ triểu đồng thời thường xuyên bị ngập nước Dạng địa hình này rất thuận lợi cho các loài cây rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển
Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn các thành tạo đệ
tứ không phân chia tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng được hình thành do quá trình
Trang 36phù sa sông biển Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (>2m), dưới sâu hơn là phù sa hạt thô (độ sâu 5 - 10m) chủ yếu là sỏi cuội và cát Sát biển hơn (nơi hàng ngày chịu ảnh hưởng của thuỷ triều) có sú, vẹt, đước, trang, mắm, bần mọc dầy đặc phủ kín hầu hết diện tích này
- Đất Feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi (Tv) Diện tích: 900,2 ha Chúng được hình thành do sườn tích đất từ đỉnh và sườn núi trượt xuống Đất có màu vàng đỏ, thường
ẩm, tầng dầy từ 50 - 100m, có phản ứng trung tính, cấu tượng viên hơi chặt, thành phần cơ giới nặng, giầu mùn, phù hợp cho các thảm thực vật rừng phát triển Phân bố hầu hết các
xã trong quần đảo, đất thích hợp trồng cây ăn quả như Cam, Quýt, Nhãn Vải
- Đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc tụ hỗn hợp (Th): Diện tích 1.001,5 ha Đất màu nâu vàng, có phản ứng trung bình, ít chua, giàu mùn, thường bị khô hạn vào mùa khô, nơi thấp có thể bị úng nước tạm thời vào ngày mưa lớn Phân bố ở các thung lũng rộng có nước chảy trên mặt như thung lũng Trung Trang, Việt Hải, Gia Luận, Đồng Cỏ Đất này đã được sử dụng để trồng rừng, cây ăn quả và hoa màu
- Đất dốc tụ thung lũng(Tl): Diện tích: 342,5 ha Đất có màu nâu đến vàng nhạt, tầng dày 80 - 100 cm Giầu mùn, có phản ứng trung tính đến chua Mùa mưa có thể bị ngập nước tạm thời, mùa khô thiếu nước Được phân bố trong các thung lũng, giếng Karst.Một số diện tích đã được khai phá trồng lúa và hoa màu
- Đất bồi chua mặn (Db): Diện tích: 42,5 ha Đất này là loại đất hỗn hợp biển, đầm lầy ở bãi triều cao Phân bố ở xã Xuân Đám về phía biển, sau này được đắp đê ngăn mặn, cải tạo để cây lúa 1 - 2 vụ
- Đất mặn Sú vẹt (D4 P2 ): Diện tích: 826,7 ha Đặc điểm: Bùn lỏng, ảnh hưởng của thuỷ triều, rất mặn Phân bố tập trung chủ yếu vùng Cái Viềng, Phù Long và rải rác ở vài nơi quanh đảo (thuộc bãi triều thấp) Tại đây hình thành rừng ngập mặn khá tốt và là hệ sinh thái độc đáo của đảo Cát Bà
Trang 37c Khí hậu thuỷ văn
* Khí hậu
Khí hậu vùng Cát Bà thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, do sự khác biệt về địa hình, mức độ ảnh hưởng của biển, lớp phủ thực bì nhất là hoạt động của các khối khí đoàn, chế độ gió, độ ẩm, chế độ nhiệt, bức xạ, bão và chế độ nước dâng do bão Ảnh hưởng rất lớn đến chế độ khí hậu ở Cát Bà Qua số liệu khí hậu tại một số trạm khí tượng thuỷ văn như: Bạch Long Vĩ, Cô tô, Hòn Gai, Phủ Liễn và Hòn Dấu cung cấp thì đặc trưng về chế độ khí hậu tại Cát Bà như sau:
- Tính chất nhiệt đới, có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10)
và một mùa đông lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
- Tính biến động thường xuyên của thời tiết và khí hậu do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau Khi không khí lạnh tràn về thì chỉ sau 1 ngày đêm (24 tiếng đồng hồ) nhiệt độ không khí có thể giảm từ 8 - 10 oC Khi áp thấp nóng phía Tây xâm lấn thì thời tiết rất khô nóng, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 37 - 40
oC Khi không khí xích đạo chi phối mạnh lại gây nên thời tiết nóng, ẩm, dễ có dông và mưa lớn do áp thấp nhiệt đới hoặc bão
- Là đảo ven bờ, khu vực Cát Bà còn chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh của biển dưới tác động của chế độ gió đất - biển có tác dụng điều hòa khí hậu, tạo nên mùa đông ẩm hơn và mùa hè mát hơn so với đất liền
* Thuỷ văn
+ Đặc điểm thủy văn:
Cát Bà là quần đảo đá vôi, gần như hệ thống sông suối trên đảo không phát triển Những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn mưa và ngừng ngay sau khi mưa Vào mùa mưa, nước đọng lại ở một số vùng nhỏ, thấm dột trong những hang động Tuy rất ít, nhưng đây lại là nguồn nước khá thường xuyên cho động thực vật trên đảo Trên một số đảo nhỏ hoặc ven đảo lớn Cát Bà, nơi có nứt gãy kiến tạo chạy qua có xuất hiện "nước xuất Lộ" với dung lượng từ vài lít đến vài chục lít mỗi ngày Nguồn nước xuất lộ lớn nhất
ở suối Thuồng Luồng có lưu lượng trung bình 5 lít/s (mùa mưa 7,5 lít/s), mùa khô 2,5 l/s) Cát Bà có các túi nước ngầm, nguồn gốc thấm đọng từ nước mưa (đã khai thác 6 giếng khoan, trữ lượng khoảng 1.500 - 2.000m3/ ngày, mức độ khai thác cho phép khoảng 1.000m3/ ngày
Hệ thống suối ở Cát Bà gồm các con suối sau:
- Suối Thuồng Luồng (xã Trân Châu): Lưu lượng khá tốt, chảy quanh năm cung cấp đủ nước cho sinh hoạt
Trang 38- Suối Trung Trang: Nguồn nước nhỏ, có nhiều nước trong mùa mưa, lưu lượng về mùa khô chỉ đạt khoảng 0,11 lít/giây
- Suối Treo Cơm mùa mưa nhiều nước, về mùa khô lưu lượng nước chỉ đạt 2,6 lít/giây
Ngoài các suối này còn có nguồn nước Ao Ếch là hồ nước thiên nhiên trên núi đá vôi, nằm giữa khu vực rừng nguyên sinh Diện tích khoảng trên 3,6 ha, quanh năm có nước, mức nước bình quân đạt trên dưới 30cm, trữ lượng nước khoảng 10.000 m3
Một số áng cũng có nước quanh năm như áng Bèo, áng Bợ, áng Thẳm, áng Vẹm, Nhìn chung do cấu trúc địa hình vùng núi đá vôi, nên trong vùng này hầu như không có dòng suối nào có nước quanh năm Nguồn nước ngầm khá sâu tồn tại dưới dạng giếng Karst và sông biển Tuy chưa có số liệu thăm dò nhưng qua dự đoán của các nhà chuyên môn thì nguồn nước ngầm khá phong phú Nước chủ yếu nằm trong lớp phủ trầm tích, khả năng chứa nước của đá gốc là khá lớn
Khó khăn lớn nhất cho VQG Cát Bà nói riêng, quần đảo Cát Bà nói chung là thiếu nước ngọt cho cả sinh hoạt lẫn tưới tiêu trong sản xuất Trong tương lai khi kinh tế phát triển việc khan hiếm nước ngọt càng trở nên bức xúc hơn, cần đầu tư cho công tác điều tra, thăm dò để tìm kiếm các mỏ nước ngầm có trữ lượng cao, để khai thác sử dụng
+ Đặc điểm hải văn:
Thủy triều có tính nhật triều rõ ràng (trong một ngày đêm có 1 lần nước lớn và 1 lần nước ròng) Biên độ cực đại gần 4m Do ảnh hưởng của địa hình nên thường chậm pha hơn Hòn Dấu đến 30'
Mỗi tháng có 2 kỳ nước cường (mỗi kỳ 11 - 13 ngày) Biên độ giao động 2,6 - 3,6m, xen kẽ là 2 kỳ nước kém (mỗi kỳ 3 - 4 ngày, có biên độ 0,5 - 1m) Trong năm, biên
độ triều lớn vào các tháng 6, 7 và 11, 12 Nhỏ vào các tháng 3, 4 và 8, 9
Sóng vùng Cát Bà thường nhỏ, chủ yếu theo hướng Đông Bắc và Đông Nam Trung bình 0,5 - 1m Lớn nhất có thể đạt tới 2,8m
Dòng chảy vùng đảo Cát Bà khá phức tạp, tốc độ trung bình 8 - 12 cm/s và có thể đến 50 cm/s ở các lạch hẹp Chịu ảnh hưởng của dòng chảy mùa, nên có độ đục cao vào mùa hè do dòng nước đục từ Đồ Sơn lên (hướng Tây Nam) Vùng ven bờ Cát Hải dòng triều lên đến Gia Lộc rẽ thành 2 nhánh; chảy về bến Gót ở bên phải và chảy về Hoàng Châu về bên trái với tốc độ cực đại 90cm/s Dòng triều xuống có hướng ngược lại
Nhìn chung điều kiện khí tượng thủy văn bao gồm cả thủy văn biển ở đây thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và dịch vụ du lịch của quần đảo Cát Bà Trong tương lai có thể Cát Bà và vịnh Hạ Long sẽ trở thành vùng kinh tế du lịch và môi trường phát triển mạnh nhất, có tầm cỡ quốc gia và quốc tế
Trang 39d Tai biến thiên nhiên
Cát Bà nằm trong vùng quần đảo đá vôi bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, những hòn đảo này kéo dài tạo thành hình cánh cung và song song với cánh cung Đông Triều Các hòn đảo có độ cao phổ biến từ 100 - 150m so mặt nước biển, nơi cao nhất thuộc đỉnh Cao Vọng 331m Các đảo nhỏ có đầy đủ các dạng địa hình của một miền Karst
kẽ với đá vôi silic Miền Karst ngập nước biển dưới tác động của nước mặt và nước ngầm
đã tạo ra một hệ thống các hang động ở các độ cao khác nhau (4m, 15m và 25 - 30m)
3.1.2 Dân sinh kinh tế
a Dân số
Dân số đảo Cát Bà năm 2004 là 13.573 người, đến năm 2010 là 14.110 người, tốc
độ tăng bình quân đạt khoảng 0,6 - 0,7%/năm
Dân cư phân bố không đồng đều với mật độ bình quân các xã vùng đệm: 132 người/km2, mật độ này thấp hơn so với mật độ bình quân của huyện Cát Hải là 207 người/km2 Mật độ cao nhất là Thị trấn Cát Bà với 4.778 người/km2 và thấp nhất là xã Việt Hải 7 người/km2
Trong phạm vi ranh giới Vườn quốc gia Cát Bà dân cư chủ yếu sống trong vùng đệm, chỉ có khu vực làng Việt Hải là giáp với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Lao động trong ngành thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao nhất, ngành du lịch chiếm tỷ trọng thấp
b Kinh tế nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế của huyện Ngành này đang từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hoá Các sản phẩm chủ yếu là lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, rau xanh, hoa quả tươi, gia súc gia cầm
Hiện nay, các mô hình vườn đồi và chăn nuôi ngày càng trở nên phổ biến trong khu vực đảo Cát Bà và đã mang lại hiệu quả tương đối cao Hướng sản xuất theo mô hình này tập trung vào các loài cây (vải, nhãn, hồng), con (dê, lợn, gia cầm) có giá trị kinh tế cao, phục
vụ nhu cầu tại chỗ, nhất là nhu cầu khách du lịch Việc ứng dụng mô hình này đang góp
Trang 40phần làm tăng đáng kể giá trị sản xuất ngành chăn nuôi cho khu vực đảo trong những năm gần đây
c Kinh tế lâm nghiệp
Từ năm 2000 trên địa bàn vùng đệm VQG Cát Bà đã tiến hành giao đất lâm nghiệp cho người dân địa phương bao gồm đất rừng trồng và rừng tự nhiên Tuy nhiên, trên thực thế còn những bất cập về ranh giới (thực địa và giấy tờ có sự khác biệt), thiếu rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ của người dân đối với đất rừng… do đó mục tiêu và hiệu quả chưa cao
Hiện nay, Vườn quốc gia Cát Bà, Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà-ZGAP đã phối hợp với các cơ quan chính quyền địa phương tiến hành rà soát về đất lâm nghiệp đã được giao cho người dân trên địa bàn các xã
Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của người dân trên địa bàn chủ yếu là khai thác củi, mật ong
- Củi được khai thác phục vụ nhu cầu chất đốt trong gia đình Nguồn khai thác chủ yếu từ vườn nhà, những diện tích rừng đã được giao cho người dân địa phương và từ trong vùng lõi VQG Cát Bà Việc khai thác củi đun bất hợp pháp trong vùng lõi đã tác động không nhỏ đến thảm thực vật rừng, làm ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài động vật trong rừng
- Mật Ong được khai thác chủ yếu với mục đích thương mại đã tạo ra nguồn thu nhập tương đối lớn cho người dân địa phương Mật Ong khai thác tự nhiên có giá trị kinh
tế cao, (giá hiện nay 1.000.000 – 1.500.000đồng/1 chai) song viêc khai thác mang lại nhiều tác động tiêu cực và nguy hiểm đối với rừng Nguyên nhân là do việc khai thác mật Ong tự nhiên cần phải dùng lửa để xua đuổi đàn ong khi lấy mật vừa tác động xấu đến cảnh quan vừa là một trong những tác nhân gây cháy rừng Đặc biệt khi xảy ra cháy rừng trên núi đá vôi thì việc khống chế ngọn lửa là rất khó thực hiện
Ngoài ra, người dân có thu nhập bất hợp pháp nhỏ khác thông qua một số hộ có hoạt động săn bắt các loài động vật như dùng lưới đánh bắt chim Quốc vào mùa di cư ở xã Xuân Đám; săn bắt tắc kè, rắn, chim, thú xảy ra rải rác trên toàn khu vực Hiện tượng săn bẫy động vật hoang dã xảy ra dưới các hình thức tinh vi hơn làm giảm số lượng động vật Đặc biệt là loài Sơn Dương còn rất ít, số lượng lồng bè nuôi trồng thủy sản tiếp tục gia tăng, diễn biến phức tạp tại các điểm trên vịnh Cát Bà, Lan Hạ…
d Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Hoạt động khai thác thúy sản tự nhiên hiện tại thu hẹp do sản lượng tự nhiên giảm, các quy định của nhà nước… hiện tại sản xuất thủy sản chủ yếu là nuôi trồng nhân tạo