1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG THÔNG QUA LẬP KẾ HOẠCH XÂY DỰNG MỨC GIẢM PHÁT THẢI HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VÙNG SINH THÁI NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG BỘ

93 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các hợp phần của Đề xuất:  Hợp phần 1: Tổ chức và tham vấn: Các nhóm kỹ thuật và các tiểu nhóm kỹ thuật TWG đã được thành lập, quy trình tham vấn đã được triển khai; các hội thảo t

Trang 1

Qũy Đối tác các-bon trong lâm nghiệp (FCPF)

Quỹ các-bon

Đề xuất ý tưởng tham gia Quỹ các-bon (ER-PIN)

Quốc gia: VIỆT NAM

Tên Chương trình Giảm phát thải:

QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG THÔNG QUA LẬP KẾ HOẠCH XÂY DỰNG MỨC GIẢM PHÁT THẢI HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VÙNG SINH THÁI NÔNG

NGHIỆP BẮC TRUNG BỘ

Ngày nộp/chỉnh sửa: 26 tháng 5 năm 2014

Tuyên bố không thừa nhận

“Ngân hàng Thế giới không đảm bảo về độ chính xác của những dữ liệu của tài liệu Đề xuất ý tưởng tham gia Quỹ các-bon (ER-PIN) do Các nước thành viên REDD+ nộp và sẽ không chịu trách nhiệm gì đối với

bất cứ hậu quả nào gây ra bởi việc sử dụng những dữ liệu ở đây Các ranh giới, màu sắc, tên gọi và những thông tin khác được trình bày trên bất cứ bản đồ nào của ER-PIN không có hàm ý nào từ phía Ngân hàng Thế giới đối với tư cách pháp lý của bất cứ lãnh thổ hoặc hàm ý về sự đồng thuận hoặc chấp nhận những ranh giới đó

Ban thư ký (FMT) của Quỹ các-bon trong lâm nghiệp (FCPF) và các nước thành viên của REDD+ sẽ

công bố rộng rãi tài liệu này theo Chính sách Tiếp cận thông tin của Ngân hàng Thế giới và Hướng dẫn

Công bố thông tin của FMT-FCPF

Trang 2

1 Tên cơ quan chịu trách nhiệm quản lý Chương trình Giảm phát thải

1.1 Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý Chương trình Giảm phát thải

Hãy cung cấp thông tin liên lạc của tổ chức và các nhân chịu trách nhiệm đề xuất và điều phối Chương

trình Giảm phát thải

Tên cơ quan quản lý Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT)

Mô tả loại hình cơ quan Cơ quan nhà nước

Người liên lạc chính Ngài/Tiến sĩ Cao Đức Phát

Địa chỉ trang web http://www.Bộ NN&PTNT.gov.vn

1.2 Liệt kê danh sách các đơn vị đối tác và các tổ chức tham gia Chương trình Giảm phát thải

Hãy liệt kê những cơ quan/đơn vị đối tác, các tổ chức hiện đang tham gia xây dựng Chương trình Giảm

phát thảihoặc có chức năng thi hành về mặt tài chính, triển khai, điều phối và kiểm soát các hoạt động

của Chương trình Giảm phát thải Thêm dòng nếu cần

Tên đối tác Người liên hệ, số điện thoại

Chịu trách nhiệm về mặt chiến lược và tính hợp lý của Chương trình Giảm phát thải, cung cấp thông tin về dự án FCPF

Quỹ Bảo vệ và phát triển

rừng Việt Nam (Được chính

thức thành lập vào 2010)

Ông Phạm Hồng Lượng luong_phamhong71@yahoo.com

Thiết kế tổ chức thể chế cho Chương trình

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ông Đinh Ngọc Minh Thành viên của Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia

Cơ quan đầu mối quốc gia của

UNFCCC-Bộ Tài nguyên và

Môi trường

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hiếu ngkhachieu@yahoo.com

Thành viên của Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia

Ủy ban dân tộc và miền núi Ông Nguyễn Văn Xuân Thành viên của Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia

Bộ Tài chính Ông Nguyễn Mạnh Hòa Thành viên của Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng,

tỉnh Thanh Hóa

Ông Lê Công Cường

lecuongtccb@gmail.com

Đại diện tỉnh Chi cục lâm nghiệp, tỉnh Nghệ

Trị

Ông Lê Văn Quý

lequy1957@gmail.com

Đại diện tỉnh

Trang 3

Sở NN&PTNT-Tỉnh Thừa Thiên Huế Ông Tạ Văn Tuân

KGoslee@WINROCK.ORG

Cố vấn kỹ thuật Hiệp hội lâm nghiệp Việt Nam Bà Phạm Minh Thoa

Thoa.dof@gmail.com

Đóng góp ý kiến để xây dựng hệ thống chia sẻ lợi ích

Hiệp hội lâm nghiệp Việt Nam Ông Đoàn Diễm

doandiem0142@gmail.com

Đóng góp ý kiến về các nhân tố gây mất rừng và suy thoái rừng Trung tâm nghiên cứu và phát triển

vùng cao (CERDA)

Bà Vũ Thị Hiền tranvuhientk@gmail.com

Chia sẻ thông tin các bên liên quan, tham vấn, tham gia

Trung tâm vì sự phát triển bền vững

miền núi (CSDM)

Bà Lương Thị Trường lt.truong@csdm.vn

Chia sẻ thông tin các bên liên quan, tham vấn, tham gia

dienfipi@gmail.com

Hỗ trợ kỹ thuật về việc xây dựng và ước tính mức phát thải cơ sở Viện Điều tra quy hoạch rừng Tiến sĩ Nguyễn Đình Hùng

Dinhhung28@yahoo.com

Hỗ trợ kỹ thuật xây dựng hệ thống giám sát rừng

Viện Điều tra quy hoạch rừng Ông Nguyễn Quang Vinh

vinhfipi@gmail.com

Hỗ trợ kỹ thuật xây dựng hệ thống giám sát rừng

MẠNG LƯỚI NGÀNH TƯ NHÂN VÀ CÁC ĐỐI TÁC

H

Điện thoại: 08 3836 4788/66; Fax: 08 3836

4722

Hỗ trợ quy trình cấp chứng chỉ rừng Hiệp hội chế biến gỗ và thủ công mỹ

nghệ thành phố Hồ Chí Minh

Website: hawa.com.vn;

Email: hawavn@gmail.com BàHieu (0944 736 530), Bà Kim (0988 002 616) Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam

VIFORES

Website: Vietfores.org Hỗ trợ quy trình cấp chứng chỉ rừng Mạng lưới lâm sản toàn cầu Người liên hệ: Lê Công Uẩn Hỗ trợ quy trình cấp chứng chỉ rừng GFTN-Điều phối viên Việt Nam Email:

uan.lecong@wwfgreatermekong.org

D13, làng quốc tế Thăng Long, Quận

Cầu Giấy

IPO Box 151 Hanoi, Vietnam

Fax: 84-4-3719-3048

Trang 4

1 Quyền hạn của cơ quan đầu mối về REDD+ quốc gia

Hãy cung cấp thông tin về cơ quan và cá nhân đóng vai trò đầu mối về REDD+ và phê duyệt Chương trình Giảm phát thải, hoặc với đối tượng đang tham gia thảo luận

Tên cơ quan Văn phòng REDD+ tại Việt Nam (VRO)

Người liên lạc chính Tiến sĩ Nguyễn Phú Hùng

Địa chỉ Room 409, B9 building, No 2 Ngoc Ha, Hanoi, Vietnam

2.1 Việc phê duyệt Chương trình Giảm phát thảibởi chính phủ

Hãy cung cấp phê duyệt bằng văn bản đối với Chương trình Giảm phát thảibởi các lãnh đạo đại diện cho các quốc gia Thành viên REDD (đính kèm tài liệu với ER-PIN này) Hãy giải thích thêm nếu những quy trình quốc gia để phê duyệt Chương trình này thuộc thẩm quyền của cơ quan đầu mối về REDD+ của quốc gia và/hoặc những cơ quan nhà nước khác sẽ hoàn thiện hoặc thay đổi Chương trình và điều đó có thể ảnh hưởng như thế nào tới tình trạng của các văn bản đính kèm này Chương trình Giảm phát thảiphải được thiết lập ở một Quốc gia Thành viên REDD đã tham gia ký kết hiệp định Tài trợ Chuẩn bị Sẵn sàng (hoặc tương đương) với một Đối tác Tiếp nhận từ Quỹ Sẵn sàng và đã chuẩn bị một dòng thời gian hợp lý và khả thi để nộp Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam lên Ủy ban các Quốc gia thành viên

ER-PIN được Tổng cục lâm nghiệp xây dựng, dưới dự điều phối của Văn phòng REDD+ Việt Nam (VRO) Tài liệu ER-PIN được Bộ trưởng Bộ NN&PTNT phê duyệt, quá trình xây dựng tài liệu này đã phải trải qua rất nhiều lần tham vấn với Ban chỉ đạo Quốc gia về REDD+ và các hội thảo tham vấn cấp quốc gia và tại các địa phương Tại Việt Nam, Ban chỉ đạo Quốc gia về REDD+ gồm có những đại diện từ những bộ ngành hữu quan, do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT chủ trì, nhằm chỉ đạo việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động REDD+ quốc gia (NRAP) và bất cứ hợp phần nào liên quan, đồng thời đề xuất những chính sách và giải pháp phù hợp đối với những vấn đề REDD+ cũng như tín chỉ các-bon

 Quyết định số 403/QD-TTg tháng 3 năm 2014 phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh tại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2020;

 Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 5/12/2011, phê duyệt Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu; và

 Quyết định 799/QĐ-TTg, ngày 27/6/2012, phê duyệt Kế hoạch hành động Quốc gia về REDD+ (NRAP)

Rõ ràng đã có những cam kết chính trị mạnh mẽ như Chính sách chi trả dịch vụ môi trường (PFES) Đây là một chính sách mới và được xem là một bước đột phá trong công tác quản lý và phát triển rừng và đã thiết lập các khung thể chế, pháp lý nhằm tăng cường nguồn thu bổ sung cho đầu tư rừng ở Việt Nam

Chính phủ cũng cho thấy sự cam kết thông qua việc thực thi hàng loạt những chính sách liên quan và cân nhắc đầu tư vào ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm giải quyết những nhân tố chính gây biến đổi rừng, và hỗ trợ công tác chuẩn bị sẵn sàng thực thi REDD+ (quy chế, Hệ thống giám sát rừng (FMS),

Hệ thống phân bổ lợi ích (BDS))

Trang 5

2 BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC VÀ TÍNH HỢP LÝ CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIẢM PHÁT THẢI

3.1 Tóm tắt những thành tựu chính của các hoạt động chuẩn bị sẵn sàng ở trong nước tính đến nay

Hãy cập nhật tóm tắt những hoạt động chuẩn bị sẵn sàng, theo hạng mục hợp phần của Đề xuất (R-PP) Nếu như đã có thông tin được công bố về tiến độ, hãy tham khảo và đưa đường dẫn

Hiện nay có 23 dự án hoạt động về REDD đã và đang được triển khai trong cả nước Dự án lớn nhất là Chương trình UN-REDD pha II từ năm 2013-2015, do Chính phủ Na Uy tài trợ, Chương trình này đã thiết lập mạng lưới REDD+ tại 06 tỉnh dự án đó là Lào Cai, Bắc Kan, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng và Cà Mau Mục tiêu chung của dự án là tăng cường năng lực của Việt Nam để có thể nhận được chi trả các-bon dựa vào các kết quả hoạt động REDD+ và tiến hành đổi mới ngành lâm nghiệp Những dự án chính liên quan tới REDD được trình bày chi tiết dưới đây và chi tiết có thể xem tại trang web về REDD+ của Việt Nam, đó là: www.vietnam-redd.org

Theo các hợp phần của Đề xuất:

 Hợp phần 1: Tổ chức và tham vấn: Các nhóm kỹ thuật và các tiểu nhóm kỹ thuật (TWG) đã được thành lập, quy trình tham vấn đã được triển khai; các hội thảo tập huấn đang diễn ra ở cấp tỉnh và một số hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình UNREDD pha II;

 Hợp phần 2: Chuẩn bị Chiến lược REDD+: Tóm tắt đánh giá những nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng vì đó là một phần hoạt động của quy trình ER-PIN, SESA và ESMF chưa được hoàn thành nhưng đã có một số hoạt động hỗ trợ cho quy trình SESA như phân tích những kẽ hở, thiếu sót về mặt pháp

lý và chính sách liên quan tới REDD+;

 Hợp phần 3: Xây dựng Kịch bản tham chiếu: Một mức tham chiếu ban đầu đã được thiết lập với sự hỗ trợ của Chương trình UN-REDD và JICA;

 Hợp phần 4: Thiết kế một hệ thống giám sát: Các phần của hệ thống Đo lường báo cáo thẩm định (MRV)

đã được thí điểm trong Chương trình UN-REDD, và trong quy trình đánh giá rừng quốc gia, thông qua Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV);

 Hợp phần 5 và 6: Lịch trình và ngân sách, thiết kế một khung Giám sát đánh giá (M&E): Một dự toán chi tiết, kế hoạch hoạt động, một kế hoạch tham vấn đã được thiết lập

3.2 Hiện trạng của Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam và dự tính ngày nộp cho Ủy ban các nước thành viên REDD (FCPF) (PC) (gồm có Mức phát thải tham chiếu

REL/FRL, Chiến lược REDD+, Hệ thống giám sát REDD+ quốc gia và Khung quản lý môi trường và

xã hội (ESMF)

Việc triển khai dự án Quỹ Đối tác các-bon trong lâm nghiệp đã được tiến hành và bị chậm trễ so với tiến độ đề

ra, tuy nhiên, những hoạt động đã được tiến hành tại 03 tỉnh thí điểm Quảng Bình, Quảng Trị và Dak Nông,

đã xây dựng được một kế hoạch hoạt động và kế hoạch đấu thầu, việc nộp Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam sẽ có thể tiến hành vào khoảng tháng 11/12 năm 2015 Những mốc quan trọng

để hoàn thiện Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam được trình bày trong bảng tóm tắt hoạt động dưới đây:

Bảng 3.1 Tóm tắt lộ trình của các dự án và những ý tưởng hỗ trợ phương pháp thực hiện REDD+ và thực trạng chuẩn bị cho Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam

Chương trình hay

hoạt động

UNREDD Pha I 2009- Nov 2012 Báo cáo bài học kinh nghiệm 2012; Đánh giá hiệu quả của

hoạt động nâng cao nhận thức của Chương trình UN-REDD tại Việt Nam (2009-2011) tháng 6 năm 2012

Quản lý rừng cộng đồng

(CFM)

Trước năm 2010 nhưng đang diễn

Trang 6

Chính sách và thể chế Chi

trả dịch vụ môi trường rừng

(PFES) được phê duyệt

2011 Nghị định 99 hướng dẫn triển khai PFES trong cả nước vào năm 2011

Sau khi đã triển khai thí điểm tại Lâm Đồng và Sơn La từ năm 2010 UN-REDD Pha II 2012 trở đi Phê duyệt của chính phủ từ tháng 7 năm 2013; kết quả đầu ra và

kinh nghiệm được đưa vào ER-PIN Lập bản đồ rừng và tính

toán mức tham chiếu (RL)

2012 Nghiên cứu chi tiết do JICA tài trợ Báo cáo nghiên cứu tiềm

năng rừng và đất đai liên quan tới rừng và biến đổi khí hậu

Dữ liệu được sử dụng trong ER- PIN và nghiên cứu về nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng

Triển khai dự án rừng và

đồng bằng (VFD)

(dự án hỗ trợ REDD+)

2012 Triển khai các chiến dịch biến đổi khí hậu lồng ghép vào kế hoạch

hành động về biến đổi khí hậu, sử dụng đất , hỗ trợ các lãnh đạo xây dựng kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh Phạm vi công việc, gồm có một đánh giá về hoạt động dự án, đối với những nhân

tố gây mất rừng, suy thoái rừng, PFES ở Thanh Hóa và Nghệ An (cộng thêm 2 tỉnh không thuộc Chương trình Giảm phát thải) Đồng quản lý tại các rừng

của khu bảo tồn (SUF) và

chia sẻ lợi ích

2012 Thí điểm thể chế về chia sẻ lợi ích và đồng quản lý tại các rừng

đặc dụng; những bài học kinh nghiệm về REDD+ và đã được

sử dụng trong SESA Phân tích những thiếu sót

của chính sách, pháp lý

2013 trở đi Phân tích và báo cáo về những kẽ hở, xây dựng phương pháp

để thực hiện, theo dõi Thông tin sẽ được đưa vào SESA

Những hoạt động liên

quan tới FLEGT (Thương

mại, quản trị và thực thi

2012-trở đi Phân tích các nhân tố, điều kiện KT-XH, Cơ chế tham vấn tự do,

biết trước, được thông tin và đồng thuận (FPIC) và những quy trình bảo đảm an toàn do GIZ hỗ trợ; thông tin sẽ được đưa vào SESA và sẽ tìm hiểu, nghiên cứu về các nhân tố gây mất rừng, suy thoái rừng

Những hoạt động chuẩn bị

sẵn sàng bắt đầu được

triển khai

Cuối 2012 trở đi Đã bắt đầu từ 2013 để thiết kế và triển khai Đề xuất Chuẩn bị

sẵn sàng, các kế hoạch hoạt động, ngân sách và kế hoạch đấu thầu đã được xây dựng và phê duyệt

Dự thảo kế hoạch tham

vấn và truyền thông

Tháng 4/2014 Hướng dẫn về chiến lược truyền thông và sự tham gia của các

bên liên quan

Đã có tháng 4 năm 2014, thông tin và kinh nghiệm được sử dụng cho SESA

Dự thảo ER-PIN Tháng 5/2014 Đang được xây dựng

Đánh giá giữa kỳ Có thể sẽ hoàn

thành vào tháng

11 năm 2014

Từ nay đến cuối tháng 11 năm 2014

Tham vấn các bên liên

quan và cơ chế tham vấn

(GRM)

Dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng

06 năm 2015

Tháng 5 năm 2014 trở đi; Hướng dẫn về GRM được nêu trong

kế hoạch tham vấn và sẽ được cập nhật sau khi đi thực tế, có thông tin cho SESA và việc triển khai thực hiện sẽ phối hợp với các hoạt động của SESA

Đánh giá tác động môi

trường và xã hội (SESA),

Khung quản lý môi trường

và xã hội (ESMF)

Dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng

06 năm 2015

SESA, Chương trình hành động REDD+ cấp quốc gia và chuẩn

bị một ESMF để triển khai REDD+, tháng 5 năm 2014 trở đi

Kế hoạch hành động

REDD+ cấp tỉnh (PRAPs)

Tháng 9/2015 Chi tiết về các nhân tố gây mất rừng, suy thoái rừng, trữ lượng

các-bon và làm việc với 2 công ty lâm nghiệp nhà nước

Đã có Điều khoản tham chiếu vào tháng 5/ 2014; FCPF PRAP

và 1 dự thảo PRAPs Báo cáo đánh giá mức độ

sẵn sàng thực hiện REDD+

ở Việt Nam (R-Package)

Tháng 12/2015

Trang 7

3.3 Sự phù hợp với chiến lược quốc gia về REDD+ và những chính sách liên quan khác

sử dụng và đất trống, đồi núi trọc và tăng diện tích rừng ngập mặn ở các vùng ven biển theo Quyết định hỗ trợ “xây dựng và triển khai các Chương trình Giảm phát thảido mất rừng và suy thoái rừng”

Phần tóm tắt ở trên của Quyết định 403 về Kế hoạch hành động REDD+ quốc gia (NRAP) và những hoạt động được đề xuất trong kế hoạch đó Một nhiệm vụ của NRAP, phải triển khai trong giai đoạn 2011-2015, là “xây dựng các kế hoạch hành động nhằm triển khai ở cấp tỉnh và lồng ghép các hoạt động REDD+ vào hoạt động bảo

vệ phát triển rừng, lập kế hoạch sử dụng đất, cũng như các chương trình, dự án giảm phát thải trong ngành nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan khác, ) Vào năm 2015, Bộ NN&PTNT-Tổng cục Lâm nghiệp (với sự hỗ trợ của Chương trình UN-REDD đã xây dựng và phê chuẩn mẫu chuẩn và hướng dẫn quốc gia về việc xây dựng nội dung và quy trình thực hiện Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP) Việc áp dụng những hướng dẫn quốc gia này sẽ đảm bảo rằng mỗi tỉnh ở trong Chương trình Giảm phát thảisẽ xây dựng PRAP một cách thống nhất, chủ yếu là việc xác định những nhân tố gây mất rừng và suy thoái rừng, những nguyên nhân cơ bản và những hoạt động can thiệp cần thiết để giải quyết các vấn đề đó Có những đối tác Chương trình Giảm phát thải(và các nhà tài trợ của họ) ở các tỉnh khác nhau tham gia xây dựng những hướng dẫn này sẽ đảm bảo sự nhất quán và chất lượng của PRAP xuyên suốt chương trình, mặc dù có thể có sự linh hoạt khi thiết kế các biện pháp can thiệp chiến lược cho mỗi tỉnh tùy thuộc vào bối cảnh và điều kiện của từng địa phương

Những hoạt động được đề xuất trong Chương trình này phù hợp với NRAP, Quyết định 403, và với những ưu tiên phát triển quốc gia được nêu trong Kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng quốc gia trong giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu chính là bảo vệ và phát triển bền vững 13.388.000 héc ta rừng hiện có (tính đến 31 tháng 12 năm 2010) và 750.00 héc ta rừng tái sinh; 1.250.000 héc ta rừng trồng mới, 1.350.000 héc ta rừng trồng lại; và tăng diện tích rừng lên khoảng 15.100.000 héc ta vào năm 2020

4 Địa điểm thực hiện và thời gian hoạt động của Chương trình Giảm phát thải

4.1 Quy mô và địa điểm của Chương trình Giảm phát thải

Hãy mô tả và vẽ bản đồ vùng quy hoạch của Chương trình và các vùng xung quanh, những đặc điểm địa lý, văn hóa của vùng Cho biết địa điểm và ranh giới của nơi thực hiện Chương trình VD: Tổ chức hành

chính

Chương trình Giảm phát thảigồm có toàn bộ Vùng Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, tổng diện tích đất khoảng 5,1 triệu héc ta (chiếm 16% tổng diện tích đất đai của Việt Nam, xem Hình 4.2), trong đó 80% là núi đồi và phần còn lại là các đồng bằng ven biển có diện tích đất canh tác nông nghiệp chiếm 14% diện tích tự nhiên Vùng này

có khí hậu gió mùa nhiệt đới Lượng mưa trung bình khoảng 2500 mm với hai mùa rõ rệt trong năm: Mùa mưa

từ tháng 06 đến tháng 12, có áp thấp và bão, 85% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian từ tháng 09 đến tháng

11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 1 tới tháng 5

1Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 20 tháng 03 năm 2014 phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh ở Việt Nam trong giai đoạn 2014-2020

Trang 8

Vùng này bao gồm 06 tỉnh, đó là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế-đây là nơi cư trú của 11 triệu người (chiếm 12% tổng dân số) Giáp với phía Bắc của vùng này là các vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc, giáp phía Nam của vùng là vùng sinh thái nông nghiệp ven biển phía Nam Vùng này gồm có một vùng núi cao và ở sâu trong dãy Bắc Trường Sơn, chia cắt Việt Nam và Lào về phía Tây, và một đồng bằng ven biển nhỏ hẹp dọc theo bờ biển Đông Dọc theo chiều dài, diện tích của Chương trình chủ yếu nằm ở vùng đồng bằng ven biển phía Đông, và có những vùng rừng ít người sinh sống thuộc các dãy núi của dãy Bắc Trường Sơn

Dữ liệu giám sát quốc gia về độ che phủ rừng hàng năm của Cục kiểm lâm cho thấy khoảng 44 % (2,3 triệu héc ta) của diện tích Chương trình Giảm phát thảilà rừng vào năm 2012; gần như tất cả (95%) số đó là rừng tự nhiên Trên một nửa (1,7 triệu héc ta) của đất rừng vùng này nằm dưới sự quản lý của nhà nước, gần 1/3 (0,9 triệu héc ta) đã được giao cho các hộ gia đình hoặc cộng đồng thôn bản (Xem Mục 14 để biết thêm thông tin chi tiết về sở hữu đất rừng trong vùng thực hiện Chương trình)

4.1.1 Tầm quan trọng và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học

Sinh cảnh trong Chương trình Giảm phát thảigồm có 05 hành lang bảo tồn được quốc tế công nhận (được phân loại

ưu tiên bảo tồn là “cao”, hoặc “Cực kỳ”– Xem Hình 4.2), gồm có 20 khu bảo tồn, 19 vùng đa dạng sinh học có tầm quan trọng quốc tế, Khu bảo tồn sinh quyển và con người của UNESCO tại phía Tây Nghệ An, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Vùng này là vùng sinh sống của 14 loài nguy cấp hoặc cực kỳ nguy cấp toàn cầu; gồm có: Voi Châu Á, Sao La, hổ châu Á, 06 loài linh trưởng bản địa2

Hình 4.1 Bản đồ khu vực ven biển bắc trung bộ Hình 4.2 Các-bon sinh khối rừng, những

vùng đa dạng sinh học quan trọng và các hành lang bảo tồn

2

Trang 9

Hình 43: Bản dồ diện tích rừng năm 2005 Hình 43: Bản đồ diện tích rừng năm 2010

4.1.2 Thực trạng Kinh tế xã hội

Vùng thực hiện Chương trình Giảm phát thảilà vùng có tỉ lệ đói nghèo cao nhất và nặng nề nhất tính theo đầu người trong cả nước Gần 1/3 trong tổng số 11 triệu người (29%) đang phải sống dưới mức đói nghèo, và khoảng cách nghèo đã tăng lên 22% so với từ đầu thế kỷ Vùng sinh thái nông nghiệp Bắc Trung bộ có mức thu nhập bình quân

hộ gia đình thấp nhất trong cả nước với 525 Đô la Mỹ thu nhập bình quân năm trên một hộ Cứ 4 người thì có một người ở vùng này phải sống ở nhà tạm, thời giant rung bình để tới trường là 45 phút đi bộ; và số lượng xe máy tính theo đầu người thấp nhấp so với các vùng còn lại ở Việt Nam4

Người H’mông, Dao, Thái và sống ở miền Bắc của vùng này, người dân tộc thiểu số thuộc ngữ hệ Môn-Khmer thì chủ yếu sống ở vùng phía Nam tỉnh Hà Tĩnh Mặc dù tỉ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm đáng kể trong thời gian gần đây, nhưng tỉ lệ đói nghèo ở những đồng bào dân tộc thiểu số vẫn cao và mức chênh lệch của họ so với người Kinh đã tăng5 Cộng đồng dân tộc thiểu số thường bị cô lập về mặt kinh tế và xã hội cũng dễ bị tác động không đồng đều bởi biến đổi khí hậu vì:

 Việc tiếp cận và sở hữu đất sản xuất (nông nghiệp và lâm nghiệp) không được đảm bảo (vấn đề này sẽ được thảo luận kỹ hơn ở Mục 14);

 Những vùng núi, vùng sâu vùng xa và hạn chế việc tiếp cận với thị trường, các chương trình khuyến nông của chính phủ; và

 Bị hạn chế tham gia vào quá trình lập kế hoạch và nhận được ưu tiên từ những chương trình, dự án liên quan của Nhà nước6

Bảng 4.1 Tỉ lệ đói nghèo tính theo đầu người và thành phần, vùng và ngành

(theo Điều tra mức sống Việt Nam năm 2012 VHLSS)

dân số Chỉ số % Đóng góp theo % Chỉ số % Đóng góp theo %

0

0

Trang 10

4.2 Thời gian hoạt động dự kiến của Chương trình Giảm phát thải

Hãy mô tả Chương trình Giảm phát thảisẽ diễn ra trong bao lâu:

a) Để chuẩn bị; và

b) Triển khai (gồm có ngày dự kiến bắt đầu thực hiện Chương trình)

Thời gian dự kiến để chuẩn bị một kế hoạch triển khai chi tiết cho 06 tỉnh dự án và khoảng 42 huyện sẽ là 09 tháng từ quý IV của năm 2014 và sẽ hoàn thành vào giữa năm 2015

Thông thường, thời gian lập kế hoạch ở Việt Nam là 5 đến 10 năm vì thế cho tới năm 2020, Chương trình Giảm phát thảisẽ được điều chỉnh và lồng ghép vào các chương trình của nhà nước vì vậy Chương trình này sẽ là chủ đề chính trong chính sách của Chính phủ Cụ thể là: Chương trình này phù hợp với Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, và Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh cho tới năm 2020, cả hai kế hoạch này sẽ được triển khai thực hiện tại vùng duyên hải Bắc Trung Bộ Dự kiến thời gian thực hiện giai đoạn 1 sẽ là 5 năm từ ngày 1 tháng

1 năm 2016 đến 31 tháng 12 năm 2020

5 Miêu tả những hoạt động và biện pháp được xây dựng trong Chương trình Giảm phát thải

5.1 Phân tích các nhân tố gây mất rừng và suy thoái rừng, xu thế bảo tồn hoặc tăng cường

Hãy phân tích những tác nhân, nguyên nhân và nhân tổ chủ yếu gây mất rừng và suy thoái rừng Đồng thời mô tả bất

cứ chính sách hoặc xu thế nào góp phần bảo tồn hoặc tăng cường trữ lượng các-bon Hãy phân biệt giữa các tác nhân và xu thế trong khuôn khổ Chương trình Giảm phát thải, và bất cứ nhân tố, hoặc xu hướng nào xảy ra bên ngoài vùng quy hoạch chương trình nhưng gây ảnh hưởng tới việc sử dụng đất, sở hữu đất và trữ lượng các-bon trong vùng quy hoạch của chương trình Phân tích rút ra từ việc Đề xuất chuẩn bị Sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam (R- PP) và/hoặc Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam (R-Package)

5.1.1 Cơ sở (trước những năm 2000) tạo nên nguyên nhân mất rừng chính

Theo De Knonick (1999), nguyên nhân chủ yếu gây nên mất rừng nhanh chóng ở Việt Nam đó là: “tăng trưởng dân số, tăng trưởng kinh tế; nhu cầu về các rau màu xuất khẩu và lương thực; và ngày càng gia tăng nhu cầu đối với những sản phẩm làm từ gỗ như dùng làm bột giấy trong ngành công nghiệp sản xuất giấy, xây dựng và nhu cầu năng lượng” Theo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á, nguyên nhân chính gây nên mất rừng ở Việt Nam là do nhu cầu của người dân đối với lâm sản tăng lên cũng như nhu cầu về đất canh tác nông nghiệp, khai thác gỗ trên diện rộng bởi các Lâm trường quốc doanh (ADB 2000)

Trong những năm gần đây, động lực tăng trưởng của ngành nông nghiệp là nhu cầu cần có đất rừng để canh tác cây lâu năm (Ví dụ: Cà phê, chè, cao su, hạt điều) đã góp phần cải thiện đáng kể thu nhập và đời sống của bộ phận dân cư sống ở nông thôn (ADB 2001: 2), các trung tâm thành phố và cả những con đường lớn8

Điều này có thể thấy rõ thông qua các số liệu thống kê và dẫn chứng nêu trong Điều tra mức sống tại Việt Nam (VHLSS)

và các điều tra về các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (SFDP), những số liệu này cho thấy sản xuất lâm nghiệp (ngoại trừ các hộ gia đình chuyên trồng cây cung cấp bột giấy và dăm gỗ hoặc trồng chè, cà phê hoặc cao su) là một bộ phận rất nhỏ của những hệ thống nông nghiệp và mang lại thu nhập ít ỏi cho gia đình (ADB:53), tuy nhiên, ngành lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng ở các vùng miền núi và đặc biệt đối với các nhóm dân tộc thiểu số, điều này cho thấy sự khác biệt ở từng vùng miền

Các công ty lâm nghiệp quốc doanh (SFCs) tiếp tục đóng vai trò tiên phong trong hoạt động quản lý rừng, điều này có thể thấy được từ thực tế rằng rừng chỉ có thể được phân bổ cho hộ gia đình nếu như các SFC đồng ý chuyển nhượng (Lang 2001:121) Quy trình phân bổ đất đai ở rất nhiều nơi gặp trở ngại bởi các SFC ngần ngại trao quyền quản lý với diện tích rừng cho các hộ gia đình, tổ chức mặc dù họ không đủ năng lực để thực hiện thành công chức năng được giao phó (Vũ Hữu Tuynh 2001:6) Mặc dù tình trạng này đã được cải thiện ở rất nhiều tỉnh thành vì SFC đã hợp thức hóa quyền sở hữu đất của họ thông qua việc chuyển đổi đất của SFC thành đất của cộng đồng, điều này được trình bày rõ hơn ở Mục 14)

Việc xây dựng đường sá ở vùng sâu vùng xa (thường vô tình) khiến cho những loại gỗ khó tiếp cận trở nên hoặc là dễ vận chuyển, hoặc là dễ tiếp cận với thị trường Nhu cầu đối với gỗ ở vùng sâu vùng xa tăng cao vì những cây gỗ dễ lấy

đã bị khai thác hết Những kẻ khai thác gỗ trái phép thường có những đối tác địa phương và đôi khi những đối tượng này lại thuê các đối tượng khai thác gỗ trái phép tại địa phương thực hiện hành vi chặt phá Rất nhiều chương trình của Chính phủ như Chương trình 135, Chương trình 135II chủ yếu tập trung về vấn đề cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn trong khi Chương trình 30a cũng cấp vốn cho hoạt động khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình (xem Mục 14 để biết thêm chi tiết

về hoạt động khoán bảo vệ rừng)

7 Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 20 tháng 03 năm 2014 phê duyệt Kế hoạch hành đồng Quốc gia về tăng trưởng xanh tại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2020

8 Điển hình là khi có một con đường mới được xây dựng hoặc tình trạng thời tiết được cải thiện, sự phát triển liền kề dọc theo con đường chính là tác nhân gây mất rừng đầu tiên và tới tận khi nào tỉ lệ mất rừng có xu hướng cao nhất (cho tới khi

Trang 11

Hoàn thành đánh giá toàn quốc về các nhân tố gây mất rừng và suy thoái rừng đã nêu trong Đề xuất chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam (R-PP), tham vấn các tài liệu dự án ODA, các kế hoạch của tỉnh và các hội thảo các bên liên quan đã xác định được 03 nhân tố chính hiện đang tồn tại, có sự khác biệt dọc theo vùng Bắc Trung Bộ, trong Giai đoạn thí điểm của Chương trình ER (2000-2010): a, Chuyển đổi rừng sang mục đích thương mại và canh tác nông nghiệp; b, Chuyển đổi rừng thành cơ sở hạ tầng, kết quả là hàng loạt những hoạt động như xây dựng đường sá, thủy điện, hệ thống cấp nước thủy điện đa mục đích; đường dây cáp, mở rộng vùng thị xã và thành thị một cách nhanh chóng; và c, Khai thác gỗ thiếu bền vững, khai thác hợp pháp và trái phép Bảng 5.1 (bên dưới) trình bày tổng quan các nhân tố chính trong tự nhiên, những tác nhân chủ yếu và nguyên nhân chủ đạo, Bảng 5.2 phân chia các nhân tố lịch sử chủ yếu, chuyển đổi rừng thành các kiểu phụ khác, và đưa ra thông tin chi tiết về phạm vi và các kiểu quản lý/sở hữu rừng bị ảnh hưởng bởi hoạt động chuyển đổi này và có hai nguyên nhân chính nữa là do xây dựng cơ sở hạ tầng và khai thác gỗ Mỗi tác nhân chính được thảo luận vắn tắt dưới đây

Bảng 5.1 Tóm tắt những nguyên nhân chính gây mất rừng và suy thoái rừng ở

Vùng Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ

tư tư nhân và

hộ gia đình

- Nhu cầu hàng hóa (Thị trường giá cả nội địa/quốc tế)

- Các kế hoạch và chính sách khuyến nông của tỉnh/quốc gia

- Lập kế hoạch sử dụng đất không đồng bộ, thiếu hiệu quả

- Thực thi pháp luật (phối hợp giữa các Cơ quan nhà nước)

và hệ thống pháp luật thiếu hiệu quả

- Hàng hóa và dịch vụ rừng mất giá

- Đói nghèo liên miên (sản lượng nông-lâm thấp; ít biện pháp sinh kế thay thế)

- Nhập cư kinh tế tự phát, chủ yếu đến tỉnh khác trồng cao

su, cà phê, hạt tiêu

- Đầu tư nhà nước đối với lâm nghiệp không hiệu quả b) Chuyển đổi rừng vì mục

đích xây dựng cơ sở hạ tầng

gồm có xây dựng đường sá, mở

rộng vùng nông thôn (gồm có

thị trấn, thị xã); vùng kinh tế

đặc biệt; nhà máy thủy điện,

công trình tưới tiêu thủy điện

đa mục đích (gồm có đường

dây cáp công suất cao và

đường đi)

Công ty nhà nước, công ty thuộc sở hữu nhà nước, đầu

tư tư nhân

- Tăng trưởng kinh tế của tỉnh/quốc gia

- Nhu cầu năng lượng của tỉnh/quốc gia

- Khó khăn trong việc quản lý phát triển kinh tế tự phát

- Đánh giá tác động môi trường và các biện pháp giảm thiểu không hiệu quả khi lập kế hoạch

- Lập kế hoạch và phê duyệt các dự án phát triển thiếu trách nhiệm (thiếu bảo đảm về mặt pháp lý)

- Hiểu biết hạn chế về các tác động môi trường và xã hội về việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong số những người lập kế hoạch trong nước

- Nhu cầu về gỗ trong nước và quốc tế

- Thiếu quyền sở hữu về rừng-dẫn tới quản lý yếu kém

và không quan tâm đến vấn đề khai thác gỗ trái phép

- Hệ thống pháp lý và thực thi pháp luật (phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước)

- Giám sát tài nguyên rừng không hiệu quả (khôn khéo)

- Chưa hoàn thành công tác giao đất giao rừng

Trang 12

Nhân tố chính Đại diện Những nguyên nhân chính

- Sự tham gia không hiệu quả của các bên trong quá trình xây dựng chính sách, lập kế hoạch và xây dựng chương trình ngành lâm nghiệp

- Những quy định khai thác gỗ thiếu bền vững

- Mô hình quản trị và quản lý rừng (đơn độc) không hiệu quả

- Đói nghèo liên miên (sản lượng nông lâm nghiệp thấp, hạn chế phương án sinh kế thay thế);

- Đầu tư công cho ngành lâm nghiệp còn thiếu

Bảng 5.2 Quy mô và các phương thức quản lý/sở hữu bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chính gây nên mất

rừng và suy thoái rừng ở Vùng Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ

Loại rừng quản lý chủ yếu

Các loại hình sở hữu chính

Các công ty lâm nghiệp quốc doanh

27.800 ha và tất

cả diện tích rừng tự nhiên

Rừng phòng

hộ và rừng sản xuất

Rừng của nhà nước

và hộ gia đình

từ thị trường TQ

Các công ty lâm nghiệp quốc doanh

11.805 (theo số liệu Chi cục KL tỉnh)

Các hộ gia đình và các công ty lâm nghiệp quốc doanh

2.160.000ha (rừng tự nhiên)

và 712.000 ha (rừng trồng)

Rừng sản xuất Rừng của

hộ gia đình, cộng đồng và nhà nước Rừng tự nhiên

Chưa biết (nhưng gây ảnh hưởng tới tất cả vùng rừng tự nhiên)

Rừng sản xuất

và rừng phòng

hộ

Rừng của nhà nước

và hộ gia đình

Chưa rõ, rất khó

để chứng minh diện tích rừng có thể biến mất ngay trong quá trình lập kế hoạch

Tất cả Hộ gia đình,

tư nhân và nhà nước

Trang 13

Loại rừng quản lý chủ yếu

Các loại hình sở hữu chính

Chuyển đổi theo

Các công ty

tư nhân, công

ty nhà nước, công ty sở hữu nhà nước

Chưa rõ, nhưng có

ít nhất 14 công trình thủy điện và công trình tưới tiêu kết hợp thủy điện đã bắt đầu được triển khai trong giai đoạn này

Tất cả 03 loại hình quản lý rừng , nhưng

có ít hơn ở loại hình rừng tự nhiên

Hộ gia đình,

tư nhân và nhà nước

Chuyển đổi theo

kế hoạch và

không theo kế

hoạch liên quan

tới đầu tư cho

giao thông

Mở rộng và nâng cấp hệ thống đường sá quốc gia và ở tỉnh

Nhà nước Chưa rõ, thu hút

phát triển kinh tế xã hội dọc theo con đường được cải tạo

Lãnh đạo nhà nước

và tỉnh

Chưa biết Chủ yếu sản

xuất rừng suy thoái và có thể

là một số rừng ngập mặn

Hộ gia đình, công ty tư nhân và nhà nước

Cần lưu ý rằng trong giai đoạn 2016-2020, việc chuyển đổi đất rừng vẫn được tiếp tục diễn ra, nhưng chủ yếu đối với đất trống, đất suy thoái và đất rừng trồng Ví dụ, tại tỉnh Quảng Trị, có 4.233 ha đất trống, và 5.250 ha đất rừng sản xuất đã được chuyển đổi sang trồng cao su; trong khi chỉ có khoảng 205 ha rừng tự nhiên (rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) được chuyển đổi sang mục đích phi lâm nghiệp

5.1.2 Các tác nhân gây mất rừng

Nghiên cứu về các tác nhân gây mất rừng ở khu vực thực hiện chương trình đang được diễn ra với một số hoạt động chi tiết được triển khai và đã có một số kết quả ban đầu được cung cấp từ nghiên cứu của dự án GIZ Quảng Bình và những hoạt động cụ thể của Chương trình UN-REDD Pha II tại tỉnh Hà Tĩnh và dự án Rừng và đồng bằng (VFD) ở tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Hi vọng những hoạt động này sẽ cung cấp thông tin hữu ích

và cập nhật cho Chương trình ER

a) Quy hoạch chuyển đổi rừng sang đất canh tác nông nghiệp

Việc chuyển đổi rừng ở vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ nhằm mục đích nông nghiệp, chủ yếu là chuyển sang trồng cao su, đã được tiến hành với số lượng khoảng 4.500-10.000 ha/năm, tùy theo tỉnh trong Giai đoạn thí điểm Giá mủ cao su cao (Hiện nay là 60 triệu đồng/tấn năm 2011, tương đương với 2.850 Đô la Mỹ/tấn) và việc mất mùa sắn gần đây đã đẩy nhanh việc mở rộng diện tích trồng cao su trong khu vực Các tỉnh tiếp tục lập kế hoạch mở rộng diện tích trồng cao su mặc dù ở những vùng này chịu thiệt hại rất nhiều từ bão lũ Tuy nhiên, có rất nhiều người nông dân tiếp tục trồng cao su bởi vì họ có thể thu được lợi nhuận cao hơn (mặc dù thời điểm này giá tinh bột sắn giảm từ 40.000 đồng xuống còn 15.000 đồng), và cao su tiếp tục được xem là nhân tố gây mất rừng ở vùng này trong tương lai Tỷ lệ cao thứ hai của việc chuyển đổi rừng ở khu vực này

là chuyển đổi sang trồng sắn lấy tinh bột (và gần đây là năng lượng sinh học) Chủ yếu sắn được trồng ở các xã và một số lượng không đáng kể ở các nương rẫy khiến cho những rủi ro về việc sống lệ thuộc vào rừng tự nhiên nếu như giá sắn ở mức cao Có một số hạn chế khi chuyển đổi rừng suy thoái thành keo

lai và rừng trồng keo tai tượng khi các vùng duyên hải đang phải gánh chịu các tác động từ bão lũ, các hộ gia

đình cũng phải chịu thiệt hại khi phải thu hoạch sớm tránh mưa bão Những loài cây lâu năm được đưa vào kế hoạch chuyển đổi rừng với số lượng khá hạn chế gồm có cà phê, chè và hồ tiêu Những vùng rừng ngập mặn ở khu vực này tuy ít nhưng mang lại khá nhiều lợi ích phi các-bon, chủ yếu là bảo vệ vùng duyên hải khỏi cường

độ và tần suất mưa bão gây nên bởi biến đổi khí hậu Rừng ngập mặn bị đeo dọa bởi hoạt động nuôi trồng thủy sản (đầm tôm), hoạt động này diễn ra mạnh mẽ từ những năm 1990 Rất nhiều những vùng canh tác này thu lợi nhanh, là nguồn gốc của các mầm bệnh và những vấn đề khác khiến cho việc nuôi trồng thủy sản chỉ mang lại lợi nhuận ngắn hạn Việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản tiếp tục diễn ra ở các rừng ngập mặn hiện có gồm cả những rừng trồng mới

Trang 14

b) Chuyển đổi rừng sang diện tích nông nghiệp không theo quy hoạch (canh tác nương rẫy)

Canh tác nương rẫy được mở rộng, nhưng bị hạn chế ở những vùng núi cao phía Tây của khu vực, với rất ít hoặc không có diện tích nương rẫy nào được thống kê ở vùng trung tâm (Tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình) Tuy nhiên, có tới 12.800 ha ở phía bắc (tỉnh Nghệ An) và 14.500 ha ở phía nam (tình Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế) có diện tích canh tác nương rẫy trong vùng (theo số liệu báo cáo của Chi cục kiểm lâm năm 2011) Canh tác nương rẫy là do phong tục tập quán lâu đời của các cộng đồng người dân tộc thiểu số do họ không có các hình thức sinh kế thay thế khác, thiếu các dịch vụ khuyến nông, thiếu đất tốt để canh tác nông nghiệp (chủ yếu là dành cho các cặp mới cưới) và sự hạn chế tiếp cận với thị trường Canh tác nương rẫy là một trong những mối lo ngại đặc biệt khi những công trình tưới tiêu thủy điện đa mục đích và nhà máy thủy điện đã và sẽ được xây dựng vì những tác động có thể có đối với hệ sinh thái và thời gian hoạt động của các nhà máy, công trình này cũng khá dài

c) Chuyển đổi đất rừng sang rừng trồng theo quy hoạch

Ở vùng này, việc chuyển đổi đất rừng nghèo tự nhiên sang rừng trồng đã được tiến hành với diên tích trung bình là 235 ha/năm (ở phía nam) tới 5.000 ha/năm (ở phía bắc) tùy thuộc vào mỗi tỉnh Đã xuất hiện sự kết hợp giữa hình thức đầu tư nhà nước và tư nhân trong các dự án ở địa phương Tỉnh Bình Định, là một trung tâm có truyền thống nghề gỗ với hình thức mua bán xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ từ miền Trung sang Lào và hầu hết thành phẩm hiện nay là ở khu vực này, do vậy gần đây rừng trồng phát triển nhanh chóng và có một số nguồn đầu tư chính là từ các công ty Nhật Bản dưới hình thức liên doanh Thêm vào đó, gần đây một số công

ty nhỏ hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng trong thời gian gần đây được phát triển và mở rộng hơn Việc mở rộng này đặc biệt đáng chú ý vào giai đoạn cổ phiếu tăng cao trong những năm 2008-2009 Theo báo cáo, một

số công ty nhỏ có hợp đồng thuê đất được đảm bảo với người dân địa phương để trồng rừng trên đất của họ Trong một số trường hợp, các hợp đồng này đã hết hạn sớm hơn thời hạn ký kết vì những người dân quyết định trồng cây của họ Tại rất nhiều huyện, việc xuất hiện công ty trồng rừng rõ ràng đã tạo nên sự quan tâm và thu hút đầu tư vào trồng rừng tiểu điền Thường thì việc chiếm hữu đất của các công ty quy mô nhỏ và vừa không nhiều, vì vậy, cũng rất khó cho các công ty này để đảm bảo có một diện tích đất lớn và hợp đồng thuê dài hạn để trồng rừng, và ít nhất thì một số công ty cũng thấy được tầm quan trọng của việc khuyến khích người dân với vai trò “người trồng bên ngoài” đối với rừng trồng chính và nhờ đó có thể tang diện tích chung của rừng trồng Trong báo cáo, ở một số dự án của tỉnh, đã có một số thay đổi về quyền sở hữu đất đối với những lâm trường quốc doanh trước đây (SFE) vì những lâm trường này đã được chuyển đổi thành các công ty tư nhân và đất cũng như đất rừng sẽ được phân chia cho các đối tượng quản lý phù hợp hơn, xét về góc độ lợi nhuận, hiệu quả tài chính (ví dụ tại tỉnh Thừa Thiên Huế) và một số khu vực, một phần đất đai đã được giao cho các xã theo hình thức trồng rừng tiểu điền Vì vậy những người nông dân sẽ theo mô hình rừng do công ty giới thiệu và tiến hành trồng rừng Tương lai phát triển của rừng trồng chắc chắn sẽ cần phải tính đến nhu cầu của gỗ có chứng chỉ rừng, việc cung cấp

gỗ này hiện đang là yêu cầu bắt buộc ở thị trường Châu Âu và những công ty có những hợp đồng lớn phải nhập khẩu

gỗ có chứng chỉ rừng chủ yếu là từ Malaysia

Việc trồng keo ban đầu đã được tăng cường bởi những công ty có sự hậu thuẫn và thuộc sở hữu của nhà nước,

và gần đây, những công ty này đã được mở rộng vì giá cổ phiếu rẻ, (mặc dù cũng có sự giảm về số lượng công

ty hoạt động trong thời gian gần đây) Thêm vào đó, có những đầu tư vào trồng cây keo vô tính cao sản và việc giới thiệu cây trồng này được tổ chức Nghiên cứu khoa học và công nghệ Liên bang Úc- CSIRO hỗ trợ Một

số công ty làm việc với những chủ đất địa phương nhằm thành lập rừng trồng và ở một số vùng khác, các công

ty cố gắng đảm bảo hợp đồng thuê đất với những lâm trường quốc doanh trước kia hoặc thậm chí là cả với những công ty lâm nghiệp quốc doanh Số lượng các lâm trường quốc doanh đã giảm và đất trước kia thuộc sở hữu của họ đã bị cổ phần hóa thành rừng trồng nông nghiệp, các ban quản lý rừng phòng hộ và các diện tích nhỏ hơn thì được phân bổ cho các cộng đồng địa phương theo hình thức trồng rừng tiểu điền

d) Tác động của mưa bão

Khu vực thực hiện chương trình thường phải chịu những trận mưa khắc nghiệt do áp thấp nhiệt đới và mưa bão, rất nhiều vùng núi cao nội địa rất dễ bị tác động bởi lượng đất xói mòn lớn ở các vùng đất dốc, đôi khi ở các sườn đất rất dốc, các vũng chứa lại nhỏ hẹp nên hiện tượng mưa lụt rất nhanh xuất hiện Khi tỉ lệ che phủ bị giảm hoặc mất đi, những đợt mưa lũ này có thể tàn phá khu vực này và việc quản lý lượng mưa trở thành trở ngại rất lớn Những vùng núi cao thường dễ bị xói mòn và thường hứng chịu cảnh xói mòn đất, kể cả khi có diện tích rừng che phủ, khi diện tích che phủ bảo vệ bị mất đi, hiện tượng xói mòn diễn ra nhanh chóng hơn Những mất mát từ bão lũ không thể dễ dàng thống kê theo phương pháp thông thường, nhưng một đánh giá do dự

án Phát triển ngành lâm nghiệp, hợp phần trồng rừng thực hiện về những thiệt hại bị gây ra bởi mưa bão vào năm

2009 cho thấy tổng cộng có 5.720 héc ta (khoảng 20% tổng diện tích rừng trồng của dự án) đã bị ảnh hưởng với khoảng 1.100 héc ta (khoảng 4%) diện tích bị hư hại nặng nề, Xem thêm phần Phụ lục 02 để biết thêm chi tiết

Trang 15

e) Quy hoạch chuyển đổi rừng vì mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình thủy điện

(i) Cơ sở hạ tầng giao thông

Mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông rất đáng kể trong giai đoạn thí điểm Hoạt động giao thông trong 15 năm qua đã tăng gấp ba lần và việc tăng số lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển lần lượt là 70% và 100% trong khoảng năm 1999 đến năm 2005, cho thấy mức tăng trưởng nhanh về nhu cầu đối với các dịch vụ giao thông Từ năm 1995-2006, những phương tiện đăng ký đã tăng từ khoảng 4 triệu lên gần 20 triệu Vào năm

2006, Việt Nam đã đăng ký 19,6 triệu phương tiện trong đó có 18,6 triệu xe máy và 970.000 ô tô9, và sẽ tiếp tục tăng trưởng khoảng 10,1%/năm Số lượng xe ô tô ở Việt Nam ước đạt khoảng 4,2 triệu chiếc vào năm 2020

và gấp 4,5 lần mức hiện tại

Chi phí ước tính của chương trình cho giai đoạn 2006-2010 là 47,6 nghìn tỉ đồng (3 triệu đô la Mỹ) hoặc gấp năm lần mức chi phí đề xuất của Chương trình Đầu tư công cho đường sá nông thôn giai đoạn 2001-2005 Những nỗ lực chính của cả các hoạt động của nhà tài trợ và chính phủ trong lĩnh vực giao thông nông thôn đã mang lại “đường đi cơ sở tới tất cả các xã” Đã có những tiến độ rõ rệt và số lượng xã thiếu đường vào đã được giảm xuống còn 359 xã vào năm 2005 Khoản đầu tư này gồm có việc cải thiện chất lượng, sức chịu tải của hệ thống đường sá và hướng tới 24% còn lại của dân số không tiếp cận được tất cả các loại đường dành cho tất cả các loại thời tiết nhằm đạt được trung bình 90% các nơi có đường nông thôn và đường trải nhựa/bê tông là 55%

Có những khác biệt lớn trong những hệ thống đường ở tỉnh giữa các hệ thống đường quốc lộ và đường nông thôn, do vậy cần quan tâm hơn đến vấn đề này trong tương lai

Những con đường chính được xây dựng trong phạm vi thực hiện chương trình trong giai đoạn thí điểm gồm có Đường cao tốc số 14 đi Hồ Chí Minh; và sự phát triển dân cư, KT-XH dọc theo con đường này (và hầu hết các con đường khác), và đường này đi xuyên qua những vùng rừng tự nhiên bao gồm một số khu bảo tồn Việc xây dựng đường cao tốc tương lai còn gồm có một số đường Cao tốc 04 làn (Express Way) như sau: Từ Thanh Hóa đến Vinh (đang tiến hành với chiều dài 170 km); từ Đông Hà đến Lao Bảo (55km) và cuối cùng là đường Hà Nội đi Đà Nẵng (tổng chiều dài xấp xỉ khoảng 368 km)

(ii) Đô thị hóa nhanh chóng

Tăng trưởng dân số nhanh và mở rộng thành thị là điểm nổi bật ở rất nhiều vùng ở Việt Nam gồm cả vùng duyên hải Nam Trung bộ và vì vùng này được chọn lựa và tiến hành xây dựng một số vùng kinh tế quan trọng đặc biệt (xem Phụ lục 03)

(iii) Thủy điện và công trình thủy điện, tưới tiêu đa mục đích

Khoảng 14 nhà máy thủy điện và công trình thủy điện, tưới tiêu đa mục đích đã được xây dựng trong giai đoạn thí điểm với ít nhất hơn hai nhà máy đang bắt đầu được khởi công vào cuối giai đoạn thí điểm Chuyển đổi đất rừng sang xây dựng công trình thủy điện trong khu vực trong Giai đoạn Thí điểm, có tỉ lệ khá cao: Ước tính 10

sẽ có khoảng 13,600-21,700 ha đất rừng bị chuyển đổi

Những lo ngại về những tác động xã hội và môi trường , đảm bảo mức sống gồm có việc đột ngột xả nước, là nguyên nhân khiến Bộ Công Thương rà soát lại tất cả các dự án thủy điện đang chờ thực hiện trong kế hoạch thủy điện tổng thể quốc gia, là một phần của Kế hoạch quốc gia về Phát triển Năng lượng11, hủy 424 dự án trong cả nước12và yêu cầu tiến hành một điều tra về các tác động về an toàn và môi trường của các dự án thủy điện đã kết thúc vào tháng 3 năm 2014 Hiện nay, Thủ tướng chính phủ chỉ phê duyệt những dự án thủy điện mới13

9 Ô tô, vv Có 4 bánh

10 Dựa trên ước tính khoảng 10-16 héc-ta rừng tự nhiên bị phá bỏ/MW cho một nhà máy thủy điện

11 Quyết định 1208/QD-TTg phê duyệt Kế hoạch Tổng thể Quốc gia về Phát triển Năng lượng cho giai đoạn 2011-2020 với tầm nhìn đến năm 2030

12 Những dự án này hiện đang bị đình chỉ chủ yếu là các công trình thủy điện quy mô nhỏ, tuy nhiên, thủy điện nhỏ chiếm một phần khá quan trọng trong Kế hoạch Tổng thể về phát triển năng lượng Xem Phụ lục 3

13 Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ra ngày 18 tháng 2 năm 2014 v ề C h ư ơ n g t r ì n h H à n h đ ộ n g c ủ a C h í n h

p h ủ n h ằ m t r i ể n k h a i Nghị quyết 62/2013 của Quốc Hội (về tăng cường quản lý và lập kế hoạch các dự án thủy điện)

Trang 16

5.1.3 Những tác nhân gây suy thoái rừng

Tác nhân gây mất rừng là do hiện tượng khai thác gỗ trái phép và thiếu bền vững Khai thác gỗ thiếu bền vững ở trong khu vực được thực hiện bởi các công ty lâm nghiệp quốc doanh có chứng chỉ kinh doanh hợp pháp, hoạt động khai thác gỗ có tổ chức trái phép, do người Kinh và những hộ gia đình người dân tộc thiểu số khai thác nhằm mục đích sinh kế (xây dựng nhà theo phương pháp truyền thống) Dữ liệu về số lượng các vụ khai thác gỗ trái phép và gỗ bị tịch thu đã giảm trong Giai đoạn Thí điểm Ví dụ, ở tỉnh Nghệ An, số lượng vụ vi phạm hành chính đã giảm xuống 70% (Năm 2001 có 4.524 vụ, năm 2012 có 1.308 vụ) và khối lượng gỗ khai thác trái phép

bị tịch thu giảm xuống còn gần một nửa (Năm 2001 là 5.394 m3 và năm 2012 có 2.881 m3)

Khai thác gỗ hợp pháp từ rừng tự nhiên cũng đã giảm một nửa trong giai đoạn thí điểm, từ 200.000 m3/năm xuống còn 100.000 m3/năm và không có hiện tượng khai thác gỗ từ rừng tự nhiên từ năm 2014 trở đi Nhằm mục đích cải tạo chất lượng rừng tự nhiên, việc cấm khai thác gỗ ở rừng trồng gần đây được phê duyệt nhằm chấm dứt mọi hoạt động khai thác từ rừng sản xuất không đạt chuẩn SFC quốc tế Lệnh cấm khai thác hợp pháp sẽ tạo điều kiện khơi dậy nạn khai thác gỗ trái phép nếu như các biện pháp thực thi pháp luật và bảo vệ không được tăng cường phù hợp Việc khai thác rừng trồng không phải là nhân tố gây nên mất rừng hoặc suy thoái rừng vì rừng trồng, sau khi khai thác, thường nhanh chóng được trồng lại bởi chủ đất (Công ty hoặc các hộ gia đình) nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và quốc tế về dăm gỗ và gỗ

Khoanh vùng khai thác gỗ, LSNG và củi từ rừng tự nhiên nhằm mục đích sử dụng trong gia đình, cùng với hoạt động buôn bán trái phép, là một trong những nhân tố hiện và sẽ gây nên mất rừng, cần phải được giám sát chặt chẽ Một nhân tố quan trọng nữa trong khai thác gỗ trái phép do cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo

vệ rừng tự nhiên (rừng trồng và rừng sản xuất) và tham gia trồng rừng mà không có tiến triển nào đối với việc sắp xếp, bố trí quyền sở hữu đất rừng Hiện này tại rất nhiều vùng rừng tự nhiên (Ví dụ: Rừng do nhà nước sở hữu và quản lý (dưới sự quản lý của SFCs hoặc các Ban quản lý Rừng phòng hộ và các Ban quản lý rừng đặc dụng), rừng và nguồn tài nguyên LSNG được xem là “quà tặng miễn phí” và đặc biệt là vấn đề đang nổi cộm đối với các cộng đồng sống lệ thuộc vào rừng đó là dòng “người bên ngoài” đổ vào khu vực và tiến hành khai thác

gỗ trái phép và thu hái LSNG với số lượng lớn để bán sang thị trường Trung Quốc Rất nhiều hộ gia đình sống phụ thuộc vào rừng muốn biết một số loại hình sử dụng hợp pháp đối với rừng và ngược lại họ cũng sẵn sàng làm việc chặt chẽ hơn với các Ban quản lý và bảo vệ rừng mà họ phụ thuộc (điều này cũng được thảo luận ở Mục 14

về sở hữu đất)14

5.2 Đánh giá những nhân tố chính cản trở việc thực hiện REDD+

Hãy mô tả những nhân tố chính hiện đang cản trở việc xác định các nguyên nhân, và/hoặc hạn chế việc bảo tồn và tăng cường lượng dự trữ các-bon

Những nhân tố chủ yếu hiện đang cản trở việc xác định những nguyên nhân chính gây mất rừng và suy thoái rừng ở Vùng Sinh thái-Nông nghiệp Bắc Trung Bộ có thể được phân loại và và tóm tắt như dưới đây:

5.2.1 Nhu cầu hàng hóa và dịch vụ

 Quản lý rừng bền vững không tạo đủ thu nhập và nông sản đủ cho chi phí cơ hội, chi phí từ trồng cao su và các loại cây nông nghiệp khác, đặc biệt là sắn cao hơn, ổn định hơn và thường quay vòng vốn nhanh hơn Thu nhập hộ gia đình nghèo ở nông thôn chủ yếu (43%) phụ thuộc vào nông nghiệp và các hoạt động lâm nghiệp chỉ chiếm rất ít (5%) tỉ lệ đóng góp vào nền kinh tế hộ gia đình (mặc dù việc sử dụng sinh kế từ tài nguyên rừng có thể là nhân tố quan trọng trong các chiến dịch sinh kế, đặc biệt là đối với các hộ gia đình dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng)

 Hàng hóa và dịch vụ rừng giảm chất lượng, tổng diện tích đất rừng phân bổ cho các hộ gia đình và cộng đồng địa phương bị hạn chế 53,7 % hộ gia đình (HH) trong vùng có diện tích đất rừng nhỏ hơn 1 héc-ta và 30,7 % số

hộ gia đình chỉ có diện tích đất rừng từ 1 đến 3 héc-ta (Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm Tổng cục thống kê) Rất nhiều rừng tự nhiên được giao cho người dân địa phương Ví dụ, theo hình thức quản lý rừng cộng đồng, và rừng có chất lượng xấu và thường cần có thời gian tái sinh dài Thu nhập từ rừng trồng, tính tới thời gian rất gần đây, đã mang lại sản lượng thấp và thu nhập thấp Đầu tư vào lâm nghiệp và rừng trồng

2011-thường là dài hạn nhưng việc đưa loài keo lai vô tính và loài keo tai tượng mới được cải thiện đã tạo nên một tác

động đáng chú ý lên các hộ trồng rừng tiểu điền cũng như các công ty trồng rừng lớn vì cả hai loại này đều mang lại thu nhập khá tốt cho hộ gia đình và công ty Tuy nhiên, thiệt hại do mưa bão có thể có ít nhất một lần rất nhiều chu kỳ của rừng trồng ven biển (7 năm đối với dăm gỗ hoặc trên 12 năm đối với gỗ xẻ-Tuy nhiên, thiệt hại đối

với rừng trồng lâu năm hơn của loài keo tai tượng có thể ít hơn so với loài keo vô tính có chu kỳ thu hoạch ngắn

hơn) Rất nhiều tiểu nông muốn chặt cây sớm hơn chu kỳ (đôi khi sớm khoảng 05 năm), giảm lợi ích nhưng sẽ tránh được mất mát gây ra bởi mưa bão

14 Có một số nghiên cứu về vấn đề lệ thuộc vào rừng, giảm thiểu LSNG, và tăng áp lực từ các hoạt động khai thác gỗ trái phép bởi “người bên ngoài” ví dụ như Mối quan hệ giữa vấn đề sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học tại các Rừng đặc dụng tại Việt Nam– Những bài học kinh nghiệm: Hans-Dieter Bechstedt 2010, Quỹ bảo tồn Việt Nam Đây là phần tóm tắt chuyến

đi hiện trường chi tiết làm việc với các cộng đồng sống lệ thuộc vào rừng (chủ yếu là người dân tộc thiểu số) ở Miền Trung

Trang 17

 Cần công nghệ chính xác hơn để giảm thiểu các tác động của mưa bão

 Các dịch vụ môi trường rừng hiện nay đang được tiếp nhận một cách không đầy đủ đối với ngành du lịch và năng lượng trong nước (HEP) Tài chính (các-bon) nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu chưa được bàn đến Tuy nhiên, chi phí giao dịch khá cao cho các hoạt động của REDD+, và giá các-bon dự tính thấp

có thể khiến người dân không mặn mà với các hoạt động REDD+, nếu tài chính các-bon không được lồng ghép vào việc lập kế hoạch và chương trình của nhà nước để có thể triển khai hoạt động bền vững trên diện rộng hơn

và hướng tới tăng trưởng xanh ở các ngành liên quan tới tài nguyên đất

 Dự đoán các nhu cầu năng lượng tại quốc gia và trong khu vực sẽ tiếp tục tăng (xem Phụ lục 03)

5.2.2 Việc lập kế hoạch phát triển ngành và sử dụng đất không có sự lồng ghép

 Tất cả các tỉnh đã có kế hoạch sử dụng đất, tuy nhiên, rất nhiều những kế hoạch này thường được lập một cách sơ sài, không có sự tham gia hiệu quả của người dân khi xây dựng các chính sách và cần được cải thiện khi lập kế hoạch và chương trình ở tất cả các ngành sử dụng đất sản xuất; các kế hoạch (và ngành) sử dụng đất thường có xu thế phân chia, hướng trọng tâm vào các phương pháp, ưu tiên ngành theo kế hoạch (hoặc thậm chí một hoặc hai mặt hàng VD: Các loại cây công nghiệp chiếm ưu thế trong các kế hoạch và chính sách khuyến nông của tỉnh hoặc quốc gia15) điều này không khuyến khích được sự phối hợp giữa các ngành lâm nghiệp và ngành sử dụng đất khác (xem Mục 14 thảo luận về sở hữu đất, sử dụng rừng truyền thống và những nỗ lực về mặt chính sách, pháp luật nhằm giải quyết vấn đề này) và những cơ quan hữu quan của tỉnh, trung ương (Bộ TNMT, Bộ LĐ, TBXXH, Bộ KH-ĐT) cần thiết phải lập kế hoạch lồng ghép các mục tiêu phát triển KT-XH vào trong bức tranh nhiều lâm-nông nhiều mảng ghép ở vùng duyên hải miền Trung Có những ví dụ tiêu biểu về việc lập kế hoạch sử dụng đất có sự tham gia16, tuy nhiên, để tuân thủ hoàn toàn theo đúng các hướng dẫn thì cần rất nhiều chi phí

 Hạn chế tác động về mặt môi trường và xã hội của sự phát triển cơ sở hạ tầng giữa các lãnh đạo lập kế hoạch, kế hợp với việc sử dụng không hiệu quả những biện pháp giảm thiểu nhằm bảo vệ môi trường và xã hội trong các quy trình lập kế hoạch, và ví dụ, trong quá trình lập kế hoạch phát triển mở rộng các nhà máy thủy điện

và công trình thủy điện tưới tiêu đa mục đích trong cả nước, gồm cả vùng duyên hải miền Trung này, thường không có sự tham gia tích cực của đại diện ngành lâm nghiệp, cũng như những cộng đồng người dân tộc thiểu

số, trong các quy trình như Đánh giá tác động môi trường

 Theo dõi, giám sát không thường xuyên những biện pháp bảo đảm an toàn môi trường và xã hội, thiếu các biện pháp hỗ trợ về mặt pháp lý

15Trong khi thành công của Việt nam là việc trở thành một trong những nước có lượng xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản tươi sống và một số loại nông sản gồm có cà phê, hồ tiêu, gạo, gỗ dăm cao su, tôm, vv đã được ghi nhận, thì đồng thời Việt Nam cũng phải trả giá về mặt môi trường, ví dụ, với diện tích rừng tự nhiên lớn và rừng bị suy thoái ở khu vực Tây Nguyên đang được chuyển đổi sang trồng cà phê và hồ tiêu hoặc chuyển đổi rừng ngập mặn sang những đầm nuôi tôm ngắn hạn

16 Quảng Bình đã công bố những hướng dẫn của tỉnh (Lập kế hoạch sử dụng đất, giao đất giao rừng, các quy định phát triển

và bảo vệ rừng, lập kế hoạch phát triển thôn bản) và những hướng dẫn này đã được phê duyệt dưới dạng các Quyết định Điều này cho thấy việc tuân thủ sẽ được thực hiện nghiêm túc hơn và tập trung cao độ hơn vào các quy trình ra quyết định

và lập kế hoạch có sự tham gia, vốn được xem là một thế mạnh của Quảng Bình so với các tỉnh khác Tuy nhiên, trong giai đoạn triển khai kế hoạch thực sự thì có rất nhiều sự chồng chéo về quyền hành giữa các lãnh đạo các ban ngành hữu quan

và ngân sách không đủ chi dùng nên khó có thể tuân thủ đúng theo các hướng dẫn đặc biệt là đối với các yêu cầu của các quy trình ra quyết định có sự tham gia thường chỉ được thực hiện khi có các dự án có vốn tài trợ nước ngoài được triển khai

Dự án GIZ về các biện pháp bảo đảm an toàn xã hội liên quan tới REDD+, tháng 11 năm 2013

Trang 18

5.2.3 Sử dụng tài nguyên rừng thiếu bền vững

 Thiếu đầu tư nhà nước (về mặt tài chính và kỹ thuật) cho ngành lâm nghiệp-cho công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và những hoạt động phục hồi cảnh quan nói chung Chỉ có 1/3 (2,2 triệu trong tổng số 6,7 triệu héc-ta) rừng đặc dụng và rừng phòng hộ của Việt Nam được giao khoán cho các hộ gia đình hoặc cộng đồng thôn bản phục vụ cho các hoạt động bảo vệ rừng thực tế

 Quy định pháp luật về sở hữu đất chưa rõ ràng-từ việc giao đất giao rừng chưa đầy đủ cho các chủ rừng Mặc định việc “quản lý” diện tích rừng của UBND xã đã tạo nên một cơ chế cận mới do thiếu những hoạt động khuyến khích bảo vệ hoặc/và sử dụng bền vững, kết hợp với năng lực quản lý yếu kém của một bộ phận cán bộ UBND xã, huyện

 Các phương thức quản trị và quản lý rừng thiếu hiệu quả (đơn lẻ)-cộng đồng địa phương chưa nhận thức

rõ về phương pháp quản lý rừng cộng đồng (CFM) vì rất khó để đưa ra một tên đăng ký cho một cộng đồng thôn theo Luật Đất đai năm 2003 (xem Mục 14 thảo luận về những vấn đề sở hữu đất) Do vậy, không có những hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng bền vững của quốc gia cho các hộ gia đình và cộng đồng, mặc dù các tỉnh đã có hướng dẫn chi tiết được xây dựng bởi một dự án ODA Có một số thí điểm

và diện tích rừng dự án khá rộng, hỗ trợ thành công mô hình CFM, tuy nhiên, phương pháp vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt và công bố rộng rãi để sử dụng trong phạm vi toàn quốc

 Giám sát tài nguyên rừng thiếu hiệu quả (khôn khéo)

 Thực thi pháp luật và hệ thống pháp lý không hiệu quả-sự phối hợp giữa những cơ quan và quan chức thực thi pháp luật vẫn còn hạn chế do thiếu sự: (i) phối hợp chặt chẽ và cơ chế trao đổi thông tin giữa các

cơ quan chịu trách nhiệm thực thi; và (ii) phân bố đủ ngân sách nhà nước cho các hoạt động phối hợp

 Những quy định khai thác gỗ thiếu bền vững và mang tính chất phức tạp

 Đói nghèo liên miên ở vùng nông thôn

 Đất dành cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp ít-đất rừng chủ yếu bị suy thoái, có đặc tính xấu, đất màu mỡ hơn được chuyển đổi sang mục đích sản xuất nông nghiệp, khiến cho sản lượng rừng trồng ở Việt Nam thấp, ví dụ, thậm chí loài keo vô tính cũng cần đất phù hợp, và ở nơi nào cây được trồng trên đất xấu thì loài keo tai tượng truyền thống sẽ chiếm ưu thế hơn loài keo lai17

 Hạn chế các phương án sinh kế thay thế-theo Điều tra mức sống hộ gia đình tại Việt Nam (VHLSS) trong

cả nước và số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012, mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn

đã tăng trong những năm gần đây, nhưng vùng này vẫn có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhất

cả nước-900.000 đồng/tháng (43 Đô la Mỹ/tháng)18 Những hộ nghèo nhất có mức thu nhập trung bình là 300.000 đồng /tháng tương đương 14 Đô la Mỹ/tháng) Quy định mới cho biết các hộ nghèo ở nông thôn

là các hộ chỉ có mức thu nhập trung bình dưới 450.000 đồng/đầu người/tháng và họ sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp chiếm 43% thu nhập hộ gia đình

 Di cư làm kinh tế tự phát có thể được coi là một vấn nạn ở rất nhiều nơi gồm có: (i) Di cư để trồng cà phê

và hồ tiêu (chủ yếu ở vùng Tây Nguyên); (ii) số lượng lớn những người đi theo (vợ, con, người buôn bán vặt…) ở những công trình lớn, ví dụ, công trường thủy điện Trung Sơn ở Thanh Hóa khá nhỏ, dự án dự tính sẽ có ít nhất khoảng 2-3.000 người di cư làm kinh tế tại khu vực quanh công trường, sống trong điều kiện cơ sở hạ tầng rất khó khan; và (iii) việc di cư từ nông thôn lên thành thị để tìm kiếm việc làm

17 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng theo nghiên cứu của Nhật Bản và CSIRO về loài keo vô tính, keo tai tượng (Acacia mangium) cho thấy tỉ lệ tăng trưởng rất cao vượt cả những mức so sánh thử nghiệm đã thực hiện ở Nhật Bản và Malaysia Đối với loài keo vô tính trồng ở đất nghèo kiệt, keo tai tượng sẽ chiếm ưu thế hơn loài vô tính Theo Dự tính năng suất của các rừng trồng keo tai tượng ở vùng Đông Nam Á, tác giả Matsumura và Naoto Formath- Chương 10, năm 2011

18 Thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là ở vùng Tây Bắc (740.000 đồng/tháng tương đương 35 Đô la Mỹ/tháng) và

Trang 19

5.3 Mô tả và giải thích rõ hơn về những hoạt động theo kế hoạch hoặc đang diễn ra trong Chương trình

Giảm phát thải

Hãy mô tả những hoạt động đề xuất và những can thiệp về mặt chính sách của Chương trình Giảm phát thải

gồm có những hoạt động liên quan tới hoạt động quản trị, và giải thích những hoạt động này làm thế nào để giải quyết những nhân tố và những nguyên nhân chính của việc mất rừng và suy thoái rừng và/hoặc hỗ trợ tăng

cường lượng dự trữ các-bon, vượt qua những trở ngại nêu trên (VD: Chương trình Giảm phát thảitham gia như thế nào vào việc thay đổi những quy định, chính sách hiện có hoặc/và việc sử dụng tài nguyên rừng thiếu bền

vững?)

Chương trình Giảm phát thảicủa vùng Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ áp dụng phương pháp sử dụng tài nguyên bền vững nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh của tỉnh và của quốc gia thông qua việc lập kế hoạch tăng cường giảm phát thải (LEDP) cho các ngành liên quan tới đất đai (nông nghiệp, lâm nghiệp và năng lượng) Phương pháp LEDP, thông qua PRAP (như chỉ đạo của NRAP), được xem là một phương thức thiết lập một môi trường phù hợp cho các hoạt động cụ thể ở mỗi ngành sản xuất (nông nghiệp, lâm nghiệp và năng lượng) Những biện pháp can thiệp sẽ giảm lượng phát thải từ việc sử dụng đất nhằm tận hưởng nguồn tài chính các-bon như một nguồn thu giúp đảm bảo việc bảo vệ cảnh quan bền vững, đã được lồng ghép trong các mục tiêu và mục đích dưới đây của Chương trình:

Mục đích: Vùng Sinh thái-Nông nghiệp Bắc Trung Bộ được xác định là vùng cảnh quan bền vững, mang lại lợi

ích về mặt kinh tế, môi trường và xã hội, là mối quan tâm của nhiều ngành hữu quan nhằm xác định các nhân tố gây mất rừng và suy thoái rừng vì đây là một điểm sáng về tăng trưởng xanh đối với Việt Nam nói riêng và khu vực ASEAN nói chung

Mục tiêu: Đạt được các mục tiêu tăng trưởng xanh của tỉnh và quốc gia thông qua xúc tác tài chính các-bon để

phát triển bền vững nông lâm nghiệp ở vùng Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ-nhằm đạt được những thành tựu đổi mới sau: (i) đổi mới kinh tế xanh trong hoạt động sử dụng đất; (ii) xóa đói giảm nghèo và phát triển sinh

kế nông thôn; và (iii) bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học và tăng cường các dịch vụ sinh thái-thông qua các-bon,

và các nguồn tài chính đổi mới khác

Nhằm đạt được mục tiêu này và hướng tới mục đích dài lâu của Chương trình Giảm phát thải, có 04 chiến lược (và những hoạt động thành phần) được đề xuất nhằm giải quyết 04 nguyên nhân chủ đạo gây mất rừng và suy thoái rừng, được trình bày ở Bảng 5.3 dưới đây

Bảng 5.3 Tóm tắt những chiến lược ngành được nêu trong Chương trình Giảm phát thảiở Vùng

Sinh thái Nông nghiệp Bắc Trung Bộ

Chiến lược Hoạt động đề xuất Những nhân tố được xác

định

Những nguyên nhân chủ yếu được xác định

1 Tạo môi trường lý

tưởng

a) Lập kế hoạch Hành động REDD của tỉnh (Cải thiện việc lập kế hoạch đa ngành)

đất, rừng (thiếu sự lồng ghép) thiếu hiệu quả b) Tăng cường thể

chế

đất, rừng (thiếu sự lồng ghép) thiếu hiệu quả

Đói nghèo liên miên

3 Chiến lược

ngành lâm

nghiệp

a) Giao đất rừng sản xuất; mở rộng quyền sử dụng rừng và các phương pháp đồng quản

Chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp theo QH và ngoài QG; quản lý rừng thiếu bền vững

Khai thác gỗ trái phép

Chưa rõ về quyền sở hữu đất và quyền sử dụng rừng

b) Chứng chỉ rừng sản xuất bền vững

Quản lý rừng thiếu bền vững

Những biện pháp khuyến khích chưa đủ để áp dụng các phương pháp sản xuất bền vững

c) Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Chuyển đổi sang đất nông nghiệp ngoài quy hoạch;

khai thác gỗ trái phép

Đói nghèo liên miên; Dịch vụ hệ sinh thái rừng chưa được đánh giá cao d) Tăng cường phối hợp thực thi

pháp luật

Khai thác gỗ trái phép Hệ thống pháp lý và thực

thi pháp luật thiếu hiệu quả

Trang 20

Chiến lược Hoạt động đề xuất Những nhân tố được

xác định

Những nguyên nhân chủ yếu được xác định

e) Tăng cường chỉ đạo đối với ngành lâm nghiệp để chống chịu bền bỉ với mưa bão

Số lượng mưa bão và áp thấp nhiệt đới dữ dội tăng khiến rừng trồng bị mất và gián tiếp gây mất rừng do việc khai thác gỗ trước kỳ (lo sợ bị mất gỗ)

Công nghệ chưa được kiểm nghiệm (trong điều kiện Việt Nam)

Giảm nhu cầu năng lượng, giảm suy thoái rừng và mất rừng

Chi phí cơ hội cao đối với ngành năng lượng

b) Tăng cường sử dụng năng lượng tái chế và khí sinh học c) Cải thiện quy trình lập kế hoạch môi trường thông qua việc sử dụng PRAP

Quy trình đánh giá tác động môi trường không hiệu quả; việc phối hợp giữa ngành lâm nghiệp và ngành năng lượng

5.3.1 Tạo môi trường lý tưởng

Chiến lược môi trường lý tưởng là một chiến lược chủ đạo của phương pháp hướng tới cảnh quan bền vững của Chương trình Giảm phát thải, bao gồm 02 hành động can thiệp chính, đó là: (i) Kế hoạch hành động REDD+ của tỉnh (PRAP), đây có thể là một phương pháp lập kế hoạch đa ngành miêu tả những hoạt động sẽ được diễn

ra ở đâu, do ai thực hiện; và (ii) phối hợp tăng cường thể chế (đảm bảo rằng các nhân tố nhà nước và phi nhà nước có khả năng triển khai các kế hoạch để đạt được các kết quả giảm phát thải.)

a) Lập kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh

Theo quy định nêu trong NRAP, PRAPs là cấp hoạt động trong quá trình lập kế hoạch cho quốc gia và cho Chương trình giảm phát thải.PRAP là phương tiện để hướng quy trình lập kế hoạch đa ngành vào sự phát triển ngành truyền thống và lập kế hoạch dựa vào sản phẩm, nhằm đạt được lợi ích về các-bon và lợi ích phi các-bon thông qua môi trường sản xuất bền vững Thêm vào đó, nhằm đảm bảo rằng Chương trình Giảm phát thảiđược hoạt động lồng ghép vào NRAP, PRAP cũng giúp xây dựng các biện pháp can thiệp, hoạt động cụ thể ở tỉnh nhằm giải quyết những nhân tố chính gây mất rừng và suy thoái rừng vì mức độ tác động của các nhân tố ngày biến đổi rất nhiều tùy thuộc vào sinh cảnh PRAP cũng liệt kê những chương trình (của chính phủ và vốn ODA) và nguồn tài chính hiện có góp phần triển khai các hoạt động đề xuất Một quy trình với các bước thực hiện khôn khéo cũng được lồng ghép vào PRAP như những biện pháp can thiệp19 ở Việt Nam, quy trình này có thể điều chỉnh và áp dụng trong quá trình triển khai Chương trình giảm phát thải:

Giai đoạn I –PHÂN TÍCH SỰ CHUẨN BỊ

1 Phân tích các bên liên quan;

2 Phân tích tổng hợp của tổ chuyên trách về các nhân tố, rào cản và những nguyên nhân chủ yếu; based)

(desk-3 Phân tích không gian về việc giảm phát thải và tiềm năng lợi ích phi các-bon20

Giai đoạn II –QUY TRÌNH CÓ SỰ THAM GIA

1 Phân tích có sự tham gia về các nhân tố, rào cản và nguyên nhân cơ bản;

2 Xác định các biện pháp can thiệp có sự tham gia nhằm giải quyết các nhân tố, rào cản và nguyên nhân

Trang 21

Giai đoạn III – NĂNG LỰC KINH TẾ

1 Đánh giá tiềm năng các-bon (giảm phát thải/tăng cường dự trữ) mang lại từ việc thực hiện các biện pháp can thiệp; và

2 Phân tích tính kinh tế của các biện pháp giảm thiểu đề xuất dựa vào chi phí phải bỏ ra và lợi ích mang lại

Giai đoạn IV – KẾT CẤU CỦA REDD+

1 Tăng cường hoạt động của những cơ chế tham vấn hiện có;

2 Xác định những cơ chế khuyến khích đa lợi ích và các hình thức chia sẻ, kết hợp lợi ích; và

3 Tăng cường hệ thống giám sát hiện có đối với các chỉ số các-bon và phi các-bon

b) Tăng cường thể chế

Năng lực thể chế cần phải được xây dựng cho các cơ quan nhà nước hữu quan, các chủ rừng và chủ trang trại,

và những cộng đồng dân cư nhằm triển khai PRAP hiệu quả và đạt được những kết quả mong muốn đối với việc giảm phát thải Những khu vực ưu tiên để xây dựng năng lực gồm có:

 Giám sát rừng có sự tham gia (các chỉ số các-bon và phi các-bon);

 Các phương thức quản lý rừng bền vững VD: (RIL; ERL);

 Cải thiện tiềm năng sử dụng rừng phục vụ cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và cải thiện tính tương thích của hoạt động trồng rừng, tái sinh rừng và mục tiêu xóa đói giảm nghèo21;

 Tầm quan trọng của việc cải thiện những lợi ích mang lại từ việc quản lý LSNG bền vững22 và có thể sản xuất kết hợp với nhiều mô hình trồng rừng và quản lý rừng cộng đồng gồm có việc cải thiện chuỗi giá trị của những sản phẩm này; và

 Hợp tác và lập kế hoạch có hệ thống giữa các bộ ngành hữu quan

c) Rừng cộng đồng và chia sẻ lợi ích

Việc đưa vào mô hình quản lý rừng cộng đồng với quy mô lớn hơn vẫn còn gặp phải một số những rào cản về thể chế ở cấp tỉnh, huyện, xã và thôn khi triển khai hình thức quản lý rừng cộng đồng và cơ chế chia sẻ lợi ích gồm có vấn đề liên quan tới sở hữu đất đai (xem Mục 14 trình bày về những vấn đề này), bảo vệ rừng và thách thức về việc triển khai những mô hình quản lý rừng mới Ví dụ, tầm quan trọng của LSNG được đề cao Một giải pháp dành cho rất nhiều vùng có rừng bị suy kiệt là hướng mối quan tâm đối với nguồn tài nguyên tới những đối tượng thương mại bên ngoài, tuy nhiên, thách thức ở đây là phải đảm bảo rằng cộng đồng địa phương không bị gạt bỏ Có thể tránh được điều này thông qua một quá trình lập kế hoạch sử dụng đất rừng được thực hiện một cách cẩn thận, đổi mới và có sự tham gia Có một số ví dụ cho thấy cộng đồng được hưởng lợi khi các công ty lâm nghiệp quốc doanh nhượng quyền sử dụng đất hoặc khi các công ty trồng rừng mua công nghệ mới (loài mới, vườn ươm, cải thiện kỹ thuật trồng)

21 Trong vùng thực hiện Chương trình, dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (FSDP) đã triển khai hoạt động tại các tỉnh gồm Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thanh Hóa, Ngân hàng Phát triển Đức đã tài trợ cho các dự án rừng ở đây (dự án KfW6 ở tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam) Các dự án này đã góp phần tăng lợi nhuận từ các khoản đầu tư và tăng cường độ tín nhiệm đối với các hộ nông dân trồng rừng Dự án FSDP cũng đã giới thiệu chứng chỉ rừng thành công tại địa phương và KfW6 cùng với dự án trồng rừng đã giới thiệu các phương pháp quản lý rừng cộng đồng

22 Hiện nay, nhu cầu ngày càng tăng đối với các loại LSNG khác nhau, chủ yếu là vì mục đích làm thuốc và giá cả các loại này tăng nhanh vì sự khan hiếm của một số loại thảo dược và lan làm thuốc (rất nhiều báo cáo của SNV, WWF, VCF), thêm vào đó, GIZ cũng tài trợ cho hàng loạt những nghiên cứu, trong đó có những nghiên cứu về LSNG

Trang 22

và cộng đồng có thể tham gia với tư cách người trồng độc lập23 và cũng có thể hưởng lợi từ việc dễ dàng tiếp cận với chuỗi marketing

d) Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES)

PFES là một phương pháp đổi mới của ngành lâm nghiệp Việt Nam và đã có cam kết mạnh mẽ về mặt chính trị (Nghị định 99), với khởi điểm là một quỹ chung của quốc gia vào năm 2010 và cho tới năm 2013 quỹ này đã hình thành một quỹ quốc gia, và 31 quỹ ở các tỉnh.24Tuy nhiên, yêu cầu cần có thể thực hiện và đạt được thành công của PFES là cần có một quy trình minh bạch hơn, cải thiện hệ thống giám sát và khuyến khích, thu hút người sử dụng dịch vụ chi trả nhiều hơn

5.3.2 Chiến lược ngành nông nghiệp

Tăng cường chuỗi giá trị cây trồng mang lại thu nhập cao, thông qua những phương pháp kinh doanh của ngành nhằm hạn chế sự mất rừng và suy thoái rừng ở những khu vực thường xảy ra hiện tượng khai thác gỗ trái phép và canh tác nương rẫy Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính (tiếp cận với nguồn vốn) có thể được tăng cường, thông qua những dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm của huyện (thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

hoặc Ngân hàng Chính sách xã hội), nhằm tăng sản lượng sắn, tre và keo tại các vùng rừng trồng kém năng suất Khi

có sự hỗ trợ phù hợp và khả thi, việc mở rộng các mô hình nông lâm hiện có sẽ được tiến hành25

Việc trồng cao su sẽ chỉ được hỗ trợ phù hợp với các hướng dẫn của Bộ NN&PTNT về trồng cao su trên đất trống, cùng với những đánh giá rủi ro liên quan tới thị trường (giá cao su thường giảm) và khí hậu (mưa bão ngày càng nhiều và dữ dội hơn)

5.3.3 Chiến lược ngành lâm nghiệp

a) Giao đất rừng sản xuất

Nhằm hỗ trợ mục tiêu của dự án ngành lâm nghiệp trồng lại 164.000 héc-ta rừng suy thoái, và trồng 35.000 héc-ta rừng trồng mới và trồng lại 32.000 héc-ta rừng vào năm 2020, việc giao đất rừng sản xuất sẽ là hoạt động chủ đạo của ngành lâm nghiệp, thuộc Chương trình giảm phát thải Phần lớn diện tích (75.000 héc-ta), không thuộc quyền sở hữu rừng của các chủ rừng, được ưu tiên cho cộng đồng và người dân tộc sống lệ thuộc vào rừng và và chủ yếu áp dụng phương thức quản lý rừng cộng đồng theo truyền thống Chú trọng những nỗ lực trồng rừng ở những vùng đất trống mới được giao và hỗ trợ tái sinh rừng tự nhiên ở những vùng rừng suy thoái nhằm tăng cường lượng các-bon dự trữ một cách nhanh chóng Thành công của giao đất giao rừng (FLA) đã thúc đẩy công tác bảo vệ và duy trì độ che phủ rừng ở những vùng núi cao, và tính hợp lý của sự phân quyền này là người dân có thể quan tâm tới công tác quản lý bảo vệ rừng hơn nếu họ có quyền chính thức đối với đất rừng (Sikor 2001), FLA chính thức nhằm duy trì độ che phủ rừng tự nhiên và mang lại thu nhập thông qua các hoạt động lâm nghiệp FLA sẽ được thảo luận kỹ hơn ở Mục 14 về sở hữu đất) Việc giao thêm rừng chủ yếu dành cho (tùy vào độ dài của chu kỳ khai thác của cây) các hộ nghèo và người dân tộc thiểu số có ít cơ hội sinh

kế thay thế khi có những chiến lược sinh kế ở nông thôn khác được triển khai Để phục vụ cho chuỗi giá trị nông nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính (tiếp cận với các khoản tín dụng) sẽ được cung cấp thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm của huyện

23 Ví dụ tại các vùng dự án FSDP (nhưng không phải các biện pháp can thiệp của dự án FSDP) gồm có xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế và xã Đăk Mang, huyện Hoài An, tỉnh Bình Định

24 Hiện nay có khoảng 247 hợp đồng PFES (trong đó có 161 hợp đồng thủy điện, 50 hợp đồng cung cấp nước, 36 hợp đồng

du lịch); vào năm 2012, tổng doanh thu từ thủy điện đạt 1.154 tỷ đồng, ngành cung cấp nước đạt 16,9 tỷ đồng và du lịch đạt 0,9 tỷ đồng; theo bài trình bày về PFES tháng 09 năm 2013

25 Ví dụ, mô hình trồng sắn, tre, keo ở tỉnh Nghệ An: sắn được thu hoạch trong năm (2,5 triệu đồng/héc-ta; tương đương 120

Đô la Mỹ/héc-ta); tre được thu hoạch sau 4 đến 5 năm (6 triệu đồng/héc-ta; tương đương 285 Đô la Mỹ/héc-ta); và keo thu hoạch sau 5-7 năm (10,8 triệu đồng/héc-ta tương đương 512 Đô la Mỹ/héc-ta) (Tất cả các số liệu là tính tổng, không bao gồm chi phí nhân công) (SNV 2010).Thu nhập của nhóm hộ nông dân trồng rừng của dự án FSDP cao hơn, nhưng có sự khác nhau do sử dụng nguyên liệu, giống cây trồng có chất lượng khác nhau (keo lai vô tính và loài keo tai tượng và tùy vào địa phượng, ví dụ, dăm gỗ của loài keo tai tượng ngắn hạn có thể thu nhập được sau chu kỳ 7 năm sau khi trừ tất cả các chi phí và phí nhân công thì dao động khoảng từ 412 Đô la Mỹ/héc-ta cho tới 5.072 Đô la Mỹ/héc-ta tùy vào độ giàu nghèo của đất; trong khi đó rừng trồng lấy gỗ xẻ (kỹ thuật quản lý khác nhau) thì cho thu nhập cao hơn từ 1.216 Đô la Mỹ đối với

Trang 23

b) Sản xuất bền vững và chứng chỉ rừng

Cùng với lệnh cấm khai thác gỗ trong cả nước đối với tất cả rừng sản xuất, ngoại trừ những trường hợp rừng có chứng chỉ quốc tế, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật sẽ được cung cấp cho những chủ rừng sản xuất để họ có được chứng chỉ rừng Ưu tiên sẽ dành cho các công ty lâm nghiệp và cộng đồng thôn bản triển khai mô hình rừng cộng đồng Cần có một mô hình kinh doanh hàng hóa và dịch vụ kết hợp (gỗ, LSNG) (dịch vụ chi trả môi trường rừng nội địa; chi trả các-bon quốc tế Kỹ thuật Khai thác tác động thấp (RIL) sẽ được giới thiệu tới những rừng sản xuất tự nhiên đã có chứng chỉ Rất khó để có được thị trường mới của các sản phẩm gỗ có chứng chỉ (theo yêu cầu từ phía Châu Âu và Bắc Mỹ) vì những nhà cung cấp gỗ của tỉnh, của địa phương cho tới các công ty báo cáo rằng họ phải phân loại nguyên liệu từ các vùng khác nhau và thậm chí cả nguyên liệu nhập từ nước ngoài (Malaysia) Phí thông thường mà các công ty phải trả cho sản phẩm gỗ có chứng chỉ địa phương ít nhất là 20% giá trị hàng26 Giá FSC

có thể ảnh hưởng nhiều đến nếp nghĩ của các tiểu điền vì gỗ có chứng chỉ có thể dễ dàng tiêu thụ hơn trên thị trường và mọi người cũng sẽ thấy rằng mặc dù phải đầu tư nhiều thời gian vào rừng trồng nhưng giá cả, lượng tiền thu được từ gỗ sẽ nhiều hơn Điều đáng tiếc là có một xu hướng trong số những hộ trồng rừng tiểu điền là họ thường thu hoạch cây sớm hơn quy định, vào năm thứ 5 hoặc thứ 6, chủ yếu là do các yếu tố: (i) áp lực từ phía những người làm cùng (một nhóm hộ gia đình muốn bán cây lấy dăm gỗ và người mua thì muốn chặt phá luôn một thể hơn là khai thác một khoảng rừng); (ii) thiếu tiền mặt, và muốn trả nợ và đề phòng bất trắc rủi ro có thể

có do mưa lũ –chặt luôn để giảm nguy cơ bị mất trong tương lai gần Tiền thu lại từ chặt cây năm thứ 5, thứ 6 có thể ít hoặc rất ít, đặc biệt là nếu như lô rừng đó ở vùng đất xấu hoặc đất có vấn đề Tính khả thi của việc khuyến khích hộ gia đình cân nhắc việc chuyển từ trồng cây lấy dăm gỗ sang lấy gỗ và thậm chí là có chứng chỉ rừng, phương án trồng cây lấy gỗ có thu hút hơn Trong rất nhiều trường hợp, chu kỳ khai thác có thể kéo dài từ mức 6-7 năm đến 12-15 năm, đối với các rừng trồng để đẩy mạnh sản xuất gỗ quy mô lớn hơn với giá trị cao hơn (so với giá trị thấp của các cây gỗ khai thác lấy dăm gỗ) Cũng có một số lợi thế của việc tiến hành trồng rừng đan xen, đặc biệt là khi người nông dân đã có thêm diện tích đất nông nghiệp, nơi họ có thể trồng cây lấy gỗ trên loại đất không tốt (hoặc nếu không có thể không được sử dụng), và duy trì vì vậy có thể được đáp ứng dễ dàng, còn lại lượng lao động sẽ tập trung vào vụ mùa Sẽ có hỗ trợ cho các chủ rừng để xây dựng các cơ sở chế biến gỗ và phi gỗ quy mô nhỏ được cấp phép nhằm tạo nên giá trị gỗ và các sản phẩm LSNG, tăng doanh thu cho các chủ rừng

Có một số dự án ở Việt Nam đã lồng ghép xây dựng năng lực về FSC, trong đó có dự án FSDP27 đã giới thiệu về FSC tại 05 xã ở 04 tỉnh, GIZ đã làm việc về SFC ở khu vực Tây Nguyên Có diện tích đất có chứng chỉ là 46.8145 héc-ta và gồm có 04 công ty và cộng đồng địa phương tại các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Tại Quảng Trị,

gỗ có chứng chỉ được dự án SECO/WWF và Ngân hàng phát triển Đức hỗ trợ thực hiện, 28 và việc bán gỗ xẻ được hỗ trợ bởi Mạng lưới lâm sản toàn cầu– Việt Nam (GFTN-V)

c) Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Việc mở rộng, vận hành và đổi mới chi trả dịch vụ môi trường rừng là cần thiết để đảm bảo rằng việc khai thác gần các rừng sản xuất từ giờ trở đi không bị chuyển sang các rừng đặc dụng và rừng bảo vệ tự nhiên Giám sát việc đổi mới (xem Mục 9.4) và cơ chế ưu đãi (xem Mục 15.1), với các phương án gói gọn các chi trả về các kết quả, và những lợi ích phi tiền tệ gắng với sản xuất nông nghiệp hoặc/và lâm nghiệp sẽ được giới thiệu 02 hình thức chính được nêu trong Chương trình Giảm phát thải

 Việc ký kết hợp đồng với các hộ (được hoạt động với tư cách ủng hộ, đối tác của các nhóm nông dân trồng rừng của các hộ gia đình) và cộng đồng thôn bản để triển khai các hoạt động bảo vệ rừng cho các BQL rừng nhà nước; và

 Thí điểm đồng quản lý rừng tự nhiên để chia sẻ các lợi ích dịch vụ và hàng hóa rừng với cộng đồng địa phương đồng thời gắn họ với trách nhiệm bảo vệ rừng (xem Mục 14 để thảo luận kỹ hơn về điều này)

26Tại Quảng Trị, có 24% gỗ tròn có đường kính 19cm từ nhóm chứng chỉ rừng tiểu điền ở Việt Nam-Giai đoạn thử nghiệm

và triển vọng trong tương lai

27 FSDP đang hỗ trợ chứng chỉ rừng cấp xã ở 04 tỉnh (Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thừa Thiên Huế) và có 05 huyện, xã đã có chứng chỉ trên diện tích 784 héc-ta

28 Sự kết hợp của sao đen và keo tai tượng với tỉ lệ 9:1, vào năm 2010 là nhóm FSC đầu tiên với cây được trồng từ những năm 1998, 1999, 2003, 2004 và 2008; Các công ty đã trả giá cao hơn 24% đối với gỗ keo tròn có chứng chỉ (đường kính

≥19 cm) và điều quan trọng là gỗ không có chứng chỉ với đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 13 cm chỉ được bán làm gỗ dăm, trong khi đó gỗ có chứng chỉ khác vơi đường kính từ 10-14 cm đã được xem là gỗ tròn ‘Nhóm chứng chỉ rừng tiểu điền ở Việt Nam: Giai đoạn thử nghiệm và triển vọng trong tương lai M R Auer; Human Ecology 2012

Trang 24

Một ưu tiên quan trọng bổ sung đối với phương án này đó là sẽ trồng, bảo vệ rừng ven biển gồm các loại gỗ cứng pha tạp, thông, Casuarina và các loài ngập mặn (nếu không được đầu tư trong các dự án đầu tư khác) Tiềm năng để phát triển rừng ven biển khá khiêm tốn xét về khía cạnh diện tích, so với các vùng cao, vùng sâu vùng xa, nhưng việc trồng rừng này là cần thiết để hạn chế tác động của mưa bão Do vậy, lợi ích các-bon khá hạn chế, nhưng các lợi ích phi các-bon khác từ việc hạn chế tác động mưa bão trong điều kiện biến đổi khí hậu

là những động cơ chủ đạo cho những việc thiết lập những rừng ven biển của Chương trình

d) Tăng cường thực thi pháp luật

Trong phạm vi Vùng quy hoạch, Chương trình Giảm phát thảisẽ giải quyết những vấn đề định tính tồn tại từ lâu về nỗ lực thi hành pháp lý ở Việt Nam khiến hạn chế việc tuân thủ pháp luật, đó là: (i) phụ thuộc vào các biện pháp mang tính đối phó chứ không mang tính chủ động; và (ii) nỗ lực thường tập trung vào việc đàn áp thay vì ngăn chặn; và (iii) một định hướng nội địa, nội tại (Chương trình Giảm phát thảisẽ tập trung giải quyết

cả vấn đề thương mại trái phép trong nước và quốc tế nhằm hạn chế dịch chuyển phát thải thông qua các biện pháp can thiệp của Chương trình)29 Hỗ trợ cho các chính quyền và cơ quan thực thi pháp luật địa phương nhằm thực thi pháp luật theo hướng chiến lược và khôn khéo hơn theo 04 chiến lược dưới đây:

(i) Tái định hướng nỗ lực thực thi pháp luật hướng tới phòng chống hơn là giải quyết vụ việc, thông qua:

 Thể chế hóa quy trình lập kế hoạch và khoanh vùng quản lý rừng đa mục đích tốn kém;

 Lồng ghép các phương pháp bảo vệ tài sản trong quá trình lập kế hoạch và triển khai quản lý rừng; và

 Tăng cường năng lực nhân sự của kiểm lâm nhằm hỗ trợ nhiều hơn cho các chủ rừng trong quá trình lập

kế hoạch, triển khai và giám sát quản lý rừng

(ii) Tăng cường các xử lý hình sự, gồm có khả năng thu hút các giám sát viên dân sự xã hội, đối với tội phạm rừng (từ thu giữ gỗ cho tới điều tra, bắt giữ và khởi kiện) và tham nhũng trong nội bộ các đơn vị, ban ngành lâm nghiệp và cơ quan hành pháp:

 Triển khai các nhân tố chủ đạo của Hệ thống đảm bảo tính hợp lệ của gỗ tại Việt Nam trước thềm Hiệp định đàm phán tự nguyện FLEGT với Liên minh Châu Âu30; và

 Tăng cường năng lực nhân sự của những cơ quan thực thi pháp luật chủ đạo nhằm triển khai luật-kiểm lâm viên, cán bộ hải quan, công an khi xác định các loại gỗ, thu giữ các bằng chứng, xét hỏi về kỹ thuật khai thác, chế biến và hiện diện tại tòa

(iii) Áp dụng phương pháp thực thi thông minh hơn thay thế phương pháp dựa theo phản ứng, thông qua:

 Tập trung, nỗ lực thực thi pháp luật tại những điểm bán lâm sản trái phép-xưởng cưa, nhà máy chế biến

gỗ, thị trường, các nhà hàng bán động vật hoang dã, và tại những điểm xuất khẩu;

 Hiện đại hóa hệ thống báo cáo vi phạm rừng như một công cụ để hướng tới mục tiêu thực thi pháp luật, gồm có sử dụng các sản phẩm giám sát viễn thám và dữ liệu chuẩn và các kênh quản lý liên ngành (Cục kiểm lâm, cảnh sát môi trường, Tổng cục hải quan, Trung tâm thông tin chống rửa tiền) và;

 Tăng cường phối hợp liên ngành giữa các cấp trung ương và địa phương-đặc biệt là giữa Cục kiểm lâm, công an (rất nhiều mảng bao gồm kinh tế, môi trường và buôn lậu), Tổng cục hải quan và Tòa án nhân dân tối cao-cùng với việc thành lập một nhóm Công tác điều tra liên ngành xử lý những vụ việc buôn bán gỗ trái phép cấp cao)

(iv) Đối thoại chính sách quốc gia để thông tin cho các nhà lập pháp về thực thế của việc thực thi lâm luật có hiệu quả không và nhu cầu cần hoàn thiện môi trường chính trị ở cấp cao nhất, gồm có:

 Tăng cường thực thi pháp luật tại các chương trình nghị sự chính trị của các lãnh đạo cấp cao, nhà chính trị

và quan chức cơ quan hành pháp;

 Xây dựng các chiến lược thực thi công lý nhằm giải quyết, đối phó với các tội phạm có tổ chức phức tạp; và

 Tăng cường các lchương trình nghị sự đổi mới pháp luật quốc gia để hoàn thiện những thiếu sót, kẽ hở trong khung pháp lý quốc gia và đảm bảo tuân thủ các cam kết chính trị quốc tế đã và sẽ tham gia (UNTOC- Công ước của Liên hợp quốc về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; UNFCCC-Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu; FLEGT VPA-Hiệp định đối tác tự nguyện)

29 Ngân hàng Thế giới (2010) Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quản trị và thực thi lâm luật; UNODC –Cơ quan phòng

chống ma túy và tội phạm của Liên hợp Quốc (2013) Xử lý hình sự đối với buôn bán gỗ trái phép tại Việt Nam

30 Việt Nam hi vọng sẽ hoàn thành quy trình đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) vào tháng 10 năm 2014 và triển khai trong hai năm tiếp theo (2014- 2016)

Trang 25

e) Tăng cường tư vấn để rừng có thể chống chọi với bão lũ

Những mất mát do mưa bão có thể giảm được nhờ việc áp dụng kỹ thuật chắn gió (sử dụng các cây lớn ở một

số vùng hoặc rừng trồng dày để bảo vệ những vùng rừng trồng khác) và trồng các loại cây chịu được gió lớn ở

những vùng dễ bị tác động Cây keo lai và cây keo tai tượng được biết đến là những loài chỉ chịu được gió nhẹ

vì những cây này khá mảnh khảnh (và cao), bởi vậy, chương trình cần tính đến các phương án giảm thiểu tác động, đặc biệt là kinh nghiệm cho thấy nhiều gia đình phải chịu bão lũ ít nhất một lần trong chu kỳ khai thác 7 năm của cây trồng

5.3.4 Tăng cường chiến lược ngành năng lượng

Việc chuyển đổi rừng thành các công trình thủy điện cần tăng cường các quy định đánh giá tác động môi trường

và xã hội, tăng cường các biện pháp quản lý môi trường và hỗ trợ nhiều hơn để đảm bảo về mặt pháp lý Ngành lâm nghiệp cần được tham gia vào quy trình lập kế hoạch xây dựng, triển khai các nhà máy thủy điện với tư cách bên liên quan; bất cứ sự chuyển đổi rừng nào để xây dựng nhà máy thủy điện đều cần phải lồng ghép vào quy trình lập kế hoạch tổng thể về quản lý bảo vệ rừng của tỉnh Những người dân bị tác động có quyền tham gia vào quy trình đánh giá tác động môi trường và lập kế hoạch quản lý và bảo vệ rừng, họ cần được đền bù theo luật (Luật Đất đai năm 2013 và Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004) Chương trình Giảm phát thảisẽ hỗ trợ các lãnh đạo địa phương xây dựng những kế hoạch chuyển đổi rừng để xây dựng nhà máy thủy điện phù hợp với Luật bảo vệ và phát triển rừng Sẽ có hỗ trợ kỹ thuật từ Chương trình nhằm củng cố các quy trình đánh giá tác động môi trường cho các dự án xây dựng nhà máy thủy điện, và quy trình lập kế hoạch chuyển đổi đất rừng (và những tác động lớn hơn có thể có), các biện pháp giảm thiểu tác động, những kế hoạch giám sát quản

lý môi trường đã được phê duyệt

a) Tăng cường sử dụng hiệu quả năng lượng

Hàng loạt những nghiên cứu đã được hoàn thiện nhằm rà soát và cải thiện hiệu quả của ngành năng lượng thuộc các ngành riêng biệt, lựa chọn một trong những ngành có nhu cầu cao về sử dụng năng lượng và sử dụng năng lượng thiếu hiệu quả đó là ngành chế biến gỗ thành dăm gỗ (cần được sấy khô để xuất khẩu) và ép bột giấy để làm MDF31,hoạt động tiêu thụ năng lượng ở các nhà máy lớn (ít nhất có 02 nhà máy thuộc chương trình ở tỉnh Quảng Trị và Thanh Hóa32) và tiết kiệm năng lượng cũng là điều nên xem xét ở thời điểm này

b) Năng lượng tái chế và khí sinh học

Năng lượng tái chế được tìm ra rất chậm chạp với một số đầu tư vào các tuốc-bin gió33vv., khí sinh học đã có nhiều sự hỗ trợ hơn và đã được tăng cường, triển khai trong cả nước Việt Nam được thiên nhiên ban tặng rất nhiều nguồn năng lượng tái chế trong cả nước Sinh khối từ các sản phẩm và chất thải nông nghiệp có ở Việt Nam tương đương với 10 triệu tấn dầu 1 năm Năng lượng khí sinh học xấp xỉ 10 tỉ mét khối một năm, năng lượng này có thể lấy từ các hố rác, phân gia súc và những chất thải nông nghiệp Tiềm năng kỹ thuật của các công trình thủy điện nhỏ (<30MW) có thể đạt trên 4.000MW (và nếu có thể thì những nhà máy thủy điện nhỏ

có thể tiếp tục được xây dựng trong tương lai) Năng lượng mặt trời rất dồi dào với bức xạ mặt trời trung bình đạt 5kWh/m2 trong một ngày trên cả nước Vị trí địa lý của Việt Nam với gần 3400km đường bờ biển cũng là nguồn năng lượng gió dồi dào ước đạt 500-1000 kWh/m2 một năm.Những nguồn năng lượng thay thế này có thể được tận dụng để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng ở Việt Nam Trong khi đó, có một

số thành công ban đầu, việc khai thác các nguồn năng lượng tái chế vẫn chưa tận dụng được hết tiềm năng hiện

có của quốc gia

31Chương trình nhiên liệu Thay thế và bền vững Châu Á: Việt Nam đang tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng Tháng

Trang 26

c) Củng cố quá trình lập kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội và Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh

Lập kế hoạch sử dụng đất liên ngành cần phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (SEDP) ở tỉnh

và cần có chiến lược giảm phát thải đạt mức 20% ở tỉnh

5.4 Phân tích lợi ích/rủi ro của những hành động và biện pháp can thiệp của Chương trình Giảm phát thải

Hãy giải thích việc lựa chọn và ưu tiên những hành động và biện pháp can thiệp của Chương trình Giảm phát thảiđược xác định trong phần 5.3, lưu ý tới những rủi ro của việc triển khai các hoạt động và những lợi ích có thể có, về khía cạnh giảm phát thải và các lợi ích phi các-bon

Trọng tâm của Chương trình là nhằm hỗ trợ xây dựng một chính sách và môi trường hỗ trợ đầu tư trồng cây bởi các hộ trồng rừng tiểu điền, đẩy mạnh công tác giao đất giao rừng cho các cộng đồng và hộ gia đình, hỗ trợ rừng trồng và thiết lập, quản lý các mô hình canh tác hỗn hợp nông-lâm nghiệp (mặc dù việc điều tra địa chính thường được tiến hành để tăng cường hiệu quả chi phí) và khi cộng đồng tham gia quản lý rừng ở Vùng quy hoạch của Chương trình, sau khi đã tiến hành tham vấn rộng rãi và có sự đồng thuận từ phía cộng đồng về

Có thể không có chi trả, nếu lượng phát thải không giảm;

Tỉ lệ chi trả vẫn chưa rõ và vì vậy người dân cũng chưa mặn mà, có thể khiến gia tăng hiện tượng suy thoái rừng và mất rừng;

Là một phần của chương trình bảo vệ phát triển rừng của tỉnh;

Chọn những vùng rừng phù hợp có mức phát thải cao;

Hỗ trợ của chương trình nhằm tăng năng suất cây nông nghiệp tiềm năng cho các thành viên bảo vệ rừng; Thành lập các nhóm bảo vệ rừng cộng đồng

Kiểm lâm phối hợp với cộng đồng trong công tác tuần tra bảo vệ rừng

Suy thoái rừng có thể tăng nếu như nhu cầu cây trồng tăng; Rủi ro của việc trồng cao su và keo

ở vùng ven biển những khu hay có bão

Hỗ trợ của chương trình nhằm tăng sản lượng của những loài cây nông nghiệp có tiềm năng; Hỗ trợ kỹ thuật để trồng cao su

Đầu tư nhiều (15-20 triệu/héc-ta);

Không có thu nhập ngay nếu trồng các loại cây lấy gỗ tròn

và có thể không phù hợp với các hộ nghèo có diện tích đất rừng ít và đất chỉ phù hợp trồng cây nông nghiệp

Hỗ trợ kỹ thuật để cải thiện các vườn ươm và lựa chọn cẩn thận giống cây trồng, trồng keo (ở vùng phù hợp34) và hỗ trợ bảo vệ rừng, đặc biệt là hỗ trợ các hộ nghèo, hộ có ít đất canh tác

Trang 27

tư vấn, khuyến nghị cho những lãnh đạo đối với các kế hoạch đầu tư, nếu như thấy chưa phù hợp với quy định của WB về bảo đảm an toàn môi trường và xã hội và các quy định/kế hoạch của ngành lâm nghiệp;

Chi phí cơ hội cao nếu xây dựng cơ sở hạ tầng và canh tác cây trồng nông nghiệp

có thể khiến cho Chính phủ đưa ra các quyết định để chuyển đổi rừng, vì đất rừng được xem là chưa được sử dụng hiệu quả so với mục đích sử dụng khác, theo đánh giá của các lãnh đạo địa phương Các tác động môi trường và xã hội không được rà soát đầy đủ bởi những người ra quyết định;

Sự tham gia của ngành lâm nghiệp trong quá trình chuẩn bị và đánh giá các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực xét về góc độ ảnh hưởng môi trường và xã hội đối với rừng

và người dân địa phương;

Xây dựng năng lực cho

Chi phí tập huấn cho cộng đồng và các hộ gia đình cao;

Cần có hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài, ít nhất là ở giai đoạn đầu;

Những thành công phần lớn dựa vào sự hỗ trợ tài chính và

kỹ thuật của các nhà tài trợ trong nước và quốc tế

Phối hợp với các chương trình và

dự án hỗ trợ khác của chính phủ và các nhà tài trợ

Ưu tiên thứ hai

Bếp tiết kiệm nhiên liệu

cải tiến

Tiết kiệm củi Tạo việc làm cho người dân

Cần đầu tư ban đầu của người dân

Chỉ cần hỗ trợ

Làm xanh hóa các mỏ ở

Khu bảo tồn

Có thể khôi phục lại rừng sau khi đã khai thác mỏ; Vai trò của ngành mỏ đó là nhân

tố gây mất rừng/suy thoái rừng

Thiếu nhân sự và năng lực thực hiện

Cần có nghiên cứu bởi những dự án

hỗ trợ kỹ thuật khác

6 Chia sẻ thông tin, tham vấn và sự tham gia của các bên liên quan

6.1 Sự tham gia của các bên liên quan vào Chương trình Giảm phát thảicho tới nay

Hãy mô tả các nhóm liên quan chính tham gia vào quá trình thiết kế Chương trình Giảm phát thảinhư

thế nào và tóm tắt những vấn đề được nêu bởi những bên liên quan, những vấn đề này đã được giải

quyết thông qua Chương trình ra sao tính tới nay, và các bước tiếp theo để giải quyết

6.1.1 Thiết kế của Chương trình Giảm phát thải

a) Những đầu vào của dự án FCPF đối với Chương trình Giảm phát thải

FCPF đã tiến hành hàng loạt những hội thảo khởi động ở các tỉnh trong tháng 12 năm 2013, gồm các tỉnh Dak

Nông, Quảng Bình, Quảng Trị nhằm thảo luận về việc chọn lựa huyện thí điểm và những xã, huyện nào

muốn tham gia dự án

34

Như đã nêu ở trong bài viết, việc sử dụng keo lai đã mang lại một số kết quả khả quan trên đất tốt, nhưng sản lượng lại

giảm rất nhanh nếu trồng trên đất xấu trong khi đó keo tai tượng lại thu hồi vốn tốt hơn Tương tự như vậy, rất nhiều vùng

ven biển cũng không phù hợp với loài keo, vì keo không chống chịu được gió mạnh và thường bị úng nước

Trang 28

Bảng 6.1 Huyện, xã và thôn tham gia dự án FCPF

Tỉnh Huyện Xã Những vấn đề gặp

phải ở xã

Thôn Những vấn đề gặp

phải ở thôn 35

Quảng

Bình

Quảng Ninh

Trường

Lâm Thủy

Bản Mới

Xà Khía Quảng Trị Đăk

Rông Hướng Hóa Hải Lăng

Húc Nghì Hương Sơn Hải Lâm Hải Ba

Thôn Húc Nghi ở bên trong và gần rừng đặc dụng của Khu bảo tồn Đăk Rông;

Thôn Cưp Thôn Mới Trường Phước, Phương Lang

Thôn Cưp: Thôn có 240 người dân sinh sống (100% là người dân tộc Vân Kiều) trong vùng lõi của Khu bảo tồn Dak Rông, Vấn đề sở hữu đất chưa rõ ràng; Có thể thiếu đói 3-4 tháng/năm; Dân số sống phụ thuộc nhiều vào rừng Quyền của người dân đối với rừng của nhà nước

Có thể có những biện pháp giảm thiểu: Chia sẻ lợi ích, sinh kế thay thế

Tất cả các tỉnh cần yêu cầu báo cáo36 về hoạt động bảo vệ rừng năm 2013 và Quảng Bình báo cáo có trên 1.324 trường hợp vi phạm, Đăk Nông có 1.072 trường hợp vi phạm và Quảng Trị có trên 500 trường hợp vi phạm nhưng có cả các vụ buôn bán trái phép gỗ và động vật hoang dã từ Lào về Việt Nam

Những kết quả đầu ra của hội thảo và báo cáo về các vấn đề đã xảy ra tại các rừng và những vấn đề cộng đồng thôn bản và chi cục kiểm lâm của tỉnh đang phải đối mặt nhằm xây dựng những biện pháp can thiệp phù hợp

b) Chuẩn bị ER-PIN

Bộ NN&PTNT thành lập một nhóm làm việc gồm có các thành viên từ những cơ quan ban ngành khác nhau của nhà nước, các chuyên gia độc lập, các tổ chức phi chính phủ, các đối tác quốc tế Những người này được mời để đóng góp kiến thức, góp ý để xây dựng một quy trình tham vấn Nhóm làm việc cũng chịu trách nhiệm phụ trách chuẩn bị ER-PIN

Những thảo luận chuyên sâu về những khía cạnh của Chương trình Giảm phát thải và REDD+, đã được tiến hành, những chủ đề gồm có việc lựa chọn khu thí điểm, xây dựng thể chế, cơ chế phối kết hợp, các hoạt động REDD+ và GRM Thính giả tâm điểm gồm những bên liên quan, các đại diện các bên liên quan ở cấp tỉnh và cấp huyện, cùng với những cơ quan nhà nước, các đối tác phát triển quốc tế, ví dụ, GIZ REDD+ Quảng Bình,

Dự án Rừng và đồng bằng của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Liên minh Châu Âu, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) (thành phần của nhóm ER-PIN), những dự án tập trung vào vấn đề biến đổi khí hậu

và rừng của WB và UN-REDD Một phương pháp chia giai đoạn và các bước đi khôn khéo sẽ được áp dụng, bắt đầu từ việc chia sẻ thông tin, phối hợp ra quyết định thông qua các hội thảo và họp ở cấp trung ương cũng như địa phương dựa trên những cuộc tham vấn trước đây về NRAP và R-PP Những phản hồi từ rất nhiều hội thảo, cuộc họp với các cán bộ dự án, thông tin được chia sẻ, vv đã được sử dụng để xác định những hợp phần can thiệp chính (những hợp phần này đã được trình bày tại cuộc hội thảo quốc gia vào tháng 04) và cũng sẽ đảm bảo rằng những biện pháp can thiệp đã lưu ý đến những phát hiện từ rất nhiều dự án (đã làm việc lâu hơn

và sâu hơn so với nhóm ER-PIN chỉ có thể làm việc trong một khoảng thời gian chuẩn bị rất hạn hẹp) đã được

bổ sung, vào những phương pháp đã và sẽ có và không bị trùng lặp với những nỗ lực, những hoạt động của Chương trình Giảm phát thải

Trang 29

03 cuộc họp tham vấn (tháng 12 năm 2012, tháng 3 năm 2013, tháng 5 năm 2013) đã được tổ chức ở cấp quốc gia song song cùng với những hoạt động của NRAP và việc triển khai hoạt động của Chương trình UN-REDD pha II với sự tham gia của các đại diện từ các bộ ngành hữu quan Cuộc họp tham vấn cuối cùng đã được tổ chức dưới sự chủ trì của Tổng cục lâm nghiệp và Bộ NN&PTNT vào tháng 1 năm 2014)

Đợt cuối cùng của các cuộc họp tham vấn được tổ chức lần lượt vào ngày 15 tháng 4 tại Hà Nội và ngày 29 tháng 4 tại Thừa Thiên Huế về ER-PIN để thảo luận những phát hiện của ER-PIN với sự tham gia của đại diện các tỉnh, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước

c) Những kinh nghiệm từ việc thực hiện Chương trình UN-REDD Việt Nam pha I

Những kinh nghiệm và bài học từ Chương trình UN-REDD pha I đã được sử dụng37 để đưa ra những phản hồi

từ địa phương khi thiết kế ER-PIN, ví dụ, năm 2011 Chương trình UN-REDD đã tổ chức 19 khóa tập huấn nâng cao nhận thức và có khoảng một nửa trong số đó được tổ chức tại địa phương gồm có 06 buổi ở xã về cơ chế chia sẻ lợi ích Chương trình UN-REDD đã tổ chức thêm một số buổi tham vấn và hội thảo khởi động vào năm 2013/2014 trong đó có tỉnh Hà Tĩnh (một tỉnh thuộc Chương trình giảm phát thải)

6.2 Quy trình tham vấn và tiếp cận mục tiêu

Hãy mô tả những nhóm của các bên liên quan sẽ tham gia vào việc thiết kế và triển khai Chương trình Giảm phát thảira sao và cơ chế tham vấn tự do, được biết trước cho tới việc hỗ trợ rộng rãi cho cộng đồng của

Chương trình và những hoạt động liên quan, gồm có những thỏa thuận chia sẻ lợi ích, sẽ được đảm bảo ra sao Hãy mô tả quy trình này phù hợp với kiến thức và quyền của người Bản địa và cộng đồng địa phương

ra sao, thông qua việc tuân thủ những quy định quốc tế liên quan, luật pháp và quy chế quốc gia

Tham vấn cộng đồng được xem là một đầu vào quan trọng trong thiết kế cuối cùng của Chương trình Giảm phát thải, như đã nêu ở Mục 6.1 bên trên, FCPF, cùng với các lãnh đạo huyện và tỉnh, đã lựa chọn một số xã, những mối quan tâm của cộng đồng địa phương ở thôn và xã sẽ được lưu ý khi tiến hành các buổi họp có sự tham gia của các bên sau này, sẽ hướng trọng tâm vào một số nhóm nhỏ và sau đó thông tin sẽ được ghi chép, lưu giữ

Để nắm bắt được Vùng quy hoạch với 06 tỉnh dự án, sẽ có thêm các buổi tham vấn và cuộc họp được tổ chức tại những huyện vùng cao ở Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Nghệ An

Một dự thảo chi tiết về chiến dịch truyền thông và kế hoạch tham vấn các bên liên quan38 gồm có một khung thời gian hoạt động cùng với kế hoạch đấu thầu đã được dự án xây dựng với chi tiết về quy trình tham vấn gồm có: (i) Xác định tất cả các bên sẽ tham gia quy trình tham vấn/đối tượng tham vấn (gồm có những bộ ngành hữu quan, những viện nghiên cứu, các trường đại học, các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước, tham vấn chi tiết ở tỉnh, huyện, xã và thôn); (ii) Những vấn đề cần tham vấn và phương pháp tiếp cận; (iii) Hướng dẫn về việc tiến hành tham vấn; (iv) Phân tích và chia sẻ kết quả; (v) Thiết lập cơ chế tham vấn; và (vi) Hoàn thành việc giám sát đánh giá với dự thảo mẫu biểu M&E

Chiến lược truyền thông gồm có các bước để thực hiện 08 bước của quy trình FPIC dựa vào những kinh nghiệm của UN-REDD cũng như kinh nghiệm của dự án GIZ tại Quảng Bình39và gồm có những yêu cầu cần thiết đối với chất lượng của đối thoại viên tham gia triển khai FPIC

Vùng thực hiện Chương trình có những cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống và trong kế hoạch hoạt động có nêu phương pháp nên được sử dụng ở cấp thôn bản: (i) Ngôn ngữ sử dụng ở tài liệu truyền thông cần phải thông dụng, dễ hiểu và không có những cụm từ kỹ thuật khó diễn giải; (ii) Nếu cần, các tài liệu truyền thông cần được chuyển sang ngôn ngữ của người dân tộc, của cộng đồng để nội dung truyền thông có thể tác động rõ rệt hơn lên thành công của các chiến dịch truyền thông Chương trình cần đảm bảo rằng ngữ nghĩa của những thông điệp được đảm bảo thống nhất

Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc, là những đối tượng sử dụng rừng quan trọng và cần có những yêu cầu, chi tiết về quy trình tham vấn với phụ nữ, cần họ tham gia đầy đủ khi tham vấn Ví dụ, bất cứ cuộc họp nào cũng cần có phụ nữ và các cuộc họp được tổ chức ở địa điểm mà họ cảm thấy thoải mái để khuyến khích đông người tham gia Chương trình cũng cần đảm bảo rằng những ghi chép được sử dụng và được lập kế hoạch để làm tư liệu cho các hệ thống BDS, MRV

37 Đánh giá hiệu quả của những hoạt động, khóa tập huấn nâng cao nhận thức của Chương trình UN-REDD tại Việt Nam (2009-2011) tháng 06 năm 2012

38 Kế hoạch tham vấn các bên liên quan và chiến lược truyền thông, FCPF, tháng 4 năm 2014

39 Các biện pháp đảm bảo an toàn môi trường và xã hội, dự án REDD+ Quang Binh, GIZ, tháng 2014; Hướng dẫn FPIC, REDD+ Quảng Bình, GIZ, tháng 4 năm 2014.

Trang 30

Người dân tộc thiểu số sống ở rất nhiều vùng rừng núi cao, và họ là những người có truyền thống sử dụng rừng,

họ cần được tham vấn và tham gia vào việc xây dựng các hoạt động chi tiết của Chương trình Cần chú ý đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số và phụ nữ dân tộc khi xây dựng kế hoạch tham vấn, đó là cho phép họ được biết thông tin đầy đủ về cuộc họp, và điều quan trọng là có đủ thời gian để cân nhắc những kết quả đầu ra hoặc đưa ra quyết định Hoạt động chi tiết là cần rà soát và tính đến những biện pháp bảo đảm an toàn nào nên áp dụng, đồng thời xác định được điều cần chú ý đặc biệt ở đây là gì Ví dụ, rất nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số quen sống ở vùng núi cao, như đã nêu ở Mục 6.2, họ có thể sống lệ thuộc rất lớn vào rừng để đảm bảo nguồn lương thực và sinh kế, tình trạng sở hữu đất của họ cũng khá phức tạp (cả hai trường hợp này đều là những vấn

đề nội bộ, vì họ là một cộng đồng, và mối quan hệ của họ với những cộng đồng xung quanh, và đồng thời với những ban quản lý nhà nước khác nhau có thể quản lý rừng trong khu vực, VD: Ban quản lý rừng phòng hộ hoặc Ban quản lý rừng đặc dụng, hoặc Ban quản lý của một công ty lâm nghiệp nhà nước) Tăng cường quản

lý rừng và quản trị các khu vực này có thể tạo nên cơ hội cho những người dân địa phương, nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng tới việc họ sử dụng tài nguyên thiên nhiên Những biện pháp đặc biệt cần được áp dụng nhằm đảm bảo rằng các hoạt động của chương trình phù hợp với văn hóa cũng như nhu cầu của người dân địa phương Điều này có thể thực hiện theo hai cách: (i) Thông qua việc sử dụng các tiêu chí tham vấn xã hội cho bất cứ hoạt động nào của chương trình; và (ii) Thông qua một Khung Quy trình (một phần của ESMF)40, và để thực hiện được điều này cần đánh giá bất cứ hạn chế hoặc thay đổi nào đối với việc tiếp cận với tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phương và đưa ra các biện pháp giảm thiểu những hạn chế này trên cơ sở tùy vào mỗi trường hợp cụ thể Những hoạt động chi tiết của Chương trình Giảm phát thảicần được thực hiện phù hợp với ESMF cuối cùng, gồm có một quy trình có sự tham gia của các lãnh đạo ban quản lý rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, hoặc công ty lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương nhằm đạt được những thỏa thuận về sử dụng rừng41 (vấn đề sở hữu đất có thể xem thêm ở Mục 14)

Như đã nêu, diện tích Chương trình đề xuất gồm phần lớn là rừng tự nhiên và 05 hành lang bảo tồn đã được quốc tế công nhận (được phân loại ưu tiên bảo tồn toàn câu “cao” hoặc “cực kỳ” –xem Hình 4.2), gồm có 20 khu bảo tồn, 19 khu đa dạng sinh học mang tầm quốc tế và 02 khu di sản văn hóa của UNESCO42 Sẽ có một đánh giá chi tiết trong SESA và ESMF nhưng những tác động có thể có đối với môi trường của các hoạt động được phát hiện trong quá trình xây dựng ER-PIN gồm có việc có thể mất những giá trị đa dạng sinh học còn sót lại do tiếp tục chuyển đổi rừng thành rừng trồng (keo, cao su hoặc các loại cây công nghiệp khác) Nhìn chung Chương trình sẽ phải giải quyết vấn đề phát triển lâm nghiệp bền vững, cải thiện công tác quản trị rừng và đặc biệt là mang lại lợi ích cho một số rừng đặc dụng, một số trong đó có là vùng sinh cảnh quan trọng quốc tế nằm trong Vùng quy hoạch của Chương trình ESMF hoàn thiện sẽ gồm có những biện pháp giảm thiểu chi tiết và

cụ thể, các kế hoạch quản lý gồm có những phươn`g pháp giám sát

7 Lập kế hoạch tài chính và hoạt động

7.1 Tổ chức thể chế

Hãy mô tả cơ chế quản trị đã hoặc sẽ có để quản lý Chương trình Giảm phát thải(hội đồng, lực lượng

chuyên trách) và tổ chức thể chế giữa các bên liên quan của Chương trình (VD: Ai tham gia vào chương trình, tham gia như thế nào, gồm có những vai trò của các tổ chức dân sự xã hội và những cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng)

7.1.1 Cơ quan triển khai và các bên liên quan

Ban chỉ đạo REDD+ Việt nam, do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT chủ trì đã được thành lập (năm 2011) theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, nhằm điều phối việc triển khai REDD+ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân, các tổ chức dân sự xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các đối tác quốc tế Ngay sau đó, Văn phòng REDD+ Việt Nam được thành lập với tư cách Ban chỉ đạo REDD+ thuộc VNFOREST, cơ quan chủ đạo của Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm quản lý và phát triển ngành lâm nghiệp

40 ESMF sẽ xây dựng các biện pháp đảm bảo an toàn nhằm giảm thiểu và quản lý những rủi ro môi trường và xã hội như

đã nêu phù hợp với các tiêu chuẩn, pháp chế quốc gia và những chính sách áp dụng của Ngân hàng Thế giới

41 Đã có một số thể chế thí điểm nhằm giảm thiểu vấn đề hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên (Quyết định 126/QĐ-TTg ngày 2/2/2012 thí điểm Cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý và phát triển các rừng đặc dụng và hiện nay Việt Nam đã có một số năm kinh nghiệm triển khai cơ chế này vì những thí điểm chính thức cũng nằm trong những khu hỗ trợ bổ sung của Chương trình

42 Di sản UNESCO Khu bảo tồn Sinh quyền và con người-Phía Tây Nghệ An và di sản văn hóa thế giới-Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Trang 31

Hình 7.1 Cơ cấu quản lý của Chương trình

Bảng 7.1 Tóm tắt những thể chế nhà nước chính tham gia vào việc quản lý, quản trị Chương trình giảm phát thải

ra chỉ đạo chiến lược về Chương trình Giảm phát thải; hướng dẫn xây dựng và triển khai NRAP, và bất cứ cấu phần nào của chương trình, đề xuất những chính sách liên quan về, và các giải pháp đối với các vấn đề REDD+ và tín chỉ các-bon đối với những ngành liên quan tới đất đai

Văn phòng Chính phủ; Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE); Bộ Kế hoạch và Đầu Tư (MPI); Bộ Tài chính (MoF), Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST); Bộ Ngoại giao (MOFA), Uỷ ban dân tộc và miền núi (CEMA)

Chịu trách nhiệm triển khai Chương trình Giảm phát thải, điều phối

và đảm bảo những hoạt động diễn ra nhịp nhàng ở tất cả các cấp

VNFOREST đóng vai trò là cơ quan đầu mối của REDD+ và chịu trách nhiệm điều phối tất cả những nỗ lực, hoạt động giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ, đối tác phát triển quốc tế về việc triển khai thực hiện REDD+

VNFOREST sẽ báo cáo lên Ban chỉ đạo Quốc gia về tiến độ các hoạt động REDD+

8 vụ, 6 vườn quốc gia, 1 viện nghiên cứu, tuân thủ luật Bảo vệ

Trang 32

- Nhằm quản lý REDD+ hiệu quả, tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lý và những quy trình chuẩn quốc tế thông qua hình thức tín thác từ các tổ chức và nhà tài trợ quốc tế,với vai trò là một người được ủy thác đóng góp vào việc đạt được những mục tiêu REDD+

ở Việt Nam;

- Thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý và sử dụng các nguồn tài chính trong khung hoạt động REDD+ tuân thủ các quy định hướng dẫn của UNFCCC và những quy tắc, tiêu chuẩn quốc

tế khác (gồm có việc thực thi những quy trình báo cáo, các biện pháp bảo đảm an toàn môi trường và xã hội) và luật Việt Nam

Chưa rõ

Văn phòng

REDD+ Việt Nam

Được thành lập năm 2011 nhằm điều phối và quản lý quy trình xây dựng các công cụ hỗ trợ triển khai Kế hoạch hành động REDD+ quốc gia Đây là cơ quan giám sát quốc gia, chịu trách nhiệm quản lý hàng ngày NRAP Hoạt động này gồm có những chức năng MRV và cần đảm bảo rằng việc cấp tín chỉ các-bon cho lượng phát thải giảm và trữ lượng các-bon tăng được quản lý đúng đắn và năng lực cũng như các hệ thống cấp tín chỉ đã đi vào hoạt động Đồng thời, lường trước những vấn đề gặp phải đối với các quy trình của NRAP VRO thuộc VNFOREST

1 chánh văn phòng và 5 nhân viên

Mạng lưới

REDD+ quốc gia

- Chuẩn bị một kế hoạch hành động gồm có lộ trình, thiết kế và triển khai tất cả các nhân tố tạo nên một hệ thống REDD quốc gia hiệu quả cho Việt Nam

- Điều phối các đầu vào từ các đối tác phát triển quốc tế, và đảm bảo tài trợ song phương và đa phương được dùng để hỗ trợ triển khai những hợp phần cụ thể của kế hoạch hành động theo cách thức phù hợp với những lợi thế so sánh từ phía những đối tác quốc tế cũng như nhu cầu tài chính của mỗi hợp phần

- Rà soát và đánh giá định kỳ việc triển khai kế hoạch hành động, thiết kế và triển khai các biện pháp nhằm giải quyết những thiếu sót phát sinh trong quá trình triển khai

- - Đảm bảo rằng tất cả các hoạt động sẽ hỗ trợ đầy đủ việc xây dựng và triển khai các biện pháp, hoạt động REDD+ phù hợp với

kế hoạch hành động

- - Thực hiện các nhiệm vụ khác do Trưởng ban giao

Các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức dân sự xã hội, các trường đại học, viện nghiên cứu

Các tiểu nhóm kỹ

thuật

- Nghiên cứu về các vấn dề chuyên môn của REDD (quản trị, MRV, BDS, triển khai tại địa phương, các biện pháp bảo đảm và

sự tham gia của ngành tư nhân)

Các đại diện của VNFOREST,

Cơ quan đầu mối quốc gia của REDD (VNFOREST), FSIV, FIPI, Đại học Lâm nghiệp, Cục khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (MONRE), Đối tác hỗ trợ ngành lâm nghiệp- Chương Trình Hỗ Trợ Ngành Lâm Nghiệp Và Đối Tác, Chương trình phát triển Liên hợp quốc- UNDP, FAO, JICA, GIZ, ICRAFT, và các chuyên gia từ VNFOREST

Trang 33

Sở NN&PTNT

tỉnh

Các cơ quan ở cấp tỉnh điều phối (phối hợp với Chương trình bảo vệ và phát triển rừng) các hoạt động của chương trình, xây dựng kế hoạch triển khai hàng năm; phối hợp với các ban ngành hữu quan triển khai chương trình; hàng năm rà soát các

kế hoạch triển khai và xem xét các báo cáo tiến độ gửi lên UBND tỉnh; đề xuất phương án giải quyết các vấn đề nằm ngoài quyền hạn của mình lên Chi cục kiểm lâm huyện và tỉnh

Quản lý rừng và nông nghiệp, bảo vệ ở cấp tỉnh

Ngành tư nhân Những công ty độc lập, công ty liên doanh đầu tư và phát triển

rừng, cũng như những công ty làm việc trong các ngành khác nhưng có thể tạo áp lực đối với rừng (nông nghiệp, nuôi tôm, vv) có thể bị ảnh hưởng bởi việc triển khai các hoạt động REDD+

Hiệp hội lâm sản và gỗ Việt Nam (VIFORES) hỗ trợ việc cấp chứng chỉ rừng và các công ty chế biến gỗ và xuất khẩu tập trung ở tỉnh Bình Định, đã hỗ trợ việc giới thiệu chứng chỉ rừng,

có một số công ty có chứng chỉ rừng và một số rừng trồng có có chứng chỉ rừng Do thiếu gỗ có chứng chỉ nên nhiều công ty nhập gỗ có chứng chỉ từ Malaysia

7.1.1 Quản lý tài chính

Quỹ REDD+ Việt Nam:(sẽ được thành lập vào giữa 2014) Đây là một quỹ tín thác thuộc Quỹ Bảo vệ và

phát triển rừng Việt Nam (VNFF) được thành lập theo Nghị quyết số 05/2008/ND-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ nhằm tiếp nhận và quản lý các nguồn tài chính để triển khai các hoạt động REDD+ Quỹ REDD+ của Việt Nam hoạt động công khai và minh bạch, dưới sự giám sát của các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, và những lãnh đạo của Việt Nam

Quỹ REDD+ cấp tỉnh thuộc hệ thống REDD+ quốc gia, nằm dưới sự lãnh đạo, hướng dẫn và quản lý của các

cấp có thẩm quyền, nhằm tổ chức và huy động tài chính cho quỹ thông qua việc hướng dẫn, quản lý, kiểm tra

và giám sát về mặt kỹ thuật, chuyên môn, quỹ sẽ hoạt động từ nguồn vốn được cấp từ quỹ Trung ương, quỹ sẽ phân bổ những nguồn quỹ này tới các tổ chức/cộng đồng/hộ gia đình nhằm triển khai các hoạt động REDD+

Trang 34

7.1.2 Hướng dẫn chiến lược và kỹ thuật

a) Nhóm kỹ thuật

Có rất nhiều hướng dẫn chiến lược và kỹ thuật từ Ban quản lý VNFF phối hợp chặt chẽ với Mạng lưới REDD+ quốc gia, Nhóm kỹ thuật (TWG) và 06 tiểu nhóm kỹ thuật (STWG) Những TWG đóng vai trò như một diễn đàn nhằm thảo luận sâu hơn về những vấn đề kỹ thuật của REDD+ Hiện nay, có 06 tiểu nhóm kỹ thuật đã được thành lập và tích cực hoạt động về các lĩnh vực: Quản trị, MRV, Hệ thống phân phối lợi ích, triển khai tại địa phương, Các biện pháp bảo đảm an toàn và sự tham gia của ngành tư nhân Mặc dù có vẻ những vấn đề này có thể sẽ yêu cầu các tổ chức đã làm việc về REDD+ có những nỗ lực mạnh mẽ hơn nhằm khuyến khích sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan, đặc biệt là những tổ chức trong nước

b) Các tổ chức phi chính phủ và tổ chức dân sự xã hội (CSOs)

Các tổ chức phi chính phủ ở tất cả các cấp cần tham gia triển khai Chương trình cũng như các hoạt động liên quan và họ cũng có thể cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả nhằm đảm bảo việc thông tin liên lạc với cộng đồng địa phương cũng như họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối sự tham gia của các nhóm người dân tộc thiểu số, người sử dụng đất, tiếp cận với cộng đồng nghèo không được các nhà chức trách lưu tâm trong quá trình lập kế hoạch phát triển của tỉnh Một số tổ chức phi chính phủ đã thành công khi giới thiệu các hoạt động và chương trình liên quan tới REDD+

c) Mở rộng vai trò của ngành tư nhân

Các công ty lâm nghiệp có vai trò thử nghiệm những công nghệ mới và điều này được minh chứng khi họ đã đầu tư rừng trồng và cộng đồng địa phương nhanh chóng tiếp nhận công nghệ và đầu tư vào rừng trồng của mình với tư cách người trồng bên ngoài (tham khảo phần ví dụ trước tại Bình Định và Thừa Thiên Huế) Ngành tư nhân có thể làm việc với cộng đồng với một diện tích rộng hơn và ngành tư nhân cũng sẽ khuyến khích đầu tư vào gỗ có chứng chỉ và truyền đạt kiến thức về việc làm thế nào để thiết lập và duy trì rừng trồng được cấp chứng chỉ

7.2 Mối liên hệ giữa tổ chức thể chế với khung triển khai REDD+ quốc gia

Hãy mô tả tổ chức thể chế của Chương trình Giảm phát thải phù hợp với khung triển khai REDD+ quốc gia như thế nào

Chương trình Giảm phát thảinằm trong hoạt động của Chương trình Hành động REDD+ quốc gia Dự tính trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam sẽ sẵn sàng có bằng chứng để được chi trả các-bon dựa vào kết quả thực hiện các hoạt động liên quan tới REDD+ tại những tỉnh này Những tỉnh được lựa chọn là những tỉnh đang trong giai đoạn chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+

Hình 7.2 Mối liên hệ giữa Bộ NN&PTNT và VNFF và Chương trình REDD+ quốc gia

Trang 35

Hình 7.2 mô tả khung hoạt động REDD+ quốc gia hiện tại như Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia, VRO, mạng lưới REDD+, các tiểu nhóm kỹ thuật (STWGs) phù hợp với thiết kế quản trị, quản lý Chương trình Giảm phát thảira sao

Bộ NN&PTNT, VNFOREST và VNFF cấp Trung ương cũng như ban lâm nghiệp tỉnh, cục kiểm lâm, Quỹ bảo

vệ và phát triển rừng43 có đầy đủ năng lực để thực hiện Chương trình Giảm phát thải Định hướng chung của VNFF là:

 Huy động nguồn lực từ xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần hoàn thiện hướng dẫn về xã hội hóa ngành lâm nghiệp;

 Nâng cao nhận thức về, và trách nhiệm với; công tác bảo vệ và phát triển rừng đối với những đối tượng hưởng lợi từ rừng hoặc tham gia và những hoạt động có tác động trực tiếp vào rừng;

 Tăng cường năng lực cho các chủ rừng và hiệu quả của công tác quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng, góp phần vào việc thực hiện chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp; và

 Đảm bảo tính công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích và tuân thủ đúng những quy định, yêu cầu của luật Việt Nam cũng như các nhà tài trợ quốc tế

Phương pháp quản lý quỹ được chia thành hai cấp, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trung ương (VNFF) và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh (FPDF):

(i) Tổ chức của Quỹ ở cấp Trung ương như sau:

 Quỹ cấp TW của VNFF được thành lập bởi quyết định và được quản lý bởi Bộ NN&PTNT;

 Quỹ gồm có một Hội đồng quản lý quỹ, một Ban kiểm soát, và một Ban quản lý điều hành, như trong Quỹ ủy thác lâm nghiệp (TFF) (sẽ được thay thế bởi VNFF) VNFF sẽ gồm có 01 thành viên đại diện cho nhà tài trợ quốc tế; và

 Bộ NN&PTNT sẽ phê duyệt tổ chức và hoạt động của Quỹ

(ii) Tổ chức của Quỹ ở cấp tỉnh như sau

 Một quỹ cấp tỉnh của VNFF được thành lập theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh khi những điều kiện liên quan được đáp ứng, quỹ có thể thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Sở NN&PTNT tỉnh; và

 Bộ máy quản lý quỹ do Chủ tịch UBND tỉnh hoặc giám đốc Sở NN&PTNT quyết định

7.4 Các bước tiếp theo để hoàn thiện thiết kế Chương trình Giảm phát thải(REL/FRL, hệ thống giám sát Chương trình Giảm phát thải, tài chính, quản trị, vv ) Hãy đưa ra khoảng thời gian ước tính cho những bước thực hiện này

Những hoạt động ban đầu nhằm hỗ trợ việc lập kế hoạch chi tiết và hoàn thiện Chương trình Giảm phát thảisẽ tập trung vào 03 quy trình chính: (i) Tiếp tục thu thập thêm thông tin chi tiết nhằm hỗ trợ các hoạt động can thiệp tại 06 tỉnh dự án; và (ii) Thu thập thông tin KT-XH của khoảng 41 huyện (và không rõ bao nhiêu xã); và (iii) Hoàn thiện quy trình thiết kế cuối cùng nhằm xây dựng một khung thời gian cho các hoạt động chi tiết và nguồn cho các hoạt động này (lập dự toán)

43 FPDF’s; Được thành lập theo Nghị định của Thủ tướng chính phủ số 05/2008/ND-CP ngày 14 tháng 1 năm 2008)

Trang 36

Bảng 7.2 Những bước chính để xây dựng Chương trình Giảm phát thải

Thu thập dữ liệu KT-XH theo các thông số chính Hoàn thiện phương pháp

Bộ NN&PTNT, Các tỉnh

6 dự thảo PRAPs

2014-2015

Giao đất giao rừng (FLA)

Cập nhật chi tiết về tình hình sở hữu đất của Chương trình (khoảng 41 huyện)

Bộ TN&MT, Cục

KL Các tỉnh, các huyện

Cập nhật tình hình sở hữu đất hiện tại, chi phí cần để tiến hành giao đất giao rừng

2014-2015

SFM Quản lý rừng bền vững

Xác định vùng tiềm năng

và số xã tham gia

Bộ NN&PTNT, Cục kiểm lâm, Các tỉnh, các huyện

Khu tiềm năng để thực hiện

CFM

2014-2015

Chuyển đổi rừng sang trồng cao su

Xác định vùng tiềm năng Bộ NN&PTNT,

Các tỉnh, các huyện

Bản đồ các mối đe dọa cho các tỉnh

2014-2015

PFES Thu thập thông tin chi

tiết về những đối tượng chi trả PFES (đã có tại 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ

An, còn lại 4 tỉnh)

Bộ NN&PTNT, Các tỉnh

Dự thảo kế hoạch hành động PFES

2014-2015

FLEGT Xác định những điểm yếu

chính và những điểm vi phạm

Bộ NN&PTNT, Cục Kiểm lâm Các tỉnh

Tóm tắt phương pháp và chương trình điều phối

Tiến hành tham vấn các bên liên quan và đưa

ra các khuyến nghị đối với sự tham gia và trách nhiệm của ngành tư nhân

BỘ NN&PTNT Vai trò của ngành tư

nhân sẽ lớn hơn

2014

Cập nhật số liệu giảm

phát thải-ER/R

Thu thập thông tin về

Bộ NN&PTNT, Các tỉnh

Tóm tắt SEDP để đưa vào Chương trình Giảm phát thải

án/chương trình Bộ NN&PTNT Đầu tư công, hỗ trợ không hoàn lại, vay để

phát triển ngành lâm nghiệp

2016

Trang 37

7.4 Dự toán kinh phí (tính theo triệu Đô la Mỹ)

Hãy mô tả việc phân bổ nguồn tài chính trong Chương trình Giảm phát thảigồm có những nguồn tài chính có thể có Dự toán cần nêu cả những chi phí cho giai đoạn khởi động và cả tài chính trong dài hạn Nếu như Chương trình Giảm phát thảiđược xây dựng dựa trên những dự án hoặc chương trình được tài trợ thông qua những nhà tài trợ hoặc những ngân hàng phát triển đa phương, hãy nêu chi tiết những dự án hoặc chương trình đó, gồm có khung tài chính của họ Sử dụng bảng ở phần Phụ lục I để trình bày tóm tắt dự toán ngân sách ban đầu

Trong giai đoạn trước mắt, chi phí để xây dựng một Chương trình Giảm phát thảichi tiết sẽ được chi

trả từ nguồn tiền của Quỹ FCPF

Theo dự tính, chương trình sẽ cần khoảng 37,5 triệu Đô la Mỹ để hoạt động trong khoảng thời gian 10 năm và

sẽ làm việc tại khoảng 41 xã tại 06 tỉnh Nguồn tiền hoạt động dự tính sẽ lấy ít nhất khoảng 72.31 triệu Đô la

Mỹ từ nguồn chi trả phát thải Chính phủ sẽ áp dụng phương pháp thận trọng và giữ lại một phần khí phát thải

ở vùng đệm (xem Phụ lục 1 để biết thêm chi tiết)

Có một số nhà tài trợ đa phương làm việc ở vùng quy hoạch của chương trình đang triển khai một số hoạt động REDD+ và những hoạt động liên quan, hi vọng rằng họ có thể đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm triển khai một số hoạt động

Một dự toán kinh phí chi tiết sẽ được xây dựng trong quá trình chuẩn bị Văn kiện dự án

Giảm phát thải

8 Mức phát thải tham chiếu và lượng phát thải dự kiến

8.1 Phương pháp thiết lập Mức phát thải tham chiếu (REL) và/hoặc Mức tham chiếu rừng (FRL)

Hãy mô tả vắn tắt REL/FRL của chương trình đã và sẽ được thiết lập như thế nào? Giải thích rõ việc thiết lập REL/FRL phù hợp với hướng dẫn cập nhật của UNFCCCC và với Khung Phương pháp luận của Quỹ Các-bon của FCPF, và với REL/FRL quốc gia (mới có) (hoặc với phương pháp quốc gia về thiết lập

REL/FRL)

8.1.1 Thiết lập REL/FRL ở Việt Nam

Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), các nước có thể có sự linh hoạt khi xây dựng các phương pháp của mình nhằm thiết lập REL/RL44, miễn là thẩm định và đánh giá độc lập Gần đây, JICA đã thực hiện một nghiên cứu khái quát về việc chuẩn bị REL/FRL cho Việt Nam45.Nghiên cứu này cung cấp một hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh và một phân tích đầy đủ về Việt Nam Những nỗ lực khác đã được thực hiện nhằm xây dựng RLs cho mỗi tỉnh ở khắp Việt Nam gồm có các tỉnh sau:

 Mức tham chiếu (RL) ở tỉnh Lâm Đồng được thiết lập theo chương trình LEAF;

 Mức RL sơ bộ ở tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An thông qua chương trình VFD;

 Mức RL ở Quảng Bình được xây dựng bởi tổ chức GIZ; và

 Mức FRL tạm thời được xây dựng bởi Chương trình UN-REDD Pha II tại một số tỉnh thí điểm (Lào Cai, Bắc Kan, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Bình Thuận, Cà Mau)

Một số mức RL này có thể sử dụng phương pháp phân tích kỹ càng hơn và dữ liệu được đảm bảo hơn nghiên cứu của JICA Bởi vậy, những phương pháp này có thể góp phần hoàn thiện hơn phân tích của JICA Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực, hoạt động mới chỉ dừng lại ở cấp tỉnh và không có dữ liệu nào được cung cấp cho toàn bộ vùng Bắc Trung Bộ Nhằm tăng cường tính nhất quán ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, nghiên cứu của JICA vì thế sẽ được sử dụng làm tiêu chuẩn sơ bộ

44 UNFCCC Quyết định số 12/CP.17 2011 đề cập việc thiết lập REL/FRL cần được xây dựng một cách minh bạch, hoàn thiện, thống nhất và thông tin đưa ra phải chính xác, gồm có những dữ liệu đã có Dữ liệu và thông tin được sử dụng xây dựng REL/FRL cần phù hợp với điều tra khí nhà kính quốc gia và các nước cần hướng tới việc xây dựng mức RL quốc gia, nhưng tạm thời có thể xây dựng mức RL ở tỉnh

45 JICA 2012.Nghiên cứu về tiềm năng đất và rừng liên quan tới biến đổi khí hậu và rừng tại Việt Nam Tổng cục Lâm nghiệp Hà Nội

Trang 38

a) Mức đề xuất REL/FRL của Việt Nam

Dưới đây là tóm tắt những phương thức chủ đạo cần được xác định trong quá trình xây dựng một mức

REL/FRL và những quyết định đề xuất của Việt Nam nhằm thực hiện các phương thức này, theo nghiên cưú

của JICA

Bảng 8.1 Những phương pháp chính và đề xuất xây dựng REL/FRL của Việt Nam

Các bể chứa và các khí

bao hàm

Các bể chứa:

- Sinh khối trên mặt đất (AGB)

- Sinh khối dưới mặt đất (BGB) Các khí: Khí CO2

AGB và BGB là những nguồn chính chứa các-bon và có thể biến đổi do những tác động của con người Không có thông tin hoặc/và thông tin chưa thích hợp cho các

bể chứa và khí phi các-bon khác

Những hoạt động liên

quan

Gồm có việc mất rừng Suy thoái rừng và Tăng cường/ cải thiện rừng

Mất rừng và suy thoái rừng là những nguyên nhân chính gây ra phát thải khí Nguồn khí phát thải được giữ lại chủ yếu là do hoạt động bảo vệ rừng, cải thiện chất lượng rừng (thay đổi từ trữ lượng rừng thấp sang trữ lượng rừng trong phân loại rừng và từ không có rừng thành có rừng)

Giai đoạn thí điểm 2000-2010 Phù hợp với hệ thống điều tra rừng quốc gia

bắt đầu từ năm 1990, và lặp lại 05 năm 01 lần Điều tra rừng lần cuối kết thúc vào năm

2010

Định nghĩa rừng được

sử dụng

Độ che phủ rừng tối thiểu: 10%

Độ cao tối thiểu: 5 m đối với rừng tự nhiên 1.5m đối với rừng trồng tăng trưởng chậm, 3

m đối với rừng trồng tăng trưởng nhanh Diện tích tối thiểu: 0.5 ha

Định nghĩa này được sử dụng trong Điều tra rừng quốc gia

8.1.2 Những phương pháp được sử dụng để tính toán lượng phát thải/dự trữ

a) Rừng và sự phân tầng sinh thái

Do khí hậu và điều kiện địa hình đa dạng ở Việt Nam, sự tăng trưởng rừng có sự khác biệt lớn giữa các kiểu rừng và từ vùng này tới vùng khác Bởi vậy, sự phân tầng sinh thái và rừng được sử dụng để thống nhất việc tính toán lượng gỗ dự trữ đối với các kiểu rừng ở các vùng sinh thái khác nhau 12 kiểu rừng được sử dụng là: (1) Rừng lá rộng thường xanh (giàu); (2) Rừng lá rộng thường xanh (trung bình); (3) Rừng lá rộng thường xanh (nghèo); (4) Rừng lá rộng thường xanh (trồng lại)46; (5) Rừng rụng lá; (6) Rừng tre nứa; (7) Rừng hỗn giao tre nứa và gỗ; (8) Rừng lá kim; (9) Rừng hỗn giao lá kim và lá rộng; (10) Rừng núi đá vôi; (11) Rừng ngập mặn;

và (12) Rừng trồng

Sự phân tầng sinh thái hình thành nên 14 vùng sinh thái sinh học gồm có47: (1) Rừng mưa nhiệt đới thảo quả; (2) Rừng khô Đông Dương; (3) Rừng ngập mặn Đông Dương; (4) R ừ n g m ư a n h i ệ t đ ớ i Luang Prabang; (5) Rừng mưa nhiệt đới Bắc Trường Sơn; (6) Rừng cận nhiệt đới Bắc Đông Dương; (7) Rừng núi thấp Bắc Việt Nam; (8) Rừng đầm lầy nước ngọt sông Hồng; (9) Rừng thường xanh cận nhiệt đ ớ i Nam Trung Quốc; (10) Rừng thường xanh khô Đông Nam Đông Dương; (11) Rừng mưa nhiệt đới Nam Trường Sơn; (12) Rừng khô đất thấp phía Nam; (13) Rừng đầm lầy nước ngọt Tonle Sap ; (14) Rừng than bùn Tonle Sap Mekong

46 Thông tư số 34 Quy định các loại rừng giàu, trung bình, nghèo kiệt và trồng lại dựa trên trữ lượng gỗ tính theom 3 /ha

Giá trị của việc phân loại rừng giàu, trung bình, nghèo, trồng lại lần lượt là 201-300, 101-20010-100 và ít hơn 10 m 3 /ha

47 Sự phân tầng hệ sinh thái của WWF

Trang 39

b) Ước tính lượng phát thải/trữ lượng khí

Việc ước tính lượng khí phát thải/trữ lượng các-bon là theo Phương pháp Trữ Lượng-Khác nhau48 Lượng khí phát thải/trữ lượng khí được tính toán cho những khoảng thời gian khác nhau (từ 2000-2005; 2005-2010) và sau đó cộng dồn cho cả giai đoạn 2000-2010

Việc tính toán lượng khí phát thải/trữ lượng khí gắn với việc mất rừng, suy thoái rừng và việc tăng cường, cải thiện chất lượng rừng yêu cầu phải có những dữ liệu của các hoạt động và lượng các-bon dự trữ Dữ liệu về lượng các-bon dự trữ và hoạt động ở Việt Nam được xây dựng cho 12 tầng rừng ở 14 vùng sinh thái sinh học trong cả nước Sự phân tầng rừng được tính toán dựa trên sự che phủ của 14 vùng sinh thái với 12 kiểu rừng

Dữ liệu hoạt động và trữ lượng các-bon49 được lấy từ dữ liệu điều tra rừng quốc gia (NFI) Việt Nam đã bắt đầu thực hiện NFI từ năm 1990 và tiếp tục hoạt động này 05 năm 01 lần Tính đến nay, Việt Nam đã hoàn thành

04 chu kỳ của NFI Dữ liệu được sử dụng để xây dựng REL/FRL được lấy từ chu kỳ thứ 03 (2000 – 2005) và chu kỳ thứ 04 (2006– 2010) của NFI Dữ liệu chu kỳ thứ 3 của NFI được xây dựng bằng cách sử dụng vệ tinh Landsat ETM+ và điều tra hiện trường tại 4.200 ô thí điểm Hình ảnh vệ tinh SPOT-4,SPOT-5 và 2.100 ô mẫu

để điều tra thực địa đã được sử dụng làm dữ liệu rừng quốc gia giai đoạn 2006-2010 NFI xây dựng bản đồ phân bổ rừng, diện tích và trữ lượng gỗ đối với mỗi thảm thực vật và với mỗi vùng địa lý khác nhau (cấp quốc gia, cấp tỉnh) Theo nghiên cứu của JICA, tất cả các dữ liệu rừng quốc gia đã được thẩm định và nghiên cứu đã chỉ ra rằng sai số của dữ liệu về các thảm thực vật rừng là khoảng 5- 10%50.

Dự trữ các-bon (CS) được thể hiện theo tấn Các-bon cho 12 địa tầng ở 14 hệ sinh thái dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia về lượng dự trữ gia tăng (m3/ha) từ điều tra hiện trường một số ô thí điểm của NFI

Công thức tính toán lượng các-bon dự trữ cho mỗi địa tầng như sau:

CS (tấn C/ha) = (AGB + BGB)*CF Trong đó AGB là lượng sinh

khối trên mặt đất BGB là lượng sinh khối dưới mặt đất

CF là phân số các-bon (%)

AGB được tính như sau:

AGB = GS*BCEF Trong đó: GS là lượng dự trữ gia tăng và BCEF

là nhân tố chuyển đổi và gia tăng sinh khối (tấn/m3)

Giá trị của BCEF được lấy từ các giá trị mặc định liên quan tới vùng khí hậu, kiểu rừng và lượng dự

trữ gia tăng (m3/ha)51

BGB được tính toán sử dụng công thức

BGB = AGB*R

Trong đó: R là tỉ lệ sinh khối dưới mặt đất trên so với

tỉ lệ sinh khối trên mặt đất Giá trị của R và CF được lấy từ những giá trị mặc định từ IPCC và giá trị của R

và CF được sử dụng lần lượt là 0,24 và 0,2752

Các nhân tố giảm phát thải được tính toán sử dụng Phương pháp Lượng dự trữ Khác nhau (Stock Difference Method) Lượng phát thải được tính toán thông qua việc tính toán sự thay đổi lượng khí các-bon dự trữ của mỗi địa tầng giữa hai thời điểm khác nhau (ở đây được sử dụng khoảng từ 200-2005; 2005-2010)

Đối với trường hợp mất rừng, dự trữ các-bon sau mất rừng được giả định dưới 0 vì đất sử dụng là đất trống, khu dân cư, đất canh tác nông nghiệp Đối với trường hợp suy thoái rừng, việc ước tính được dựa vào sự thay đổi lượng dự trữ gỗ ở mỗi thảm thực vật Vấn đề suy thoái rừng được cân nhắc nếu như địa tầng rừng có lượng

dự trữ gỗ cao bị chuyển đổi thành thảm thực vật có lượng dự trữ gỗ ít hơn Dự trữ các-bon từ hoạt động tăng cường chất lượng rừng gồm có cải thiện chất lượng rừng (thay đổi từ thảm thực vật rừng trữ lượng gỗ thấp sang thảm thực vật rừng có trữ lượng gỗ cao và từ vùng không có rừng thành vùng có rừng)

48 IPCC 2006 Hướng dẫn Điều tra Khí nhà kính Quốc gia

49 Những nhân tố gây giảm phát thải và dữ liệu hoạt động có sẵn theo yêu cầu

50 JICA 2012 Nghiên cứu về tiềm năng đất và rừng gắn với biến đổi khí hậu và rừng ở Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam-Tổng cục Lâm nghiệp, Hà Nội

51 FAO Bảng 5.4 Những nhân tố chuyển đổi và gia tăng sinh khối mặc định (BCEFs) Bảng cung cấp BCEFs dành cho rừng tự nhiên và rừng lá kim và 08 mốc dự trữ gia tăng (< 10, 11-20, 21-40, 41-60, 61 – 80, 81-120, 120-200, và > 200

m 3 /ha)

52 2006 IPCC Hướng dẫn Điều tra khí nhà kính quốc gia Chương 4: Đất rừng

Trang 40

Kết quả của việc ước tính lượng khí phát thải/dự trữ liên quan tới mất rừng và suy thoái rừng, tăng cường bảo tồn rừng sẽ được tổng hợp lại cho 08 vùng sinh thái nông nghiệp53

Tuy nhiên, theo như đề xuất trong các vùng thực hiện Chương trình Giảm phát thải, RELs/FRLs cần được chuẩn

bị ở cấp tỉnh và việc củng cố dữ liệu hoạt động, đặc biệt là trữ lượng các-bon tại mỗi vùng sử dụng đất Phương pháp tiếp cận ở cấp thứ 2 sẽ được sử dụng nhằm ước tính lượng khí phát thải/dự trữ sử dụng dữ liệu trong nước, đặc biệt là lượng dự trữ các-bon sẽ có sử dụng phương trình quốc gia để ước tính sinh khối được xây dựng từ Chương trình UN-REDD pha I Bể chứa các-bon đất cũng sẽ được cân nhắc để đưa vào khi xây dựng REL/FRL

sử dụng những dữ liệu từ điều tra khí nhà kính quốc gia Hiện nay chưa có đảm bảo về ước tính phát thải, và điều này sẽ được đưa vào phân tích trong thời gian tới

Mặc dù việc áp dụng REL hoặc FRL, một “dấu mốc” nhằm xác định các kết quả của các hoạt động giảm thiểu tác động, đang trong quá trình thảo luận ở Việt Nam, FRL nên được áp dụng thông qua việc tính đến lượng dự trữ có được khi diện tích rừng tăng lên và đây là trường hợp của Trung Quốc và Ấn Độ, khi độ che phủ rừng tăng lên Bởi vậy, lựa chọn phương pháp cần cân nhắc đến điều kiện hoàn cảnh của từng quốc gia và phương pháp xây dựng RFL, rất cần thiết tăng cường xây dựng một lý thuyết thuyết phục nhằm sử dụng trong những thương thảo, đàm phán quốc tế sau này Trong Chương trình Giảm phát thải, Việt Nam sẽ xác định hai khía cạnh, đó là giảm khí phát thải bị gây ra bởi mất rừng và suy thoái rừng và tăng cường dự trữ các-bon thông qua bảo vệ, phát triển rừng

8.2 Mức REL/FRL từ Chương trình Giảm phát thải

Hãy ước tính REL/FRL đối với diện tích Chương trình Giảm phát thải, Bởi vì mỗi ước tính sơ bộ cũng sẽ rất hữu ích

8.2.1 Ước tính sơ bộ ở quốc gia

Ước tính sơ bộ về mức phát thải/dự trữ gây ra bởi mất rừng và suy thoái rừng, phát triển bảo vệ rừng giai đoạn 2000-2010 đã được phân tích Phân tích này cho thấy không có xu hướng rõ ràng trong các mức phát thải/dự trữ

đã có trong giai đoạn này Bởi vậy, mức FRL bình quân (Tương đương triệu tấn CO2/năm) được đề xuất là mức tham chiếu trong Chương trình Giảm phát thảiở Việt Nam (xem Bảng 8.2)

Có thể thấy rằng lượng khí phát thải gây ra bởi mất rừng và suy thoái rừng biến đổi rất lớn theo từng vùng sinh thái nông nghiệp Trong giai đoạn 2000-2010, 03 vùng sinh thái nông nghiệp hàng đầu có mức phát thải lớn là Bắc Trung Bộ, tiếp đó là vùng Đông Bắc và Tây Nguyên Tuy nhiên, có lượng dự trữ khá lớn do công tác bảo vệ phát triển rừng được thực hiện tốt Trong giai đoạn này, tổng mức dự trữ các-bon của cả nước là 869 triệu tấn

CO2 Có thể thấy rằng mức phát thải ròng cho tất cả các vùng ngoại trừ vùng Bắc Trung Bộ chính là mức dự trữ (Xem Bảng 8.2)

Bảng 8.2 Ước tính mức phát thải (+) và mức dự trữ (-) trong giai đoạn 2000-2010 và FRL

Vùng sinh thái nông nghiệp Phát thải

(MtCO2e)

Dự trữ (MtCO2e)

Phát thải ròng (MtCO2e)

FRL trung bình (MtCO2e/năm)

Ngày đăng: 16/07/2020, 21:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w