1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỊNH VỊ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC: NGHIÊN CỨU THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ DI CƯ TẠI THÀNH THỊ MIỀN BẮC VIỆT NAM

69 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua phỏng vấn sâu 29 lao động di cư nông thôn - thành thị và hiện đang sống tại các vùng đô thị và khu công nghiệp,kết hợp với các chuyến thực địa và quan sát tại gia đình và cộng đồng c

Trang 1

ĐỊNH VỊ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC: NGHIÊN CỨU THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ DI CƯ TẠI THÀNH THỊ MIỀN BẮC VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 5

PHẦN 1: GIỚI THIỆU DỰ ÁN NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan dự án nghiên cứu 6

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 7

1.3 Kết quả 8

1.4 Phương pháp luận nghiên cứu 8

1.5 Thiết kế nghiên cứu 9

1.6 Hạn chế của nghiên cứu 12

1.7 Phạm vi và cấu trúc 12

PHẦN 2 NGƯỜI DTTS DI CƯ TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ: CHÍNH SÁCH VÀ NGHIÊN CỨU 14

2.1 Tổng quan về thanh niên DTTS di cư tại Việt Nam từ điểm luận tài liệu và truyền thông 14

2.2 Khoảng trống nghiên cứu và thiếu sự hiện diện của người DTTS di cư trong các tài liệu 16

2.3 Chính sách di cư thành thị (với người DTTS) 17

2.4 Khung phân tích 19

PHẦN 3 PHÓNG TO BỨC TRANH: NGƯỜI DTTS DI CƯ TRONG ĐÔ THỊ - HỌ LÀ AI? 22

3.1 Tộc người 22

3.2 Nguyên quán 23

3.3 Giới và nghề nghiệp 25

3.4 Tuổi và tình trạng hôn nhân 27

PHẦN 4 RỜI XA ĐỒI NÚI 29

3.1 Lý do di cư 29

3.2 Di cư như Sự dịch chuyển vật lý 33

3.3 Gắn bó với quê nhà: Nhu cầu tình cảm và mạng lưới an toàn 34

PHẦN 4 MỘT CHỐN TRONG THÀNH PHỐ 37

VỐN XÃ HỘI, CƠ HỘI VIỆC LÀM VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ 37

4.1 Ổn định công việc: câu chuyện của hai nhóm đối tượng khác biệt về kỹ năng 37

4.2 Chênh lệch thu nhập và mức độ ổn định do phân biệt đối xử trên cơ sở tộc người 38

4.3 Phân chia theo giới tồn tại nhưng không tạo ra chênh lệch 41

4.4 Tình bạn, tình yêu và định kiến 42

4.5 Mức độ công bằng kinh tế 45

PHẦN 5: ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ 48

Trang 3

5.1 Thành phố phồn hoa xa lạ 48

5.2 Xóm trọ dân tộc: một chiến lược sáng tạo với tác động hỗn hợp 50

PHẦN 6: CĂN TÍNH DÂN TỘC TRONG SỰ BIẾN ĐỔI 53

6.1 Dấu ấn căn tính gợi sự tò mò và chiến lược thích nghi về văn hóa – xã hội 53

6.2 Là DTTS di cư và Trở thành người DTTS di cư tại Hà Nội 55

PHẦN 7 KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN 60

PHỤ LỤC 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Hình 1 Phân tích sự giao thoa, tương tác và ảnh hưởng của các phạm vi công lý đối với trải nghiệm về

bất công xã hội của thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này 20

Hình 2 Thành phần dân tộc của người tham gia nghiên cứu 22 Hình 3 Thành phần người tham gia theo nguyên quán Nguồn ảnh: https://www.vietnam-

briefing.com/news/choosing-sourcing-partner-vietnam.html/ 24

Hình 4 Thành phần người tham gia theo Giới và Nghề nghiệp tại thời điểm phỏng vấn 25 Hình 5 Thống kê về Độ tuổi và Tình trạng hôn nhân của người tham gia 27

Trang 5

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lát cắt này tập trung vào mối quan hệ giữa trải nghiệm dịch chuyển và sự thay đổi bản dạng

cá nhân của thanh niên dân tộc thiểu số (DTTS)1 di cư làm việc và sinh sống tại các thành phố và khu công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam Qua phỏng vấn sâu 29 lao động di cư nông thôn - thành thị và hiện đang sống tại các vùng đô thị và khu công nghiệp,kết hợp với các chuyến thực địa và quan sát tại gia đình và cộng đồng của người di cư trở về, nghiên cứu phân tích rào cản ở cấp độ cấu trúc và cá nhân mà họ đối mặt khi làm việc và sinh sống trong bối cảnh đô thị Tương tự trải nghiệm của lao động người Kinh di cư nông thôn – thành thị, hầu hết thanh niên DTTS di cư cũng nếm trải sự bấp bênh của thị trường (market precarity), tình trạng lề hóa xã hội (social marginality) và tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức Bên cạnh đó, họ đối mặt với những rào cản đặc thù trong việc hình thành mạng lưới xã hội, hòa nhập vào cấu trúc xã hội đô thị, duy trì các thực hành văn hóa cũng như điều chỉnh ý niệm về tính chủ thể đang biến đổi, và sự gắn kết xuất phát từ căn tính Trải nghiệm về các rào cản trên không đồng nhất, mà nó phản ánh vị thế kinh tế xã hội và phần nào gắn với đặc tính văn hóa mang tính quy ước của các nhóm dân tộc khác nhau Những phát hiện này cho thấy, so với lao động di cư người Kinh, người DTTS di cư nông thôn

- thành thị trải nghiệm những thách thức về văn hóa, xã hội dựa trên yếu tố dân tộc, khi làm việc và sinh sống tại thành thị Vì vậy, chúng tôi đề xuất các dịch vụ hỗ trợ và các chính sách cần tính đến những nhu cầu và thách thức đặc thù này khi thiết kế và triển khai

1 Thuật ngữ Dân tộc thiểu số được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm phân biệt tộc người và xuất thân dân tộc thiểu số của người tham gia nghiên cứu (ví dụ: phân biệt giữa người Kinh và các nhóm dân tộc khác tại Việt Nam) Tộc người/dân tộc dùng để chỉ các nhóm người chia sẻ chung “các đặc tính, bao gồm nguồn gốc tổ tiên và địa lý, đặc biệt là truyền thống văn hóa và ngôn ngữ” (Bhopal, trang 441) Trong bối cảnh Việt Nam và trong bối cảnh đô thị của nghiên cứu này, thuật ngữ Dân tộc thiểu số và Thanh niên dân tộc thiểu số di cư được sử dụng để chỉ một nhóm những người thiểu số hơn, có xuất thân dân tộc khác với người Kinh vốn chiếm phần lớn dân số

Trang 6

PHẦN 1: GIỚI THIỆU DỰ ÁN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan dự án nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, trong đó dân tộc Kinh là nhóm đa số xét trên nhân khẩu học, chiếm khoảng 85.2% trong 92.7 triệu dân (MDRI, 2018, trang 10) 14.8% dân số còn lại được cấu thành từ 53 nhóm dân tộc khác nhau mà phần lớn sinh sống trên vùng cao và khu vực biên giới (MDRI, 2018, trang 10) Mặc dù Chính phủ Việt Nam và các tổ chức dân sự đạt được nhiều thành công to lớn về thu hẹp bất bình đẳng kinh tế xã hội giữa các khu vực và các nhóm dân tộc trong những năm gần đây, tuy vậy, những chỉ số như thu nhập, đói nghèo, tuổi thọ, tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ trợ giúp xã hội cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa dân tộc Kinh chiếm đa số với các DTTS khác (UNDP & VASS, 2016)

Di cư nội địa gắn liền với đô thị hóa - vốn được xem là động lực phát triển cho những thay đổi về kinh tế

xã hội ở Việt Nam kể từ thời điểm cải cách thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Đổi Mới) và sự

mở cửa nền kinh tế - đóng vai trò quan trọng trong phân phối thu nhập và cơ hội Tỷ trọng dân số đô thị

ở Việt Nam hiện vào khoảng 35% (Anh, Rigg, Huong, & Dieu, 2012, trang 1108), và xu hướng này được dự đoán sẽ tăng trong tương lai khi ngày càng có nhiều người chuyển tới sống và làm việc tại các thành phố trên phạm vi toàn cầu Cùng với đó, cải cách chính sách đất đai ở khu vực nông thôn và việc nới lỏng chính sách di cư nông thôn-thành thị cũng như quản lý đô thị dẫn tới sự tăng trưởng đều về số lượng người di

cư đến thành phố và khu công nghiệp ở Việt Nam Vốn được coi là những người không có giấy phép cư

trú chính thức (hộ khẩu) “cho phép họ sinh sống lâu dài một cách hợp pháp tại thành phố”, người di cư

thành thị lần lượt chiếm khoảng 18% và 36% tổng dân số tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Anh và cộng sự, 2016 trích trong Haughton, Sun, & Loan, 2018, trang 212)

So với dân tộc Kinh chiếm đa số, người DTTS đối mặt với những hạn chế và rào cản khi chuyển đổi cơ cấu việc làm, bao gồm trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật hạn chế và các điều kiện bất lợi về xã hội, kinh

tế và địa lý Khoảng 2/3 lao động người DTTS là “lao động đơn giản”, chiếm 67.66%, tiếp đến là “lao động

có kỹ năng trong nông, lâm nghiệp” chiếm 17.59%, “lao động thủ công” là 4.94% và “nhân viên bán hàng

và dịch vụ” chiếm 4.37% (UN Women, 2017) Khi rời quê nhà, thanh niên DTTS di cư chủ yếu được tuyển làm những công việc đòi hỏi sức khỏe với thu nhập thấp Do công việc thuộc khu vực kinh tế phi chính thức thiếu sự thăng tiến, tính ổn định lâu dài, đãi ngộ cho người lao động và vị thế xã hội tương xứng ở mức thấp, thanh niên DTTS di cư làm những công việc này tạo nên xương sống ngầm của giai cấp vô sản bấp bênh ở Việt Nam (Allison, 2013, trang 46; Hewison, 2016) Kết quả là, họ có xu hướng rơi vào “nhóm

ở giữa bị bỏ sót” (missing middle), bao gồm nhóm cận nghèo và thu nhập trung bình thấp làm việc trong khu vực phi chính thức (UNDP & VASS, 2016) Điều này khiến họ đặc biệt dễ tổn thương trước đói nghèo

do không đủ điều kiện nhận trợ giúp xã hội và không thể tiếp cận bảo hiểm xã hội (C.Nguyen, Linh, & Nguyen, 2013; UNDP & VASS, 2016) Phân biệt đối xử cũng cản trở thanh niên DTTS di cư đòi hỏi các quyền kinh tế và xã hội của mình (Oxfam, 2017) Sự tồn tại đồng thời của những yếu tố trên khắc sâu thêm hoàn cảnh thiếu thốn và tình trạng bị loại trừ (exclusion) của thanh niên DTTS di cư, so với người di cư thuộc nhóm đa số Mặc dù các chỉ số HDI, IHDI, GDI, MPI và những phương thức đo lường tương tự được

sử dụng để làm sáng tỏ tình trạng bất bình đẳng, chúng cũng thường bỏ qua các nhóm bên lề và những nhân tố xã hội dẫn đến sự lề hóa

Vai trò của thanh niên được thừa nhận rộng rãi trong bối cảnh di cư toàn cầu, khi “di cư được kỳ vọng và trở thành một thực tế của cuộc sống, đặc biệt đối với nam giới trẻ và dần dần là nữ giới trẻ” (Bretell & Hollifield, 2008, trang 72) Hiện nay, hầu như chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào tập trung vào thanh

Trang 7

niên DTTS di cư như đối tượng mục tiêu chính, đặc biệt là nhóm người trẻ chuyển từ tình trạng “phụ thuộc thời thơ ấu sang độc lập khi trưởng thành” (UN4Youth, 2019, trang 1) Mặc dù một số báo cáo bàn luận

về trải nghiệm của thanh niên di cư (bao gồm thách thức và cơ hội mà họ đối mặt tại nơi đến), nhưng chúng mới đưa ra một bức tranh cục bộ Trong buổi họp báo giới thiệu Báo cáo Phát triển Con người 2016 (Human Development 2016) tại Hà Nội, các đại biểu từ UNDP Việt Nam nhấn mạnh rằng “điều quan trọng

là cải thiện sự hiểu biết của chúng ta về những nguyên nhân cốt lõi gây ra trình trạng ‘tụt hậu’, như thái

độ phân biệt đối xử, các hành vi và các thực hành cản trở người DTTS, đặc biệt là phụ nữ, trong việc tham gia chủ động hơn tại cộng đồng, trên thị trường và trong các hoạt động chính trị và kinh tế cấp địa phương cũng như cấp quốc gia” (UNDP, 2017)

Những bất lợi mà nhiều cộng đồng dân tộc (thiểu số) vẫn đang gặp phải, mặc cho nhiều tiến bộ thực tiễn

về vận động xã hội và xây dựng chính sách, rõ ràng cho thấy những lỗ hổng cần được giải quyết trong chính sách xã hội hiện hành dành cho các nhóm dễ tổn thương và thiệt thòi nhất Nhìn tổng thể, những nhân tổ kể trên gợi ý việc hiểu một cách thấu đáo các trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư để định hướng cho các can thiệp về chính sách mang tính bao trùm và tập trung hơn

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Như đã bàn luận, trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư ở Việt Nam phần lớn được ẩn trong những tự sự lớn hơn về di cư nông thôn – thành thị (M T N Nguyen và Locke (2014); Rigg, Nguyen, và Luong (2014); Haughton và cộng sự (2018); Karis (2013), Anh và cộng sự (2012) là một vài ví dụ), nhưng số lượng thanh niên DTTS di cư ngày một nhiều tại các vùng đô thị đặt ra nhiều câu hỏi mới về lý thuyết và thực tiễn Dựa trên điểm luận tài liệu học thuật, tái trình hiện trên truyền thông, cũng như trải nghiệm làm việc trước đó của nhóm nghiên cứu, chúng tôi cho rằng trải nghiệm hằng ngày của thanh niên DTTS di cư khi

định vị những ranh giới xã hội và ranh giới hữu hình trong khu vực đô thị, chiến lược duy trì kết nối với

mạng lưới xã hội của họ, tính chủ thể và căn tính xã hội thay đổi để thích nghi có sự khác biệt với trải nghiệm của người Kinh di cư nông thôn – thành thị Điều này sẽ được làm sáng tỏ trong các phần sau của nghiên cứu, thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này không đơn thuần đặc trưng cho địa vị của người

di cư, mà còn là xuất thân nông thôn, vị thế kinh tế xã hội thấp hơn và bị giới hạn do là người DTTS Giải thích về địa vị của người di cư và cảm thức thuộc về, các học giả như Yuval-Davis (2007) và Bastia (2004) cho rằng trải nghiệm của một người di cư về cơ bản được định hình bởi những yếu tố giao thoa/liên tầng (overlapping/intersecting factors) thay vì những phạm trù yếu tính luận/quy chất luận như chủng tộc, giới, giai cấp hoặc địa vị kinh tế-chính trị Mặc dù điều này không rõ ràng khi chúng tôi mới định hình ý tưởng nghiên cứu, nhưng càng trở nên rõ ràng hơn sau một số phỏng vấn và quan sát ban đầu, từ đó làm lộ ra những khác biệt trong trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư so với điểm luận tài liệu, không chỉ trên khía

cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa Trải nghiệm còn khác biệt về mặt không gian, cụ thể là sự dịch chuyển, sự

hòa nhập trong cấu trúc xã hội thị thành và cảm thức về công lý của thanh niên DTTS di cư chịu ảnh hưởng

của các không gian xã hội và không gian vật lý Nhận thức được điều này, chúng tôi cho rằng trải nghiệm

của họ trong không gian đô thị không nhất thiết mang tính thụ động hay áp bức, mà là kết quả hỗn hợp

từ các cấu trúc thể chế, chuẩn mực xã hội và sự kiến tạo các không gian xã hội- được định hướng bởi tính chủ thể (agency-informed social-spatial production) (Bork‐Hüffer và cộng sự, 2016; Ortner, 2006)

Từ đó, chúng tôi xem xét trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư theo cách tiếp cận liên tầng và quan điểm liên ngành (kinh tế xã hội, văn hóa tộc người, công lý chính trị và không gian) để thấy những khía cạnh

Trang 8

giao cắt của đặc tính nhân khẩu học (dân tộc, tình trạng học vấn, giới và nghề nghiệp trong số nhiều khía cạnh khác) và những nhân tố có tính cấu trúc (chuẩn mực xã hội, các thiết chế, chính sách và luật pháp)

Do đó, mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu cách thức mà (i) trải nghiệm dịch chuyển (về mặt xã hội và địa lý), (ii) tính chủ thể đang biến đổi2 và (iii) những bất lợi và bất công xã hội khác nhau, mang tính cấu trúc (Fraser & Honneth, 2003), đang giới hạn sự lựa chọn của thanh niên DTTS di cư, đồng thời mở ra những dạng thức mới của sự tự chủ và các thực hành trong bối cảnh đô thị

Như vậy, chúng tôi sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Vì sao và bằng cách nào thanh niên DTTS di cư quyết định di cư và làm việc tại khu vực đô thị?

2 Các dạng thức dịch chuyển nào (trên khía cạnh xã hội, kinh tế, không gian và pháp lý) mà họ sử dụng ở thành thị?

3 Những đặc trưng nhân khẩu học của thanh niên DTTS di cư (giới, tình trạng hôn nhân, dân tộc, quê quán, học vấn và nghề nghiệp) chịu tác động như thế nào từ chính sách hiện hành về quản lý

di cư thành thị, trong việc định hình những giới hạn mang tính cấu trúc và mở ra các dạng thức mới của sự tự chủ thông qua trải nghiệm di chuyển?

4 Trải nghiệm di cư thành thị và tính chủ thể đang thích ứng của họ có tác động qua lại như thế nào? Những trải nghiệm này có được hình thành dựa trên các căn tính liên tầng hay không, và về

cơ bản thì chúng giống hay khác so với trải nghiệm của nhóm dân tộc đa số - người Kinh di cư?

5 Không gian đô thị giúp thanh niên DTTS di cư hòa nhập hoặc loại trừ họ khỏi các cấu trúc xã hội như thế nào?

1.3 Kết quả

Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin cho các chương trình và can thiệp mới giúp giải quyết nhu cầu

và kỳ vọng của thanh niên DTTS di cư Kết quả nghiên cứu sẽ đem lại những hiểu biết mới cho cuộc thảo luận lâu dài về DTTS và di cư, cũng như đưa ra những khuyến nghị thực tiễn cho các bên liên quan, các nhà làm chính sách và công chúng

Kết quả nghiên cứu cũng sẽ được sử dụng để phát triển kế hoạch can thiệp 3 năm của iSEE trong khuôn khổ hợp tác với CCFD Các phát hiện sẽ được chia sẻ với nhà hoạch định chính sách, công chúng và đặc biệt là thanh niên DTTS di cư tại Hà Nội Chúng tôi dự định mời thanh niên DTTS di cư đến iSEE tham gia các buổi tham vấn và khám phá các chiến lược mới giúp phát triển mạng lưới và tăng kết nối xã hội (social belonging) Dự kiến việc thành lập các nhóm mới của thanh niên DTTS di cư là một phần không thể thiếu trong thiết kế hoạt động can thiệp và các nhóm đó sẽ trở thành đối tác bình đẳng với iSEE trong dự án

1.4 Phương pháp luận nghiên cứu

Như đã trình bày sơ lược bên trên, nghiên cứu này lý thuyết hóa các phạm vi giao thoa của cá nhân theo hướng toàn diện, từ đó nắm bắt đầy đủ các sự kiện trong đời sống hằng ngày, các quan niệm, suy nghĩ, các quyết định và mạng lưới nguồn lực của thanh niên DTTS di cư Phương pháp nghiên cứu phù hợp được lựa chọn là nghiên cứu định tính, kết hợp phỏng vấn sâu, quan sát tham gia thông qua các chuyến thăm

2 Trong bối cảnh của nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Tính chủ thể (Subjectivity) (thay vì Căn tính (Identity) để mô tả khả năng các cá nhân (i) nhận thấy bản thân khác biệt/độc nhất và (ii) kiến tạo “cái tôi” (the self) dựa trên sự thương lượng giữa tính tự chủ (agency) và những tác động mang tính cấu trúc

Trang 9

gia đình, và điểm luận có hệ thống các tài liệu liên quan Dưới đây là tóm tắt các phương pháp nghiên cứu được lựa chọn tương ứng với khung lý thuyết:

 Phỏng vấn sâu

Trung dung Mạng lưới xã hội/Vốn xã hội

Chuẩn mực xã hội

 Phỏng vấn sâu

 Quan sát tham gia thông qua các chuyến thăm gia đình

 Quan sát tham gia thông qua các chuyến thăm gia đình

Chuẩn mực xã hội – văn hóa Các thực hành văn hóa và bản dạng cá nhân/căn tính

Vốn xã hội Nhận thức vể không gian và sự di chuyển

Bảng 1 Tóm tắt các phương pháp nghiên cứu

Về thành phần nhóm nghiên cứu, nhóm gồm ba thành viên gồm một người dân tộc Mông và hai người dân tộc Kinh Nghiên cứu viên người Mông là một người trẻ, được đào tạo Nhân học chính quy và có kinh nghiệm thực hiện các nghiên cứu xã hội Vị thế của chị đóng vai trò then chốt trong nghiên cứu này Là người Mông kể từ khi sinh ra và chỉ học nói tiếng Mông khi trưởng thành, xuất thân văn hóa có ảnh hưởng nhất định đến vai trò của chị khi chị được nhìn nhận như “người trong cuộc” hay “người ngoài cuộc” (Narayan, 1993) trong con mắt thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này Sự thấu hiểu và phản tư của chị làm giàu các cuộc thảo luận, và hơn cả là sự hiểu của chúng tôi về quan điểm của thanh niên DTTS di

cư, đặc biệt trong quá trình phân tích dữ liệu Nghiên cứu viên thứ hai hiện là Viện trưởng iSEE, có kinh nghiệm dày dặn về vận động chính sách và thực hiện các nghiên cứu cung cấp thông tin xây dựng chính sách, kinh nghiệm làm việc lâu năm với nhiều nhóm dân tộc khác nhau Người thứ ba là nghiên cứu sinh Tiến sĩ về Địa lý nhân văn, anh có hướng nghiên cứu và kinh nghiệm phù hợp với dự án này

Phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt và không có phiên dịch, vì người cung cấp thông tin có khả năng nói tiếng Việt trôi chảy Tuy nhiên, như được đề cập trong phần Hạn chế nghiên cứu, người tham gia sử dụng thành thạo tiếng Việt giúp các cuộc thảo luận trở nên dễ dàng, nhưng điều này cũng đặt ra những vấn đề tiềm ẩn do chọn mẫu thiên lệch

1.5 Thiết kế nghiên cứu

Thí điểm

Trước tiên, chúng tôi thực hiện điểm luận tài liệu và phát triển khung lý thuyết để xây dựng bảng hỏi thí điểm Chúng tôi cùng nhau triển khai một số phỏng vấn ban đầu, sau đó nhóm nhìn lại dữ liệu thu thập được cũng như các lỗ hổng của nghiên cứu Tiếp theo, chúng tôi sử dụng bảng hỏi được chỉnh sửa và phiếu quan sát cho những buổi phỏng vấn còn lại và các chuyến thăm gia đình

Trang 10

Thiết kế bảng hỏi

Để hiểu mối liên hệ giữa các nhân tố mang tính cấu trúc và trải nghiệm, lựa chọn, rào cản và cơ hội mang tính cá nhân, chúng tôi kết hợp khung lý thuyết Đường đời đa chiều (Multidimensional Life Paths) theo Elder (1975, 1994)3 và công trình về sự tự chủ - quyền lực – văn hóa của Ortner (2006) để phát triển bảng hỏi Cụ thể, chúng tôi nghiên cứu cách thức những yếu tố khác nhau ở ba cấp độ - vĩ mô, trung mô và vi

mô – tác động tới đời sống của người di cư Bảng hỏi chi tiết sử dụng trong nghiên cứu này nằm trong Phụ lục 1

Sơ đồ 1 Khung lý thuyết Đường đời đa chiều được sử dụng cho nghiên cứu

Nguồn: Theo Elder (1975, 1994), trích trong Kõu, Bailey and Wissen (2009)

Tiêu chí lựa chọn người tham gia

Trước khi tiến hành nghiên cứu, nhóm nghiên cứu xây dựng một bộ tiêu chí lựa chọn nhằm chỉ dẫn cho quá trình tuyển lọc người tham gia Tương đồng với quan điểm của UN rằng khoảng tuổi chỉ thanh niên phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể (UN4Youth, 2019), chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng độ tuổi của giới trẻ trong nghiên cứu mà chúng tôi sử dụng cho tiêu chí lựa chọn là từ 18 – 35 tuổi, một số người trên ngưỡng tuổi này được lựa chọn do một số cân nhắc thực dụng khi tuyển người tham gia

Các tiêu chí nhân khẩu học được sử dụng bao gồm:

 Không phải người Kinh theo khai sinh hoặc tự nhận là người Kinh;

3 Kõu, A., Bailey, A., & Wissen, L v (2009) Migrant biographies: A life course approach to high-skilled migration Nghiên cứu này được trình bày tại Hội nghị Dân số quốc tế lần thứ 26 (IUSSP) tại Marrakch, Morocco Ban đầu, chúng tôi sử dụng khung phân tích hữu ích này để xây dựng bảng hỏi, do nó gợi ý cho chúng tôi cách xem xét có hệ thống cuộc sống của cá nhân di cư Mặc dù hữu ích khi phát triển bảng hỏi, nó chỉ ảnh hưởng một phần trong những phân tích tiếp theo Sử dụng cách tiếp cận quy nạp, chúng tôi cho rằng khung trên không đủ để phân tích trải nghiệm về một số dạng thức cụ thể trong sự liên tầng xã hội – như nhóm thanh niên DTTS di cư lao động linh động, tay nghề thấp – vấn đề trọng tâm của nghiên cứu này

Vĩ mô

cơ hội và giới hạn do bối cảnh chính trị, chính sách và nhu cầu thị trường tạo ra

Trung mô

mạng lưới xã hội/vốn xã hội tại quê nhà và nơi đến

Vi mô

giới hạn và nguồn lực do vốn con người, các chuẩn mực xã hội – văn hóa và điều kiện gia đình tạo ra

Trang 11

 Từ 18 đến 35 tuổi vào thời điểm phỏng vấn Trường hợp sẵn sàng tham gia nhưng dưới 18 tuổi vào thời điểm phỏng vấn, cần yêu cầu giấy đồng thuận từ người tham gia và người bảo hộ hoặc người giám sát trực tiếp;

 Không phải cư dân của các thành phố loại một và loại hai (ở miền Bắc Việt Nam) theo giấy tờ và hiện đang sinh sống, làm việc tại khu vực đô thị;

 Không đối mặt với bất kỳ nguy cơ nào về cảm xúc, tâm lý và thể chất hoặc nguy hiểm khi tham gia

nghiên cứu

Tuyển chọn người tham gia

Ban đầu, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp tuyết lăn (snowballing) để tuyển chọn người tham gia Nguyên tắc của snowballing là giới thiệu trực tiếp: chúng tôi kỳ vọng những người được mời phỏng vấn sẽ giới thiệu người tiếp theo trong mạng lưới xã hội của họ nếu phù hợp với các tiêu chí lựa chọn Giả thuyết ở đây là người di cư có thể kết nối với mạng lưới của họ tại nơi đến Khi đó, phương pháp này sẽ thuận lợi do người cung cấp thông tin tiếp theo có mức độ tin tưởng nhất định với nghiên cứu

vì được giới thiệu thông qua người mà họ đã quen biết sẵn Nhưng ngay khi bắt đầu triển khai, chúng tôi nhận thấy phương pháp này cũng gặp những khó khăn về phương pháp luận Những người đầu tiên cung cấp thông tin nằm trong các mối liên hệ cá nhân của chúng tôi, danh sách này nhanh chóng cạn kiệt khi họ không thể giới thiệu người mới cho nghiên cứu vì mạng lưới xã hội hậu-di cư khá hạn chế Quan sát này thúc đẩy chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về vốn xã hội và mạng lưới xã hội của thanh niên DTTS di cư, và thay đổi phương pháp tuyển chọn ban đầu

Khi tiếp cận người tham gia và sắp xếp thời gian phỏng vấn, chúng tôi giải thích ngắn gọn về nghiên cứu, quyền tham gia và rút khỏi nghiên cứu, và xin phép sự đồng thuận của họ bằng lời cho việc ghi

âm Mỗi người tham gia được trả một số tiền nhỏ, thể hiện sự trân trọng đối với thời gian mà họ bỏ

ra cho phỏng vấn

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm thường xuyên phản ánh lại tiến trình và những kết quả đạt được Chúng tôi xem lại mẫu nghiên cứu và thảo luận các chiến lược nhằm đảm bảo thu hút đa dạng người tham gia về dân tộc, độ tuổi, chuyên môn/nghề nghiệp/khu vực kinh tế, giới và nguyên quán Kết quả

là chúng tôi tiếp cận được 29 người tham gia kết hợp từ mối liên hệ cá nhân, liên hệ các tổ chức phi chính phủ và thông qua phương pháp tuyết lăn

Trong số những người cung cấp thông tin, chúng tôi quyết định chọn hai người trên 40 tuổi (không thuộc nhóm thanh niên) vì góc nhìn của họ đưa ra những so sánh có giá trị về mức độ ảnh hưởng của tuổi lớn hơn và khoảng thời gian ở Hà Nội lâu hơn đến cảm nhận và sự lựa chọn cho cuộc sống Chúng

tôi cũng phỏng vấn 2 người Kinh để kết hợp với một số dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn trước đó

Địa bàn

Trong 29 cuộc phỏng vấn thực hiện với thanh niên DTTS di cư, có 13 cuộc diễn ra tại Hà Nội Các buổi còn lại được tiến hành ở các khu công nghiệp, các vùng đô thị ven Hà Nội (gồm Hải Dương, Bắc Ninh)

và tại quê nhà của người tham gia là Hòa Bình và Thanh Hóa

Hầu hết các cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện tại nơi công cộng như nhà hàng, quán café hoặc quán nước ven đường Với các chuyến thăm gia đình, nhóm nghiên cứu di chuyển về quê của người tham gia để thực hiện phỏng vấn trong không gian thân mật và quen thuộc hơn Với những người làm

Trang 12

việc ngoài Hà Nội, nhóm cũng tới các vùng đô thị họ đang sống và làm việc nhằm tối thiểu hóa sự bất tiện cho người tham gia

Phân tích dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu, quan sát trong các chuyến thăm gia đình và ghi chép thực địa của nghiên cứu viên Dữ liệu phỏng vấn sau đó được ghi lại Các bản gỡ băng đúng nguyên văn và ghi chép thực địa sau đó được phân tích và phát triển thành một bảng mã (codebook) Các nghiên cứu viên cùng mã hóa dữ liệu và thống nhất dàn ý báo cáo nghiên cứu

Hội thảo sơ bộ trình bày những phát hiện ban đầu và tham vấn chuyên gia trong ngành được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11/2018 Những phản hồi và góp ý trong hội thảo sau đó đã được đưa vào báo cáo cuối cùng

1.6 Hạn chế của nghiên cứu

Đây là nghiên cứu lát cắt tìm hiểu trải nghiệm đương đại của thanh niên DTTS di cư nên còn một số hạn chế

Thứ nhất, do vấn đề quy mô, nghiên cứu không chỉ ra đầy đủ trải nghiệm di cư và di chuyển từ nông thôn ra thành thị của người Kinh Mặc dù sử dụng các tài liệu liên quan về người Kinh di cư nông thôn – thành thị để so sánh với đối tượng nghiên cứu, chúng tôi hiểu rằng việc sử dụng dữ liệu thứ cấp nhằm minh chứng cho các phát hiện và kết luận có giá trị riêng nhưng cũng gặp vấn đề về tính xác đáng và hợp lệ

Thứ hai, một số trở ngại nhất định ngăn chúng tôi thực hiện quan sát người tham gia trong bối cảnh

đô thị Ví dụ, nhiều người cung cấp thông tin làm việc toàn thời gian và không thể dành quá nhiều thời gian cho nghiên cứu Do cách tổ chức cuộc sống (đặc biệt nếu họ sống cùng gia chủ), việc nghiên cứu viên đến thăm và quan sát điều kiện sống của họ là bất tiện và nhạy cảm

Cuối cùng, dù cố gắng lựa chọn người tham gia có xuất thân đa dạng về dân tộc, tuổi tác, nghề nghiệp, giới, tình trạng kinh tế xã hội để khắc họa một bức tranh toàn diện hơn về thanh niên DTTS di cư, chúng tôi đã không thể giao tiếp với những người có vốn tiếng Việt hạn chế (và dường như có mức

độ hòa nhập xã hội thấp) Ban đầu, nhóm nghiên cứu tiếp cận một NGO và đề xuất phỏng vấn những người có mức độ hòa nhập xã hội cũng như tiếng Việt hạn chế, tuy nhiên sau đó chúng tôi không thực hiện do những cân nhắc về đạo đức Chúng tôi cố gắng sử dụng phương pháp tuyết lăn và các mối liên hệ khác để tiếp cận nhóm đối tượng trên nhưng lại đối mặt với nhiều khó khăn Điền dã nhân học

mở rộng và một chiến lược tuyển chọn khác có lẽ sẽ cần thiết cho những nghiên cứu trong tương lai

1.7 Phạm vi và cấu trúc

Trong báo cáo này, chúng tôi đặc biệt tập trung vào trải nghiệm di cư của thanh niên DTTS ở khu vực

đô thị như Hà Nội Chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng một bức tranh toàn

Trang 13

diện về trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư – tại quê nhà và nơi đến, với gia đình và các thành viên trong cộng đồng, và có lẽ với cả những bạn bè người Kinh di cư Tuy nhiên, do quy mô nghiên cứu, chúng tôi sẽ chỉ bàn luận những dữ liệu về trải nghiệm của thanh niên DTTS di cư tại nơi họ đến và khi

họ quay lại quê nhà

Một điều quan trọng mà chúng tôi cần làm rõ là mặc dù thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này được nhóm lại dưới một phạm trù rộng là người DTTS di cư (trong đối chiếu với người Kinh di cư), nhưng trải nghiệm sống và làm việc của họ tại thành phố có sự khác biệt rõ rệt Như chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn, nghiên cứu chỉ ra những khác biệt quan trọng theo chiều dọc (giữa các cá nhân trong cùng nhóm dân tộc) và theo chiều ngang (giữa các cá nhân và các nhóm thuộc những dân tộc khác nhau)

về tình trạng kinh tế xã hội, sự di chuyển, mạng lưới xã hội và chiến lược thích ứng tại thành thị giữa nhóm lao động tay nghề cao (chuyên gia, lao động sáng tạo, nhân viên văn phòng) và nhóm tay nghề thấp (công nhân, nhân viên phục vụ thuộc khu vực phi chính thức và nông dân từng di cư) Chúng tôi hiểu rằng cách phân tách nhị nguyên như vậy có thể đơn giản hóa phổ phức tạp những khác biệt theo chiều ngang về vị thế của thanh niên DTTS di cư Tuy vậy, chúng tôi muốn sử dụng cách phân loại này làm cơ sở phân tích quan trọng trong nghiên cứu

Về cấu trúc báo cáo, đầu tiên chúng tôi trình bày những thông tin tổng quan nghiên cứu trước khi chuyển sang phần điểm luận ngắn gọn các chính sách hiện nay, điểm luận tài liệu về người DTTS di cư tại thành thị Việt Nam và khung phân tích được lựa chọn Tiếp đó, chúng tôi trình bày bốn phần thực nghiệm nhằm nêu lên những vấn đề và trải nghiệm đa dạng mà người tham gia nghiên cứu phải đương đầu khi làm việc tại Hà Nội và các khu công nghiệp lân cận Ở phần kết luận, chúng tôi sẽ đưa ra một

số nhận định về chính sách và các can thiệp cần chú trọng

Trang 14

PHẦN 2 NGƯỜI DTTS DI CƯ TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ: CHÍNH SÁCH VÀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về thanh niên DTTS di cư tại Việt Nam từ điểm luận tài liệu và truyền thông

Theo số liệu thống kê gần đây, tỉ trọng di cư nội địa tại Việt Nam ước tính chiếm 13.6% tổng dân số quốc gia, chiếm 17.3% dân số trong độ tuổi 15 – 59 và đóng góp khoảng 7% vào kinh tế quốc gia (UNESCO, UNHABITAT, IOM, & UNDP, 2016) Trong bốn loại hình di cư (thành thị - nông thôn, nông thôn – nông thôn, nông thôn – thành thị và thành thị - thành thị), dân số di cư từ nông thôn ra thành thị là nhóm đông nhất so với các dòng di cư khác, với xấp xỉ 2 triệu người năm 2009, và dự kiến chạm mức 6.4 triệu người năm 2019 (GSO & UNFPA, 2005; UNESCO và cộng sự, 2016) Các báo cáo này dựa trên số liệu người cư trú tạm thời tại đô thị theo đăng ký chính thức, điều này hàm ý rằng con số chính xác có thể còn cao hơn đáng kể nếu tính cả người di cư không đăng ký

Động lực di cư nông thôn – thành thị

Các nghiên cứu di cư tại Việt Nam nhìn chung cho rằng các nhân tố kinh tế, bao gồm tìm kiếm việc làm và thích ứng với những cơ hội mới của thị trường tiếp tục là động lực chính của di cư thành thị (Coxhead, Vu,

& Nguyen, 2016, trang 5; GSO & UNFPA, 2005; UNESCO và cộng sự, 2016; UNFPA & GSO, 2016) Cùng lúc

đó, di cư vẫn là cách thức cải thiện sinh kế hộ gia đình và chiến lược phòng ngừa rủi ro cho các hộ gia đình nông thôn khi đối mặt với những thay đổi liên tục về kinh tế xã hội (Dinh, 2010; Le, 2014; M T N Nguyen

& Locke, 2014)

Các nhân tố khác khiến người nông thôn, đặc biệt là thanh niên, di cư đến thành thị bao gồm nhu cầu học tập và nâng cao kỹ năng chuyên môn, thông qua giáo dục đào tạo chính thức và phi chính thức (Coxhead

và cộng sự, 2016; Le, 2014; UNFPA & GSO, 2016, trang 3) Hơn nữa, một số yếu tố đan cài có thể được

đặt chung dưới thuật ngữ bao trùm là động lực cá nhân, bao gồm mức độ sẵn sàng cho hôn nhân, mạng

lưới gia đình và kỳ thị xã hội do lai lịch cá nhân, tình trạng tước đoạt đất đai và di cư bắt buộc do thiên tai (Le, 2014, trang 57; UNESCO và cộng sự, 2016, trang 2; UNFPA & GSO, 2016, trang 3)

Cuối cùng, động lực chính của di cư thành thị là những thay đổi trong phong cách sống và khát vọng, một phần là kết quả của việc tiếp cận với thế giới rộng lớn hơn thông qua khả năng kết nối của Internet và tăng cường dịch chuyển (Cawthorne & Ha, 2017; Dinh, 2010, trang 77; Do & Chu, 2018; L D Nguyen & Nguyen, 2018; UNFPA & GSO, 2016, trang 5) So với nghiên cứu tập trung vào khía cạnh kinh tế của di cư, các nghiên cứu về chủ đề này tại nông thôn Việt Nam có số lượng ít hơn Tuy nhiên, ngày càng nhiều tài liệu cho rằng tồn tại mối liên hệ giữa những thay đổi văn hóa và tính chủ thể biến đổi với các lựa chọn cuộc sống của giới trẻ người DTTS Một điều đáng chú ý là các nghiên cứu nổi bật về thanh niên DTTS tại nông thôn và vùng cao Việt Nam và tương tác của họ với mạng xã hội cung cấp những hiểu biết then chốt về cách thức mà mạng xã hội tái định hình căn tính xã hội và mở rộng hiểu biết về những cơ hội bên ngoài cộng đồng Ví dụ, nghiên cứu về thanh niên nông thôn của Cawthorne và Ha (2017) kết luận rằng các nền tảng mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, được giới trẻ DTTS tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Hòa Bình sử dụng chủ động và phổ biến, đóng vai trò quan trọng giúp họ mở rộng tầm nhìn với thế giới bên ngoài, kết nối họ với những nhóm bạn mới và tái định hình căn tính của họ Tương tự, Do và Chu (2018) kết luận mạng xã hội thâm nhập chặt chẽ trong trải nghiệm hằng ngày của thanh niên DTTS tại một số bản thuộc tỉnh Bắc Kạn Bàn về sự di chuyển và tương tác tăng lên với người ngoài cộng đồng của thanh niên DTTS,

Trang 15

nghiên cứu của L D Nguyen và Nguyen (2018) về những quan điểm biến đổi của người trẻ cho thấy họ đang trải qua quá trình tái định hình các đặc tính xã hội và điều chỉnh các giá trị truyền thống để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong xã hội hiện đại Kỳ thị xã hội gắn với người DTTS, sẽ được chúng tôi phân tích sau, cũng có thể là một động lực dẫn đến những thay đổi trên (Dinh, 2010, trang 77) Điểm luận tái trình hiện trên truyền thông cho thấy hình ảnh người DTTS nhìn chung được xây dựng chủ yếu gắn với khu vực nông lâm và đi cùng những hàm ý tiêu cực (lạc hậu, năng suất thấp) Do đó, thông qua di

cư, thanh niên DTTS có thể thoát khỏi sự kỳ thị bằng cách tìm kiếm những cơ hội nghề nghiệp và trải nghiệm mới, với khát khao “thoát nghèo”, hoặc chính xác hơn, là kỳ vọng vượt thoát những diễn ngôn về đói nghèo và lạc hậu đang áp đặt lên họ

Nhân khẩu học về người di cư nông thôn – thành thị

Thanh niên DTTS di cư có xu hướng áp đảo xét theo nhân khẩu học trong dòng chảy di cư cũng như tham gia vào lực lượng lao động mỗi năm (UNDP, 2016) Điều này được phản ánh trong cấu trúc độ tuổi và độ tuổi trung vị (25 tuổi) của người di cư nông thôn - thành thị (Dinh, 2010, trang 77; Haughton và cộng sự,

2018, trang 215; UNESCO và cộng sự, 2016; UNFPA & GSO, 2016)

Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ di cư nhiều hơn nam giới, tức là xu hướng nữ hóa (feminisation) trong di cư nông thôn – thành thị tại Việt Nam (UNFPA & GSO, 2016) Tuy nhiên, có sự khác biệt về giới đối với các loại động lực di cư (di cư vì việc làm hoặc không vì việc làm), cũng như sự khác biệt về hồ sơ nghề nghiệp và mức thu nhập giữa nam và nữ trong bối cảnh thành thị (Coxhead và cộng sự, 2016, trang 17; Haughton và cộng sự, 2018, trang 221, 223), cho thấy phụ nữ vẫn đối mặt với nhiều rào cản hơn về xã hội, kinh tế và có nguy cơ bị bóc lột hoặc lạm dụng cao hơn so với nam giới (Le, 2014, trang 61, 62) Không ngạc nhiên rằng thanh niên quyết định di cư không phải là những người ít được học hành nhất và

có xuất thân đặc biệt bất lợi (Dinh, 2010; UNESCO và cộng sự, 2016; UNFPA & GSO, 2016, trang 2) Thay vào đó, hầu hết người di cư sống trong các hộ gia đình đông người (Coxhead và cộng sự, 2016, trang 17), trình độ học vấn của họ là bậc trung học cơ sở (UNFPA & GSO, 2016, trang 2) và thu nhập rơi vào khoảng

từ trung bình đến trung bình thấp trong bối cảnh nông thôn (Coxhead và cộng sự, 2016, trang 17) Lựa chọn di cư không điển hình đối với nhóm người khá giả hơn, chủ yếu do số tiền gửi về khi di cư thấp hơn

so với thu nhập và sinh kế của họ tại địa phương Số liệu thống kê cũng cho thấy người di cư thường độc thân, kết hôn muộn hơn và di cư một mình đến thành phố (UNFPA & GSO, 2016, trang 2)

Một số đặc điểm di cư

Theo truyền thống, loại hình sinh kế chính của nhiều thế hệ người DTTS là nông nghiệp, phương thức này cung cấp nhiều hơn mức vừa đủ để duy trì cuộc sống Nhưng với tốc độ dân số tăng nhanh, đất nông nghiệp thu hẹp và hạn chế tiếp cận tài nguyên rừng, nhiều người quyết định hòa vào dòng chảy di cư để tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp tại các tỉnh và thành phố khác Di cư nội địa trở thành phương thức khả thi với các hộ gia đình nông thôn để duy trì sinh kế, khi phải đối mặt với những thay đổi thường xuyên Các tài liệu về di cư nông thôn – thành thị cho thấy hình mẫu di cư chủ đạo là di cư tạm thời hoặc theo mùa

vụ (Anh và cộng sự, 2012; Karis, 2013), không dừng lại ở một nơi đến cố định mà nhiều điểm đến, với các khoản tiền tuần hoàn gửi về cộng đồng vì lý do kinh tế và nghĩa vụ đạo đức (Luong, 2018) Người di cư thấy họ vẫn là một phần của gia đình tại quê nhà (M T N Nguyen & Locke, 2014), vì vậy, họ chọn làm việc tại thành phố, gửi tiền về quê và duy trì kết nối với gia đình bằng những dịp về thăm nhà (Dinh, 2010) Một phần nhỏ người di cư, thường đi khi còn trẻ vì lý do giáo dục hoặc hôn nhân, sẽ chọn định cư tại thành phố

Trang 16

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra mạng lưới xã hội đóng vai trò then chốt trong việc kết nối người di cư với

cơ hội di cư, đồng thời ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến và cung cấp những hỗ trợ kinh tế và phi kinh

tế cho người di cư tại nơi đến (Karis, 2013; M T N Nguyen & Locke, 2014, trang 867-868; UNFPA & GSO,

2016, trang 4)

Những vấn đề và thách thức tại thành thị

Về những thách thức của di cư thành thị, một số học giả chỉ ra những thách thức phổ biến mà lao động di

cư Việt Nam gặp phải tại nơi đến, bao gồm tính dễ tổn thương về kinh tế, xã hội và chính trị (Anh và cộng

sự, 2012; Haughton và cộng sự, 2018; Karis, 2013; Marx & Fleischer, 2010; Q V Pham & Tran, 2015) Khi tiếp cận dịch vụ, người di cư gặp những vấn đề như công việc bấp bênh, thiếu nhà ở giá cả phải chăng, chi phí dịch vụ công như điện nước cao hơn cư dân thành thị; hạn chế tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi như y tế, giáo dục, và tỉ lệ tham gia thấp trong các tổ chức chính trị văn hóa cơ sở tại khu dân cư (Le, 2014;

Q V Pham & Tran, 2015) Hầu hết các học giả đồng tình rằng lý do chính dẫn đến những mô dạng méo

mó của sự bấp bênh xã hội là thủ tục đăng ký hộ gia đình/đăng ký cư trú (Hộ khẩu) được thiết lập để rằng buộc quyền tiếp cận dịch vụ tại nơi ở với tình trạng cư trú của một người Người di cư cũng đối mặt với các vấn đề về bất bình đẳng cơ hội việc làm, đặc biệt trong khu vực công với bất bình đẳng thu nhập (Haughton và cộng sự, 2018) Ngoài những rào cản “cứng”, người di cư còn gặp rào cản “mềm” khác như

kỳ thị, định kiến và phân biệt đối xử từ các cơ quan Nhà nước và người dân thành thị đối với lai lịch nông thôn của họ (Anh và cộng sự, 2012; Karis, 2013; Q V Pham & Tran, 2015) Điều này càng củng cố cảm giác của họ về sự lề hóa xã hội và bất bình đẳng

2.2 Khoảng trống nghiên cứu và thiếu sự hiện diện của người DTTS di cư trong các tài liệu

Nhiều nghiên cứu và văn bản chính sách đã bàn luận những vấn đề của người di cư ở Việt Nam (ví dụ như Dinh (2010), Le (2014), Q V Pham và Tran (2015), UNFPA và GSO (2016), UNESCO và cộng sự (2016), L

D Nguyen và Nguyen (2018), Haughton và cộng sự (2018), Anh và cộng sự (2012), M T N Nguyen và Locke (2014), Karis (2013) Tuy nhiên, nghiên cứu riêng về người DTTS di cư tại thành phố gần như thiếu vắng Một ngoại lệ là nghiên cứu của Coxhead và cộng sự (2016) bàn luận một phần chủ đề này, nhưng lại

bị giới hạn trong các quan sát định lượng sử dụng dữ liệu năm 2012 từ Điều tra mức sống dân cư Việt Nam Do thiếu sót này, hiểu biết về người DTTS di cư tại khu vực đô thị - động lực, vấn đề, thách thức, cơ hội và các hàm ý chính sách – còn chưa đáng kể so với nghiên cứu về người Kinh di cư

Một nhân tố khả thể góp phần giải thích điều này là tỉ lệ người DTTS di cư thấp hơn so với người Kinh và người Hoa di cư Số liệu chính thức cho thấy trong khi tỉ lệ di cư của người Kinh và người Hoa là khoảng 4.58% năm 2012, tỉ lệ trung bình của các nhóm dân tộc khác chỉ khoảng 2.75% (Coxhead và cộng sự, 2016, trang 10) Đồng thời, do thiếu dữ liệu riêng về tình trạng di cư của 52 nhóm dân tộc còn lại nên ý tưởng trên càng trở nên thách thức Tuy nhiên, ngoài vấn đề chuyên môn và tính sẵn có của dữ liệu, chúng tôi không thể bỏ qua thực tế rằng việc thiếu các nghiên cứu về người DTTS di cư, cả trong nước và quốc tế,

có thể phản ánh mức độ ưu tiêu thấp của giới học thuật và nhà hoạch định chính sách dành cho chủ đề này

Từ nguồn tài liệu sơ cấp và truyền thông4 mô tả người DTTS di cư tại thành thị còn hạn chế, một vấn đề khác nổi lên đòi hỏi sự chú ý của chúng tôi trên phương diện học thuật là chủ nghĩa vị chủng trong chính

4 Ví dụ, bài báo trên VnExpress mô tả người Mông tại Hà Nội: phieu-luu-cua-nguoi-mong-trong-pho-3631259.html, là một trong rất ít các bài về chủ đề này So với số

Trang 17

https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cuoc-sách dân tộc (ethnic politics) ở Việt Nam Nghiên cứu của A Terry Rambo (2003), A Terry Rambo và Jamieson (2003, trang 150), Taylor (2008) và P Q Pham và Hoang (2012) chỉ ra rằng chính sách dân tộc ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của mô hình dân tộc chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa lấy người Kinh làm trung tâm Các học giả trên phân tích diễn ngôn của Nhà nước về “dân tộc thiểu số” ở Việt Nam và kết luận rằng thái độ phân biệt đối xử với người DTTS bám rễ từ chủ nghĩa người Kinh làm trung tâm và ý thức hệ tiến hóa luận xã hội (social evolutionist ideology) Tuy nhiên, quan điểm lấy người Kinh làm trung tâm và tiến hóa văn hóa của Nhà nước không chỉ giới hạn trong chính sách Chúng còn tiếp diễn trên truyền thông (iSEE, 2011) và được chuyển thể thành những can thiệp thiếu nhạy cảm về văn hóa, mà không chú ý đến các thực hành văn hóa và vị thế văn hóa của người DTTS (Pham & Hoang, 2012, trang 72-75)

So với các nghiên cứu về trải nghiệm di cư thành thị chủ yếu của người Kinh (theo suy luận của chúng tôi

vì hiện chưa có dữ liệu nhân khẩu học), chúng tôi cho rằng định kiến văn hóa là vấn đề cá biệt với những người di cư không phải người Kinh tại thành thị (Q V Pham & Tran, 2015) Nghiên cứu của Coxhead và cộng sự (2016) có lẽ là toàn diện hơn cả xét trên khía cạnh này, khi làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thiên kiến/định kiến và sự dịch chuyển lao động mà người DTTS trải nghiệm, tuy nhiên, các phát hiện vẫn chưa thật sự đầy đủ Các tác giả trên đề xuất như sau:

“Thành viên của các nhóm DTTS ở Việt Nam rõ ràng đối mặt với các rào cản về dịch chuyển mà không thể lý giải từ những biến khả giải của chúng tôi Dù là về phía cung (sức kéo từ những ràng buộc của văn hóa địa phương và mối quan hệ họ hàng) hoặc về phía cầu (sự phân biệt đối xử từ những người tuyển dụng tiềm năng), hoặc sự pha trộn của cả hai, đều cần được khám phá” (Coxhead và cộng sự, 2016, trang 22)

Với số lượng hạn chế các nghiên cứu hiện hành về thanh niên DTTS di cư làm việc tại thành phố, rào cản

mà chúng tôi có thể chắc chắn hơn cả là hộ khẩu, một chính sách phân biệt đối xử, tiếp tục cản trở sự di

chuyển của tất cả các cá nhân không cư trú Chúng tôi cũng cho rằng một rào cản khác là sự tiếp cận hạn

chế với các tổ chức chính trị-xã hội cấp cơ sở, như hội đồng ở khu dân cư (tổ dân phố) hoặc những tổ chức

quần chúng khác (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Hội Cựu chiến binh) Tuy nhiên, khoảng trống lớn trong các tài liệu hiện nay là những khác biệt văn hóa, kỳ thị và định kiến xã hội của dân địa phương đối với người di cư, và cách các nhân tố trên cản trở hoặc thúc đẩy thanh niên DTTS di cư tạo ra những chiến lược

phản hồi mới Đó là những phạm vi được đề cập trong nghiên cứu sơ bộ này

2.3 Chính sách di cư thành thị (với người DTTS)

Một điều quan trọng cần lưu ý là Việt Nam không có điều luật riêng cho người di cư nội địa hoặc người DTTS di cư trong Luật Lao động, Luật Cư trú hiện hành hoặc các luật và chính sách khác liên quan đến di

cư Trong phần này, chúng tôi sẽ làm rõ cơ chế mà hệ thống đăng ký hộ gia đình (hộ khẩu), được thực thi

ở khu vực đô thị, tiếp tục phân biệt đối xử với người không cư trú tại thành phố, bao gồm người DTTS di

Đăng ký hộ khẩu bắt đầu ở Trung Quốc và được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam suốt những năm 1950, trước khi mở rộng xuống miền Nam sau thống nhất đất nước năm 1975 (Anh và cộng sự, 2012) Hệ thống này bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ phúc lợi (giáo dục, y tế, lựa chọn nhà ở, giá cả dịch vụ công) và các quyền (sở hữu nhà cửa và sở hữu tài sản như phương tiện cá nhân) của cá nhân dựa theo khu vực đăng

lượng bài viết về di cư nội địa (phạm pháp) của người DTTS, nhận thức và sự hiểu biết của công chúng về quy mô và các vấn đề của người DTTS di cư là rất thấp

Trang 18

ký hộ gia đình Khi một người chuyển đến khu vực hành chính khác, quyền và khả năng tiếp cận của họ sẽ

bị ảnh hưởng theo Điều này ngăn cản họ di cư tạm thời Nhằm hạn chế phong trào di cư nông thôn –

thành thị, các nhà hoạch định sử dụng hộ khẩu như phương tiện quản lý hiệu quả để loại trừ người không

cư trú tại đô thị khỏi hệ thống phúc lợi của thành phố (Anh và cộng sự, 2012; Haughton và cộng sự, 2018;

M T N Nguyen & Locke, 2014; Q V Pham & Tran, 2015) Không đơn thuần là công cụ hạn chế di chuyển

giữa các vùng miền, hộ khẩu còn được xem là công cụ giúp Nhà nước thực hiện quy hoạch và giám sát dân số (Anh và cộng sự, 2012, trang 1109) Theo thời gian, chế độ hộ khẩu dần nới lỏng và dự kiến sẽ được

loại bỏ vào năm 2020 Hiện có bốn loại hộ khẩu, theo Anh và cộng sự (2012, trang 1109):

 KT1: Người đăng ký tại quận/huyện nơi người đó cư trú

 KT2: Người không đăng ký tại quận/huyện nơi người đó đó cư trú, mà đăng ký tại một quận/huyện khác thuộc cùng tỉnh/thành phố

 KT3: Người từ một tỉnh/thành phố khác đăng ký tạm trú tại nơi đến trong khoảng thời gian một năm, sau khoảng thời gian đó đăng ký KT3 phải được cấp lại (Kể từ 07/2017, yêu cầu đăng ký lại đã được bãi bỏ.)

 KT4: Người từ một tỉnh/thành phố khác có đăng ký tạm trú tại nơi đến trong khoảng thời gian sáu tháng, sau khoảng thời gian đăng ký KT4 phải được cấp lại (Kể từ 07/2017, yêu cầu đăng ký lại đã được bãi bỏ.)

Bảng 1 Bốn loại hình đăng ký hộ khẩu hiện hành

Nguồn: Anh và cộng sự (2012, trang 1109)

Với những rào cản mang tính cấu trúc còn tồn tại, quyền và khả năng tiếp cận của người di cư sẽ bị hạn chế - mức độ giới hạn phản ánh địa vị kinh tế xã hội và tình trạng cư trú của người đó Một cá nhân không bị hạn chế khi tự đăng ký bất cứ loại hình nào trong bốn loại hộ khẩu trên, nhưng mức độ hiểu biết về hệ thống có thể ảnh hưởng lớn đến lựa chọn của họ, và hệ quả là quyền của họ Một hệ thống chính thức như vậy nhìn có vẻ công bằng (miễn là một người ở đúng nơi họ đăng ký), nhưng bản chất nó tạo ra “bất bình đẳng quy mô lớn” (“massive inequality”), như Karis (2013, trang 260) chỉ

ra, do phân phối nguồn lực bất bình đẳng và sự phát triển không đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị

Ngoài bối cảnh đô thị, chúng tôi cho rằng các chính sách hướng đến cộng đồng nơi đi và người dân nông thôn cũng có tác động đến sự di chuyển và di cư nông thôn-thành thị Trong bối cảnh Việt Nam, Chính phủ điều phối một loạt các chương trình giảm nghèo trong nhiều thập kỷ qua, đáng chú ý hơn

cả là Chương trình 135 (P135) 5 và Chương trình 30A (P30A) Thông qua trợ cấp, chuyển giao và đầu

tư cơ sở hạ tầng, các chương trình phát triển6 đặt ra mục tiêu đưa những cộng đồng bất lợi nhất thoát khỏi đói nghèo và tiếp đến là ổn định cư trú (human movements) Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các chương trình phát triển đồng bộ như P135 và P30A không thực sự phù hợp với đặc điểm riêng của từng vùng miền, từng khu vực cụ thể và không đáp ứng được kỳ vọng của cư dân nông thôn

và DTTS (Do, Nguyen, & Luu, 2015; VCCI, 2014) Những ví dụ thực tế có thể kể đến chính sách xây mới

5 Cụ thể, Chương trình 135 là chương trình phát triển kinh tế-xã hội hướng tới các xã bất lợi nhất tại khu vực DTTS

và miền núi, với mục tiêu giúp các cộng đồng DTTS ổn định an ninh xã hội tại địa phương

6 Ví dụ, Diễn đàn quốc gia về giảm nghèo thuộc Bộ lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA) mô tả chi tiết các chương trình quốc gia này, xem tại: http://giamngheo.molisa.gov.vn/extendpages.aspx?id=0&CateID=8

Trang 19

các chợ ở các tỉnh Tây Bắc, nhằm tạo điều kiện cho các cộng đồng dân tộc tiếp cận thị trường tốt hơn, nhưng sau đó chương trình này phải dừng lại do khâu thiết kế và lập kế hoạch thiếu nhạy cảm về văn hóa.7 Tuy trọng tâm nghiên cứu này không xem xét cụ thể các chương trình phát triển trên, hầu hết những người cung cấp thông tin8 cho nghiên cứu đều đến từ vùng Chương trình P135 và P30A Thực

tế này thúc đẩy chúng tôi nghĩ về tính hợp lý và hiệu quả của những chương trình trên cho các nghiên cứu trong tương lai

2.4 Khung phân tích

Động năng di cư nội địa phức tạp của người DTTS đòi hỏi nhiều cách tiếp cận và góc nhìn để nắm bắt

và giải thích hiện tượng này, nhưng nhiều nghiên cứu có vẻ tập trung hơn vào góc độ kinh tế mà không dành sự quan tâm thích đáng đến khía cạnh văn hóa – xã hội và tâm lý của người DTTS di cư Để hiểu những trải nghiệm phức hợp của thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất ba khung phân tích, cụ thể là công lý xã hội (social justice) (Nancy Fraser, 1997; Fraser & Honneth, 2003);

lý thuyết liên tầng (intersectionality theory) (Crenshaw, 1991; Yuval-Davis, 2007) và bản dạng cá nhân

và sự tự chủ dựa vào văn hóa (culturally-informed agency and identity) (Ortner, 2006; Scott, 2009) Đầu tiên, chúng tôi đặt khái niệm công lý xã hội làm trung tâm của khung phân tích Chủ yếu được xây dựng và phát triển từ ý tưởng của Nancy Fraser (1997) về công lý xã hội trong thời kỳ toàn cầu hóa và

bất bình đẳng, một số học giả cho rằng trải nghiệm của cá nhân về bất công xã hội bắt nguồn từ sự giao thoa và pha trộn của việc thiếu nguồn lực (resources), sự thừa nhận (recognition) và sự đại diện

(representation) (Fraser, Dahl, Stoltz, & Willig, 2004; Fraser & Honneth, 2003) Do bất công hay công

lý xã hội là kết quả đan cài của nhiều hệ hình có tính liên kết và đồng thời (nguồn lực trên khía cạnh

kinh tế xã hội; sự thừa nhận trên khía cạnh văn hóa và pháp lý/chính trị; sự đại diện trên khía cạnh văn hóa/chính trị và dân sự), khung phân tích này rất thích hợp để hiểu tính dễ tổn thương của thanh

niên DTTS di cư trong nghiên cứu từ góc nhìn đa chiều, từ đó nhằm thiết kế những hoạt động can thiệp giúp giải quyết vấn đề Là người DTTS và là người di cư, trong bối cảnh đô thị Việt Nam, cá nhân

đó có vị thế kép (bivalent) do kết quả giao thoa giữa những nhân tố của tính dễ tổn thương và bất công xã hội, như được mô tả dưới đây

7 Bài báo này trên website của Đảng cộng sản Việt Nam giải thích vì sao gần đây nhiều khu chợ được xây dựng ở vùng DTTS nhưng cuối cùng bị cộng đồng địa phương bỏ hoang: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Van-hoa- xa-hoi/2017/43182/Xay-dung-nong-thon-moi-o-vung-cao-Can-chu-trong-tinh.aspx

8 Trong nghiên cứu này, người cung cấp thông tin đến từ Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Hòa Bình, Điện Biên và Sơn La

Trang 20

Hình 1. Phân tích sự giao thoa, tương tác và ảnh hưởng của các phạm vi công lý đối với trải nghiệm về

bất công xã hội của thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này

Như nghiên cứu sẽ phân tích trong các phần tiếp theo, sự khác biệt trong trải nghiệm giữa thanh niên DTTS di cư và người Kinh di cư cơ bản nằm ở hệ hình thứ ba: Chủ nghĩa trọng người Kinh, hay thiếu sự thừa nhận về văn hóa của nhóm đa số đối với các DTTS và thiếu sự tham gia của người DTTS Tuy nhiên, khung công lý xã hội tự thân nó không giải thích đầy đủ lý do một số thanh niên DTTS di cư có thể trải nghiệm nhiều bất công hơn những người khác, và vì vậy, chúng tôi cần đưa ra khung phân tích thứ hai về

lý thuyết liên tầng để bổ trợ Trong bối cảnh không gian đô thị với quyền lực bất cân xứng, thừa nhận những khác biệt đa dạng của tất cả các nhóm có thể giúp lý giải “sự giao thoa của nhiều vị thế xã hội (social locations), mỗi cái đều được xã hội định nghĩa, với những hạn chế và cơ hội đi kèm” (Denis, 2008, trang 681) Đó là lý do chúng tôi lựa chọn lý thuyết liên tầng làm khung phân tích thứ hai

Như chúng tôi đã giải thích ngắn gọn trong mô tả phương pháp luận nghiên cứu, lý thuyết liên tầng (Crenshaw, 1991; Yuval-Davis, 2007) cung cấp cho chúng tôi một ‘thấu kính’ quyền năng giúp xem xét kỹ

sự khác biệt tồn tại giữa các nhóm thanh niên DTTS di cư Bắt nguồn từ phong trào nữ quyền 1980s - 1990s, nhằm giải thích sâu hơn những vấn đề có tính phân tầng mà phụ nữ da màu trải nghiệm, lý thuyết liên tầng trở thành sự đáp trả rộng rãi đối với phong trào chính trị căn tính (identity politics) và các phạm trù mang tính quy chất luận (essentialist categories) (Crenshaw, 1991) mà bỏ qua những khác biệt nội nhóm (Bastia, 2014) Nhưng một điều quan trọng nữa cần chú ý là bối cảnh của những thảo luận trước đó

về lý thuyết liên tầng là chống lại chính trị căn tính trong những cấu trúc và mối quan hệ được chính thức

1 THIẾU QUYỀN DO VỊ THẾ LÀ NGƯỜI KHÔNG CƯ TRÚ TẠI ĐÔ THỊ

1.1 Hạn chế tiếp cận các dịch vụ phúc lợi

ở thành thị 1.2 Hạn chế quyền chính trị (bầu cử) và quyền công dân (sự tham gia trong các tổ

chức xã hội chính trị)

3 CHỦ NGHĨA TRỌNG NGƯỜI KINH TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ CĂN TÍNH VÀ THỰC HÀNH VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DTTS

3.1 Chính trị tộc người và diễn ngôn về các thực hành và thiết chế dựa trên quan điểm/ý thức hệ tiến hóa luận văn hóa 3.2 Định kiến và kỳ thị xã hội được đại chúng hóa thông qua truyền thông

2 ĐẤU TRANH GIAI CẤP VỀ KINH

TẾ XÃ HỘI DO BẢN DẠNG CÁ NHÂN LÀ NGƯỜI DI CƯ VÀ NGƯỜI NÔNG THÔN

2.1 Định kiến về người nông thôn/nông dân của người thành

phố 2.2 Vị thế kinh tế xã hội phân cực, bao gồm căn tính giai cấp giữa người giàu và người nghèo

Trang 21

hóa (chủ yếu là các thiết chế Nhà nước – quốc gia với công dân) Có không nhiều những bàn luận về các

cá nhân (đặc biệt là người di cư và người DTTS) có trải nghiệm khác biệt trong những thiết chế ít chính

thức hơn và ở quy mô nhỏ hơn (như trong cộng đồng văn hóa của họ) Do đó, khái niệm tư cách công dân

đa tầng (multi-layer citizenship) của Yuval-Davis (2007) đưa ra một cách nhìn then chốt để hiểu những trải

nghiệm phân tầng trong nội nhóm mà thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu này có thể trải qua Thứ ba, chúng tôi cho rằng căn tính văn hóa-tộc người tiếp tục đóng vai trò quan trọng giúp định hình và tạo tính cho thanh niên DTTS trong việc định vị mạng lưới xã hội ở đô thị và phát triển những chiến lược sáng tạo khác biệt với người Kinh di cư trong không gian đô thị Cụ thể, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng còn khoảng trống cho những bàn luận tổng thể về sự tự chủ của thanh niên DTTS di cư trong mối quan hệ

với các tác nhân quyền lực (như Nhà nước và thị trường) và các công cụ quản lý (hộ khẩu và hàm ý của nó

với công dân đô thị) Khi nói về sự tự chủ, chúng tôi không có ý nói sự tự chủ như sự phản kháng, không chính trị hóa hay lãng mạn hóa sự đấu tranh của những người đương đầu với bất công Hơn nữa, chúng tôi muốn sử dụng khái niệm sự tự chủ (agency) của Ortner (2006) để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa nhân tố con người trong nghiên cứu này, là người di cư đô thị với hệ thống quản lý nhiều quyền lực với nhiều chiến lược đa dạng Chúng tôi cũng không thể bỏ qua thực tế rằng thanh niên DTTS di cư, bên cạnh tư cách là dân di cư và phải đối mặt với một loạt thách thức mới để thích nghi cuộc sống đô thị, họ còn mang căn tính/bản dạng văn hóa-chính trị vùng cao kiểu Zomia9 (Scott, 2009), tức là họ không quen chịu sự kiểm soát của chính quyền (“state evasion”) khi di chuyển giữa các không gian Dù vậy, một số bằng chứng lật lại quan điểm của Scott (2009) khi những người Zomia hoạt động trong thị trường, nhưng tiếp tục duy trì cảm giác và kỹ thuật “không bị kiểm soát bởi chính quyền” trong thời kỳ hội nhập kinh tế-xã hội tại “những không gian đô thị” mới (xem Herriman và Winarnita (2016), Turner, Bonnin và Michaud (2015), hoặc chương hai và chương ba của cuốn Thương nhân trong Sự dịch chuyển (Traders in Motion) của Endres, Leshkowich và Turner (2018) Vì thế, mặc dù xem căn tính văn hóa kiểu Zomia là khung phân tích về nhận thức và lịch sử kiên cường (của người DTTS), chúng tôi cũng tìm kiếm những câu chuyện giúp soi sáng một thực tế phức tạp hơn cũng như căn tính tạm thời của “giới trẻ Zomia” khi họ định vị những cơ hội và thách thức trong không gian đô thị

9 Zomia là thuật ngữ địa lý được nhà sử học Willem van Schendel tại Đại học Amsterdam sử dụng, để chỉ phần lớn lục địa Đông Nam Á có lịch sử không bị kiểm soát bởi các nhà nước (Chú thích của người dịch)

Trang 22

PHẦN 3 PHÓNG TO BỨC TRANH: NGƯỜI DTTS DI CƯ TRONG ĐÔ THỊ - HỌ

LÀ AI?

Trước khi bắt đầu phỏng vấn, chúng tôi hỏi người cung cấp thông tin về Giới, Dân tộc, Nguyên quán, Tình trạng hôn nhân, Tuổi và Nghề nghiệp Từ dữ liệu nhân khẩu học đó10, chúng tôi thiết lập hồ sơ của người tham gia nghiên cứu Những phân tích ban đầu giúp dự đoán một số kết quả và khơi gợi một số vấn đề khác Dựa vào đó, chúng tôi tiếp tục phân tích chuyên sâu dữ liệu bóc băng và làm rõ những quan sát trong các phần sau của báo cáo

3.1 Tộc người

Hình 2 Thành phần dân tộc của người tham gia nghiên cứu

Về lý lịch dân tộc, người tham gia nghiên cứu thuộc 9 tộc người, trong đó có 8 nhóm dân tộc chủ yếu sống

ở miền Bắc Việt Nam (Mường, Mông, Tày, Thái, Nùng, Kinh, La Chí) và 1 nhóm dân tộc bản địa ở miền Trung Việt Nam và Lào (Cơ Tu/Katu) Người cung cấp thông tin thuộc ba hệ ngôn ngữ chính, đa số (trừ hai người Kinh và hai người Tày không nói tiếng mẹ đẻ) đều sử dụng song ngữ tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt

Về số người tham gia trong mỗi nhóm dân tộc, người Mường và người Mông chiếm lượng mẫu lớn nhất Một số người Mường được mời phỏng vấn tại Hà Nội, nhưng chủ yếu người Mường trong nghiên cứu này

là những người từng di cư và đã trở về quê nhà Việc tuyển chọn người Mường tham gia nghiên cứu chủ yếu dựa vào mạng lưới NGO, không thông qua phương pháp “ bóng tuyết lăn” Tình huống trái ngược với người Mông – chiếm số lượng lớn thứ hai trong nghiên cứu Người Mông tham gia nghiên cứu phần lớn được tuyển chọn thông qua mạng lưới của nghiên cứu viên người Mông hoặc phương pháp bóng tuyết lăn, điều này cho thấy quan hệ giữa những người Mông di cư đến các khu đô thị và thành phố chặt chẽ hơn so với các nhóm khác Với các dân tộc còn lại, không có một phương pháp tuyển chọn nào chủ đạo,

họ được tìm kiếm nhờ quan hệ cá nhân của nhà nghiên cứu, được giới thiệu từ NGO hoặc thông qua những người tham gia khác

10 Chúng tôi thu thập dữ liệu từ 29 người không phải dân tộc Kinh và 02 người Kinh, như chúng tôi đã giải thích trong phần 1.5 của báo cáo

Mường 29%

Mông 19%

Tày 13%

Thái 13%

Dao 7%

Nùng 7%

Kinh 6%

La Chí 3%

Cơ Tu 3%

Trang 23

3.2 Nguyên quán

Bắc Kạn 16%

Hòa Bình 13%

Hà Giang 10%

Thanh Hóa 10%

Điện Biên 10%

Lào Cai 7%

Yên Bái 7%

Lạng Sơn

6%

Sơn La 6%

Lai Châu 3%

Quảng Ninh 3%

Quảng Nam 3%

Thái Bình 3%

Hà Nội 3%

Trang 24

Hình 3 Thành phần người tham gia theo nguyên quán Nguồn ảnh:

 Khu vực địa hình thứ ba là vùng cao phía Bắc, bao gồm phần lớn các tỉnh như Lạng Sơn, Bắc Kạn,

Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu và Sơn La Khoảng cách từ Hà Nội đến các tỉnh này dao động trong khoảng 250 đến 500 km, đây là khu vực xa các thành phố và khu công nghiệp

Trang 25

thuộc Đồng bằng sông Hồng hơn cả, như Bắc Ninh, Hài Dương, Hải Phòng hoặc Vĩnh Phúc (Hình 4)

Hiểu về nguyên quán của thanh niên DTTS di cư quan trọng không chỉ bởi khoảng cách địa lý họ di chuyển từ quê nhà đến các thành phố và khu công nghiệp ở vùng trũng Điều quan trọng hơn là những

bối cảnh đa dạng của cộng đồng nguyên quán – khoảng cách về xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị

của mỗi cộng đồng với thành thị – sẽ tạo ra những tác động sâu rộng đối với sự hòa nhập về mặt thể chất và xã hội trong đô thị Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những phân tích sau

3.3 Giới và nghề nghiệp

Hình 4 Thành phần người tham gia theo Giới và Nghề nghiệp tại thời điểm phỏng vấn

Về giới và nghề nghiệp, chúng tôi muốn so sánh hai loại dữ liệu này vì chúng gợi ý một số mối liên hệ khả thể giữa giới và cơ hội về kinh tế tại thành thị Đầu tiên, nữ giới tham gia nghiên cứu này nhiều hơn nam giới - thực tế, tỉ lệ nam giới không phải người Kinh tham gia còn có thể thấp hơn nữa nếu loại trừ hai người Kinh Xét đến hồ sơ nghề nghiệp, chúng tôi phân loại thành bốn khu vực nghề nghiệp, cấu thành từ những công việc như bảng dưới

Nhóm 1: Khu vực công nghiệp

• Công nhân sản xuất

• Lắp đặt (dân dụng)

Nhóm 2: Khu vực dịch vụ

• Giúp việc gia đình

• Nhân viên ngành Thực phẩm và dịch vụ ăn uống (F&B)

• Chuyên gia (nhân viên hậu cần, nhân viên trang điểm)

• Công việc văn phòng (giám đốc, điều phối)

Nhóm 3: Khu vực nông nghiệp

Nhóm 4: Khu vực sáng tạo

• Nhà làm phim

• Họa sĩ

Bảng 2 Bốn khu vực nghề nghiệp trong nghiên cứu.

Theo Hình 5, đa phần người cung cấp thông tin (72%) làm việc trong khu vực dịch vụ và công nghiệp, trong

đó dịch vụ chiếm đa số (41%) Đây là hai khu vực điển hình ở thành phố và khu công nghiệp quanh những

Nam giới 48%

Nữ giới

52%

Dịch vụ 41%

Công nghiệp 31%

Nông nghiệp 21%

Sáng tạo 7%

Trang 26

thành phố lớn, điều này giải thích vì sao hầu hết thanh niên DTTS di cư lựa chọn làm việc trong những khu vực này khi di cư

Cần lưu ý rằng mặc dù đa số người tham gia làm việc trong khu vực dịch vụ, khu vực này thực tế rất đa dạng về cả kỹ năng lẫn thu nhập, vì vậy đa dạng về vị thế kinh tế xã hội Ví dụ, họ có thể là người giúp việc gia đình, nhân viên bếp hoặc nhà hàng, chủ quán café, nhân viên marketing hoặc giám đốc NGO Nhiều loại kỹ năng và bằng cấp cần cho những công việc trên, nên khu vực này chứng kiến sự khác biệt lớn về mức độ chính thức/phi chính thức, mức thu nhập và phân tầng xã hội Trái với khu vực công nghiệp mà nam công nhân chiếm số lượng áp đảo, đây cũng là khu vực có sự tham gia kinh tế bình đẳng giữa cả hai giới Thực tế, xét trong khu vực dịch vụ, và có lẽ xét trong toàn bộ các nghề thuộc nghiên cứu này, những người có thu nhập cao hơn và di chuyển nhiều hơn là phụ nữ ở vị trí quản lý Nhưng đồng thời, đây cũng

là khu vực bất bình đẳng nhất, với những công việc có sự sự bấp bênh và bất ổn đáng kể đối với người di

cư (như không có hợp đồng lao động, bảo hiểm y tế và xã hội và quyền lực bất đối xứng giữa bên tuyển dụng và nhân viên) và là khu vực thu hút hầu hết thanh niên DTTS khi đi đến các thành phố Chúng tôi sẽ

mô tả kỹ hơn về lựa chọn của thanh niên DTTS di cư khi gia nhập khu vực kinh tế không chính thức trong những phần tiếp theo

Một khu vực khác đặc trưng ở thành phố là mảng sáng tạo – trong nghiên cứu này bao gồm ngành làm phim và thiết kế nội thất Chỉ có hai người (một nam, một nữ) trên 29 người tham gia lựa chọn làm việc trong khu vực đặc trưng này Cả hai đều có bằng Đại học và lựa chọn nghề nghiệp trong các ngành nghệ thuật sáng tạo để theo đuổi đam mê Những công việc này chủ yếu tồn tại ở thành phố nên đến thời điểm hiện tại, họ quyết định cư trú tại Hà Nội/Thành phố Hồ Chí Minh, có thể chuyển về gần nhà hơn nếu những phương án khả thi và phù hợp xuất hiện trong tương lai

Khu vực cuối cùng chiếm 21% các công việc của người tham gia nghiên cứu là Nông nghiệp Không ngạc nhiên rằng những người này, cả nam và nữ, khoảng 20 đến 30 tuổi, từng là người di cư và đã quyết định quay lại quê nhà Như vậy, họ không còn cư trú tại các thành phố và khu vực đô thị, nhưng những lý do

họ đưa ra đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu động lực rời thành phố và trở về quê hương của những người từng di cư, sự thích nghi và cảm thức thuộc về đối với cả nơi đi và nơi đến

Như đã trình bày, cơ hội nghề nghiệp và hành vi kinh tế của thanh niên DTTS di cư tại các trung tâm đô thị không nhất thiết có tính giới/có khác biệt theo giới, đặc biệt trong khu vực dịch vụ và sáng tạo Hiển nhiên, thanh niên DTTS di cư đến trung tâm đô thị và các thành phố nhằm tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp, nhưng các phương án sinh kế có vẻ hạn chế khi họ rời phố về quê Thu nhập càng cao thì giới đóng càng

ít vai trò so với các yếu tố khác trong việc quyết định cơ hội nghề nghiệp như kỹ năng, kinh nghiệm làm việc trước đây và trình độ học vấn Chúng tôi sẽ bàn luận sâu hơn ở những phần kế tiếp

Trang 27

3.4 Tuổi và tình trạng hôn nhân

Hình 5 Thống kê về Độ tuổi và Tình trạng hôn nhân của người tham gia

Kết thúc phần nhân khẩu học, chúng tôi muốn so sánh cơ cấu độ tuổi và tình trạng hôn nhân của người tham gia để xem liệu động lực di cư có khi nào nằm ngoài những lý do kinh tế và sinh kế gia đình Chúng tôi phân loại người tham gia vào hai nhóm: nhóm tuổi lao động sớm (xét trong nghiên cứu này là từ 18 đến 24) và nhóm tuổi lao động chính (trên 25 tuổi) Chúng tôi cũng ghi lại tình trạng hôn nhân và chia làm hai nhóm: Đã kết hôn (những người hiện đang trong một cuộc hôn nhân hợp pháp, hoặc bạn đời đã mất),

và Không kết hôn (những người trưởng thành độc thân hợp pháp, nhưng vẫn có thể có các mối quan hệ,

đã ly dị hoặc trong các mối quan hệ không ràng buộc)

Dữ liệu thống kê cho thấy nhiều người di cư thuộc nhóm tuổi lao động chính hơn (54%) vì họ có năng suất kinh tế cao nhất, so với 42% người di cư ở độ tuổi lao động sớm Độ tuổi trung bình của người tham gia

là 26.8 tuổi (N = 27, sau khi làm sạch dữ liệu tuổi và không tính hai người Kinh) Người trẻ nhất 21 tuổi và người lớn tuổi nhất là 55 Điều này cho thấy thanh niên DTTS di cư trong nghiên cứu phần lớn rơi vào nhóm lớn tuổi hơn so với dự kiến (khoảng 20 tuổi) Do độ tuổi kết hôn ở nông thôn11 nhìn chung, đặc biệt trong các cộng đồng DTTS, được cho là trẻ hơn (khoảng 18 – 20 tuổi) so với tại thành phố và các khu đô thị, chúng tôi cho rằng nhiều người trong số những người tham gia phỏng vấn đã kết hôn và rời xa gia đình con cái khi họ di cư tới thành phố Chúng tôi dự định tìm hiểu quyết định của người di cư về việc đưa theo con cái đến thành phố và cách họ tiếp cận các dịch vụ như trông trẻ, giáo dục trường học và chăm sóc sức khỏe cho con

Điều ngạc nhiên xuất hiện khi chúng tôi so sánh dữ liệu cơ cấu độ tuổi của người tham gia với tình trạng hôn nhân Trong 29 người tham gia, phần lớn (81%) chưa kết hôn về mặt pháp lý Chúng tôi không phân tách cụ thể tình Không kết hôn (kể cả đang hẹn hò hoặc đã ly dị) do tôn trọng đời tư của người tham gia, tuy vậy, thông tin này nhìn chung xuất hiện khi chúng tôi thảo luận các vấn đề về dàn xếp cuộc sống gia đình, gửi tiền về nhà và kế hoạch tương lai Thực tế rằng nhóm thanh niên DTTS di cư có độ tuổi trung bình là 26.8 và phần lớn chưa kết hôn cho thấy có thể tồn tại những lý do phi kinh tế đằng sau quyết định

di cư Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn ở phần sau

11 Theo luật, công dân Việt Nam có thể kết hôn hợp pháp khi 18 tuổi (với nữ giới) và 21 (với nam giới) Nhiều thanh niên cư trú tại nông thôn và các cộng đồng thiếu số chịu áp lực kết hôn sớm (14-18 tuổi) Những cuộc hôn nhân này không được pháp luật công nhận, chủ yếu được tổ chức nhờ các thiết chế và dàn xếp bản địa

Độ tuổi lao động sớm (15- 24) 42%

Không kết hôn 81%

Trang 29

PHẦN 4 RỜI XA ĐỒI NÚI

Phần này cung cấp một bức tranh sơ lược về hành trình mà thanh niên DTTS di cư trải qua Ngày càng nhiều bằng chứng từ các cuộc phỏng vấn với thanh niên DTTS di cư cho thấy di cư nông thôn – thành thị trong đa số trường hợp không chỉ đơn giản là chiến lược sinh kế gia đình Động lực khiến người trẻ di cư đến thành thị vượt trên lý do kinh tế thuần túy là những khát vọng cá nhân về tự do và phát triển bản thân, tương tự với quan sát nam thanh niên DTTS di cư ở Nepal, những người lấy tính phiêu lưu, sự háo hức và tiêu dùng làm động lực di cư (Sharma, 2013, 2014) Mặc dù vậy, mối liên hệ với gia đình và sự gắn

bó với quê hương tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và công việc của những người trẻ nơi thành thị

3.1 Lý do di cư

Động lực kinh tế và các nhân tố kéo–đẩy - khung khái niệm được phát triển bởi Lee (1966) nhằm giải thích động lực di cư nông thôn–thành thị - tiếp tục hiển hiện trong nghiên cứu này, nhưng đó không phải là những động cơ duy nhất Trong bối cảnh cơ hội việc làm ở vùng cao và nông thôn còn hạn chế, thu nhập

từ nông nghiệp bán tự cung không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và cung cấp sự bảo vệ trong trường hợp nghịch cảnh, đa dạng hóa sinh kế và rời quê hương/thay đổi địa bàn sinh sống (delocalisation) thông qua

di cư thành thị trở thành lựa chọn hàng đầu cho nhiều người ở nông thôn châu Á (Rigg, 2012) Một người cung cấp thông tin chia sẻ với chúng tôi:

“Vâng, em cảm thấy em ở vùng sâu vùng xa rất khó khăn thì không thể tiện [kiếm tiền] được Buôn bán cũng không buôn bán được cái gì, cũng không kiếm đâu ra được tiền Bố mẹ đã vất vả rồi thì

em cũng muốn phấn đấu lên, bố mẹ đã không được học, không được va chạm nhiều, nói chung tầm giờ này em cũng được va chạm một tí rồi Em cũng phải muốn phấn đấu cho bản thân, phấn đấu luôn luôn, mình không cứ đi làm mãi thuê như thế được” (2_M; nam công nhân người Dao)

Từ góc độ kinh tế, việc các hộ gia đình có ít nhất một thành viên thường trong độ tuổi năng suất nhất vắng mặt khỏi gia đình để di cư kiếm thu nhập phi nông nghiệp là hợp lý Họ có thể là đàn ông hoặc phụ nữ, miễn là sự vắng mặt của họ gây ít tác động nhất đến hoạt động sản xuất và tái sản xuất của hộ gia đình

Di cư, trong trường hợp này, là chiến lược phòng ngừa rủi ro cho các hộ gia đình nông thôn, và vì thế gia đình sẽ có sự tái sắp xếp toàn bộ khi một thành viên đi làm ở thành thị (Rigg, 2007) Một người Mường từng là công nhân di cư chia sẻ với chúng tôi chuyện chị và chồng chị quyết định di cư đến Hà Nội như

sau:

Nghiên cứu viên: Lúc chị đi làm như thế thì mọi người có đồng ý không?

Người cung cấp thông tin: Có đồng ý có cho đi, đồng ý mới đi, không được đi thì cũng sợ đấy [Ở

quê] Mình đi làm việc hoặc là đi cấy hoặc là đi trồng ngô, trồng sắn thì cũng bình thường thôi, như

là đào rãnh mía, cỏ mía, cỏ ngô Đi làm ở công trường thì hỏi anh chị em ở trong làng [Chị và chồng chị] thay phiên nhau đấy, ở nhà chả biết lấy cái gì lo công việc cho con ăn học là thứ nhất, thứ hai chẳng hạn như đi ăn cưới hoặc là ma chay ở làng thì chả biết lấy cái gì, bắt buộc phải đi (27_F, nữ người Mường từng di cư)

Tuy nhiên, những động lực khác khiến người trẻ DTTS nông thôn di cư và làm việc tại đô thị rõ ràng ngày càng quan trọng tương đương lý do kinh tế, khi đối mặt với những thay đổi thường xuyên do hội nhập thị trường khắp nơi ngày càng mạnh mẽ Những tài liệu hiện nay về di cư ở châu Á và Việt Nam cũng chỉ ra rằng các lý do phi kinh tế như cơ hội đến từ mạng lưới (network-induced opportunities), hoặc chủ nghĩa

Trang 30

cá nhân do thay đổi nhân khẩu học (demographic-induced individualism), hành vi tiêu dùng thay đổi và những khát khao vật chất, các mối quan hệ xã hội thay đổi trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa… đang đóng vai trò thúc đẩy người trẻ rời nông thôn (Brettell & Hol lifield, 2008; M T N Nguyen & Locke, 2014; Rigg & Vandergeest, 2012; Sharma, 2014)

Ba động lực phi kinh tế nổi bật của người DTTS di cư trong nghiên cứu này là (i) giải phóng khỏi các chuẩn mực xã hội và giá trị văn hóa có tính kìm kẹp; (ii) động lực học tập những kỹ năng mới, chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai, và (iii) những bất trắc về xã hội hoặc sinh thái buộc các cá nhân và cộng đồng di cư tạm thời hoặc lâu dài

Với lý do đầu tiên, điều thú vị cần chú ý là một số người di cư cho rằng ban đầu họ cảm thấy bị áp lực nếu không đến và làm việc ở thành phố như bạn bè cùng trang lứa Theo họ, người trẻ mà hạn chế di chuyển thì bị coi là “thất bại” Bản dạng nông thôn kiểu mới nổi lên là kết quả của việc thanh niên di cư, như được giải thích bởi một số học giả là “đa tính hiện đại” (multiple modernities) (Eisenstadt, 2000), “quốc tế chủ nghĩa kiểu bản địa” (vernacular cosmopolitianism) hoặc “các thực hành quốc tế chủ nghĩa thứ cấp” (subaltern cosmopolitian practice) (Werbner, 2008), thay phiên nhau trở thành áp lực khiến những người khác bắt đầu chuyến hành trình Tuy nhiên, như phần bàn luận bên trên, quyết định rời cộng đồng không chỉ do áp lực từ bạn bè Một điều trở nên hiển nhiên là những quy chuẩn và các giá trị văn hóa bản địa như tâm lý muốn ổn định, sự an phận, kết hôn sớm hoặc hạn chế di chuyển sau kết hôn đôi khi có thể mâu thuẫn với khát vọng của người trẻ DTTS, đặc biệt là phụ nữ trẻ Một người di cư hiện đang làm phim tại Hà Nội chia sẻ:

Nghiên cứu viên: Chị có nghĩ là học xong chị sẽ về nhà luôn không?

Người cung cấp thông tin: Không, chị nghĩ là không về đâu Ngày xưa hồi học năm mười một, chị

luôn luôn nghĩ trong đầu chị sẽ phải đi khỏi cái chỗ này, chị không muốn về nhà một tí nào luôn

Nghiên cứu viên: Sao lại không muốn về?

Người cung cấp thông tin: Hồi đấy gia đình chị xảy ra một số việc, cho nên chị nghĩ chị không

muốn ở nhà đâu, chị muốn đi khỏi cái nhà này, chị không muốn ở đây nữa, không muốn gặp mấy người đấy nữa Kiểu như thế nên chị nghĩ lúc đấy chị không có lựa chọn nào khác ngoài việc hoặc

là phải ở nhà bố mẹ chị hoặc là phải cố học để thoát khỏi bố mẹ chị

Nghiên cứu viên: Vào trường chị học hết một năm thì chị có thay đổi suy nghĩ không hay vẫn thế? Người cung cấp thông tin: Không chị vẫn không muốn về, chị về nhà nói bố mẹ chị hơi buồn một

tí nhưng mà về ở với bố mẹ chị thì không chịu đựng được đâu Chị nghĩ là về sống chung nhà thì không chịu được đâu Chị nghĩ là phải làm một cái nhà khác, nơi khác ở, chỉ thỉnh thoảng về thăm

bố mẹ thôi chứ chị không chịu được Có lúc là chị thấy có thể là do ba năm mà chị ở nơi khác, ở với ông chị đấy, cá tính của chị hình thành từ đấy dẫn đến việc chị không cảm giác gắn bó lắm với gia đình (25_F, nữ làm phim người Tày)

Do những giới hạn trên, họ quyết định rời quê xuống phố Đi khỏi cộng đồng cũng là quyết định để họ phát triển năng lực cá nhân và thoát khỏi những khuôn mẫu và giá trị đang giới hạn hoặc trói buộc họ Dưới đây là cách một người di cư giải thích động lực của mình:

“Ở nhà bây giờ, một số anh em trên đấy lấy vợ, [một số] thì đi làm còn một số thì đi lấy chồng rồi, còn một số ở nhà Mấy bạn cùng quê là người dân tộc toàn lấy vợ lấy chồng sớm Chồng không

Trang 31

cho đi mà bố mẹ cũng không cho đi, vì lấy chồng rồi lại có con nữa thì ở nhà trông con, chăm sóc con, đi ra ngoài có lúc đi lấy cám lợn, rồi chăn lợn các kiểu thế thôi, không xuống dưới này” (2_M, nam công nhân người Dao)

Lý do thứ hai khiến người trẻ di cư đến thành phố, ngoài việc gửi tiền về cho gia đình, còn vì họ muốn có thêm những kỹ năng mới giúp đảm bảo tài chính trong tương lai Lý do này phần nào mang bản chất kinh

tế, quyết định của họ nên được xem xét trong bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi nhanh và liên tục ở cả nơi

đi và nơi đến Đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển mạnh ở khu vực đô thị vùng thấp khi Việt Nam hội nhập sâu với nền kinh tế toàn cầu Những tập đoàn đa quốc gia tuyển dụng lao động trẻ làm việc trong các xưởng sản xuất đã trở nên phổ biến Trong các chuyến thực địa và nghiên cứu độc lập khác của chúng tôi tại tỉnh Hà Giang và Điện Biên, các quảng cáo tuyển dụng lao động của các tổ hợp nhà máy như Samsung hay Brother xuất hiện ngay ở những cộng đồng xa xôi nhất

Ảnh 1: Một quảng cáo tuyển dụng lao động công nhân làm việc cho các xưởng sản xuất của Brother

Electronics (một công ty Nhật Bản) ở tỉnh Hải Dương Bức ảnh được chụp vào tháng 10 năm 2017, khi tác giả thực hiện điền dã dân tộc học tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Nguồn: sưu tập cá nhân của tác

giả

Mạng xã hội, sự thâm nhập của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và những cơ hội việc làm mới tại đô thị cùng lúc hiện hữu và định hình cách nghĩ của người trẻ DTTS về những cơ hội và sự di chuyển khỏi quê nhà, ngay cả ở những nơi xa xôi nhất trên miền núi phía Bắc Ban đầu, thanh niên DTTS di cư cho rằng việc rời nhà đi làm việc tại thành phố là để kiếm thu nhập, nhiều người trong số họ cũng nhận thấy họ có thể học những kỹ năng mới, tiếp xúc với những trải nghiệm và ý tưởng mới Tư duy hướng tới tương lai do họ hiểu nhiều hơn về thành phố và những cơ hội đã và đang tiếp thêm động lực cho thanh niên DTTS đi và học,

sau đó quay về và áp dụng những kỹ năng học được cho tương lai

“Em thấy làm vàng cũng được, em làm trên đấy thì cũng lái xe, xe điện ba bánh đấy, em cảm thấy không thích hợp Làm mãi cũng không thể vươn được lên, rồi em lại điện cho chú đấy, bảo dưới này đang cần người thì em muốn xuống phố Mình cảm thấy mình muốn học nghề có thể làm lâu năm, mình có thể kiếm được thì mình cố gắng mình chịu khó mà vươn lên” (2_M, nam công nhân người Dao)

Quyết định di cư để học thêm kỹ năng mới và tích lũy vốn cho tương lai đi cùng những vất vả trong ngắn hạn để thành công trong dài hạn Di cư và làm việc tại thành phố có thể chưa mang lại lợi ích kinh tế trong ngắn hạn cho người DTTS di cư vì từ nông thôn ra thành thị, họ chưa thể làm quen hoặc kỹ năng của họ

Trang 32

chưa phù hợp Một lý do di cư khác có thể do một số người trẻ quyết định bỏ những công việc đòi hỏi sức lao động tại địa phương, như khai khoáng - nghề mang lại mức lương cao nhưng thường đi liền với rủi ro

và hiểm họa

“Bốn triệu thì cũng ít, hồi xưa em làm trên kia [công nhân mỏ] là tám chín triệu Em làm ở trên đấy theo ca, làm buổi tối nhiều lúc cũng thấy vất vả, áp lực Như thế thì em xuống dưới này làm, mình làm ban ngày thì nghỉ buổi tối không mệt mỏi, xong rồi em cũng nghĩ là cái công việc mình làm ở dưới này cũng được, mình làm việc nào thì tiền việc đấy” (2_M, nam công nhân người Dao)

Mục đích di cư không hoàn toàn do những bất lợi hoặc vì mục tiêu kinh tế, hầu hết người trẻ trong độ tuổi lao động trong nghiên cứu chỉ xem di cư là quyết định tạm thời Khi được hỏi, họ cho biết họ có kế hoạch quay về, hoặc định cư gần nhà hơn trong tương lai, ở nơi họ có thể kiếm sống với những kỹ năng mới mà lại không quá xa quê nhà Theo cách này, quyết định ưu tiên những khả năng và sự phát triển tương lai hơn những gì đạt được trong ngắn hạn có thể được xem là chiến lược mà thanh niên DTTS cân

đo giữa rủi ro và cơ hội Mặc dù trong bối cảnh của sự bấp bênh – cảm giác sâu sắc về tính không ổn định

và có thể bị thay thế mà (Allison, 2013) mô tả, nhìn chung thanh niên DTTS di cư biểu lộ cảm giác hy vọng Trong cuộc hội thoại dưới đây, một họa sĩ người Mông chia sẻ với chúng tôi kế hoạch về gần nhà hơn trong tương lai, nhưng không phải ở làng mình, vì những lý do sau:

“Em đang là họa sĩ thực tập tại một xưởng ở Hà Nội Em đang tính nếu mà đủ khả năng thì em sẽ

ở dưới này, còn nếu khả năng không khả quan lắm thì em sẽ về tỉnh (Hà Giang) Em sẽ về tỉnh chứ không lên trên nhà, em cần có cái không gian với cái môi trường nó rộng lớn thì mới có người tiêu thụ được, còn nếu bé quá như trên huyện thì ít có người” (19_M, nam họa sỹ thực tập người Mông)

Ý tưởng di cư tạm thời thay vì lâu dài của thanh niên DTTS đặc biệt thú vị Dựa trên các cuộc phỏng vấn, giữa cảm giác về vật chất và cảm xúc, có vẻ áp lực kinh tế không phải lý do tất yếu buộc họ về nhà Trong khi nghiên cứu ở nông thôn Trung Quốc và vùng thấp ở Việt Nam chỉ ra nông dân trung niên thể hiện mong muốn mạnh mẽ rằng con cái họ sẽ di cư và sau đó định cư tại thành phố lớn nhờ vào việc làm, học vấn hoặc kết hôn, thì điều này có vẻ không đúng với thanh niên DTTS di cư và gia đình họ trong nghiên cứu này (M T N Nguyen & Locke, 2014, p 866).12 Như nghiên cứu đã hé lộ, chúng tôi xem xét kỹ ý định trở về của thanh niên DTTS di cư tại miền Bắc Việt Nam thông qua lăng kính của sự gắn bó với quê nhà và công bằng xã hội nơi thành thị

Về nhóm yếu tố thứ ba dẫn đến di cư là những hiểm nguy xét trên khía cạnh xã hội hoặc sinh thái, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng phạm vi của nghiên cứu này ban đầu không tập trung vào các vấn đề trên Trong

bộ câu hỏi, chúng tôi cũng không đưa vào các câu cụ thể để khám phá tác động của những sự biến bất lợi với người tham gia do vấn đề này nằm ngoài phạm vi tìm hiểu của nghiên cứu

Tuy nhiên trong quá trình chọn người tham gia, chúng tôi có liên hệ với một số người mà phải rời cộng đồng do (i) bạo lực trên cơ sở giới, (ii) kỳ thị xã hội do từng là nạn nhân của buôn bán người, hoặc (iii) ứng phó ngắn hạn với các thảm họa nhân tạo

12 Mặc dù dân tộc của người cung cấp thông tin không hoàn toàn được nêu rõ trong những nghiên cứu này, cách các học giả mô tả khiến chúng tôi dự đoán rằng họ thực hiện nghiên cứu với người Hán Trung Quốc và người Kinh Việt Nam tại các khu vực nông thôn đồng bằng ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Quốc

Trang 33

So với những người tham gia mà lý do di cư là thoát khỏi những khuôn mẫu xã hội hoặc chuẩn bị cho những cơ hội tương lai, điểm xuất phát của những người di cư thuộc nhóm lý do thứ ba là hoàn toàn khác

Họ không chủ động và lên kế hoạch di cư thành thị như cách những người tham gia khác đã làm Thay vào

đó, di cư ở đây là cách đối phó với những tình huống bất lợi chợt xảy đến như kỳ thị xã hội; bạo lực gia đình nghiêm trọng hoặc di cư do thiên tai

Nhưng theo những gì chúng tôi được nghe, chúng tôi nhận ra rằng hành trình tới thành thị của họ cũng chia sẻ nhiều điểm tương đồng với hai nhóm còn lại Đặc biệt, họ cũng dựa vào mạng lưới xã hội để tìm kiếm cơ hội ở thành thị, đặc biệt với những người từng có trải nghiệm di cư thành thị hoặc có kết nối với thành thị

Trường hợp ngoại lệ đáng chú ý mà chúng tôi muốn nhắc đến ở đây là nhóm nạn nhân buôn bán người Sau khi vượt qua sự biến bất lợi, họ được Hội Phụ nữ tại địa phương trong cộng đồng hỗ trợ, sau đó chuyển đến một cơ quan xã hội tại Hà Nội Ban đầu, họ được cung cấp nhà ở an toàn, được hỗ trợ phục hồi tâm lý xã hội, được tiếp tục tham gia giáo dục chính quy hoặc đào tạo dạy nghề và cuối cùng được sắp xếp việc làm Do nhận được nhiều sự hỗ trợ từ cơ quan xã hội, hành trình của họ được cho là khác biệt Chúng tôi có ràng buộc với đạo đức nghiên cứu và thỏa thuận bảo mật với cơ quan xã hội trên nên quyết định chỉ tập trung vào trải nghiệm hòa nhập xã hội hiện tại của người tham gia Những khoảng trống trong

dữ liệu thu thập được không cho phép chúng tôi mở rộng phân tích đối với nhóm đối tượng này Tại thời điểm phỏng vấn, cả ba người tham gia thuộc nhóm này đều đang trong giai đoạn chuyển sang sống độc lập: họ đã vượt qua những trải nghiệm trong quá khứ, đang làm việc hoặc tiếp tục học tập tại Hà Nội, hành trình thích nghi của họ bắt đầu hội tụ với hành trình của những người tham gia khác

3.2 Di cư như Sự dịch chuyển vật lý

Nghiên cứu này cũng chỉ ra đặc điểm giống nhau giữa di nội địa của thanh niên DTTS với di cư của người Miao Trung Quốc (Tapp, 2014, trang 385) và người Kinh Việt Nam (Karis, 2013): quyết định di cư được hỗ trợ nhờ vào mạng lưới xã hội thân thiết thay vì thông qua các kênh chính thức

Thông tin cơ hội việc làm ở thành thị đa phần được chia sẻ và giới thiệu giữa những người trong cùng mạng lưới – các thành viên trong gia đình, bạn bè từng làm việc tại khu vực đô thị và các thành phố, hoặc bạn bè trong thành phố Họ cũng là những người hỗ trợ người mới di cư trong quá trình chuyển đến thành thị và ổn định tại nơi đến Trong một số trường hợp, họ sẽ di chuyển xuống thành phố cùng người mới di

cư, hoặc đón người mới di cư tại bến xe bus và giúp họ ổn định trong lần đầu tiên tới thị thành

Cách tiếp cận dựa vào mạng lưới xã hội (thay vì thông qua môi giới hoặc tuyển dụng trực tiếp từ người tuyển dụng) là chiến lược giảm thiểu rủi ro cho lao động trẻ khi tiếp cận cơ hội việc làm Một mặt, nó giúp tiết kiệm chi phí khi họ không phải trả bất kỳ khoản phí nào cho người giới thiệu Mặt khác, tiếp cận qua

họ hàng và các mối quan hệ tin tưởng đặc biệt được củng cố bởi vốn xã hội Sự hỗ trợ của họ hàng hoặc bạn bè thường không dừng lại khi người mới di cư có được công việc đầu tiên ở thành phố Trong nhiều trường hợp, sự giúp đỡ này có thể mở rộng bao gồm những hình thức trợ giúp khác, như nơi ở, hỗ trợ tái định cư lần đầu, hỗ trợ hướng dẫn tinh thần hoặc những cơ hội nghề nghiệp trong tương lai Đây là những nguồn lực then chốt cho người mới di cư vì họ có thể chưa thiết lập được mạng lưới xã hội/vốn xã hội hạn chế trong môi trường mới Trong trường hợp này, vốn xã hội chuyển thành vốn kinh tế (Karis, 2013, trang 266) Một người từng di cư chia sẻ:

Trang 34

“Thực sự lúc đấy không phải là chọn, mà chỉ là anh em trong làng rủ rê nhau đi thôi Cũng chưa biết cái nghề này nó như thế nào, mà cũng chẳng biết được lương lậu thế nào Thực sự là mình chỉ xuống thôi, xuống đấy mình làm thử việc, sau đó người ta trả mình thế nào thì biết thế Năm đầu tiên mình đi chưa biết cái tiền người ta trả mình thế nào, nếu mà người ta gọi thì anh em cùng đi, ở trong làng với nhau đấy” (28_M, nam người Mường đã di cư trở về)

Không ngạc nhiên khi người di cư có thể dần trở thành người hướng dẫn di cư Sau một thời gian ở nơi đến, một số người di cư đã hình thành những mạng lưới xã hội hiệu quả và họ hiểu môi trường đô thị Những điều trên khiến họ tự tin và chủ động giới thiệu cơ hội đến những người di cư khác tại quê nhà,

đặc biệt khi họ bắt đầu di chuyển giữa quê và thành phố

3.3 Gắn bó với quê nhà: Nhu cầu tình cảm và mạng lưới an toàn

Càng quan sát cách thanh niên DTTS sử dụng mạng lưới xã hội để dễ dàng tìm kiếm công việc và bước vào cuộc sống xã hội thành thị, chúng tôi cũng nhận ra rằng hầu hết người di cư phát triển sự gắn kết mạnh

mẽ với cộng đồng và gia đình tại quê hương, đặc biệt là nhóm lao động tay nghề thấp Quê hương trong

tưởng tượng của họ không chỉ là biểu hiện vật lý của sự thân thuộc và những kết nối Quê nhà cũng có tính biểu tượng, nó bao hàm nỗi hoài niệm, sự kiến tạo về quê hương, những tưởng tượng, ký ức và niềm

tự hào (hoặc sự xấu hổ), v.v Quyết định di cư, trong đa số trường hợp, hoàn toàn không phá vỡ quan hệ gia đình Trong các cuộc trò chuyện với chúng tôi, cảm thức về sự gắn bó với quê hương (và có lẽ là sự cam kết) được kiến tạo trong cảnh tha hương, thông qua các hành động và quá trình như gửi tiền về nhà, thường xuyên giao tiếp qua điện thoại và mạng xã hội với các thành viên trong gia đình hoặc những chuyến

về thăm nhà định kỳ Dưới đây là một số lý do giải thích cho sự gắn kết này

Đầu tiên, như chúng tôi đề cập trước đó, chúng tôi không bắt gặp cuộc trò chuyện nào, ngay cả trong những chuyến thăm quê của người tham gia, mà gia đình của người di cư thể hiện mạnh mẽ mong muốn con cái họ hoàn toàn “tự do khỏi ruộng đồng” như các quan sát ở những nơi khác tại vùng thấp miền Bắc Việt Nam (M T N Nguyen & Locke, 2014, trang 866) Chúng tôi cho rằng di cư thành thị đối với lao động tay nghề thấp trong nghiên cứu này là chiến lược tạm thời của hộ gia đình, nhưng họ không có kế hoạch định sẵn cho người trẻ ở lại và định cư lâu dài tại thành phố Quyết định này có thể là do các bậc cha mẹ nhận thấy tính khả thi thấp khi thanh niên DTTS chuyển đến thành phố vì thiếu khả năng tiếp cận nguồn lực tại thành thị Cũng có thể vì không có những trải nghiệm di cư thành thị trước đây, đi đôi với quy chuẩn văn hóa của cộng đồng và nghĩa vụ đạo đức (Luong, 2018), các gia đình thanh niên DTTS có vẻ không ủng

hộ ý tưởng người trẻ rời đi và định cư lâu dài ở thành phố Như vậy, những trải nghiệm ít ỏi trước đó của người nhà đối với di cư thành thị có thể không khuyến khích quyết định ở lại (thành phố) lâu dài của thanh niên DTTS và củng cố cảm thức gắn bó với quê nhà Luận điểm này được củng cố bởi một nghiên cứu về người Kinh di cư tại Hà Nội, họ thể hiện sự gắn bó tình cảm mạnh mẽ với quê nhà, nhưng chỉ một số có

dự định trở về sống với gia đình do gia đình có trải nghiệm trước đó về di cư ngắn hạn đến Hà Nội (Anh

và cộng sự, 2012, trang 1128)

Thứ hai, chúng tôi nhận thấy thời gian trải nghiệm di cư thành thị của người tham gia ảnh hưởng đến mức

độ gắn kết với quê hương Trong tất cả các cuộc phỏng vấn, chúng tôi chỉ thấy có ba cuộc, cả ba đều thực hiện với người di cư tay nghề cao, cho thấy mức độ quan tâm thấp/không quan tâm đến chuyện quay về Những người di cư này chia sẻ đặc điểm chung13: Họ rời cộng đồng nguyên quán từ nhỏ, được giáo dục

13 Trong nhóm lao động tay nghề cao, người đã kết hôn và mang theo tài sản đến Hà Nội có thể được xem là cư dân Hà Nội trên khía cạnh xã hội và luật pháp Vị thế là người DTTS di cư trong trường hợp này có thể bị thách

Ngày đăng: 16/07/2020, 21:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w