ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐỖ MINH HƯNG CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH CHO NÔNG DÂN ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP NGHIÊN CỨU T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ MINH HƯNG
CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH
CHO NÔNG DÂN
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ MINH HƯNG
CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH
CHO NÔNG DÂN
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2016
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Mẫu khảo sát 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của Luận văn 12
CHƯƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH 13
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH CHO NÔNG DÂN 13
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 13
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13
1.1.1 Khái niệm chính sách 13
1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 17
1.2 Chuyển giao công nghệ xanh 18
1.2.1 Khái niệm công nghệ 18
1.2.2 Khái niệm công nghệ xanh 21
1.2.3 Khái niệm chuyển giao công nghệ 24
1.2.4 Công nghệ xanh trong sản xuất nông nghiệp 29
1.3 Chế biến phụ phẩm nông nghiệp 32
Trang 41.3.1 Phụ phẩm nông nghiệp 32
1.3.2 Phụ phẩm nông nghiệp từ trồng trọt 33
1.3.3 Phụ phẩm nông nghiệp từ chăn nuôi 36
1.3.4 Vai trò của chế biến phụ phẩm nông nghiệp 37
1.3.5 Chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp 37
Tiểu kết Chương 1 39
CHƯƠNG 2 41
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH 41
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH CHO NÔNG DÂN 41
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 41
TẠI HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 41
2.1 Thực trạng chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp 41
2.1.1 Thực trạng chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp từ trồng trọt 41
2.1.2 Thực trạng chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp từ chăn nuôi 44
2.1.3 Nhận xét về chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp 46
2.2 Thực trạng chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại Bình Giang, Hải Dương 48
2.2.1 Khái quát về sản xuất nông nghiệp tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương 48
2.2.2 Mô hình chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại Bình Giang, Hải Dương 55
Trang 52.2.3 Nhận xét về việc chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Bình
Giang 63
Tiểu kết Chương 2 68
CHƯƠNG 3 70
HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH 70
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH CHO NÔNG DÂN 70
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 70
TẠI HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 70
3.1 Tổng quan về chính sách chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại tỉnh Hải Dương 70
3.2 Chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm trồng trọt 72
3.2.1 Sự cần thiết phải hình thành chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm trồng trọt 72
3.2.2 Mục tiêu và phương tiện của chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm trồng trọt 75
3.2.3 Quy trình thực hiện chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm trồng trọt 76
3.2.4 Đánh giá tác động của chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm trồng trọt 79
3.3 Chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm chăn nuôi 81
3.2.1 Hình thành chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm chăn nuôi 81
3.2.2 Mô hình chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm chăn nuôi 84
Trang 63.2.3 Mô hình thực nghiệm sử dụng phân hữu cơ vi sinh Fitohoocmon
được sản xuất từ công nghệ được chuyển giao trên cây lúa 88
3.2.4 Đánh giá tác động của chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm chăn nuôi 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội là
cơ quan chủ trì và PGS.TS Trần Văn Hải, Chủ nhiệm nhiệm vụ hợp tác quốc
tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định thư “Nghiên cứu kinh nghiệm
về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, đã cho phép tôi sử dụng tài liệu của nhiệm
vụ để hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo/Cô giáo trong và ngoài Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy Lớp cao học chuyên ngành Quản
lý Khoa học và Công nghệ 2013, đặc biệt là PGS.TS Vũ Cao Đàm, người đã cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức và kỹ năng thực sự cần thiết, hữu ích cho quá trình học tập cũng như công tác của tôi hiện tại và trong tương lai
Để hoàn thiện Luận văn này, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của Lãnh đạo Sở KH&CN tỉnh Hải Dương, UBND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, các nhà quản lý KH&CN, quản lý doanh nghiệp và bà con nông dân huyện Bình Giang đã trả lời phỏng vấn, giúp tôi có tư liệu trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Quý vị
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả Luận văn
Trang 9Đã có một số phương pháp đề xuất xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng cách không gây ô nhiễm môi trường, ví dụ phương pháp sinh học dựa trên hoạt động sống của vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn di dưỡng hoại sinh, có trong chất thải Quá trình hoạt động của chúng cho kết quả là các chất hữu cơ gây nhiễm bẩn được khoáng hoá và trở thành các chất vô cơ, các chất khí đơn giản và nước
Cho đến nay người ta đã xác định được rằng, các vi sinh vật có thể phân huỷ được tất cả các chất hữu cơ có trong tự nhiên và nhiều hợp chất hữu
cơ tổng hợp nhân tạo Vi sinh vật sống khắp mọi nơi trên trái đất: trong đất, nước, không khí, tromg hầm mỏ, dưới đáy biển sâu, trên người, động thực vật, hàng hoá, dày, dép, quần áo Ngay cả ở những nơi mà điều kiện sống tưởng chừng hết sức khắc nghiệt: nhiệt độ cao, áp suất cao, pH rất thấp hoặc rất cao, độ mặn cao (biển chết) vẫn thấy có sự phát triển của vi sinh vật Vi sinh vật tuy nhỏ bé nhất trong sinh giới nhưng năng lực hấp thu và chuyển hoá thức ăn của chúng có thể vượt xa các sinh vật bậc cao
Trang 10Tuy nhiên, có thể thấy những nghiên cứu đã đề cập mới chỉ giải quyết vấn đề đã nêu ở quy mô nhỏ lẻ, chưa có chính sách cho vấn đề đã nêu Nhận
thức được tầm quan trọng vừa nêu, Luận văn Chính sách chuyển giao công
nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp (Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) sẽ giải quyết vấn đề đã nêu ở
tầm chính sách
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chủ đề chính sách công nghệ xanh đã được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu, trong vài thập niên gần đây, “công nghệ xanh” đã nhận được nhiều sự quan tâm của chính phủ cũng như khu vực tư nhân và giới khoa học
Trong những nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài, có thể nêu:
- Đề tài khoa học How can Green Technology be possible do Xiaoqing
Heng and Chengxiao Zou (2010) tiến hành đăng trên Asian Social Science 6 (5): 110-114 đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội châu Á đã nhận định công nghệ xanh là một trong những giải pháp hàng đầu trong công cuộc chống biến đổi khí hậu, đồng thời cũng là một lĩnh vực tràn đầy triển vọng phát triển trong tương lai Bởi vậy, các quốc gia theo đuổi công nghệ xanh nghĩa là không chỉ hướng tới mục tiêu môi trường mà còn nhắm tới một lĩnh vực có khả năng tạo sinh khí mới cho nền kinh tế, trong đó việc đưa công nghệ xanh vào sản xuất nông nghiệp cần phải được nhấn mạnh hàng đầu
Báo cáo Tổng quan về chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh của
Hàn Quốc - UNEP (2010), Overview of The Republic of Korea’s National Strategy for Green growth đã nhận định “công nghệ xanh” (Green technology) được dùng để chỉ những công nghệ thân thiện với môi trường, bao gồm những phương pháp và vật liệu được cải tiến không ngừng nhằm tạo
ra năng lượng và những sản phẩm sạch, không độc hại, công nghệ xanh còn được gọi là “công nghệ than thiện môi trường” hay “công nghệ sạch”, là sự
Trang 11ứng dụng khoa học môi trường, hóa học xanh, quan trắc môi trường và các thiết bị điện tử để theo dõi, mô hình hóa và bảo tồn môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của
con người đến môi trường Báo cáo này nêu “Công nghệ xanh là những công
nghệ tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên trong toàn bộ quá trình hoạt động kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu việc phát thải khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm; nó bao gồm: công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ năng lượng sạch, công nghệ tái chế và thân thiện với môi trường,…”
Các nghiên cứu được công bố ở trong nước, có thể điểm:
Đề tài nghiên cứu: “Chế phẩm vi sinh (Fito-Biomix RR) để xử lý rơm
rạ và quy trình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ nhờ sử dụng chế phẩm này” đã được ứng dụng và Cục sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ
cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 956 cho tác giả Lê Văn Tri - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Hà Nội
Đề tài gồm nhiều dự án nghiên cứu, thử nghiệm thành công tại nhiều địa phương khác nhau như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hưng Yên, Hà Nội đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, được các chuyên gia nông nghiệp và bà con nông dân đánh giá cao Quy trình biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ được thực hiện thông qua các bước, rơm rạ tươi sau thu hoạch được chất đống với chiều rộng 2m, cứ mỗi lớp 30cm tưới một lượt dung dịch chế phẩm Fito-Biomix RR, bổ sung thêm NPK và phân chuồng
Có thể kể thêm các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của Luận văn,
như “Đất hiếm và công nghệ xanh”, đăng trên Tạp chí Khoa học và Tổ quốc,
số tháng 7/2009 của tác giả Nguyễn Xuân Chánh, Tăng trưởng xanh và vai
trò đổi mới công nghệ tại các nước đang phát triển” của PGS.TS Phan Minh
Trang 12Tân, PGS.TS Nguyễn Kỳ Phùng đăng trên Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN, 4/2013
Công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh được nghiên cứu ứng dụng để thực hiện công nghệ Fitohoccmon Đây là công nghệ sử dụng tổng hợp bộ vi sinh vật yếm khí và k khí để sản xuất phân ủ hữu cơ, phân bón hữu
cơ vi sinh từ nguồn phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp và phân thải chăn nuôi đã được khẳng định:
- Qui trình sản xuất đã được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số HI-2010 của Cục Sở hữu công nghiệp - Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (nay là Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ)
- Sản phẩm phân bón theo công nghệ này đã được cho phép sản xuất
trong Danh mục phân b n được cho phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại
Việt Nam tại công văn số 1582/CV-NN-DPB, ngày 30/11/2004 của Cục Nông
nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Kết quả thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước, mã số
KC.04.DA.06 Hoàn thiện công nghệ sản xuất phân b n hữu cơ vi sinh từ phế
thải, phụ phẩm mía đường nghiệm thu đạt 38,5/40 điểm Đạt giải Nhất
Vifotec năm 2006 và giải Bạc tại Triển lãm sáng tạo Quốc tế lần tứ 4 tại Seoul Hàn Quốc
Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu đã phân tích ở trên đều thuộc lĩnh vực môi trường, sinh học hay hóa học Chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc hình thành chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp, cũng như chưa có nghiên cứu nào đề cấp đến vấn đề
đã nêu tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn này nhằm đề xuất chính sách chuyển giao công nghệ xanh
Trang 13cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu chung đã nêu, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích hệ thống khái niệm có liên quan đến chính sách, chuyển giao công nghệ xanh, chế biến phụ phẩm nông nghiệp
- Khảo sát thực tiễn chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
- Đề xuất chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
- Phạm vi thời gian: 2010 – 2015
5 Mẫu khảo sát
Huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
6 Câu hỏi nghiên cứu
Cần xây dựng chính sách bao gồm những nội dung gì để chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân nhằm chế biến phụ phẩm nông nghiệp?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để xây dựng chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp, cần xây dựng mô hình thực nghiệm, đánh giá tác động của mô hình thực nghiệm, chứng minh khả năng nhân rộng của
mô hình thực nghiệm nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: kế thừa kết quả nghiên cứu đã công bố;
- Điều tra, khảo sát thực tiễn: tác giả Luận văn trực tiếp khảo sát tại
Trang 14Huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, phân tích số liệu để phục vụ việc hoàn thiện Luận văn;
- Xử lý thông tin định lượng: rút ra các kết luận cần thiết;
- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia bằng cách gửi trước câu hỏi, trực tiếp gặp để nghe trả lời và trao đổi xung quanh chủ đề nghiên cứu của Luận văn
- Phương pháp thực nghiệm mô hình: Luận văn khảo sát 2 trường hợp chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp: 1 Từ phụ phẩm trồng trọt; 2 Từ phụ phẩm chăn nuôi, qua mô hình thực nghiệm chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm chăn nuôi, mô hình thực nghiệm sử dụng phân hữu cơ vi sinh Fitohoocmon được sản xuất từ công nghệ được chuyển giao trên cây lúa
Từ mô hình thực nghiệm, Luận văn đánh giá tác động của chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp, chứng minh khả năng nhân rộng để thực hành chính sách chuyển giao công nghệ xanh nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp
- Chương 2 Thực trạng chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
- Chương 3 Hình thành chính sách chuyển giao công nghệ xanh cho nông dân để chế biến phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XANH CHO NÔNG DÂN
ĐỂ CHẾ BIẾN PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách
1.1.1 Khái niệm chính sách
Cách tiếp cận chính sách gắn với chủ thể ban hành chính sách là chính phủ hoặc một đảng phái, chính sách gắn với pháp luật, ví dụ Nguyễn Thị Như Mai (2012) cho rằng:
- Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục
đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề
ra Hoặc Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội
- Trong các loại chính sách chung lại có các chính sách đối với từng lĩnh vực, ví dụ: Trong chính sách kinh tế có các chính sách mậu dịch tự do, chính sách bảo hộ thuế quan, chính sách tài chính Trong chính sách tiền tệ có chính sách thị trường tự do, trong chính sách xã hội có chính sách dân tộc Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách
cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật
- Pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi chính sách Nguồn chính sách:
+ Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện các định
Trang 16hướng này cần phải nghiên cứu và ban hành hàng loạt các chính sách cụ thể
có liên quan như chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế
+ Hiến pháp, Nghị quyết của Quốc hội, Cam kết quốc tế,
+ Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển ngành;
+ … 1
Vũ Cao Đàm có cách tiếp cận chính sách khác với các quan niệm trên đây2 Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định c giá trị
pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
Trang 17- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
đòn ứng ph với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ
thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
Trang 18doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng ph
trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất
đồng bộ nào đ trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực
chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới
những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo
tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
Luận văn tiếp cận khái niệm chính sách theo quan điểm của Vũ Cao
Đàm: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể
quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đ tạo sự ưu đãi một hoặc một
Trang 19số nh m xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đ trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo
một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ
Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO)
đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp
và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN
Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa3, Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau:
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế h a thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp
3
Vũ Cao Đàm (2011), sđd
Trang 20Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
1.2 Chuyển giao công nghệ xanh
1.2.1 Khái niệm công nghệ
Công nghệ theo hiểu theo nghĩa hẹp các phương pháp, giải pháp kỹ thuật trong các dây chuyền sản xuất và xây dựng… Khái niệm về công nghệ thời gian gần đây đã có nhiều thay đổi, có nhiều quan niệm khác nhau về công nghệ
Ngân hàng thế giới năm 1985 đã đưa ra định nghĩa Công nghệ là
phương pháp chuyển hoá các nguồn thành sản phẩm , gồm 3 yếu tố:
- Thông tin về phương pháp
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá
- Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao ?
Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành sản phẩm
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) thì khái niệm Công nghệ được hiểu là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp
Trang 21bằng cách sử dụng các nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp xác định
Theo ESCAP - Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á và Thái Bình Dương
đưa ra định nghĩa khác về công nghệ: công nghệ là hệ thống tri thức về quy
trình và kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ
năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp và dịch vụ quản lý
UNCTAD (1972) đưa ra định nghĩa Công nghệ là một đầu vào cần
thiết cho sản xuất, và như vậy, n được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá được thể hiện ở những dạng sau:
- Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn vớí các quyết định đầu tư
- Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực
có trình độ cao và chuyên môn sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và
kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
Định nghĩa này cho thấy về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, đồng thời có mục tiêu đầu vào cần thiết cho sản xuất
SHARIF (1986) cho rằng Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi
mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối
ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hoá
Cụ thể hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm
4 dạng cơ bản:
Trang 22- Dạng vật thể (Vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy m c, sản
phẩm hoàn chỉnh)
- Dạng con người (Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm)
- Dạng ghi chép (Bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp
v.v được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v)
- Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư
vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp v.v)
Công nghệ theo nghĩa này có bản chất là vật thể (thiết bị, máy m c) còn gọi là phần kỹ thuật (technoware); con người, phần con người (Humanware); ghi chép, phần thông tin (Infoware); thiết chế tổ chức, phần tổ chức
(Orgaware); có mục tiêu: để sử dụng tối ưu, để tác động vào các yếu tố môi
trường vật chất, xã hội, văn hoá
Điều 2.2 Luật KH&CN định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương
pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ ở định nghĩa này có thể là sáng chế,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh (các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp), trong đó quan trọng nhất là sáng chế Điều
4.12 Luật SHTT định nghĩa: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản
phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Công nghệ theo nghĩa này là tài sản vô hình
Nhưng công nghệ còn có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn, điều 3.2
Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí
quyết kỹ thuật c kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Như vậy, công nghệ theo nghĩa này còn có thể là
tài sản hữu hình (công cụ, phương tiện) Nhân đây cũng cần nói thêm là công
cụ, phương tiện chỉ được hiểu là bộ phận của công nghệ trong lần chuyển giao đầu tiên quyền sử dụng cho một chủ thể, còn các lần chuyển giao tiếp theo
Trang 23(cho chính chủ thể đó) thì công cụ, phương tiện chỉ là hàng hóa bình thường
mà không được coi là một bộ phận của công nghệ
Các định nghĩa trên có điểm khác nhau về việc có hay không bao gồm
cả vật mang công nghệ, tuy nhiên trong thực tế việc sử dụng khái niệm công nghệ thường bao gồm cả vật mang công nghệ Định nghĩa công nghệ trong Luật KH&CN đi theo khuynh hướng lấy nghĩa rộng, bao gồm cả vật mang công nghệ
Một cách chung nhất, Luận văn đưa ra định nghĩa:
* Công nghệ c thể được hiểu như mọi loại kiến thức, thông tin, bí
quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ
- Với cách quan niệm công nghệ là tri thức, thông tin và kỹ năng, nếu xét theo khía cạnh lý thuyết công nghệ có thuộc tính: không bị cạn kiệt, tính phổ quát và sự phổ biến, tuy nhiên trên thực tế khi trở thành sở hữu riêng thì những thuộc tính trên sẽ mất đi Công nghệ còn có tính mới, tính sở hữu riêng
- Dựa vào tính chất, tính mới, tính sở hữu riêng thì công nghệ có thể phân loại như sau:
+ Theo tính chất khai thác: Công nghệ công nghiệp, công nghệ để cung cấp dịch vụ
+ Theo mức độ phổ biến: công nghệ phổ biến của ngành, công nghệ chuyên biệt
1.2.2 Khái niệm công nghệ xanh
Khái niệm công nghệ xanh được bắt nguồn từ phong trào sinh thái học
xã hội ở các nước công nghiệp phương Tây vào những năm 60 – 70 của thế
Trang 24kỷ trước Căn nguyên của phong trào này là đi từ sự tự nhận thức của con người về nguy cơ công nghệ hiện đại có thể đe dọa sự sống còn của nhân loại
và tàn phá môi trường sinh thái, trước tình hình đó, con người cần có một cái nhìn mới về công nghệ Từ góc nhìn mới về công nghệ, người ta bắt đầu có sự phân chia: công nghệ nào có nguy cơ tàn phá môi trường, công nghệ nào ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hơn Những nhận thức và tìm hiểu bắt đầu từ đấy, sau này, chúng ta có thuật ngữ “công nghệ xanh”
Xét về mặt ngôn ngữ, danh từ “công nghệ” (technology) được dùng để chỉ việc áp dụng các kiến thức khoa học vào những mục tiêu thực tiễn trong cuộc sống Từ đó, “công nghệ xanh” (Green technology) được dùng để chỉ những công nghệ thân thiện với môi trường, bao gồm những phương pháp và vật liệu được cải tiến không ngừng nhằm tạo ra năng lượng và những sản phẩm sạch, không độc hại Đây chính là lý do công nghệ xanh còn được gọi là
“công nghệ than thiện môi trường” hay “công nghệ sạch”
Ngoài ra, còn có những định nghĩa về công nghệ xanh như sau: “Công nghệ xanh” là sự ứng dụng khoa học môi trường, hóa học xanh, quan trắc môi trường và các thiết bị điện tử để theo dõi, mô hình hóa và bảo tồn môi trường
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của con người
Theo Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam, 1994, Điều 2, khoản 8 thì
“Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường” Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì, định nghĩa này không được Luật
Bảo vệ môi trường 2014 nhắc lại
Theo Luật khung về Tăng trưởng xanh, ít các-bon của Hàn Quốc (chương 1, điều 2, phần định nghĩa), khái niệm “công nghệ xanh” được giải
thích như sau: “Công nghệ xanh là những công nghệ tiết kiệm và sử dụng
Trang 25hiệu quả năng lượng và tài nguyên trong toàn bộ quá trình hoạt động kinh tế
- xã hội nhằm giảm thiểu việc phát thải khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm;
nó bao gồm: công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ năng lượng sạch, công nghệ tái chế và thân thiện với môi trường,…”
Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu “công nghệ xanh” hay “công nghệ môi trường”, “công nghệ sạch” là những công nghệ thân thiện với môi trường, để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của con người đến đến môi trường Công nghệ xanh bao gồm hai nội dung chính là giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính và giảm thiểu chất gây ô nhiễm môi trường
Phân loại công nghệ xanh
Công nghệ xanh là một lĩnh vực công nghệ rất rộng lớn, bao gồm rất nhiều hình thức công nghệ khác nhau Công nghệ xanh thành 5 loại hình chính, đó là:
- Công nghệ dự báo
- Công nghệ nguồn năng lượng
- Công nghệ nâng cao hiệu suất
- Công nghệ xử lý cuối quá trình (End-of-pipe)
- Công nghệ thực tại ảo
Mỗi loại hình công nghệ này lại được chia nhỏ thành những công nghệ xanh chuyên sâu khác nhau như: Công nghệ đánh giá tác động và thích ứng với biến đổi khí hậu; Công nghệ từ tính hóa hiệu quả cao cho pin mặt trời silicon; Công nghệ năng lượng sinh học; Công nghệ địa nhiệt, thủy điện, phong điện; Công nghệ lò phản ứng nhanh thân thiện với môi trường; Công nghệ sản xuất và lưu trữ hydro hiệu quả cao; Công nghệ xe ô tô phát thải thấp, hiệu quả cao; Công nghệ giao thông vận tải thông minh; Công nghệ thu thập, lưu trữ và xử lý CO2; Công nghệ đánh giá và quản lý chất lượng nước; Công
Trang 26nghệ giảm thiểu, tái chế và năng lượng hóa chất thải; vv
1.2.3 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Khái niệm chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào khái niệm công nghệ nên cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật chất (trí tuệ), là một quá trình về cơ bản một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi
Theo UNCTAD “chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức
có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ” Theo định nghĩa này bản chất chuyển giao công nghệ là quá
trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ…
Nawaz Shaif (1983) cho rằng, “chuyển giao công nghệ thường là cách
gọi việc mua công nghệ mới n thường xảy ra do c sự tồn tại của người mua và người bán Người bán thường được gọi là người giao và người mua thường được gọi là người nhận của quá trình công nghệ“
Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra:
- Từ một ngành này sang một ngành khác
- Từ một tổ chức này sang tổ chức khác
- Ở quy mô quốc tế: giữa các quốc gia phát triển; giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển hoặc giữa hai quốc gia đang phát triển.”
- Định nghĩa “chuyển giao công nghệ liên quan đến phương thức một
nước tiếp nhận công nghệ (thu nhận) hoặc khả năng công nghệ từ nước khác
N cũng bao gồm bất kỳ hình thức chuyển giao một công nghệ giữa các hình thái tổ chức hoặc trong nội bộ một tổ chức” Theo định nghĩa này bản chất
của chuyển giao công nghệ là phương thức thu nhận công nghệ hoặc khả năng công nghệ giữa các địa điểm hoặc chủ thể khác nhau
Trang 27Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ, cách hiểu bản chất và phạm vi của từng định nghĩa có khác nhau nhưng trong đó nổi lên hai nhóm thuật ngữ về đối tượng chuyển giao và mục đích của chuyển giao:
- Đối tượng của chuyển giao: có thể là kiến thức (hoặc các hoạt động
liên quan đến kiến thức như đào tạo, bồi dưỡng …); thông tin; thiết bị
- Mục đích của chuyển giao: để sản xuất, áp dụng các quy trình và thực hiện dịch vụ; giải quyết các vấn đề xã hội và thương mại… Nhấn mạnh đến việc thay đổi môi trường công nghệ: sang một địa điểm khác, một môi trường khác
Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra:
- Từ một ngành công nghiệp sang ngành khác
- Từ một tổ chức này sang tổ chức khác
Bên cạnh bản chất của chuyển giao, trong các định nghĩa còn thấy xuất
hiện hai loại nhóm thuật ngữ đối tượng của chuyển giao và mục đích của
chuyển giao
- Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì) có thể thấy:
+ Kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, học hỏi )
+ Thông tin
+ Thiết bị
Thực ra việc nêu ra các đối tượng chuyển giao trong các định nghĩa là không cần thiết vì có thể nêu thẳng thuật ngữ "công nghệ" và đương nhiên hiểu nó ứng với các khái niệm về công nghệ đã được thống nhất từ trước Đến đây, chúng ta thấy rõ ràng là khái niệm "chuyển giao công nghệ" sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu thuật ngữ "công nghệ" đã được quy ước trước
- Mục đích của chuyển giao (chuyển giao để làm gì?) chúng ta thấy:
Trang 28+ Để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ
+ Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại
Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý về chuyển giao công nghệ có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao và mục đích của chuyển giao
Trên khía cạnh pháp luật, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) quy
định: “chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên c quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”
Quan niệm của tác giả Luận văn:
* Chuyển giao công nghệ là quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ và cho các mục đích khác
Cách hiểu này sẽ rộng hơn cách hiểu cho rằng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là việc mua bán công nghệ
Các hình thức chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ;
- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (còn gọi là license công nghệ);
- Chìa khóa trao tay (Turn-Key, Clé en main): chủ sở hữu công nghệ
chỉ cam kết chuyển giao công nghệ vận hành được cho doanh nghiệp sử dụng
- Sản phẩm trao tay (Produit en main) : chủ sở hữu công nghệ cam kết
chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có loạt sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó
- Thị trường trao tay (Marché en main): chủ sở hữu công nghệ cam kết
chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, đồng thời chia sẻ thị phần tiêu thụ chính sản phẩm đó
Trang 29Các hình thức độc quyền trong license công nghệ:
- License độc quyền (Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng công nghệ, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng công nghệ đó nếu được phép của bên được chuyển quyền
- License không độc quyền (Non Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng không độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn
có quyền sử dụng công nghệ, quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác
Cần phải xác định rõ những trường hợp sau đây:
- Trường hợp 1: trong phạm vi lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, cần phải làm rõ thuật ngữ sử dụng trong định nghĩa trên, mặc dù bên chuyển giao không sử dụng công nghệ trong lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, nhưng bên chuyển giao có được quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì quyền lợi của bên nhận chuyển giao có thể bị ảnh hưởng
- Trường hợp 2: quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác vẫn thuộc về bên chuyển giao, nhưng cần làm rõ phạm
vi hoạt động của người khác đó là trên lãnh thổ nào? Nếu người khác đó không sử dụng đối tượng được chuyển giao trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực thì có quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không?
Trang 30- License sơ cấp (Primary License): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng giữa bên chuyển quyền sử dụng là chủ sở hữu đối tượng được chuyển giao và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng công nghệ
Trong hợp đồng này, nếu có quy định bên nhận chuyển giao được quyền tiếp tục ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với chủ thể/các chủ thể khác thì hợp đồng tiếp theo này được gọi là hợp đồng License thứ cấp
- License thứ cấp (Sublicense): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ giữa bên chuyển giao (không là chủ sở hữu công nghệ mà chỉ là bên nhận chuyển giao) với bên nhận chuyển giao khác quyền sử dụng công nghệ
Cần lưu ý rằng phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License thứ cấp không được phép vượt phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License sơ cấp tương ứng.4
Các phương thức chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ trực tiếp từ bên sở hữu công nghệ đến doanh nghiệp sản xuất;
- Chuyển giao công nghệ thông qua các chương trình hỗ trợ của nhà nước hoặc địa phương;
- Chuyển giao công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu và triển khai với địa phương
Các loại chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ mới: thường do các cơ quan nghiên cứu tạo ra công nghệ ở trong hoặc ngoài nước thực hiện, hay từ kết quả nghiên cứu, qua quá trình triển khai công nghệ và được thương mại hoá Đây là hình thức chuyển giao dọc hay còn gọi là chuyển giao công nghệ nội bộ
Trang 31
- Chuyển giao công nghệ ở dạng truyền bá: là việc chuyển giao công nghệ đã hoàn chỉnh từ bên chuyển giao sang bên nhận chuyển giao hay là sự chuyển giao từ cơ sở đã áp dụng công nghệ này sang cơ sở khác nhằm mục đích mở rộng ứng dụng và sở hữu công nghiệp trong sản xuất Chuyển giao công nghệ này còn được gọi là chuyển giao công nghệ ra bên ngoài hay chuyển giao công nghệ ngang
- Loại công nghệ được chuyển giao có thể là công nghệ nội sinh (trong nước) và công nghệ ngoại nhập
Đối tượng công nghệ được chuyển giao:
Có thể phân ra các đối tượng công nghệ được chuyển giao sau: (1) Chuyển giao phần cứng sản xuất bao gồm: các vật liệu, thiết bị máy móc; (2) Chuyển giao phần cứng tổ chức bao gồm: các thiết bị, phương tiện vận chuyển phục vụ gián tiếp hoạt động sản xuất; (3) Chuyển giao tài liệu sản xuất bao gồm: các bí quyết công nghệ, patent; sơ đồ và hướng dẫn vận hành, các tiêu chuẩn sản xuất; (4) Chuyển giao tài liệu tổ chức bao gồm: các tài liệu
sử dụng cho hoạt động quản lý như quản lý nhân sự, quản lý chất lượng, điều hành cơ sở sản xuất, kiểm soát tài chính; (5) Chuyển giao các kỹ năng sản xuất bao gồm: các kỹ năng và kinh nghiệm vận hành sản xuất
1.2.4 Công nghệ xanh trong sản xuất nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, có một số khái niệm liên quan đến công nghệ xanh, trong đó có thể thấy:
Sản xuất sạch hơn: Là việc cải tiến liên tục quá trình sản xuất, sản
phẩm và dịch vụ nhằm giảm sử dụng tài nguyên, hạn chế phát sinh các tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường
Trang 32Công nghệ thân thiện môi trường: Là công nghệ sử dụng tiết kiệm tài
nguyên, giảm tối đa việc phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Nền kinh tế xanh: Là nền kinh tế tạo ra, phân phối sản phẩm và dịch vụ
thân thiện với môi trường, năng lượng tái tạo, giao thông và nhiên liệu sạch
và công trình xanh, giảm mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nước thông qua chiến lược hiệu quả năng lượng và tài nguyên và chuyển đổi từ các cấu phần các-bon sang không các-bon
Việc làm xanh: Là những công việc trong nông nghiệp, sản xuất, nghiên
cứu và phát triển, hoạt động hành chính, và dịch vụ đóng góp đáng kể để bảo tồn, khôi phục lại chất lượng môi trường Thí dụ các công việc giúp bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, giảm tiêu thụ năng lượng, vật liệu, và nước thông qua các chiến lược hiệu quả cao, giảm phát thải các-bon cho nền kinh tế
và giảm thiểu hoặc tránh hoàn toàn tất cả các hình thức chât thải và ô nhiễm
Công nghiệp xanh: “Là ngành công nghiệp tạo ra 4 nhóm sản phẩm
chính gồm: Các sản phẩm xanh; Năng lượng mới và tái tạo (phát thải CO2 thấp); Dịch vụ xanh; Môi trường bền vững”
Công nghệ sạch: "Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải
pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường"
Vậy “công nghệ xanh” và “công nghệ sạch” có gì giống và khác nhau? Công nghệ sạch được nhắc đến nhiều, theo nhiều nhà nghiên cứu nhận xét thì yếu tố “công nghệ” trong công nghệ sạch là khá cao Việc áp dụng công nghệ sạch, giống như sự đổi mới công nghệ Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy trình sản xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào Đối với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm
Trang 33thiểu các tác động môi trường và an toàn của sản phẩm trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng và loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải ngay
từ khâu đầu của quy trình sản xuất
Công nghệ sạch được đánh giá là công nghệ hướng vào sự phát triển bền vững - Kinh doanh bền vững Công nghệ sạch sẽ giúp con người giảm bớt việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nó có thể áp dụng trong các lĩnh vực như năng lượng, vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, không khí hay tài nguyên nước
Trong lĩnh vực Nông nghiệp thì nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp Điều đó sẽ giúp giảm thiểu tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khỏe và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật nuôi và con người
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi,
có hai khái niệm được nhắc đến nhiều nhất và có vẻ gần giống nhau đó là
“công nghệ xanh” (green Technology) và “công nghệ sạch” (Clearn Technogogy) Về bản chất, “Công nghệ xanh” và “Công nghệ sạch” là những khái niệm có tương tự nhau, đều là các công nghệ thân thiện với môi trường, bảo vệ môi trường Đó là các giải pháp về công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến công nghệ để nhằm tiết kiệm nhiên liệu, bảo toàn nước, năng lượng trong quá trình sản xuất, tận dụng các năng lượng tự nhiên như gió, năng lượng mặt trời trong quá trình sản xuất và phục vụ nhu cầu của xã hội Như vậy xét về mục đích của hai khái niệm trên là giống nhau Cả hai khái niệm trên đều có thể sử dụng chung trong khái niệm công nghệ “thân thiện với môi trường” Và trên thực tế những công nghệ thân thiện với môi trường đó đã xuất hiện trong
Trang 34Luật Chuyển giao công nghệ, đó là một trong số các công nghệ được ưu tiên
và khuyến khích chuyển giao
Công nghệ sạch thực chất là những công nghệ đã được đổi mới, cải tiến, trở thành các giải pháp, quy trình mà trong quá trình sản xuất có thể tiết kiệm nhiên liệu, diện tích sử dụng… đến mức tối đa, bảo toàn được nước trong quá trình sản xuất mà đầu ra là các sản phẩm an toàn với môi trường và
có thể tiếp tục tái tạo sử dụng
Công nghệ sạch, có thể trước đó chỉ là một công nghệ đơn thuần Ví dụ: Công nghệ về hầm Biogas xử lý phân hữu cơ chuyển hóa thành khí đốt Tuy nhiên do công nghệ trên hiện có nhiều hạn chế, đặc biệt là chất thải, không gây ô nhiễm và hoàn toàn có thể tái sử dụng Như vậy, công nghệ mới trên được gọi là “công nghệ sạch”
Công nghệ xanh về cơ bản đó là những công nghệ tiên tiến, công nghệ phát triển với các tính năng thông minh Trong lĩnh vực năng lượng, đó là các thiết bị công nghệ cao, có thể tích hợp và chuyển hóa được nhu cầu sử dụng năng lượng từ năng lượng mặt trời, năng lượng gió, hệ thống quản lý điện thông minh (tự bật, tắt, tự điều chỉnh theo nhu cầu con người), hệ thống xử lý nước thải, chất thải có thể tái tạo sử dụng, hoặc trong giao thông là các công nghệ sử dụng động cơ năng lượng mới, và hệ thống điều hành giao thông thông minh
1.3 Chế biến phụ phẩm nông nghiệp
Trang 35thực phẩm… Các phế phẩm nông nghiệp chủ yếu là vỏ trấu, mùn cưa, bã mía, cùi ngô, bẹ ngô, xơ dừa, rơm, rạ…
Trong chăn nuôi, nguồn gốc phát sinh phế phẩm nông nghiệp từ phân, nước tiểu của vật nuôi
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: phế phẩm là sản phẩm hỏng, thường bị
loại bỏ vì không đúng quy cách, phẩm chất đã quy định, ví dụ loại bỏ phế
phẩm, hàng phế phẩm…
Việc sử dụng thuật ngữ “phế phẩm nông nghiệp” có thể dẫn tới hiểu theo một nghĩa: đồ cần loại bỏ, từ đó có thể hiểu phế phẩm nông nghiệp là đồ cần loại bỏ Thực tế thì không phải như vậy, rơm rạ từ trồng trọt, phân từ chăn nuôi… trong nông nghiệp không phải là “đồ bỏ đi” mà chúng có thể được chế biến để trở thành nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp
Từ đó, Luận văn không sử dụng thuật ngữ “phế phẩm nông nghiệp” mà
sử dụng thuật ngữ “phụ phẩm nông nghiệp”
Luận văn định nghĩa: “phụ phẩm nông nghiệp” là một thuật ngữ dùng
để chỉ chất phụ thu được trong trồng trọt và chăn nuôi, c thể chế biến thành sản phẩm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp
1.3.2 Phụ phẩm nông nghiệp từ trồng trọt
Phụ phẩm nông nghiệp từ trồng trọt có từ các nguồn chủ yếu: lúa, ngô
và từ các cây lương thực và cây công nghiệp khác
Phụ phẩm nông nghiệp từ lúa gạo gồm có rơm, rạ, vỏ trấu Rơm, rạ là phần thân và gốc của cây lúa sau khi tách hết phần hạt Vỏ trấu và phần vỏ bên ngoài của hạt lúa Hạt lúa sau khi tách phần vỏ thành hạt gạo Việt Nam
là quốc gia đứng thứ hai về sản xuất lúa gạo sau Thái Lan Do đó, hàng năm lượng rơm, rạ và vỏ trấu thải ra ngoài là rất lớn
Hiện nay, một phần nhỏ rơm rạ được sử dụng làm phân bón sinh học, còn lại chủ yếu là đốt bỏ ngay trên đồng ruộng gây ra lãng phí và ảnh hưởng
Trang 36tới môi trường Nếu biết tận dụng nguồn rơm rạ này sẽ có ý nghĩa về nhiều mặt Theo thống kê mỗi năm Việt Nam sản xuất ra xấp xỉ 40 triệu tấn sinh khối từ phụ phẩm lúa gạo, bao gồm 32 triệu tấn rơm rạ và 8 triệu tấn trấu Tổng năng lượng lý thuyết tiềm năng từ phụ phẩm lúa gạo tương đương 13,34 Mtoe (trong đó toe là đơn vị tính năng lượng lý quy đổi tương đương với 1 tấn dầu) So với tổng tiêu thu năng lượng sơ cấp của Việt Nam năm 2010 là
47 Mtoe, thì riêng rơm rạ và trấu có thể đáp ứng được 28% nhu cầu Tuy có nguồn sinh khối dồi dào, nhưng thiếu sự quan tâm, do đó trong những năm gần đây, sau mỗi vụ thu hoạch lúa, tại các đô thị lớn lại chứng kiến cảnh khói bay mịt mù từ những cánh đồng ven đó Căn nguyên từ việc người nông dân đốt rơm rạ Hiện tượng này càng ngày càng phổ biến
Người dân cho rằng việc đốt rơm rạ lấy tro bón ruộng sẽ bổ sung dinh dưỡng cho đất Nhưng thực tế, việc đó không cải thiện tình trạng đất là bao nhiêu thậm chí ảnh hưởng tới môi trường và tài nguyên đất tại nơi đốt Nó khiến cho đất tại vị trí đốt bị nóng, ảnh hưởng tới sinh vật trong đất, một số thành phần cơ giới của đất bị thay đổi khiến cho đất bị trai lì Nguồn dinh dưỡng bị mất dần, năng suất cây trồng giảm Bên cạnh đó, khói tỏa ra từ những nơi đốt ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong khu vực và những vùng phụ cận Không khí ngột ngạt, gây ra hiện tượng khó thở Không chỉ có như vậy,việc đốt rơm rạ còn ảnh hưởng tới con người và phương tiện tham gia giao thông trên đường Trên một số tuyến đường quốc lộ, đường liên huyện, liên xã…bà con nông dân chất rơm rạ thành đống để đốt Khói mù mịt, giảm tầm nhìn của người tham gia giao thông và không biết bao nhiêu vụ tai nạn thương tâm đã xảy ra trong điều kiện như vậy
Trong thành phần của rơm, rạ là xenlulozo và hemixenlulozo và một số hợp chất hữu cơ khác, khi bị đốt, những chất này bị phân hủy tạo thành CO2, gây ra ôi nhiễm môi trường khí CO2là một trong những chất khí cơ bản gây
Trang 37ra hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân của việc làm cho Trái Đất nóng lên Hằng năm, sau mỗi mùa vụ không biết bao nhiêu tấn CO2 được thải vào môi trường
vì nguyên nhân trên
Vỏ trấu trước kia thường hay được sử dụng làm chất đốt hay trộn với đất sét làm vật liệu xây dựng… Không những trấu được sử dụng làm chất đốt trong sinh hoạt mà còn được sử dụng như một nguồn nguyên liệu thay thế cung cấp nhiệt trong sản xuất với giá rất rẻ Vỏ trấu có nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, hai vựa lúa lớn nhất cả nước Chúng thường không được sử dụng hết nên phải đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy Tại đồng bằng sông Cửu Long, các nhà máy chế biến lúa gạo thường đặt ngay ven sông, do đó vỏ trấu thường đổ xuống sông, rạch Trấu trôi lềnh bềnh khắp nơi, chìm xuống đáy gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt người dân dọc hai bên sông
Phụ phẩm nông nghiệp từ ngô bao gồm lõi ngô, bẹ ngô, lá và thân ngô Lõi ngô là phần bắp ngô sau khi tách hết hạt, bẹ ngô hay còn gọi là vỏ ngô, áo ngô, đó chính là phần vỏ bọc bên ngoài bắp ngô Thông thường, lõi ngô, lá và thân ngô, sau khi thu hoạch được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi gia súc khi còn tươi hoặc làm chất đốt khi thân và lá đã khô Nhiệt lượng mà thân và lá ngô cung cấp tương đối lớn Nhưng hiện nay, hầu hết các hộ gia đình nông nghiệp rất ít sử dụng nguồn nhiên liệu này
Ngoài phụ phẩm nông nghiệp còn có các nguồn phế phẩm khác từ cây mía, cây cà phê, lạc, đậu tương, dừa… Hàng năm, lượng phụ phẩm nông nghiệp từ những nguồn này thải vào môi trường một lượng tương đối lớn, trong khi đó, có thể tái chế thành dạng nguyên liệu hay nhiên liệu khác phục
vụ sinh hoạt và đời sống con người vừa nâng cao chất lượng cuộc sống vừa giảm thiểu lãng phí
Trang 381.3.3 Phụ phẩm nông nghiệp từ chăn nuôi
Trong những năm gần đây, tình hình chăn nuôi của nước ta phát triển mạnh, nhưng do quy hoạch chưa tập trung và nhận thức về bảo vệ môi trường của các hộ chăn nuôi còn hạn chế nên hiện nay môi trường nước, môi trường không khí ở các vùng chăn nuôi đang ở mức báo động Các trang trại và một
số hộ chăn nuôi thải chất thải làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt, mùi hôi thối sinh ra gây bức xúc đến một số người dân (chủ yếu là chăn nuôi lợn)
Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã thừa nhận, chăn nuôi đang được coi là một ngành gây ô nhiễm lớn, thậm chí lớn hơn mức gây ô nhiễm của ngành vận tải Chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra tới 65% lượng N2O trong khí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO2 Động vật nuôi còn thải ra 9% lượng khí
CO2 toàn cầu, 37% lượng khí CH4 - khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khí CO2 Điều này có nghĩa là chăn nuôi gia súc đã được khẳng định là một tác nhân làm tăng hiệu ứng nhà kính
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn thì không chỉ làm ô nhiễm không khí mà còn ảnh hưởng xấu tới nguồn nước và đất đai Dịch bệnh chưa được khống chế chăn nuôi không tuân thủ theo các quy trình và hầu như chưa có công nghệ xử lý chất thải nào triệt để Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn ở nước ta
Ví dụ, tại một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc: Thái Nguyên, Bắc Giang và Vĩnh Phúc có nhiều trang trại gà, lợn chăn nuôi với quy mô công nghiệp Hiện tại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tới 70 trang trại chăn nuôi lợn và 150 trang trại chăn nuôi gà có quy mô 1.000-3.000 con Hàng năm các trang trại chăn nuôi thải ra khoảng trăm nghìn tấn phân Phụ phẩm chăn nuôi chưa được xử lý khoa học Do vậy có nguy cơ lây lan dịch bệnh (cúm H5N1 ở
Trang 39gà tai xanh ở bệnh lợn) là rất lớn Với tốc độ phát triển chăn nuôi hiện nay nếu không thu gom và xử lý chế biến tập trung thành phân bón thì tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp là rất lớn
1.3.4 Vai trò của chế biến phụ phẩm nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù nông nghiệp được cơ giới hóa, được chú trọng nhưng nó để lại không ít hệ quả ảnh hưởng tới môi trường Trước kia, khi chưa cơ gới hóa trong nông nghiệp, các phế phẩm nông nghiệp như rơm, rạ, bẹ ngô…được tái sử dụng Bẹ ngô được sử dụng làm chất đốt trong gia đình Rơm và rạ vừa được sử dụng làm chất đốt, vừa được dùng là thức ăn trong chăn nuôi đồng thời cũng được dùng làm nguyên liệu ủ phân hữu cơ… Người nông dân có thể tận dụng nguồn phế phẩm nông nghiệp vào nhiều mục đích khác nhau
Ngày nay, đời sống con người càng tiến bộ hơn, các sản phẩm cung cấp cho nông nghiệp ngày càng nhiều Con người không còn chú trọng đến việc tái sử dụng những phế phẩm nông nghiệp, vì thế những phế phẩm nông nghiệp này thường bị bỏ lại ngay tại đồng ruộng sau khi thu hoạch, thậm chí
bị đốt ngay tại ruộng gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường đất, môi trường khí và ảnh hưởng các vấn đề nhân sinh xã hội khác Ví dụ trong mùa
vụ thu hoạch lúa Do được cơ giới hóa, dùng máy gặt, gặt lúa ngay trên đồng ruộng Phế phẩm từ lúa như rơm và rạ được bỏ lại, thời gian sau sẽ đốt bỏ Hiện tượng khói lan tỏa khắp nơi vừa ảnh hưởng tới môi trường, vừa ảnh hưởng tới sức khỏe con người và thậm chí gây mất an toàn giao thông
1.3.5 Chính sách chuyển giao công nghệ xanh để chế biến phụ phẩm nông nghiệp
Với đặc điểm của một nước nông nghiệp, hằng năm lượng phụ phẩm trong quá trình sản xuất nông nghiệp là rất lớn Bên cạnh đó, phụ phẩm trong
Trang 40chế biến các loại cây công nghiệp, sản xuất hoa quả, thực phẩm… cũng đa dạng Với tiềm năng dồi dào như vậy, nếu biết tận dụng, tái chế thì không những tạo thêm nhiều điều kiện việc làm cho nhiều lao động nông thôn mà còn góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường
Nguồn phụ phẩm nông nghiệp chủ yếu tập trung ở nông thôn, nơi trực tiếp sản xuất nông nghiệp, trong khi đó nguồn thu mua chủ yếu chủ yếu tập trung ở khu công nghiệp, thành phố hay khu đông dân cư Đặc thù của sản xuất nông nghiệp ở nước ta mang tính nhỏ lẻ, phân tán nên việc thu gom, phân loại và tái chế còn nhiều khóa khăn Các cơ sở sản xuất, chế biến chủ yếu tập trung vào dây chuyền sản xuất, ít quan tâm tới các khâu khác Do đó, những cơ sở này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn gây ra tình trạng lãng phí Nhiều nơi còn xử lý bằng biện pháp chôn lấp, đốt bỏ, đổ xuống ao
hồ
Nhưng không phải lúc nào và ở đâu người ta cũng tận dụng hết các mặt ưu việt của cây lúa Đặc biệt, khi nền kinh tế thị trường ngày càng đi lên, mức sống của người nông dân ngày càng được cải thiện cộng với việc lao động trong ngành nông nghiệp có xu hướng giảm và già hoá thì cây lúa dường như chỉ được biết đến với chức năng chính là cung cấp gạo, nguồn lương thực nuôi sống họ Còn các chức năng khác chỉ được duy trì và thực hiện một cách cục bộ ở một số địa phương, một số trang trại Thực tế lợi ích từ tàn dư cây lúa đem lại cho người nông dân ai cũng biết nhưng nếu so với lợi ích hiện tại mà họ có thì nó quá thấp và đôi khi không thể hiện rõ nên nó dễ dàng bị người nông dân bỏ qua
Cũng chính vì lý do đó mà trong những năm gần đây việc đốt rơm rạ, rác thải trong nông nghiệp gây khói bụi, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc Cụ thể như sản phẩm rơm rạ nông dân thu hoạch xong bỏ ngoài đồng, trên các trục đường giao thông và sau đó nông dân đem đốt lấy tro gây
ô nhiễm môi trường về khói bụi, trên trục đường nhựa làm chẩy nhựa gây