1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THẾ GIỚI XU THẾ R&D VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ

195 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CHỮ VIẾT TẮT BERD Chi NCPT của doanh nghiệp BRIC Nhóm 4 nước mới nổi là Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THẾ GIỚI

XU THẾ R&D VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ

HÀ NỘI 2009

Trang 2

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THẾ GIỚI

XU THẾ R&D VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ

Cơ quan xuất bản:

TRUNG TÂM THÔNG TIN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

In 1000 bản khổ 16 x 24 cm tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia Giấy phép xuất bản số 151/GP-CXB ngày 16 tháng 10 năm 2009 In xong và nộp lưu chiểu tháng 11/2009

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1 ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY KHOA HỌC,

CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI TOÀN CẦU 7

1.1 Động lực tăng trưởng kinh tế 7

1.2 Các đặc điểm động lực NCPT: Diện mạo đang thay đổi 9

Các xu thế NCPT chính: Cường độ giảm trên toàn OECD 9

Giảm hỗ trợ của chính phủ cho NCPT cũng như giảm tỷ lệ so với GDP 12

Tăng chi tiêu NCPT trong khu vực giáo dục đại học 14

Tính quốc tế hóa của NCPT đang lan rộng 16

1.3 Động lực đổi mới 18

Đổi mới trong các công nghệ then chốt 18

Sự đa dạng trong thực hiện đổi mới ở các nước 22

Liên kết đổi mới nước ngoài thấp hơn liên kết trong nước 23

Đổi mới tài chính 24

Đầu tư vốn mạo hiểm hướng tới tăng trưởng 25

1.4 Gia tăng patent và các bài báo khoa học 29

Patent 29

Đồng sáng chế quốc tế 32

Xuất bản khoa học 33

1.5 Nhu cầu nguồn nhân lực tăng nhanh 36

Số lượng các nhà nghiên cứu đang gia tăng 37

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học và kỹ thuật tiếp tục giảm 38

Quốc tế hóa nhân lực KH&CN đang mở rộng 40

CHƯƠNG 2 XU THẾ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI 42

2.1 Các chiến lược về khoa học, công nghệ và đổi mới quốc gia 42

Cải tổ và quản lý KH&CN 46

2.2 Tăng cường nghiên cứu công và các cơ quan nghiên cứu công 52

Tăng chi tiêu NCPT công 53

Tăng cường sự tập trung và giảm phân mảng 56

2.3 Hỗ trợ cho đổi mới và NCPT của doanh nghiệp 57

Các xu hướng hỗ trợ trực tiếp 58

Khuyến khích về thuế đối với NCPT 59

Trang 4

Hỗ trợ tài chính cho lao động và những đóng góp

xã hội cho nhân lực NCPT 64

Cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp rủi ro cao 65

Hỗ trợ phi công nghệ và đổi mới dịch vụ 67

Tăng cường hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư 69

Hợp tác công- tư 69

Nâng cao khả năng hỗ trợ cho đổi mới 72

Những thay đổi trong các quy định về sở hữu trí tuệ 73

2.4 Toàn cầu hoá nghiên cứu và đổi mới 73

Kết nối các công ty trong nước với các nguồn lực nghiên cứu và đổi mới nước ngoài 74

Xúc tiến NCPT hướng nội và đầu tư vào đổi mới 75

Đẩy mạnh hợp tác NCPT quốc tế 77

Toàn cầu hoá các tổ chức nghiên cứu công 78

2.5 Nhân lực KH&CN 79

Gia tăng nguồn cung nhân lực KH&CN 79

Thúc đẩy thuyên chuyển quốc tế các nhà khoa học và kỹ sư 84

CHƯƠNG 3 CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ 88

3.1 Khái niệm 88

Chuyển giao công nghệ 88

Các kênh chuyển giao công nghệ 89

Những lan tỏa công nghệ và các kênh chính của chúng 95

3.2 Những xu hướng mới trong chuyển giao công nghệ 98

Nhân lực 98

Công nghệ phát triển từ nguồn đầu tư công 102

Công nghệ do tư nhân phát triển 109

3.3 Chính sách tăng cường chuyển giao công nghệ quốc tế 114

Các chính sách của nước tiếp nhận 115

Các chính sách của nước xuất công nghệ 118

Các lựa chọn chính sách đa phương 121

CHƯƠNG 4 KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC NƯỚC 124

Mỹ 124

Canađa 126

Mêhicô 127

Braxin 129

Chilê 131

Anh 133

Ai xơ-len 135

Ai-len 137

Áo 139

Trang 5

Ba Lan 141

Bỉ 143

Bồ Đào Nha 145

Đan Mạch 147

Đức 149

Hà Lan 151

Hungary 153

Hy lạp 155

Italia 157

Na-uy 159

Liên bang Nga 161

Pháp 163

Phần Lan 165

Cộng hoà Séc 167

CH Slovakia 169

Tây Ban Nha 171

Thụy Điển 173

Thụy Sỹ 175

Nhật Bản 177

Hàn Quốc 179

Trung Quốc 181

Niu Dilân 183

Ôxtrâylia 185

Israel 187

Nam Phi 189

KẾT LUẬN 191 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BERD Chi NCPT của doanh nghiệp

BRIC Nhóm 4 nước mới nổi là Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Tổng sản lượng quốc nội

GERD Tổng chi quốc gia cho NCPT

HERD Chi NCPT của khu vực đại học

KH&CN Khoa học và công nghệ

KHKT Khoa học kỹ thuật

MNE Công ty đa quốc gia

NCPT Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

TRIPS Hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế toàn cầu hiện đang trải qua một thời kỳ đầy khó khăn, chuyển dịch từ giai đoạn phát triển ổn định sang giai đoạn rất bất ổn do khủng hoảng tài chính bắt nguồn ở các nước giàu có đã làm rung chuyển các thị trường tài chính toàn cầu Tuy nhiên, các quốc gia vẫn tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) và đưa ra những ưu đãi khuyến khích nghiên cứu và phát triển (NCPT) nhằm nâng cao năng lực đổi mới của quốc gia

Mặc dù các chỉ số kinh tế ảm đạm, thế nhưng dự báo chi tiêu cho NCPT trong năm 2009 sẽ đạt 1.143,2 tỷ USD, cao hơn 3,2% so với năm

2008 Phần lớn tăng trưởng toàn cầu này là do sự mở rộng tiếp tục NCPT ở châu Á, tuy sự tăng trưởng NCPT trong vùng địa lý này cũng bị những tác động toàn cầu

Do các cơ hội thị trường toàn cầu tăng lên và tài năng kỹ thuật trở nên rộng khắp hơn, nên đã xuất hiện xu hướng hợp tác trong các chương trình nghiên cứu và sử dụng tài năng ở nước ngoài để hỗ trợ các hoạt động kinh tế Cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế và KH&CN, chuyển giao công nghệ quốc tế ngày càng mở rộng quy mô, tạo điều kiện cho các nước đang phát triển nhanh chóng tiếp cận được kiến thức và kỹ thuật tiên tiến của thế giới

Dựa trên những báo cáo mới nhất của các tổ chức quốc tế về kinh tế

và KH&CN, cuốn sách “Khoa học và Công nghệ thế giới: Xu thế chuyển giao công nghệ quốc tế” được biên soạn nhằm giới thiệu cùng bạn đọc những biến đổi trong hoạt động NCPT và đổi mới toàn cầu trong những năm qua cùng với những xu thế mới trong chuyển giao công nghệ quốc

tế

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

Trang 8

CHƯƠNG 1

ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

VÀ ĐỔI MỚI TOÀN CẦU

Cơ cấu toàn cầu về NCPT, hoạt động nghiên cứu khoa học, phát minh và đổi mới đều đang trong quá trình chuyển đổi đa chiều Mặc dù các nền kinh tế OECD và các nền kinh tế khác vẫn tiếp tục thể hiện tính đa dạng bền vững, nhưng cũng đã xuất hiện các xu thế mạnh mẽ, định hình lại các mô hình toàn cầu về nghiên cứu, công nghệ và đổi mới

Thay đổi diễn ra theo các chiều hướng chủ yếu gồm: gia tăng gần như tuyệt đối các hoạt động NCPT và các hoạt động liên quan đến đổi mới; sự phát triển của các nền kinh tế nhóm BRIC (viết tắt của 4 nước Braxin, Nga, Ấn Độ

và Trung Quốc) trong các lĩnh vực KH&CN; toàn cầu hóa NCPT với mức độ đáng kể; hoạt động NCPT nhiều hơn trong ngành dịch vụ và ngày càng chú trọng đến đổi mới ngoài lĩnh vực công nghệ; thay đổi các chính sách quy mô lớn hướng tới các biện pháp khuyến khích tài chính đối với NCPT; tăng cường quốc tế hoá và di chuyển nhân lực có kỹ năng cao, trong đó tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động KH&CN ở tất cả các nước

Một số nhân tố làm cơ sở cho những phát triển này là bản chất tự nhiên của đổi mới ngày càng do tri thức quyết định; sự thay đổi nhanh chóng của các

tổ chức nghiên cứu do tin học chi phối; hợp tác và chia sẻ tri thức; khả năng kết nối được cải thiện nhanh chóng và sự phát triển các công nghệ và tiêu chuẩn

„nền‟ do toàn cầu hóa gia tăng; những thay đổi trên thị trường; môi trường cạnh tranh và công nghệ

1.1 Động lực tăng trưởng kinh tế

Với hầu hết các nước OECD, năng suất lao động thấp là nguyên nhân gây

ra những chênh lệch về GDP tính trên đầu người so với ở Mỹ Số liệu năm

2006 cho thấy, các nước thành viên nghèo hơn trong OECD có GDP/giờ làm việc thấp hơn gần một nửa so với mức của Mỹ

Trang 9

Các nước cần phải phấn đấu đạt được năng suất lao động cao hơn để cải thiện cuộc sống vật chất, điều mà toàn nhân loại mong muốn Một số động lực quan trọng là đầu tư vốn đáng kể cho công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) và các lĩnh vực khác ngoài CNTT-TT giúp người lao động có thể làm việc hiệu quả hơn Sự đóng góp của hiệu quả lao động (do tác động của nhiều nhân tố) cho thấy sức lao động và vốn đã được sử dụng như thế nào trong các quy trình sản xuất, cùng với việc thu hút nguồn nhân lực của một nước Các nhân tố này đóng góp vào tỷ lệ tăng GDP đáng kể ở các nước OECD Ví dụ, với nhóm nước G7, tăng năng suất đa nhân tố là động lực chính của phát triển kinh tế trong 2 thập kỷ qua

Những hạn chế về quy mô sử dụng lao động tăng lên ở nhiều nước, đóng góp CNTT-TT và đầu tư khác, ngoài tăng năng suất đa nhân tố, sẽ ngày càng

có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả kinh tế ở các nước OECD Điều này cho thấy đổi mới, vốn nhân lực và thay đổi công nghệ sẽ là trọng tâm tăng trưởng vì đây là các nhân tố làm cơ sở cho những cải thiện về công nghệ và phương pháp làm việc

Trong những năm gần đây, bối cảnh nền kinh tế vĩ mô cho các hoạt động NCPT, các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới ngày càng có triển vọng Mặc dù có những xáo trộn trên thị trường tài chính, nhưng tăng trưởng kinh tế

ở các nước OECD vẫn tăng mạnh trong những năm gần đây với mức tăng khoảng 2,7% Trong 4 năm gần đây, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với thập kỷ 1994-2003 Các nền kinh

tế BRICS và các nền kinh tế đang phát triển khác như Inđônêxia tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn (từ 4-10%), điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến thương mại toàn cầu, dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và cán cân thanh toán Trong khối OECD, tỷ lệ thất nghiệp giảm chậm, nhưng ổn định ở mức 5,6% năm

2007, tình trạng lạm phát cũng ổn định hơn

Các xu thế kinh tế vĩ mô giúp định hình những phát triển hiện nay về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới Nhất là ở khu vực tư nhân, các hoạt động NCPT và sáng tạo công nghệ phải được xem là một lĩnh vực cần đầu tư Các đầu tư này có xu thế tích cực cả trong tăng trưởng thực tế và tăng trưởng

dự đoán Do vậy, các xu thế kinh tế vĩ mô có tác dụng tích cực đối với hiệu quả của các hoạt động liên quan đến NCPT và các hoạt động khoa học, công nghệ

và đổi mới khác

Trang 10

Tuy nhiên, mức độ tích cực này sẽ phụ thuộc vào các tác động lâu dài của tình hình bất ổn định trên thị trường tài chính và sự mất cân bằng hiện nay của

nền kinh tế vĩ mô Những dự báo trong Viễn cảnh Kinh tế OECD (OECD,

2008a) cho thấy tăng trưởng yếu ớt ở hầu hết các nước OECD và nhấn mạnh đến tình trạng lạm phát Kịch bản này là kết quả kết hợp của sự rối loạn thị trường tài chính, đóng băng thị trường nhà đất và giá hàng tiêu dùng tăng vọt

Do hoạt động suy yếu nên tỷ lệ tăng số người có việc làm ở các nước OECD chậm lại, nhất là ở Mỹ

1.2 Các đặc điểm động lực NCPT: Diện mạo đang thay đổi

Các xu thế NCPT chính:

Cường độ giảm trên toàn OECD

Trừ Trung Quốc, cường độ NCPT của các nước duy trì gần như không đổi hoặc tăng rất chậm trong những năm gần đây Tuy nhiên, do GDP thực tế tăng mạnh, sự ổn định trên diện rộng tỷ lệ NCPT/GDP khiến hoạt động NCPT tăng đáng kể trên toàn cầu Mức tăng này liên quan đến mức tăng trưởng bền vững

về tạo việc làm cho các nhà nghiên cứu và lực lượng lao động KH&CN nói chung, với các tác động phức tạp đến các mô hình về thay đổi quốc tế

Đầu tư của OECD vào NCPT đã tăng từ 468,2 tỷ USD năm 1996 lên 817,8 tỷ USD năm 2006 Tổng chi tiêu nội địa cho NCPT (GERD) đã tăng ở mức 4,6%/năm trong giai đoạn 1996-2001, sau đó tăng chậm lại ở mức gần 2,5%/năm trong giai đoạn 2001-2006 Từ 1996 đến 2006, chi tiêu cho NCPT tăng từ 3,2-3,4%/năm tại Mỹ, Nhật Bản và EU Năm 2006, tỷ lệ của 3 khu vực chính trong tổng chi tiêu cho NCPT của OECD là khoảng 41% đối với Mỹ, 30% đối với EU và 17% đối với Nhật Bản Trong khi từ năm 2000, EU và Nhật Bản vẫn duy trì tỷ lệ chi tiêu của họ tại OECD, còn Mỹ giảm đi 2% Xét các xu thế cũng như viễn cảnh gần đây, cả quy mô và cơ cấu của tình hình thâm hụt ngân sách của Mỹ có thể có những liên quan đến chi tiêu liên bang dành cho NCPT trong những năm tới Những ước tính cho năm 2008 chỉ

ra rằng quỹ dành cho quốc phòng, an ninh và nghiên cứu năng lượng tăng lên, nhưng quỹ dành cho NCPT trong y tế, thương mại và bảo vệ môi trường lại giảm Tình hình thị trường tài chính toàn cầu hiện nay với sự bất ổn định và viễn cảnh không chắc chắn về tỷ lệ lãi suất, sau đó là cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn, có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch chi tiêu cho

Trang 11

NCPT nếu các xu thế suy thoái tiếp diễn Do vậy, mặc dù có hiệu quả mạnh gần đây thì viễn cảnh ngắn và trung hạn vẫn cho thấy có những rủi ro giảm tốc

độ tăng trưởng NCPT trong thời gian tới Một số nhà phân tích còn dự báo tốc

độ tăng trưởng thực của NCPT ở Mỹ suy giảm xuống còn 1,3% (Viện nghiên cứu Battelle, 2008)

Phân bố toàn cầu về NCPT cũng đang thay đổi Một số nền kinh tế ngoài OECD đang trở thành những nước chi tiêu NCPT có thế lực Năm 2006, GERD của Trung Quốc đạt 86,8 tỷ USD; thấp hơn Nhật Bản (138,8 tỷ USD)

và bằng 1/3 của EU (242,8 tỷ đô la) GERD của Trung Quốc tăng hàng năm ở mức 19% trong thời gian từ 2001 đến 2006 Cùng thời gian này, đầu tư cho NCPT của Nam Phi tăng 12% GERD của Nga tăng từ 9 tỷ USD năm 1996 lên

20 tỷ USD năm 2006, Ấn Độ đạt 23,7 tỷ USD năm 2004 Kết quả là, các nền kinh tế ngoài OECD chiếm tỷ lệ lớn trong tốc độ tăng chi tiêu cho NCPT của thế giới Theo dữ liệu hiện nay, năm 2005, các nước ngoài OECD chiếm 18,4% chi tiêu cho NCPT của các nền kinh tế trong và ngoài OECD (tính bằng sức mua tương đương theo USD hiện hành-USD PPP), so với mức 11,7% năm

1996 Trong số đó, Trung Quốc là nước đóng góp lớn nhất, chiếm 41% trong tổng số chi tiêu của các nước ngoài OECD Tỷ lệ này có thể sẽ tiếp tục tăng lên

do Trung Quốc đặt ra mục tiêu tham vọng về tăng cường NCPT lên 2% vào năm 2010 và 2,5% hoặc cao hơn vào năm 2020

Năm 2006, tỷ trọng NCPT trên GDP tại khu vực OECD đã đạt 2,26%, cao hơn 2,25% năm 2005, nhưng vẫn thấp hơn so với mức đỉnh điểm 2,27% vào năm 2001 Tại Mỹ, tỷ trọng NCPT/GDP đã giảm từ mức đỉnh điểm là 2,76% năm 2001 xuống 2,62% năm 2006, trong khi đó Nhật Bản đạt mức cao là 3,39% năm 2006 Tỷ trọng NCPT/GDP ở EU tăng ở mức vừa phải, từ 1,74% năm 2005 lên 1,76% năm 2006, nhưng vẫn còn quá thấp so với mục tiêu 3% GDP vào năm 2010

Tất cả các nước thành viên OECD, xuất hiện các mô hình rất khác nhau Tại Thụy Điển, Phần Lan, Hàn Quốc, tỷ lệ chi tiêu NCPT so với GDP cao hơn 3%, tại Phần Lan và Ailen, tỷ trọng NCPT/GDP tăng gần 1 điểm phần trăm trong 10 năm qua Một số nước, gồm các nền kinh tế lớn ở châu Âu như Pháp,

tỷ trọngNCPT/GDP giảm trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2006, giống như

đã từng diễn ra ở Canađa và Thuỵ Điển Khoảng cách giữa nước trong OECD

có tỷ trọng NCPT/GDP cao nhất (Thuỵ Điển) và nước có tỷ trọng NCPT/GDP

Trang 12

ít nhất (Cộng hòa Slovakia) là 3,2 điểm phần trăm

Tốc độ NCPT trong doanh nghiệp (BERD) tăng chậm

Phần lớn NCPT ở hầu hết các nước trong OECD là do các doanh nghiệp thực hiện, chiếm 69% tổng số NCPT của khu vực OECD NCPT trong doanh nghiệp phần lớn được ngành công nghiệp chế tạo đầu tư và mức đầu tư này tăng lên trong những năm gần đây Năm 2006, NCPT trong doanh nghiệp đạt

563 tỷ USD trên toàn OECD Từ 1996-2001, chi tiêu NCPT của các doanh nghiệp tăng 5,1%/năm, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm lại rõ rệt bắt đầu từ

2001 đến 2006 Trong giai đoạn 2005-2006, NCPT trong khu vực doanh nghiệp tại Mỹ tăng 1%/năm, EU 1,8%/năm, Nhật Bản 4,4%/năm và Trung Quốc 23%/năm

Trong khoảng thời gian 1996- 2006, tỷ trọng NCPT khu vực doanh nghiệp/GDP trong khối EU27 tăng rất ít, từ 1,03% lên 1,11% Do vậy, EU có thể sẽ không đạt được mục tiêu đưa ra tại Lisbon về chi NCPT của khu vực doanh nghiệp là 2% GDP vào 2010 Năm 2006, tại Mỹ, NCPT trong doanh nghiệp đã đạt 1,84% GDP, nhưng vẫn còn thấp so với mức đỉnh là 2,05% năm

2000, trong khi đó năm 2006, Nhật Bản đã đạt mức cao là 2,62% Năm 1996, Trung Quốc có tỷ lệ BERD/GDP thấp (0,25%), nhưng sau năm 2000, tỷ lệ này tăng rất nhanh và đã theo kịp tỷ lệ của EU là 1,01% GDP vào năm 2006 Điều quan trọng cần biết rằng tỷ trọng BERD tính theo tỷ lệ so với GDP, vì vậy GDP càng lớn thì chi tiêu cho NCPT càng cao Do vậy, cho dù tỷ lệ này tăng nhanh, nhưng BERD của Trung Quốc so với EU vẫn thấp hơn nhiều

Trung Quốc không phải là nước duy nhất tăng NCPT trong doanh nghiệp Thập kỷ qua, một số các nước đã thu được những kết quả đáng kể, BERD của Ixraen, Phần Lan, Trung Quốc, Ailen, Nhật Bản và Áo đã tăng hơn 0,5% Mức tăng trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2006 là khiêm tốn, chỉ riêng Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có mức tăng cao hơn 0,3%

Việc xem xét những nhân tố định hình những thay đổi về tăng BERD có ý nghĩa quan trọng Một trong những nhân tố đó là tính chuyên môn công nghiệp, do một số ngành đầu tư cho NCPT nhiều hơn so với các ngành khác (ví

dụ, ngành dược đầu tư cho NCPT nhiều hơn so với ngành dệt may) Một nhân

tố khác là đặc điểm nhân khẩu học của doanh nghiệp, bởi có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng NCPT trong doanh nghiệp và tỷ lệ thực hiện NCPT của các công

ty lớn trong khối doanh nghiệp Ở hầu hết các nước có tỷ lệ tăng NCPT trong

Trang 13

doanh nghiệp cao, NCPT được tập trung ở các công ty có hơn 500 nhân viên Hơn 70% NCPT trong doanh nghiệp ở Hà Lan, Phần Lan, Anh, Italia, Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Đức, Hàn Quốc và Nhật Bản là được thực hiện ở các doanh nghiệp lớn Một số các nước nhỏ trong OECD (nhóm các nước Bắc Âu, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Ôxtrâylia và Niu Dilân) cho thấy NCPT có thể chuyển sang thực hiện nhiều hơn ở các DNVVN

Ở hầu hết các nước OECD, cho dù phần lớn NCPT được các doanh nghiệp lớn thực hiện, nhưng các DNVVN vẫn là một đối tượng quan trọng Các công

ty có ít hơn 250 nhân viên chiếm tỷ lệ lớn trong NCPT trong doanh nghiệp ở Niu Dilân (73%), Hy Lạp (53%), Na Uy (52%), Cộng hoà Slovakia (51%) và Ailen (47%) Thực tế, Niu Dilân, Ôxtrâylia, Na Uy và Ailen có hơn 20% NCPT trong doanh nghiệp được thực hiện ở các công ty có chưa đến 50 nhân viên

Một xu thế quan trọng hiện nay là tuy khu vực sản xuất tiếp tục chiếm phần lớn NCPT trong doanh nghiệp, nhưng đầu tư cho khu vực dịch vụ đang tăng lên Ở một số nước, hơn 1/3 tổng NCPT trong doanh nghiệp được thực hiện ở các ngành dịch vụ: Ôxtrâylia (41%), New Zealand (41%), Mỹ (36%), Đan Mạch (35%), Na Uy (35%), Cộng hòa Séc (34%) và Ailen (34%) Tại Hàn Quốc, Đức và Nhật Bản, gần 10% NCPT trong doanh nghiệp được thực hiện trong các ngành dịch vụ, nhưng số liệu này chỉ phản ánh một phần bởi phạm vi của các cuộc khảo sát về các ngành dịch vụ còn giới hạn

Ngoài Cộng hòa Séc, chi tiêu dành cho NCPT trong doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã tăng với tốc độ nhanh hơn so với ngành sản xuất Tại Ailen

và Tây Ban Nha, tốc độ tăng trưởng hàng năm trong ngành dịch vụ là khoảng 20% trong giai đoạn 1995-2004, trong khi ở hầu hết các nước khác, tốc độ này

là từ 9-16% Tăng trưởng của một số ngành dịch vụ có thể giải thích bằng số

đo về NCPT cao hơn và sự sắp xếp lại của một số ngành sản xuất trở thành dịch vụ, các cuộc khảo sát cho thấy ngành dịch vụ có tính sáng tạo cao Phần Lan có tỷ lệ tăng chi tiêu cho NCPT trong doanh nghiệp ở mức thấp hơn 10%/năm trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2004

Giảm sự hỗ trợ của chính phủ cho NCPT

Kinh phí hỗ trợ của chính phủ dành cho NCPT có sự khác nhau giữa các nước, nhưng nhìn chung tiếp tục giảm Điều này phản ánh một phần sự chuyển đổi từ hỗ trợ trực tiếp sang gián tiếp đối với NCPT trong khối doanh nghiệp

Trang 14

Kinh phí của chính phủ dành cho NCPT cũng như tỷ lệ trên GDP giảm ở khu vực OECD từ mức 0,68% (năm 1996) xuống 0,66% (năm 2005), nhưng vẫn cao hơn chút ít so với mức của năm 2001 (0,65%) Năm 2006, tại Ailen và Ixraen, nguồn tài chính cho NCPT từ chính phủ (%GDP) cao hơn 1%, nhưng ở

13 nước, tỷ lệ này vẫn thấp hơn 0,5% Tại Áo, Ailen, Ailen, Lucxămbua và Tây Ban Nha, tỷ lệ này tăng hơn 0,1% trong thời gian 2001 đến 2006 Cũng trong khoảng thời gian này, Braxin là nước giảm nhiều nhất (0,09%), tiếp theo

là Ba Lan (0,08%) và Đức (0,07%) Trong giai đoạn 10 năm, tỷ lệ giảm nhiều nhất là ở các nước Hà Lan, Đức và Pháp, nguồn tài chính từ chính phủ của các nước này giảm hơn 0,1%

Các chính phủ không chỉ cung cấp tài chính cho thực hiện NCPT trong nhiều lĩnh vực mà còn cấp quỹ để thực hiện NCPT vì lợi ích của chính phủ Tỷ

lệ chi tiêu hay kinh phí ngân sách của chính phủ dành cho NCPT được tính bằng các quỹ mà các chính quyền bang hay chính phủ trung ương cam kết dành cho NCPT

Tổng hợp lại, tỷ lệ này tăng nhanh hơn GDP ở tất cả các nước OECD trong những năm gần đây, nhưng lại khác nhau đáng kể giữa các nước Kể từ

2001, ngân sách chính phủ dành cho NCPT tăng 6,4%/năm, từ 214 tỷ USD năm 2001 lên 291 tỷ USD năm 2006 trên toàn khu vực OECD (tính theo sức mua tương đương theo USD hiện hành- USD PPP) Tỷ lệ ngân sách chính phủ dành cho NCPT đối với GDP cũng tăng từ mức 0,76% năm 2001 lên 0,81% năm 2006 trong khối OECD Lucxămbua đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, ở mức 25%, trong khi Ailen và Tây Ban Nha tăng hơn 15%/năm Ngân sách NCPT của chính phủ tăng chậm trong khối 27 nước thuộc EU (EU27), đạt gần 5%/năm, trong khi Nhật Bản đạt 3,4% và Mỹ đạt 5% Ixraen và Pháp là hai nước duy nhất giảm ngân sách chính phủ dành cho NCPT Ngân sách cho NCPT của Italia vẫn duy trì ở mức cũ, trong khi tỷ lệ này ở Nga tăng nhẹ trong khoảng thời gian 2001-2006, với mức tăng hàng năm là 0,5%

Cơ cấu đầu tư nhà nước cho NCPT cũng khác nhiều giữa các nước Đáng chú ý vẫn là cam kết của Mỹ dành cho NCPT trong lĩnh vực quốc phòng là 0,6% GDP năm 2007 Đây sẽ vẫn là ngân sách NCPT cho quốc phòng lớn nhất, gấp đôi ngân sách NCPT cho quốc phòng của OECD là 0,3% GDP và gấp ba lần ngân sách của Pháp và Anh, là hai nước có tỷ lệ cao thứ 2 trong khu vực OECD (khoảng 0,2% GDP năm 2005) Năm 2003, ngân sách NCPT cho

Trang 15

quốc phòng của Nga là 0,4% GDP Những mức tăng này có thể xem là trái ngược với bối cảnh GDP rất cao của Mỹ Tỷ lệ chi cho NCPT cho quốc phòng của Mỹ rất cao, chiếm tới 86% tổng ngân sách toàn OECD cho NCPT cho quốc phòng và gấp 6 lần tổng ngân sách của EU27 Phần Lan có ngân sách NCPT cho lĩnh vực dân sự lớn nhất với mức 0,96% GDP, tiếp theo là Ailen 0,88% OECD có tỷ lệ ngân sách NCPT trong lĩnh vực dân sự là 0,5% GDP và

tỷ lệ này ở EU27 cao hơn một chút là 0,6%

Một số thay đổi đáng kể về quản lý và tài chính diễn ra theo cách chính phủ hỗ trợ NCPT trong doanh nghiệp Ngoài hỗ trợ trực tiếp, chính phủ còn gián tiếp cấp tài chính cho NCPT trong doanh nghiệp thông qua các biện pháp

ưu đãi thuế - giải pháp thay cho chi tiêu trực tiếp, nhằm đạt được các mục tiêu chính sách của chính phủ Các tín dụng thuế thường không được coi là khoản

hỗ trợ NCPT trong ngân sách của chính phủ, mặc dù có giá trị khá lớn Năm

2008 đã có 21 nước OECD có tín dụng thuế cho NCPT, tăng từ 12 nước năm

1995 và 20 nước năm 2006 Trong số các nước hiện nay không có ưu đãi thuế thì Đức, Ailen và Thụy Điển đang cân nhắc đưa ra áp dụng Ngoài ra, 5 nước không là thành viên của OECD là Braxin, Trung Quốc, Ấn Độ, Singapo và Nam Phi lại có môi trường thuế cạnh tranh cho đầu tư NCPT Tại 6 nước là Canađa, Bỉ, Ôxtrâylia, Ailen, Mehicô, Hà Lan và Bồ Đào Nha, các biện pháp

ưu đãi thuế chiếm tỷ lệ cao hơn trong hỗ trợ của chính phủ dành cho NCPT trong doanh nghiệp so với cách cấp tài chính trực tiếp OECD-NESTI Group ước tính lợi tức nhờ ưu đãi thuế dành cho NCPT trong năm 2005 là hơn 5 tỷ USD ở Mỹ, khoảng 4,5 tỷ USD ở Nhật Bản, hơn 2 tỷ USD ở Canađa, 800 triệu USD ở Pháp và Anh, khoảng 350-450 triệu USD ở Hà Lan, Mêhicô, Ôxtrâylia,

Bỉ và Tây Ban Nha Tại Na Uy, Ailen và Bồ Đào Nha, lợi tức trước thuế là

60-140 triệu USD

Tăng chi tiêu NCPT trong khu vực giáo dục đại học

Các tổ chức nghiên cứu nhà nước (PROs) giữ vai trò quan trọng trong NCPT và đổi mới Các tổ chức giáo dục bậc cao (chủ yếu là các trường đại học) và các viện nghiên cứu của nhà nước là các tổ chức then chốt trong việc tạo dựng và phổ biến tri thức khoa học và công nghệ Nhiều chính phủ đang tìm cách tăng cường năng lực về khoa học của mình, đồng thời tăng kinh phí cho nghiên cứu thuộc khu vực nhà nước Thực ra, các nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa thực hiện NCPT trong khu vực giáo dục đại học và NCPT

Trang 16

thương mại Trong OECD, chi tiêu cho quản lý nội bộ NCPT đã tăng từ 63,9 tỷ USD năm 1996 lên 93,5 tỷ USD năm 2006, chi tiêu cho NCPT trong khu vực giáo dục đại học (HERD) đã tăng gần gấp đôi, từ 75,8 tỷ USD lên 140,1 tỷ USD So với GDP, NCPT thực hiện trong khu vực nhà nước (như trong các viện nghiên cứu của chính phủ và các viện nghiên cứu thuộc các trường đại học) đã tăng nhẹ, từ 0,64% năm 2001 lên 0,65% năm 2006, chi tiêu cho HERD tăng nhanh hơn so với chi tiêu dành cho quản lý nội bộ NCPT

NCPT tăng mạnh trong khu vực giáo dục đại học Tại Nhật Bản, chi tiêu cho NCPT trong khu vực giáo dục đại học so với GDP tăng 2% trong thời gian

từ 2004 đến 2005, trước khi giảm xuống 0,43% năm 2006, còn tại các viện nghiên cứu của chính phủ, tỷ lệ này giảm 2% Mỹ có tốc độ NCPT tăng nhanh trong khu vực giáo dục đại học, năm 2000 là 0,31% GDP lên 0,37% GDP vào năm 2003 và ổn định sau đó Chi tiêu cho NCPT tại các viện nghiên cứu của chính phủ trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2006 đã giảm 1%/năm hoặc nhiều hơn Trong khối EU27, chi tiêu quản lý nội bộ NCPT không thay đổi ở mức 0,24% GDP trong giai đoạn 2001-2006; còn trong khu vực các trường đại học, tỷ lệ này dao động xung quanh 0,38-0.39% GDP Cho dù tăng trưởng GDP bền vững trên toàn OECD thì đầu tư NCPT cho khu vực nhà nước, nhất

là khu vực giáo dục đại học phải lớn hơn nữa để theo kịp với tăng trưởng kinh

tế Chi tiêu cho HERD ở các nước cũng khác nhau Từ 2001 đến 2006, chi tiêu cho HERD so với GDP tăng nhiều nhất là ở Đan Mạch, Canađa và Ailen với mức 0,1% Tại Ixraen, Thụy Điển, Thổ nhĩ Kỳ, Pháp, Braxin, Ba Lan, Nhật Bản và Nam Phi, trong khoảng 4-5 năm qua, tỷ lệ NCPT so với GDP giảm trong các viện nghiên cứu của các trường đại học Tuy nhiên, giữa các nước OECD vẫn có sự khác biệt lớn Thụy Điển có tỷ lệ HERD so với GDP cao nhất trong khu vực OECD, với mức 0,76%, tiếp theo là Canađa (0,69%), Thụy Sỹ (0,66%), Áo và Phần Lan (0,65%) Hầu hết các nước lớn trong OECD, trong

đó có Nhật Bản, Đức, Pháp và Mỹ dành 0,45-0,35% GDP cho NCPT ở các viện nghiên cứu của các trường đại học Tại Anh, con số này là 0,39% GDP năm 2006

Thực tế chi tiêu cho NCPT trong khu vực giáo dục đại học tăng mạnh trong những năm gần đây Cộng hòa Slovakia có tỷ lệ HERD tăng trung bình cao nhất trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2006, với 22%, tiếp theo là Trung Quốc (17%), Ailen (13%), Cộng hòa Séc (10%) Mức tăng chi tiêu hàng năm cho NCPT khu vực giáo dục đại học của Lucxămbua đặc biệt cao (46%) do

Trang 17

nước này thành lập trường đại học đầu tiên vào năm 2003 Từ 2001 đến 2006, mức tăng trên toàn khu vực OECD là 3,3% và EU27 là 2,8% cao hơn mức tăng cho lĩnh vực kinh doanh và quản lý Mức tăng mạnh trong khu vực giáo dục đại học phản ánh nhận thức ngày càng tăng về NCPT trong các trường đại học chính là một tác nhân quan trọng kích thích tăng trưởng kinh tế và cải thiện các tác động xã hội

Lĩnh vực nghiên cứu mà các trường đại học thực hiện NCPT có sự khác biệt lớn Ví dụ, tại Slovenia, Đài Loan, Nga, Rumani, hơn 85% tổng số NCPT được thực hiện trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, chế tạo, y học, nông nghiệp, trong khi khoa học xã hội và nhân văn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ

Tuy nhiên, tại Lucxămbua và Ixraen, hơn 60% tổng số NCPT của khu vực này được thực hiện trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Tại Tây Ban Nha, Mêhicô và Nam Phi, các NCPT trong các lĩnh vực này chiếm 35% Các khác biệt này có thể liên quan đến sự chuyên môn hóa của các hệ thống khoa học ở mỗi nước Phải nhận thức rõ rằng, mỗi nước chuyên về một lĩnh vực khoa học hay công nghệ nhất định nào đó và các nước đó sẽ có các cơ chế chính sách nhằm thu hẹp các khoảng cách theo yêu cầu Khi các khoảng cách này ở các lĩnh vực quan trọng và các lĩnh vực ưu tiên của các nước trở nên sâu sắc , các nhà hoạch định chính sách sẽ phải chú trọng các lĩnh vực cụ thể Không phải tất cả các NCPT trong khu vực giáo dục đại học là do chính phủ cấp kinh phí Tỷ lệ HERD được khu vực công nghiệp cấp kinh phí thể hiện mối liên quan giữa các khu vực này Tỷ lệ này rất khác nhau, thay đổi từ mức 37% ở Trung Quốc cho đến 0,7% ở Cộng hòa Séc Với khu vực OECD, NCPT

do ngành công nghiệp cấp tài chính được thực hiện ở các trường đại học đạt 6,1% năm 2005, thấp hơn một chút so với tỷ lệ của năm 2001 (6,4%) Tuy nhiên, kể từ 1990, tỷ lệ này vẫn không đổi, duy trì ở khoảng 6-7% Tại Hungary, nguồn tài chính này tăng cao nhất ở mức 8,6% trong thời gian từ

2001 đến 2006 Ngược lại, Mỹ, Bỉ, Ailen, tỷ lệ này giảm gần 1,5% ở mỗi nước

và Nam Phi giảm 9,5%

Tính quốc tế hóa của NCPT đang lan rộng

Quốc tế hóa của NCPT không phải là một hiện tượng mới, nhưng nó đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn Hơn nữa, phạm vi của hiện tượng này cũng mở rộng, bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi Phần lớn hiện tượng này liên quan đến sự thay đổi những động lực thúc đẩy đầu tư vào NCPT nhanh hơn nữa

Trang 18

Trước đây, NCPT xuyên biên giới phần lớn tập trung vào việc làm thích nghi các sản phẩm và dịch vụ đưa ra, theo yêu cầu của các „nước chủ nhà‟ và thỏa mãn những người sử dụng ở tầng lớp trên, nhằm thích nghi các sản phẩm và quy trình với các điều kiện ở địa phương Quá trình này hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất cục bộ của các công ty đa quốc gia (MNE) Hiện nay, các MNE này không còn chỉ tìm cách khai thác tri thức tại nước chủ nhà và ở các nước khác, mà xác định nguồn các công nghệ quốc tế và đặt quan hệ với các trung tâm tri thức đa ngành trên toàn thế giới Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các trung tâm NCPT có khả năng thích ứng và đổi mới không hoàn toàn rõ Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cả cung và cầu đều thúc đẩy việc xác định các hoạt động NCPT ở các nước chủ nhà, nhưng việc xác định nguồn công nghệ quốc tế cũng đang gia tăng

Viễn cảnh về NCPT toàn cầu có thể nhận biết qua sự tăng trưởng của NCPT bắt nguồn từ nước ngoài (thông qua các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức nhà nước và các tổ chức quốc tế) Các nguồn này khá quan trọng trong việc cung cấp tài chính cho NCPT trong doanh nghiệp Ở hầu hết các nước, nguồn tài chính từ nước ngoài cho NCPT trong doanh nghiệp chủ yếu là từ các doanh nghiệp khác hay là các MNE khác Trong khối EU27, nguồn tài chính cấp từ nước ngoài chiếm khoảng 11% tổng NCPT trong doanh nghiệp năm

2005 Ôtxtrâylia có tỷ lệ cao nhất (26%), theo sau là Anh (23%) Trong 5 năm qua, Nam Phi và Cộng hòa Slovakia có mức tăng cao nhất (khoảng 10%) và tỷ

lệ này ở Phần Lan và Thụy Điển tăng lên mức gần 6% Nguồn tài chính cho NCPT trong doanh nghiệp từ nước ngoài giảm mạnh ở Hy Lạp và Mehicô trong khoảng thời gian 1996 - 2006

Ở hầu hết các nước OECD, tỷ lệ các hội viên nước ngoài thực hiện NCPT trong lĩnh vực công nghiệp tăng lên, do các công ty nước ngoài đã thu nạp được các công ty địa phương thực hiện NCPT (sáp nhập và thâu tóm) hoặc thành lập các công ty phụ trợ Các nước nhỏ như Ailen có tỷ lệ cao về chi tiêu NCPT được nước ngoài cung cấp tài chính Trong số các nền kinh tế lớn ở châu Âu, tỷ lệ thực hiện NCPT ở các chi nhánh nước ngoài thay đổi từ mức cao

là 39% ở Anh cho đến mức thấp 26% ở Italia Nhật Bản là nước có tỷ lệ NCPT này chỉ ở mức 5% tổng NCPT trong doanh nghiệp, cho dù tỷ lệ này đã tăng so với 1995 Cộng hòa Séc và Slovakia là hai nước có tỷ lệ thay đổi đột ngột từ 8% lên 52% và 0,8 lên 24%, trong khoảng thời gian giữa thập kỷ 90 đến 2005

Trang 19

Hợp tác quốc tế là một khía cạnh khác của toàn cầu hóa các hoạt động nghiên cứu Quốc tế hóa NCPT không chỉ được phản ánh qua chi tiêu cho NCPT về đầu vào mà còn thể hiện qua số patent và các công bố khoa học Tỷ

lệ đồng sáng chế quốc tế trong tổng số patent được cấp đã tăng từ 4,6% giai đoạn 1992-94 lên 7,3% giai đoạn 2002-04 Ngoài ra, đồng tác giả các bài báo khoa học quốc tế đã tăng nhanh trong thập kỷ qua Năm 2005, 20,6% các bài báo khoa học về khoa học tự nhiên là đồng tác giả quốc tế, tăng gấp 3 so với năm 1985

1.3 Động lực đổi mới

Đổi mới trong các công nghệ then chốt

Chính sách về công nghệ mới ở các nước OECD rất được quan tâm, bởi đây là những công nghệ hứa hẹn đem lại những cơ hội hoặc các giải pháp tăng trưởng để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang bức xúc Những công nghệ mới nổi bật nhất là công nghệ sinh học và các khoa học sự sống, công nghệ nano, khoa học và công nghệ môi trường Tuy nhiên, mặc dù nhiều nước coi đây là các lĩnh vực ưu tiên, nhưng vẫn còn những khác biệt đáng kể về chi tiêu và thu nhập từ các lĩnh vực này Ngoài ra, sự khác biệt lớn còn được thể hiện qua các số liệu về NCPT và patent Mỹ hiển nhiên là quốc gia đi đầu trong NCPT công nghệ sinh học, công nghệ nano, số patent được cấp, số bài báo khoa học Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ môi trường, Mỹ cũng đi đầu

và tiếp đến là EU25

Công nghệ sinh học có những đặc thù riêng Thứ nhất, nó thu hút sự tham gia của nhiều công ty nhỏ Trong các nước OECD, hơn 60% các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học có dưới 50 lao động; EU có hơn 3.000 công ty công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học, Mỹ có hơn 2.000 công ty Thứ hai, nhiều công ty công nghệ sinh học gắn kết với các trường đại học (thông qua hợp tác hoặc trao đổi chuyên gia, nhân công), do vậy có sự liên kết mật thiết giữa chi tiêu của trường đại học với nghiên cứu công nghệ sinh học và hiệu quả thu về

Về chi tiêu cho NCPT của các công ty trong lĩnh vực công nghệ sinh học,

Mỹ đứng đầu và bỏ xa các nước khác với mức chi tiêu NCPT, đạt hơn 14 tỷ USD Tuy nhiên, cũng có một số nền kinh tế nhỏ hơn lại có tỷ lệ chi tiêu cho NCPT công nghệ sinh học trên tổng chi cho NCPT trong doanh nghiệp

Trang 20

(BERD) cao Ở Đan Mạch, công nghệ sinh học liên quan đến sức khoẻ con người rất được chú trọng, và ở Niu Dilân, Canađa, Ai-len, có tỷ lệ NCPT công nghệ sinh học trong BERD rất cao Tuy nhiên những khoản đầu tư này vẫn chưa xứng với tiềm năng to lớn của công nghệ sinh học trong nhiều lĩnh vực (như y tế, thực phẩm nông nghiệp, xử lý công nghiệp và môi trường) Những

số liệu về ứng dụng theo lĩnh vực cho thấy rằng chi tiêu cho lĩnh vực y tế vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo

Mặc dù công nghệ sinh học được thừa nhận là một ưu tiên NCPT then chốt ở nhiều nước, nhưng trên thực tế nguồn ngân sách đầu tư lại rất khác nhau Chỉ 4 nước có tỷ lệ NCPT công nghệ sinh học công trên tổng NCPT công là khoảng 10% hoặc cao hơn: Niu Dilân (24,2%), Hàn Quốc (15,3%), Canađa (12,4%) và Đan Mạch (9,9%) Các nước này, cùng với Na Uy, Tây Ban Nha và Phần Lan, cũng có tỷ lệ NCPT công nghệ sinh học ở khu vực công cao tính trên tổng chi NCPT công nghệ sinh học

Việc cấp patent công nghệ sinh học cũng phân bố không đồng đều như chi tiêu NCPT công nghệ sinh học Mỹ rõ ràng vẫn đứng đầu về số lượng patent trong lĩnh vực này, với gần 40% tổng số patent thuộc PCT (Hiệp ước Hợp tác Patent), nhưng vẫn chưa bằng tổng số lượng patent của EU25

Công nghệ nano là công nghệ đa ngành ở cấp phân tử và nguyên tử Nó liên quan đến các lĩnh vực như hoá tổng hợp, máy tính, vật liệu và các thiết bị

ở cấp độ đó Số lượng sáng chế trong lĩnh vực công nghệ nano đã tăng nhanh trong những năm gần đây (xem Bảng 1)

Trang 21

Bảng 1 Tỷ lệ patent công nghệ nano trên tổng lpatent quốc gia, 2002-04

Tỷ lệ patent công nghệ nano trên tổng số patent được cấp quy mô quốc gia

đã tăng đáng kể trong giai đoạn 1996-1998 và 2002-2004 ở phần lớn các nước, tuy vậy số lượng patent vẫn còn thấp Trừ Singapo, không có nước nào có số patent trong lĩnh vực này vượt quá 1,5% tổng số patent PCT

Công nghệ môi trường thu hút được sự quan tâm chính sách rất lớn vì những lo ngại về biến đổi khí hậu và đây cũng là vấn đề toàn cầu, cần có sự nhận thức rộng rãi trong công chúng Nhiều chính phủ coi đổi mới công nghệ như là một biện pháp thúc đẩy phát triển bền vững, và chính sách của nhà nước

có thể đóng vai trò quan trọng thông qua chi tiêu cho NCPT, cải cách thuế, các biện pháp dựa trên thuế Hiện nay, trọng tâm của công nghệ môi trường là ứng dụng Các lĩnh vực then chốt gồm xử lý và quản lý chất thải rắn, các nguồn năng lượng tái sinh, giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ xe cộ Đối với việc cấp patent trong các lĩnh vực này trong các năm 2000-2004: EU 25 dẫn đầu với

Trang 22

tỷ lệ 40% patent được cấp trong xử lý chất thải và năng lượng tái tạo, 50% trong giảm khí thải xe cộ Ở cấp quốc gia, Nhật Bản và Đức đặc biệt xuất sắc

về công nghệ môi trường trong các vấn đề trên

Liên quan tới cấu trúc tỷ lệ, việc cấp patent tăng mạnh trong các công nghệ môi trường then chốt, như năng lượng tái tạo Đó là sự năng động trong việc cấp patent lĩnh vực này hiện nay (xem Bảng 2)

Bảng 2 Patent năng lượng tái tạo theo PCT và theo nguồn năng lượng, từ 1995-2005

95 96 97 98 99 2000 01 02 03 04 05 Năng lượng tái tạo 129 170 153 206 281 327 411 425 461 605 683 Năng lượng gió 22 28 37 39 85 89 139 142 174 178 177 Năng lượng mặt trời 51 59 45 62 69 90 115 96 119 177 226 Địa nhiệt 13 6 7 9 9 12 8 19 11 21 19 Năng lượng biển 7 11 16 19 16 21 26 27 40 50 54 Sinh khối 15 28 19 29 30 19 23 36 24 21 40 Chất thải 24 41 34 52 83 106 106 118 102 177 183

Lĩnh vực CNTT-TT được đầu tư NCPT rất mạnh Năm 2004, ngành công nghiệp chế tạo CNTT-TT chiếm hơn một phần tư tổng chi tiêu NCPT trong ngành chế tạo ở phần lớn các nước OECD, thậm chí nó chiếm hơn một nửa ở Phần Lan và ở Hàn Quốc Tỷ lệ patent CNTT-TT trong tổng số đăng ký patent tăng ở hầu hết các nước từ giữa thập kỷ 90 tới đầu những năm 2000 Tại các nước OECD, patent liên quan đến CNTT-TT chiếm trung bình 35% tổng hồ sơ đăng ký patent PCT năm 2005 Riêng ở Phần Lan, Singapo và Trung Quốc thì

tỷ lệ này là hơn 50% và số lượng đơn xin cấp patent CNTT-TT tăng gấp đôi giai đoạn 1996-2005

Trang 23

Sự đa dạng trong thực hiện đổi mới ở các nước

Các báo cáo về đổi mới đã

cung cấp các chỉ số thực hiện đổi

mới trong kinh tế Chỉ số được sử

dụng phổ biến nhất từ các báo

cáo này là tỷ lệ các công ty có

hoạt động đổi mới Chẳng hạn ở

EU 17, 42% các công ty được

báo cáo là có một số hoạt động

đổi mới từ năm 2002 đến 2004

(ví dụ như giới thiệu ra thị

trường sản phẩm, dịch vụ hay

quy trình được cải tiến đáng kể)

Trong các nước EU, khu vực chế

tạo có tỷ lệ các công ty đổi mới

cao (37,4%) so với khu vực dịch

vụ (33,7%), và các công ty có

hơn 250 nhân viên có triển vọng

đổi mới cao hơn (49,2%) so với

các công ty nhỏ (33,7%) và vừa

(39,6%) Các chỉ số khác có thể

được sử dụng để đo lường mức

độ đổi mới: mới đối với công ty,

mới đối với thị trường và mới đối

với thế giới Về khía cạnh “mới

đối với công ty” thì ít được coi

trọng hơn là mới đối với thị

trường và với thế giới Tỷ lệ

doanh thu từ đổi mới sản phẩm

(hàng hoá hoặc dịch vụ) có thể được dùng như là một cách để đo lường việc thực hiện đổi mới trong các công ty và các ngành công nghiệp Có sự khác biệt lớn về tỷ lệ này giữa các nước, nhưng lại không lớn giữa các DNVVN và doanh nghiệp lớn Tại Hàn Quốc, Hungary, Luxămbua, Bồ Đào Nha, Áo và Bỉ, các DNVVN có tỷ lệ doanh thu từ đổi mới sản phẩm đưa ra thị trường thậm chí

Bảng 3 Tỷ lệ các doanh nghiệp đổi mới phi công nghệ 1 2002-04 (hoặc năm gần nhất)

Source: Eurostat, CIS-4 (New Cronos, May

2007), National data sources

Trang 24

cao hơn tỷ lệ ở các doanh nghiệp lớn và/hoặc đổi mới tổ chức (thực hiện phương pháp tổ chức mới trong hoạt động doanh nghiệp) Đổi mới phi công nghệ là một phần quan trọng trong hoạt động đổi mới của nhiều doanh nghiệp

và là bộ phận trung tâm của tiến trình đổi mới Tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện đổi mới marketing và tổ chức (đổi mới phi công nghệ) khác nhau đáng kể giữc các nước Ở Nhật Bản, hơn 60% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới phi công nghệ, so với chỉ 10% ở Cộng hoà Slovakia Tuy nhiên, tỷ lệ các doanh nghiệp đổi mới phi công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ lại không có sự chênh lệch lớn, và đổi mới trong ngành này không mạnh Các doanh nghiệp lớn có hoạt động đổi mới phi công nghệ nhiều hơn là các doanh nghiệp DNVVN

Liên kết đổi mới nước ngoài thấp hơn liên kết trong nước

Hợp tác trong tiến trình đổi mới là rất cần thiết đối với phổ biến tri thức và đổi mới Sự hợp tác thường mang lại lợi ích cho cả đôi bên, bao gồm sự lưu chuyển nhân viên, nâng cao khả năng học hỏi giữa các doanh nghiệp, tổ chức Các nghiên cứu về đổi mới đã cho thấy tầm quan trọng của sự hợp tác đối với các tiến trình đổi mới của các doanh nghiệp Trong EU27, khoảng 26% các doanh nghiệp đổi mới hợp tác với các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác trong giai đoạn 2002-2004 Họ hợp tác với hàng loạt các đối tác, nhưng chủ yếu các đối tác trong EU27 là các nhà cung cấp (17%), khách hàng (14%) Trong khi các doanh nghiệp đổi mới lại ít hợp tác với các trường đại học hoặc các cơ quan đào tạo bậc cao (9%), viện nghiên cứu của chính phủ và các cơ quan nghiên cứu công (6%), mặc dù những loại đối tác này lại đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển hơn nữa sản phẩm và quy trình mới

Các doanh nghiệp thường hợp tác với các đối tác gần họ hơn về mặt địa

lý Chẳng hạn đối với các công ty ở châu Âu, tỷ lệ hợp tác như vậy giữa các doanh nghiệp cũng thay đổi tùy theo nước, từ dưới 2% (Italia, Rumani, Tây Ban Nha và Bulgari) tới hơn 12% (Đan Mạch, Luxămbua, Phần Lan và Bỉ) Tỷ

lệ hợp tác giữa phần lớn các doanh nghiệp châu Âu với các đối tác bên ngoài châu Âu thì thấp hơn nhiều, chỉ khoảng từ 2 đến 6% Khuynh hướng hợp tác

về đổi mới với các đối tác nước ngoài có sự biến động lớn giữa các nước ở các vùng khác, từ dưới 2% của tất cả các doanh nghiệp ở Hàn Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia, tới hơn 8% ở Canađa và Niu Dilân

Trang 25

Đổi mới tài chính

Đổi mới tài chính vẫn là một trong những thách thức của các doanh nghiệp Các tổ chức tài chính ngân hàng truyền thống vẫn chưa chú ý tới đối tượng doanh nghiệp đổi mới, bởi họ chưa biết nhiều đến các mô hình doanh nghiệp đổi mới với kỳ vọng thành công mà họ không chắc chắn Các doanh nghiệp đổi mới thường phải trải qua nhiều giai đoạn của vòng đời, từ kỳ “phôi thai/hạt giống” tới “giai đoạn ban đầu” rồi “giai đoạn phát triển mở rộng” Do vậy, những phương thức tài chính khác nhau và sáng tạo là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của cả doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư

Trong những năm gần đây, những thách thức về tài chính đã gia tăng, do vậy “tài sản tri thức” hay “tài sản vô hình” trở thành yếu tố hàng đầu để đánh giá sự sáng tạo và đổi mới của doanh nghiệp (xem Bảng 4)

Bảng 4 Đầu tư vào tài sản tri thức trong 5 nước OECD, theo loại tài sản (% GDP)

Mỹ 1998-

2000

Anh

2004

Nhật 2000-

02

Hà Lan

2004

Phần Lan

2005

Tài sản đổi mới (Innovative property) 4.6 3.4 3.7 2.4 4

Tài sản con người đặc trưng của doanh nghiệp 1.3 2.5 0.32 0.8 1.2

1 Chỉ gồm phát triển sản phẩm trong các dịch vụ tài chính

2 Chỉ tính chi tiêu trực tiếp của doanh nghiệp

3 Không bao gồm các cấu trúc tổ chức được mua lại

4 Không so sánh cụ thể với các nước khác do chưa có số liệu về một số loại tài sản Nguồn: OECD

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp hiện nay thường đầu tư cho các tài sản “vô hình” nhiều như tài sản “hữu hình” Chẳng hạn, tổng đầu tư

Trang 26

vào tài sản trí tuệ (tài sản vô hình) của doanh nghiệp Mỹ trong những năm 90 của thế kỷ trước là khoảng 1,1 nghìn tỷ USD hay 12% GDP, tỷ lệ này cũng ngang bằng với đầu tư tài sản hữu hình Vấn đề là những tài sản này không bao gồm NCPT, patent và nhãn hiệu thương mại, nhưng lại bao gồm các năng lực

và nguồn nhân lực, năng lực tổ chức (như cơ sở dữ liệu và lề thói làm việc) và năng lực “quan hệ” (như mạng lưới khách hàng và nhà cung cấp), lại rất khó

đo lường và phần lớn không xuất hiện trong báo cáo kế toán cấp doanh nghiệp hoặc quốc gia Kết quả là các doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản như vậy có thể đối mặt với những khó khăn đặc thù trong việc tiếp cận các nguồn tài chính và thiếu nguồn hỗ trợ do nhà đầu tư nghĩ rằng họ có rủi ro cao

Trong các nước OECD, thị trường vốn đầu tư mạo hiểm có sự khác nhau lớn, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô, khuôn khổ luật pháp và tài chính của mỗi nước Tuy nhiên, vốn mạo hiểm nhìn chung vẫn là kênh tài chính then chốt cho các doanh nghiệp đổi mới

Đầu tư vốn mạo hiểm hướng tới tăng trưởng

Đầu tư vốn mạo hiểm tính trên GDP tăng mạnh ở một số nước từ năm

2003 đến 2006, chẳng hạn ở Anh (từ 0,16 lên 0,5% GDP), ở Bỉ (từ 0,04% lên 0,17%), ở Thuỵ Điển (từ 0,14% lên 0,23%) Trong toàn khu vực OECD, tỷ lệ vốn đầu tư mạo hiểm trên GDP đạt 0,16% năm 2006, tăng 0,04% so với năm

2003 Tuy nhiên, trong phần lớn các nước, đầu tư chủ yếu định hướng vào giai đoạn tăng trưởng mở rộng hơn là ở giai đoạn khởi đầu thành lập doanh nghiệp Mặc dù nhìn chung có nhiều nguồn tài chính cho doanh nghiệp, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn thấy rất khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tài chính từ các kênh thương mại cho giai đoạn “hạt giống”, giai đoạn khởi nghiệp và giai đoạn phát triển ban đầu của họ Các giai đoạn này chủ yếu vẫn do chính doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư nhờ tiền tiết kiệm của cá nhân, vay gia đình và bạn bè (Bảng 5)

Bảng 5 Vốn đầu tư mạo hiểm theo các giai đoạn của doanh nghiệp ở một số nước năm 2006 (% GDP)

Nước Gia đoạn khởi nghiệp ban đầu và mở rộng Giai đoạn phát triển Tổng cộng (% GPD)

Trang 27

Nước Gia đoạn khởi nghiệp ban đầu và mở rộng Giai đoạn phát triển Tổng cộng (% GPD)

Source: OECD Venture Capital Database

Các lĩnh vực công nghệ cao chiếm 41% đầu tư vốn mạo hiểm trong khu vực OECD, nhưng giữa các nước trong khu vực này lại có sự khác biệt lớn Trong khi các lĩnh vực công nghệ cao chiếm 96% đầu tư vốn mạo hiểm ở Ai-

Trang 28

len, 88% ở Mỹ, 81% ở Canađa, thì ở Ôxtrâylia, Cộng hoà Séc, Hà Lan và Hungari tỷ lệ này chỉ dưới 20% Những khác biệt này cho thấy sự khác nhau trong cấu trúc ngành công nghiệp mỗi nước Ngay trong các lĩnh vực công nghệ cao cũng có những sự khác biệt về đầu tư Lĩnh vực viễn thông thu hút 62% vốn đầu tư mạo hiểm ở Hy Lạp, trong khi đó, công nghệ thông tin chiếm 62% ở Ai-len, lĩnh vực công nghệ sinh học/y tế lại chiếm tới 58% ở Đan Mạch Các công cụ tài chính khác cũng đang xuất hiện giúp doanh nghiệp tăng cường tài sản tri thức và thực hiện đổi mới của họ Chẳng hạn chuyển nhượng li-xăng đổi mới là phổ biến nhất, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp DNVVN Thị trường cho chuyển nhượng li-xăng đã tăng mạnh trong thập kỷ qua, đặc biệt là ở Mỹ Ngoài ra, cũng có sự gia tăng việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ như vật bảo đảm để tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là các công ty mới khởi sự

Trang 29

Bảng 6 Tỷ lệ (%) vốn đầu tư mạo hiểm trong các lĩnh vực công nghệ cao trên tổng số vốn đàu tư mạo hiểm, năm 2005 (hoặc năm gần nhất)

Nước Viễn thông Công nghệ

thông tin

Y tế/Công nghệ sinh học Tổng cộng

Trang 30

1.4 Gia tăng patent và các bài báo khoa học

Các chỉ số đầu ra NCPT chính là các patent và các bài báo khoa học được xuất bản Với sự gia tăng chi phí cho NCPT, phần lớn các nước đều có sự gia tăng patent và các bài báo khoa học trong những năm gần đây Thực vậy, những thay đổi trong chi tiêu cho NCPT làm thay đổi lớn đối với số patent được cấp cũng như số bài báo khoa học Chẳng hạn, những phân tích cho thấy rằng có sự tương quan rõ rệt và tích cực giữa số lượng các dạng patent và chi tiêu NCPT trong công nghiệp Mỹ, Nhật Bản, Đức và Pháp càng chi nhiều cho NCPT, thì tỷ lệ gia tăng patent càng cao Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dữ liệu về patent không phản ánh toàn bộ đầu ra của NCPT Patent là một chỉ số sáng chế hơn là đổi mới, không phải mọi patent đều được thương mại hoá và một số dạng công nghệ không thể cấp được patent

Patent

Trong thập kỷ qua, số lượng patent theo nhóm Bộ 3 (Triadic Patents-đăng

ký ở cả 3 khu vực Mỹ, Tâu Âu và Nhật Bản) được cấp đã tăng đáng kể Năm

2005, khoảng 52.000 patent theo nhóm Bộ 3 được cấp trên toàn thế giới, tăng khoảng 17.000 so với năm 1995 Trong nửa đầu những năm 90, patent nhóm

Bộ 3 tăng trưởng trung bình 6% mỗi năm, sau đó từ năm 2000 lại giảm 2% mỗi năm

Mỹ vẫn chiếm số lượng lớn nhất về patent, với 31% tổng số patent, mặc

dù tỷ lệ này đã giảm 4% kể từ năm 1995 Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển, Đức

và Thuỵ Sỹ là nhóm 5 nước có tỷ lệ patent hàng đầu tính trên 1 triệu dân

Tỷ lệ các nhóm patent ở các nước châu Á tăng đáng kể từ năm 1995 đến

2005 Tăng mạnh nhất là ở Hàn Quốc, tiếp đến là ở Nhật Bản, Trung Quốc (tăng từ 20 đến 40% mỗi năm) Ở Đài Loan, Singapo và Ấn Độ, tỷ lệ này cũng đang tăng lên Mặc dù sự gia tăng này là rất ấn tượng, nhưng ở các nước có dân

số cao thì tỷ lệ patent tính theo dân số vẫn còn thấp Chẳng hạn, ở Trung Quốc

và Ấn Độ, số lượng patent trên 1 triệu dân chỉ đạt tương ứng 0,3 và 0,1 patent năm 2005

Trang 31

Bảng 7 Số lượng các patent nhóm Bộ 3 trên 1 triệu dân, năm 2005

Source: OECD, Patent Database, 2008

Các ngành công nghiệp có hàm lượng NCPT cao, như dược phẩm và CNTT-TT, chiếm phần lớn patent Nhưng các patent cũng rất quan trọng trong việc bảo vệ tri thức ở những ngành công nghiệp có hàm lượng NCPT thấp hơn, như ngành dệt, thực phẩm, đồ gỗ và giấy Do có sự liên hệ chặt chẽ giữa đầu tư cho NCPT và lượng patent được cấp, nên không có gì ngạc nhiên khi các lĩnh vực công nghệ trung và cao chiếm tỷ lệ tăng trưởng patent cao nhất trong phần lớn các nước Tuy nhiên, sự tăng trưởng patent trong các ngành công nghiệp công nghệ trung và thấp không chênh lệch nhiều và tỷ lệ tăng trưởng này ở một

số nước là vẫn khá cao Chẳng hạn, Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước mới nổi

Trang 32

về công nghệ cao với tỷ lệ tăng trưởng patent trong các ngành công nghiệp này cao hơn nhiều so với ở Mỹ và Nhật Bản Tỷ lệ tăng trưởng patent của Thổ Nhỹ

Kỳ cũng cao (39%) Những dữ liệu này cho thấy các mô hình hoạt động NCPT đang thay đổi (xem Bảng 8)

Bảng 8 Tỷ lệ tăng trưởng patent trung bình hàng năm (giai đoạn 1997-2004) Nước/Vùng lãnh

thổ và trung bình cao Công nghệ cao

Trang 33

Đồng sáng chế quốc tế của các patent là bằng chứng thể hiện cho sự quốc

tế hoá NCPT Mức độ đồng sáng chế quốc tế của một nước được thể hiện qua

số lượng patent được tạo ra bởi một nước với sự hợp tác ít nhất của một nhà sáng chế nước ngoài so với tổng số patent của nước đó Do vậy nó có thể được coi như một chỉ số phản ánh sự hợp tác NCPT chính thức và trao đổi tri thức giữa các nhà sáng chế ở các nước khác nhau Tỷ lệ patent toàn thế giới liên quan đến hợp tác quốc tế đã tăng từ 4,6% năm 1992 lên 7,3% năm 2002-2004 Các nền kinh tế nhỏ và kém phát triển đặc biệt tham gia rất tích cực vào hoạt động hợp tác quốc tế, nhằm vượt qua những hạn chế về quy mô thị trường trong nước và thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển công nghệ Các nước lớn như Mỹ, Anh, Đức và Pháp có tỷ lệ patent đồng sáng chế quốc tế là từ 13 đến 24% (năm 2002-04) và sự hợp tác quốc tế của họ đã được mở rộng Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, tỷ lệ này thấp so với các nước khác trong OECD Tuy nhiên, với Thổ Nhỹ Kỳ, Ấn Độ, Ba Lan, Mexico và Trung Quốc, tỷ lệ này lại giảm so với thập kỷ trước Điều này có thể do các nước này tập trung vào năng lực công nghệ nội sinh (xem Bảng 9)

Trang 34

Bảng 9 Số patent đồng sáng chế với nước ngoài

Nước 2002-04 1992-94 Nước 2002-04 1992-94

CH Slovakia 56.03 38.10 Na Uy 23.74 15.13 Luxembourg 54.50 45.71 Thổ Nhỹ Kỳ 23.68 90.00

Trung Quốc 27.87 40.56 Bồ Đào Nha 25.70 26.92

Xuất bản khoa học

Ngân sách cho NCPT tăng lên đang kéo theo sự gia tăng về số lượng các bài báo khoa học, từ 565.000 năm 1995 lên 710.000 bài năm 2005 Tuy nhiên, xuất bản khoa học tập trung cao ở một số nước, đứng đầu là Mỹ, chiếm 29% tổng số các bài báo khoa học của thế giới Khu vực OECD chiếm hơn 81% tổng số các bài báo khoa học được xuất bản Mức sản phẩm đầu ra (được đo bằng số bài báo khoa học trên 1 triệu dân) đã tăng ở phần lớn các nước trong vòng một thập kỷ qua Chỉ 8 nước có mức này giảm là: Israel giảm mạnh nhất (125 bài trên 1 triệu dân), tiếp theo là Mỹ (33,8 bài), Slovakia (30,6), Anh (27,3), Nga (25,4), Canađa (9,6), Nam Phi (8,5) và Pháp (3) Mức sản phẩm cao nhất ở Singapo (507,5), tiếp theo là Slovenia (300) và Hàn Quốc (256,3) (Bảng 10)

Trang 35

Bảng 10 Số bài báo khoa học trên 1 triệu dân (2005)

thế giới (2005)

Tỷ lệ so với thế giới (1995)

Trang 36

Nguồn: OECD, Patent Database, 2008

Bảng 11 Tăng trưởng số bài báo khoa học theo khu vực, 1995-2005

OECD Mỹ EU15 Châu Á (1) Trung/Nam Mỹ (2) Nhật Bản

Nguồn: National Science Foundation, Science and Engineering Indicators 2008

Năng lực khoa học đang tăng mạnh ở một số nước mới nổi Trong vài năm

Trang 37

qua, các bài báo khoa học từ Mỹ La tinh đã tăng gấp đôi, tiếp đến là một số nước Đông Nam Á ((Inđônêsia, Malaysia và Việt Nam) Singapo và Thái Lan

có số lượng bài báo khoa học tăng gấp 3 Trung Quốc có số lượng bài báo khoa học tăng trung bình hàng năm là 16,5% từ năm 1995 đến 2005, còn tỷ lệ này của Ấn Độ là 4,7% Trong các nước OECD, tỷ lệ tăng trung bình hàng năm của các bài báo khoa học ở một số nước là dưới 1%: Canađa là 0,8%, Pháp (0,5%), Thuỵ Điển (0,8%), Mỹ (0,6%) và riêng ở Anh (0,0%) Tuy nhiên, nhìn chung vẫn có sự gia tăng lớn về số bài báo khoa học, hay nói cách khác là hoạt động khoa học của thế giới trong những năm gần đây đã sôi động hơn

1.5 Nhu cầu nguồn nhân lực tăng nhanh

Nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò quan trọng đối với đổi mới và tăng trưởng kinh tế, bởi những nhân lực kỹ năng cao có khả năng sáng tạo và truyền

bá đổi mới Do vậy, họ có vai trò quan trọng trong việc duy trì và mở rộng hệ thống khoa học và đổi mới Ở phần lớn các quốc gia, nhu cầu về nhân lực kỹ thuật cao có triển vọng sẽ gia tăng do sự tăng trưởng thực tế của NCPT và sự

áp dụng ngày càng tăng những công nghệ tiên tiến trong nhiều ngành công nghiệp Điều này không thuần túy là vấn đề liên quan đến nhân lực NCPT, mà

nó phản ánh nhu cầu đang gia tăng đối với nhân lực kỹ năng cao trong toàn bộ nền kinh tế Ở khu vực các quốc gia nằm trong OECD, số lượng việc làm trong các ngành nghề đòi hỏi nhân lực KH&CN đã vượt quá tốc độ tăng trưởng số việc làm nói chung, thường là trong phạm vi rộng Ở Tây Ban Nha, Hungary

và Ailen, với lực lượng lao động KH&CN chiếm tỷ lệ tương đối thấp trong tổng số việc làm (23-27%), tốc độ tăng trưởng lao động KH&CN là cao nhất

Ở Thụy Điển, Luxămbua, Thụy Sỹ và Ôxtrâylia, lực lượng lao động KH&CN chiếm 38-39% tổng số nhân lực được tuyển dụng Ngoại trừ Hungary, Ba Lan, Slovakia và Sec, sự tăng trưởng nhân lực KH&CN phần lớn có thể là do sự gia tăng trong tuyển dụng nhân lực nữ

Sự mở rộng NCPT ở các ngành dịch vụ, và cùng với đó là sự gia tăng của các dịch vụ có hàm lượng tri thức cao (chảng hạn như dịch vụ ngân hàng, tài chính và kinh doanh, y tế và giáo dục) cũng làm thay đổi thành phần của nhu cầu đối với nhân lực KH&CN Việc phân tích tăng trưởng nhân lực KH&CN theo ngành đã cho thấy ở phần lớn các quốc gia, sự tăng trưởng diễn ra nhanh hơn tổng số việc làm ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ Trong lĩnh vực chế tạo, mặc dù tổng số việc làm đã giảm đi ở 14 trong số 19 nước (tức là gần 75%),

Trang 38

nhưng số việc làm của nhân lực KH&CN đã tăng lên với mức độ tương tự Quả thực, nhân lực KH&CN ở ngành chế tạo đã tăng vượt hơn tăng trưởng của nhân lực KH&CN của ngành dịch vụ đối với Tây Ban Nha, Ailen, Hy lạp, Italia, Áo, Phần Lan và Bồ Đào Nha Canađa là nước duy nhất có tốc độ tăng trưởng của tổng số việc làm vượt quá tăng trưởng nhân lực KH&CN ở ngành chế tạo Trong ngành dịch vụ, tất cả các nước đều cho biết có sự tăng trưởng của nhân lực KH&CN lẫn tổng số việc làm, ngoài ra, trừ Phần Lan và Bồ Đào Nha, tất cả đều có tăng trưởng việc làm đối với nhân lực KH&CN nhanh hơn

so với tổng số việc làm

Số lượng các nhà nghiên cứu đang gia tăng

Do các quốc gia có sự khác nhau đáng kể về quy mô dân số và nhân lực, nên việc tiêu chuẩn hóa tỷ lệ các nhà nghiên cứu trong toàn bộ việc làm sẽ cho chúng ta một chỉ số phản ánh quy mô của nhóm này Phần Lan có tỷ lệ cao nhất với khoảng 24 cán bộ NCPT trong tổng số 100 việc làm, tiếp đến là Thụy Điển (18), Đan Mạch (16) và Nhật Bản (15)

Ở một số quốc gia, trong tổng nhân lực NCPT, số lượng các nhà nghiên cứu thường cao hơn nhiều so với các loại hình khác (kỹ thuật viên và trợ lý) Tình trạng này có thể dẫn tới việc làm giảm hiệu quả hoặc tận dụng không hết

kỹ năng của các nhà nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu trong các doanh nghiệp chiếm số đông trong cộng đồng nghiên cứu Năm 2005, 64% các nhà nghiên cứu ở các quốc gia OECD (hoặc gần 2,5 triệu trong tổng số 3,9 triệu) làm việc trong khu vực doanh nghiệp, con số này duy trì ở mức khá ổn định Tuy nhiên, có sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia Các nhà nghiên cứu của doanh nghiệp chiếm 79% tổng

số các nhà nghiên cứu ở Mỹ (năm 2005), 68% ở Nhật, 78% ở Hàn Quốc và 64% ở Trung Quốc (năm 2006) Trong khi đó, đối với EU (gồm 27 nước ), con

số này là 49%

Những xu hướng tăng trưởng nhân lực NCPT thường tuân theo mô hình tăng trưởng chi tiêu cho NCPT, vì tiền lương chiếm tỷ lệ lớn trong khoản chi này Từ 1996 đến 2006, nhân lực NCPT đã tăng ở phần lớn các quốc gia, chủ yếu là do sự gia tăng đội ngũ các nhà nghiên cứu Sự tăng trưởng số lượng các nhà nghiên cứu cao nhất là ở Mêhicô, với tốc độ hàng năm là 10,4% trong các năm 1996-2005, một phần là do xuất phát từ mức rất thấp Niu Dilân, Nam Phi

và Thổ Nhĩ Kỳ cũng báo cáo là có sự gia tăng mạnh số lượng các nhà nghiên

Trang 39

cứu, với tốc độ tăng hàng năm đạt 9% hoặc cao hơn, lớn gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng trung bình của OECD Ở Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ, sự tăng trưởng đều

có xuất phát điểm thấp

Mặc dù sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động KH&CN đã gia tăng, nhưng số lượng còn thấp trong các hoạt động NCPT nên họ ngày càng thu hút sự quan tâm của những nhà hoạch định chính sách Ở phần lớn những nước có thu thập dữ liệu, phụ nữ chiếm 25-35% tổng số cán bộ nghiên cứu Ở Achentina, Bồ Đào Nha, Rumani, Nga và Slovakia, số lượng các nhà nghiên cứu nữ chiếm 40%, còn ở Hàn Quốc chỉ là 13% và ở Nhật Bản là 12%

Những nữ nghiên cứu viên chủ yếu có mặt ở khu vực giáo dục đại học, còn ở khu vực doanh nghiệp, nơi phần lớn các nước sử dụng nhiều nhà nghiên cứu nhất, thì sự tham gia của họ còn rất thấp Tình trạng này một phần là do sự phân bố không đều của những sinh viên nữ trong các ngành học, chỉ có ít sinh viên nữ theo học những ngành kỹ thuật, chủ yếu họ theo học nhiều hơn những ngành khoa học sự sống và khoa học xã hội

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học và kỹ thuật tiếp tục giảm

Những sinh viên tốt nghiệp trong các ngành khoa học và kỹ thuật (KHKT)

là thành phần quan trọng của nhân lực KH&CN và là đặc biệt quan trọng đối với các ngành công nghiệp dựa vào khoa học Bởi vậy các nhà hoạch định chính sách tìm cách để gia tăng nguồn cung này Trung bình, 25% số bằng được cấp ở các trường đại học ở khu vực OECD là những ngành liên quan đến khoa học (kỹ thuật, chế tạo, xây dựng, khoa học sự sống, vật lý và nông nghệp, toán học và tin học)

Tuy nhiên, số lượng và tỷ lệ những sinh viên tốt nghiệp các ngành KHKT

đã thay đổi nhiều vào những năm gần đây Xét về con số tuyệt đối, số sinh viên tốt nghiệp KHKT đã tăng lên, ngoại trừ Đức (số sinh viên tốt nghiệp các ngành

kỹ thuật đã giảm từ 38.761 năm 2000 xuống còn 38.135 năm 2005), Hungary (số sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật đã giảm từ 5.792 năm 2000 xuống 4.582 năm 2005) và Tây Ban Nha (số sinh viên khoa học đã giảm từ 21.679 năm 2000 xuống 20.400 năm 2005) Tuy nhiên, về con số tương đối, tỷ lệ sinh viên KHKT đã giảm đi ở 17 quốc gia Sự sụt giảm lớn nhất về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp KHKT (khoảng 3%) diễn ra ở Ailen, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Ai-xơ-len, Anh và Thụy Điển Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp KHKT đã tăng lên ở Bồ Đào Nha, từ 18% năm 2000 lên 26% năm 2005, còn ở Slovakia, Na Uy, Ba Lan,

Trang 40

Mehico và Tây Ban Nha là 1,5-5%

Tuy nhiên, có những sự khác biệt quan trọng giữa các quốc gia nếu xét về thành phần những sinh viên tốt nghiệp KHKT Một số quốc gia có số lượng sinh viên về những ngành chế tạo nhiều hơn, trong khi số khác lại có số sinh viên về khoa học nhiều hơn Nhìn chung, điều này phản ánh cơ cấu công nghiệp và truyền thống hàn lâm của mỗi nước, đồng thời cũng phản ánh những chính sách tài trợ cho giáo dục đại học và nghiên cứu của nước đó Năm 2005, quá nửa các nước trong số những nước được nêu trên có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật cao hơn so với ngành khoa học Ở một số nước, nhất là

ở Bỉ, Ixraen, Na Uy, Đức, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Ôxtrâylia, bức tranh này cân đối hơn, với số sinh viên các ngành kỹ thuật ngang bằng với các ngành khoa học

Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế (PISA) gần đây nhất của OECD chú trọng vào kết quả học tập các môn khoa học và thái độ hướng tới khoa học của sinh viên Phần lớn số sinh viên tham gia vào khảo sát đã báo cáo rằng họ đánh giá cao khoa học nói chung, và xét về tổng thể, đối với độ tuổi 15, kết quả trên là cân bằng đối với cả nam lẫn nữ Trung bình, 37% số sinh viên thuộc khu vực OECD nói rằng họ muốn được làm việc ở những ngành liên quan đến khoa học, 31% muốn được tiếp tục theo học về khoa học sau khi tốt nghiệp phổ thông và 21% có khát vọng được theo học những ngành khoa học tiên tiến Mặc dù những kết quả này là dựa trên những quan điểm của sinh viên, nhưng sự quan tâm sớm đến khoa học là một nhân tố quan trọng quyết định đến việc họ sẽ theo đuổi những ngành khoa học Ngoài ra, công trình PISA đã phát hiện được rằng động lực để theo đuổi khoa học trong tương lai có liên quan tích cực với hiệu quả hoạt động khoa học của tất cả các nước OECD trừ Mêhicô Còn về vấn đề giảm tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp KHKT ở nhiều nước OECD, những kết quả này đề cập đến vai trò của chính phủ trong việc cải thiện mối quan tâm của sinh viên đối với khoa học Kết quả của PISA cho thấy có sự liên quan mật thiết giữa việc học tập các môn khoa học của học sinh ở độ tuổi

15 với cường độ nghiên cứu của quốc gia

Đào tạo tiến sĩ đã tăng lên ở phần lớn các quốc gia OECD Từ 2000 đến

2005, số tiến sĩ đã tăng nhanh nhất ở Bồ Đào Nha (21%), sau đến Italia (18,9%), Mêhico (18,6%) Chỉ có Pháp và Thụy Điển có số lượng tiến sĩ tốt nghiệp hàng năm giảm trong thời gian đó Thụy Sỹ có tỷ lệ số lượng tiến sĩ

Ngày đăng: 16/07/2020, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w