1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

76 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 840,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: - Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2018 của Nguyễn Lê Vũ, Trường Đại học Luật – Đại học Huế với đề t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NHƯ QUỲNH

XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NHƯ QUỲNH

XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Tuyến Các kết quả được

trình bày trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu

nào khác Các số liệu, trích dẫn trong Luận văn mang tính chất tham khảo và

được trích từ nguồn thông tin chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn

thành các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định

của Học viện Khoa học Xã hội – Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Vì vậy, tôi đề nghị Học viện Khoa học Xã hội – Viện hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam xem xét, quyết định cho tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN NHƯ QUỲNH

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 61.1 Khái niệm, đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 61.1.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 61.1.2 Đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 81.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 101.2.1 Căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 101.2.2 Quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 13Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT 172.1 Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 172.1.1 Thực trạng quy định về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 172.1.2 Thực trạng quy định về phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 192.1.3 Thực trạng quy định về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 232.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt 26

Trang 5

2.2.1 Khái quát về tình hình xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 272.2.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt 292.2.3 Những bất cập và khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt 32Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 493.1 Những định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 493.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 493.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 573.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 593.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 593.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 61KẾT LUẬN 64DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Nghị định 11 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng

02 năm 2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định

số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm

Nghị định 163 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29

tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm

Nghị quyết 42 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017

của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu

NHTM Ngân hàng thương mại

TCTD Tổ chức tín dụng

VAMC Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản

của các tổ chức tín dụng Việt Nam

VCCB Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt

TTLT 16 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN

ngày 06 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên

và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Chi tiết về tình hình dư nợ, nợ quá hạn (NQH) và nợ xấu (NX) tại

VCCB được chia theo nhóm nợ, loại hình qua hai năm 2018-2019 như sau: 29

Bảng 2.2 Tình hình thực tế xử lý tài sản bảo đảm và thu nợ xấu năm 2017,

2018 tại VCCB 32

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với xu thế phát triển mạnh mẽ không ngừng của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã nỗ lực cải cách, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và chính sách pháp luật về tín dụng nói riêng để tạo đà thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo hướng hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu phát triển lành mạnh của nền kinh tế, vấn đề xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng cũng

đã và đang được triển khai một cách mạnh mẽ mà bằng chứng là việc ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng Nghị quyết này đã một lần nữa công

nhận “quyền thu giữ tài sản bảo đảm” để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng

Tuy nhiên, phương thức thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu chỉ thành công trong một số trường hợp hạn hữu, chẳng hạn như trường hợp khách hàng hợp tác, tài sản bảo đảm không có tranh chấp, tài sản bảo đảm là đất trống… Thực

tế những trường hợp này rất ít xảy ra, những vấn đề phổ biến trong quá trình

xử lý tài sản bảo đảm là xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng không hợp tác, trong tình huống này, Tổ chức tín dụng buộc phải khởi kiện khách hàng đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được quyền xử lý tài sản bảo đảm thông qua

cơ quan Thi hành án Điều này sẽ dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của các Tổ chức tín dụng

Từ thực tiễn nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Bản Việt” để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Về tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tìm thấy một số công trình

Trang 9

nghiên cứu khoa học chuyên sâu về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của các ngân hàng thương mại Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

- Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2018 của Nguyễn Lê Vũ, Trường

Đại học Luật – Đại học Huế với đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”;

- Luận văn thạc sĩ năm 2018 của Lương Đình Thí, Học viện khoa học xã

hội – Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam với đề tài: “Thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”;

- Luận văn thạc sĩ luật học năm 2015 của Ngô Ngọc Linh, Khoa Luật –

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội viết về đề tài “Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

là bất động sản qua thực tiễn hoạt động tại các tổ chức tín dụng”;

- Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh năm 2014 của Trần Công Sinh,

Đại học Đà Nẵng với đề tài: “Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Chi nhánh Hải Châu”;

- Bài viết với tựa đề: “Pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo bằng tiền vay

là quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại: Thực trạng và một số khuyến nghị” của TS Đặng Công Tráng (Khoa Luật - Trường Đại học Công

nghiệp Tp Hồ Chí Minh), Phùng Thùy Dương (Giảng viên Trường Đại học Trà Vinh) và TS Hồ Hữu Tuấn (Giảng viên Trường Đại học Công nghiệp Tp

Hồ Chí Minh)

Có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đây đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Tuy nhiên, các công trình này chưa có sự nghiên cứu, liên hệ với thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Bản Việt Vì thế,

Trang 10

công trình nghiên cứu này của tác giả có thể xem là có tính mới, đáp ứng yêu

cầu đối với một luận văn thạc sĩ theo quy định hiện hành

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật

về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng Việt Nam nói chung

và Ngân hàng TMCP Bản Việt nói riêng

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và Ngân hàng TMCP Bản Việt nói riêng

- Nhận diện những quy định có tính mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, lý thuyết liên quan đến giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và Ngân hàng TMCP Bản Việt nói riêng

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận về xử

lý tài sản bảo đảm tiền vay; thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Bản Việt trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên phương pháp phân tích,

Trang 11

so sánh đối chiếu, thống kê tình huống, số liệu thực tiễn từ hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm đưa ra nhận định và góc nhìn bao quát về hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và từ đó,

đề xuất hướng giải quyết tối ưu khi các ngân hàng thương mại thực hiện việc

xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Khi việc nghiên cứu đề tài mang lại tính hiệu quả trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần, giải quyết được những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện thì điều này mang lại những ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng như sau:

Thứ nhất, luận văn góp phần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về

xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại từ những cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật;

Thứ hai, luận văn góp phần hệ thống hóa pháp luật về xử lý tài sản bảo

đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại tạo nên sự thống nhất và đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện

Thứ ba, luận văn góp phần phổ biến kiến thức, giúp các bên có liên quan

trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại hiểu rõ bản chất giao dịch, chức năng và vai trò của mình trong quá trình tham gia vào giao dịch đó Từ đó, các bên có liên quan có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện, tuân thủ, tránh việc vi phạm pháp luật và hạn chế các tranh chấp hoặc rủi

ro pháp lý có thể xảy ra trong quá trình giao dịch

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết Luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và

Trang 12

pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của

ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Bản Việt

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm, đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

“Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay” không phải là một khái niệm được quy định cụ thể trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Để đưa ra định nghĩa thuyết phục về việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay,

có lẽ trước hết cần bắt đầu từ việc làm rõ các khái niệm tiền đề là “tài sản bảo đảm tiền vay” và “giao dịch bảo đảm tiền vay”

Về khái niệm “tài sản bảo đảm”, mặc dù không có một định nghĩa chính thức về TSBĐ nhưng tại Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015, nhà làm luật Việt Nam

đã đưa ra một số dấu hiệu để xác định thế nào TSBĐ, theo đó:

(i) TSBĐ phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu;

(ii) TSBĐ có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được;

(iii) TSBĐ có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai;

(iv) Giá trị của TSBĐ có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm

Bên cạnh việc xác định các dấu hiệu của TSBĐ, nhà làm luật còn đưa ra một số quy định về nghĩa vụ được bảo đảm nhằm làm cơ sở cho việc xác định mối quan hệ giữa giao dịch bảo đảm với nghĩa vụ được bảo đảm Cụ thể là, Điều 293 BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc

Trang 14

toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại Nghĩa

vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa

vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, nghĩa vụ được bảo đảm chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi của khách hàng vay đối với tổ chức tín dụng Nghĩa vụ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng và việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản của bên bảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh Trong trường hợp bên vay không trả được nợ cho tổ chức tín dụng thì TSBĐ sẽ được đưa ra xử lý theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật

Về lý thuyết, giữa TSBĐ và việc xử lý TSBĐ có mối liên hệ mật thiết với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ, nếu TSBĐ đáp ứng tốt các điều kiện theo quy định đối với TSBĐ thì việc xử lý TSBĐ sẽ dễ dàng hơn và hiệu quả hơn Ngược lại, nếu TSBĐ không đáp ứng được hoặc chỉ đáp ứng ở mức độ tối thiểu thì việc xử lý TSBĐ sẽ trở nên khó khăn hơn và thậm chí không thể xử lý được để thu hồi nợ cho NHTM Xử lý TSBĐ chính là việc ngân hàng thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ tiền vay của khách hàng để thu hồi nợ Trong các văn bản pháp luật đã ban hành cho tới thời điểm này, chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa cụ thể và chính xác về xử lý TSBĐ tiền vay

Vậy, về phương diện lý thuyết, có thể định nghĩa như thế nào về thuật

ngữ “xử lý tài sản bảo đảm”?

Như đã đề cập ở trên, hiện tại không có một định nghĩa chính thức nào

Trang 15

trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định về “xử lý tài sản bảo đảm” Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu vấn đề này trong các tài liệu đã

được công bố, tác giả luận văn cho rằng có thể đưa ra khái niệm về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay như sau:

Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là việc các bên tham gia giao dịch bảo đảm áp dụng những cách thức, biện pháp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết

1.1.2 Đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Định nghĩa trên đây cho thấy việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Trên phương diện lý thuyết, do việc bảo đảm tiền vay là nhằm bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ (bên nhận bảo đảm) nên chủ thể tham gia xử lý TSBĐ tiền vay cũng chủ yếu là chủ nợ - với tư cách là bên nhận bảo đảm Tuy nhiên,

do việc xử lý TSBĐ tiền vay còn liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu TSBĐ (bên bảo đảm) nên về lý thuyết, chủ thể này cũng tham gia vào quan hệ xử lý TSBĐ, với mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngoài ra, trong trường hợp có thỏa thuận, các bên có thể thống nhất lựa chọn bên thứ ba để tiến hành các hoạt động xử lý TSBĐ (ví dụ: Trung tâm bán đấu giá tài sản…)

Thứ hai, về thời điểm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Trên nguyên tắc, thời điểm xử lý TSBĐ tiền vay là thời điểm bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng mà bên cho vay không đồng ý cho gia hạn nợ hoặc cơ cấu nợ Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên

Trang 16

thỏa thuận bên nhận bảo đảm có quyền xử lý TSBĐ tiền vay khi bên vay sử dụng vốn sai mục đích, do đó tổ chức tín dụng có quyền thu hồi nợ vay trước hạn và có quyền xử lý TSBĐ để thu hồi đủ số nợ này (cả gốc và lãi)

Việc xác định thời điểm xử lý TSBĐ tiền vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên tham gia giao dịch bảo đảm, bởi lẽ, thời điểm xử lý TSBĐ tiền vay cho phép xác định thời điểm thực hiện quyền của bên nhận bảo đảm và nghĩa vụ của bên bảo đảm đối với TSBĐ

Thứ ba, về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Việc xử lý TSBĐ tiền vay có liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên, trong đó chủ yếu gồm bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm Do vậy, hoạt động này cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, cụ thể là:

(i) Nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm trong quá trình xử lý TSBĐ Nguyên tắc này đòi hỏi việc xử

lý TSBĐ không được gây thiệt hại cho lợi ích của bên bảo đảm (với tư cách là chủ tài sản) cũng như lợi ích của bên nhận bảo đảm (với tư cách là chủ nợ có bảo đảm) Việc chuyển giao tài sản để bán, xác định giá bán, tổ chức bán TSBĐ phải công khai, minh bạch và bám sát cơ chế thị trường nhằm đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên trong giao dịch bảo đảm

(ii) Nguyên tắc xử lý nhanh chóng, kịp thời, giảm thiểu chi phí trong quá trình xử lý tài sản Nguyên tắc này đòi hỏi việc xử lý TSBĐ phải được các bên liên quan tiến hành một cách nhanh chóng, dứt điểm, không kéo dài, đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ đúng trình tự do pháp luật quy định nhằm giảm thiểu chi phí cho các bên trong quá trình xử lý TSBĐ

(iii) Nguyên tắc ưu tiên xử lý TSBĐ theo thỏa thuận của các bên, trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ, không thể thực hiện được thì xử lý theo quy định chung của pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải ưu tiên áp dụng các phương thức xử lý TSBĐ đã được thỏa thuận trong

Trang 17

giao dịch bảo đảm Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng, không thể áp dụng được thì mới xử lý theo các phương thức mà pháp luật

đã quy định nhằm đảm bảo tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên

Trong pháp luật thực định Việt Nam hiện nay, nhà làm luật đã quy định một số nguyên tắc xử lý TSBĐ tại Điều 58 Nghị định số 163 Tuy nhiên, các nguyên tắc này cần được bàn luận thêm ở chương 2 để làm rõ hơn về tính hợp

lý của nó trong quá trình thực hiện trên thực tế

Thứ tư, về phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Việc xử lý TSBĐ tiền vay được thực hiện thông qua các phương thức cơ bản gồm: bán TSBĐ tiền vay cho bên thứ ba để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng; chuyển quyền sở hữu TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để khấu trừ nợ… Suy cho cùng, các phương thức xử lý TSBĐ tiền vay thực chất là biến các TSBĐ thành tiền để thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm hoặc dùng chính TSBĐ để khấu trừ

nợ với bên chủ nợ có bảo đảm

Thứ năm, về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Về bản chất, trình tự, thủ tục xử lý TSBĐ tiền vay chỉ là các bước cần thực hiện để xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật hoặc theo các bên thỏa thuận chứ không phải là thủ tục hành chính vì nó không liên quan đến các cơ quan hành chính nhà nước

1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

1.2.1 Căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Về lý thuyết, việc xử lý TSBĐ tiền vay là những hành vi pháp lý của các bên liên quan như bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, bên thứ ba được ủy quyền hoặc được chỉ định xử lý TSBĐ Do vậy, việc thực hiện các hành vi pháp lý này sẽ phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định để đảm bảo tính hợp pháp

Trang 18

cho việc thực hiện

Trên nguyên tắc, việc xử lý TSBĐ tiền vay được thực hiện dựa trên cơ

sở pháp lý là các quy định pháp luật và các thỏa thuận giữa bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm trong hợp đồng bảo đảm về vấn đề xử lý TSBĐ tiền vay Về

lý thuyết, do việc xử lý TSBĐ tiền vay vốn dĩ liên quan đến quyền lợi tư của các bên (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm) nên cần ưu tiên xử lý theo thỏa thuận của các bên, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì mới xử lý theo quy định của pháp luật

Phần dưới đây của luận văn sẽ phân tích rõ hơn về các căn cứ này

Trước hết, về căn cứ pháp lý là hợp đồng bảo đảm tiền vay

Hợp đồng bảo đảm tiền vay là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ bảo đảm nghĩa vụ dân sự phát sinh giữa bên bảo nhận bảo đảm là ngân hàng với bên bảo đảm (có thể là người vay hoặc người thứ ba) Đây chính là cơ sở pháp

lý chủ yếu để thực hiện việc xử lý TSBĐ, bởi lẽ trong hợp đồng này các bên thường thỏa thuận rõ về các trường hợp phải xử lý TSBĐ; điều kiện xử lý TSBĐ; quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình xử lý TSBĐ; các phương thức xử lý TSBĐ; thứ tự ưu tiên thanh toán từ tiền bán TSBĐ; hậu quả pháp lý của việc xử lý TSBĐ; cách thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc xử lý TSBĐ tiền vay

Trong quá trình xử lý TSBĐ tiền vay, các bên phải ưu tiên xử lý TSBĐ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký kết, bao gồm thỏa thuận về:

(i) các trường hợp xử lý TSBĐ;

(ii) điều kiện xử lý TSBĐ;

(iii) quyền nghĩa vụ của các bên trong việc xử lý TSBĐ;

(iv) các phương thức xử lý TSBĐ; và

(v) thứ tự ưu tiên thanh toán từ tiền bán TSBĐ

Trang 19

Thứ hai, về căn cứ pháp lý là quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo

đảm tiền vay

Pháp luật quy định một số vấn đề cơ bản về xử lý TSBĐ tiền vay để làm căn cứ cho việc xử lý TSBĐ trong trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm không có thỏa thuận về vấn đề này trong hợp đồng bảo đảm tiền vay Thông thường, các quy định cơ bản về xử lý TSBĐ tiền vay thường được pháp luật quy định bao gồm:

(i) Các quy định về nguyên tắc xử lý TSBĐ tiền vay

Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay pháp luật quy định các bên phải tuân thủ một số nguyên tắc khi xử lý TSBĐ tiền vay, cụ thể là: Nguyên tắc thoả thuận; nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay; nguyên tắc xử lý TSBĐ công khai, khách quan; nguyên tắc xử lỷ TSBĐ nhanh chóng

(ii) Các quy định về những trường hợp xử lý TSBĐ tiền vay

Ở Việt Nam, Điều 299 BLDS 2015 quy định các bên được xử lý TSBĐ tiền vay trong những trường hợp sau: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; trường hợp khác

do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định

(iii) Các quy định về phương thức xử lý TSBĐ tiền vay

Pháp luật Việt Nam đã quy định một số phương thức xử lý TSBĐ tiền vay như:

Trang 20

thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ; và d) các phương thức khác do các bên thoả thuận

Ngoài các trường hợp xử lý tài sản nêu trên, các bên có quyền xử lý tài sản theo thỏa thuận mà không phụ thuộc vào yếu tố vi phạm hoặc thời hạn của nghĩa vụ được bảo đảm Ví dụ: Ngân hàng nhận thế chấp của khách hàng tài sản và thỏa thuận xử lý TSBĐ, theo đó, ngân hàng nhận chuyển nhượng TSBĐ

đó của khách hàng và thanh toán lại số tiền chênh lệch cho khách hàng mà không phụ thuộc vào yếu tố vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc thời hạn trả

nợ hoặc trường hợp pháp luật quy định TSBĐ có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến

bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử

lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó [3, Điều 30]

(iv) Các quy định về trình tự, thủ tục xử lý TSBĐ tiền vay

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay, pháp luật đã có quy định tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục xử lý TSBĐ tiền vay bao gồm những bước nào, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan ra sao và hậu quả pháp lý của các thủ tục đó trong quá trình xử lý TSBĐ tiền vay

1.2.2 Quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Về lý thuyết, quan hệ pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay là quan hệ phát sinh giữa bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm và/hoặc bên thứ ba trong quá trình xử lý TSBĐ tiền vay Quan hệ pháp luật này có thể được mô tả bởi các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật

về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM chính là sự kiện pháp lý đã được ghi nhận trong hợp

Trang 21

đồng bảo đảm tiền vay hoặc được ghi nhận trong pháp luật thực định Về thực chất, những sự kiện pháp lý này chính là các trường hợp được xử lý TSBĐ tiền vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định, chẳng hạn như: Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định

Thứ hai, về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm

tiền vay của ngân hàng thương mại

Trên nguyên tắc, quan hệ pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay có thể phát sinh giữa các chủ thể sau đây: Bên bảo đảm; bên nhận bảo đảm; bên thứ ba được xác định có quyền tham gia xử lý TSBĐ

Bên bảo đảm có quyền tham gia quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay là bởi vì, chính họ là chủ sở hữu của TSBĐ, do đó họ đương nhiên có quyền tham gia vào quan hệ xử lý TSBĐ để thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến TSBĐ, ví dụ như: có nghĩa vụ chuyển giao TSBĐ cho bên có quyền xử lý TSBĐ để xử lý, tham gia vào việc định giá TSBĐ cũng như việc bán TSBĐ nhằm bảo vệ các quyền, lợi ich hợp pháp của mình

Bên nhận bảo đảm (tổ chức tín dụng) có quyền tham gia quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay là bởi vì, TSBĐ được đưa ra xử lý là tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của bên vay đối với chính bên bảo đảm Do vậy, họ đương nhiên có quyền tham gia quan hệ xử lý TSBĐ để thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình phát sinh từ việc xử lý TSBĐ, ví dụ như: quyền yêu cầu bên bảo đảm hoặc bên cầm giữ tài sản chuyển giao TSBĐ để xử lý; quyền tham gia vào việc định giá TSBĐ trước khi xử lý; quyền trực tiếp xử lý TSBĐ hoặc thuê bên thứ ba xử lý TSBĐ (chẳng hạn như trung tâm bán đầu giá tài sản);

Trang 22

quyền được hưởng các khoản thanh toán từ tiền bán TSBĐ

Bên thứ ba được chỉ định tham gia xử lý tài sản về thực chất không có quyền lợi nào trực tiếp liên quan đến TSBĐ Tuy nhiên, họ có thể sẽ được pháp luật chỉ định hoặc các bên liên quan (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm) thỏa thuận giao quyền tổ chức việc xử lý TSBĐ nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch và cân bằng lợi ích giữa bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm trong quá trình xử lý TSBĐ

Thứ ba, về nội dung của quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền

vay của ngân hàng thương mại

Về lý thuyết, nội dung của quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM chính là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay, bao gồm quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm; quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm; quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba được chỉ định xử lý TSBĐ Thực tế cho thấy, các quyền nghĩa vụ này thường được pháp luật của các nước ghi nhận và các bên cũng có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm tiền vay

để có căn cứ pháp lý cho việc thực hiện trong quá trình xử lý TSBĐ tiền vay

Chương 2 tiếp theo của luận văn sẽ phân tích rõ hơn về thực trạng các nhóm quy phạm pháp luật này ở Việt Nam hiện nay để từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Trên cơ

sở đó, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn liền với xử lý nợ xấu của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

Kết luận chương 1

Tác giả muốn trình bày chi tiết những vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm là một trong những cách thức để các ngân hàng thương mại vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả và an toàn nhằm đảm bảo nguồn tín dụng đã cấp cho khách

Trang 23

hàng không bị thất thoát, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng Việc nắm bắt tường tận những nguyên lý cơ bản trong việc nhận bảo đảm bằng tài sản và xử lý tài sản bảo đảm một cách rõ ràng và chặt chẽ để có thể áp dụng vào hệ thống quy định nội bộ của ngân hàng thương mại, áp dụng các quy định của pháp luật đối với khách hàng và những người có liên quan để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa

vụ dân sự của họ đối với ngân hàng, đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngân hàng, không gây bất lợi đến chủ sở hữu tài sản bảo đảm và phù hợp quy định pháp luật

Đồng thời, việc xem xét những vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại tại chương này này cũng là tiền đề để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu, tổng hợp những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại trong chương tiếp theo, từ đó tìm ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay trong chương 3

Trang 24

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT 2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

2.1.1 Thực trạng quy định về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Theo quy định của BLDS 2015, việc xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM được thực hiện dựa trên nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên có liên quan (bên bảo đảm,

bên nhận bảo đảm) về việc xử lý tài sản bảo đảm

Đây là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xử lý TSBĐ tiền vay Theo nguyên tắc này, việc xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên Nếu không có thỏa thuận thì các bên mới thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm

Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch,

bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, của cá nhân, tổ chức có liên quan

Nguyên tắc này được thiết lập nhằm bảo vệ lợi ích của bên bảo đảm có tài sản bị đưa ra xử lý, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa quyền của bên nhận bảo đảm (NHTM) và bên bảo đảm, trong đó, nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay là mục tiêu mà pháp luật hướng tới

Thứ ba, nguyên tắc xử lý TSBĐ phải đảm bảo tính kịp thời, nhanh

chóng, tiết kiệm và giảm thiểu chi phí cho các bên liên quan

Đây là nguyên tắc rất cần thiết trong việc xử lý TSBĐ tiền vay, nếu được

Trang 25

tuân thủ sẽ hạn chế được thiệt hại trong trường hợp TSBĐ bị hư hại, giảm giá trị hoặc thậm chí làm tăng chi phí trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm

Thứ tư, nguyên tắc xác định rõ và thực hiện đúng thẩm quyền xử lý tài

sản bảo đảm

Theo Nghị định số 163 và Nghị định số 11, nhà làm luật đã quy định người xử lý TSBĐ là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác Căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm, người xử lý TSBĐ có quyền tiến hành xử lý TSBĐ mà không cần phải có văn bản ủy quyền

xử lý tài sản của bên bảo đảm

Thứ năm, nguyên tắc xử lý TSBĐ phải trên cơ sở những nội dung đã

thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã được ký kết giữa NHTM với khách hàng vay và/hoặc (các) bên bảo đảm để thu hồi nợ, không phải là hoạt động kinh doanh tài sản bảo đảm Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định xử lý TSBĐ là bất động sản, NHTM phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định của ngân hàng theo quy định của pháp luật [16, Điều 132]

Gần đây, nhà làm luật đã ghi nhận tại Điều 3 Nghị quyết 42 về việc thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về một số nguyên tắc xử lý TSBĐ như sau:

(i) Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

(ii) Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và

Trang 26

giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống;

(iii) Nguyên tắc không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể nhận thấy đây là những nguyên tắc cơ bản và mang tính tổng quan khi xử lý TSBĐ

2.1.2 Thực trạng quy định về phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Theo quy định hiện hành, việc xử lý TSBĐ tiền vay sẽ được thực hiện theo những phương thức cơ bản sau:

Thứ nhất, phương thức bán tài sản bảo đảm cho bên thứ ba

Việc bán tài sản được thực hiện bằng một trong hai phương thức: Một

là, bên nhận bảo đảm hoặc người được ủy quyền chủ động bán TSBĐ (bán không thông qua bên thứ ba) hoặc bán đấu giá TSBĐ (bán thông qua bên thứ

ba là doanh nghiệp đấu giá tài sản) Đối với việc bán TSBĐ qua đấu giá thì thực hiện theo pháp luật về bán đấu giá tài sản

Đối với việc bán tài sản không qua đấu giá, thực tế khi thực hiện theo quy định tại Nghị định 163 đã phát sinh vướng mắc như sau: nếu các bên không thỏa thuận về giá bán TSBĐ tại hợp đồng bảo đảm thì khi bán TSBĐ sẽ xác định giá bán như thế nào TTLT 16 (Điều 10) quy định về cách thức xác định giá bán TSBĐ trong trường hợp bán tài sản không qua đấu giá như sau: ưu tiên ghi nhận thỏa thuận của các bên, trường hợp các bên không thỏa thuận được giá bán TSBĐ thì ưu tiên bên bảo đảm có quyền chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản Nếu bên bảo đảm không chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá thì bên nhận bảo đảm có quyền chỉ định cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản

Trang 27

Trong trường hợp không bán được TSBĐ theo giá định giá của cơ quan,

tổ chức có chức năng thẩm định giá thì bên nhận bảo đảm được quyền hạ giá bán tài sản Việc hạ giá bán tài sản thực hiện liên tục ba (03) lần nhưng mỗi lần

hạ giá bán tài sản không được quá mười phần trăm (10%) giá đã định và phải cách nhau ít nhất là ba mươi ngày (30) ngày đối với bất động sản và mười lăm (15) ngày đối với động sản

Sau ba (03) lần liên tục hạ giá mà vẫn không bán được TSBĐ thì bên nhận bảo đảm được nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ Giá trị TSBĐ trong trường hợp này là mức giá của lần hạ giá cuối cùng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Thứ hai: phương thức bên nhận bảo đảm nhận chính TSBĐ để thay thế

cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm

Để góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc trên thực tế xử lý tài sản bảo đảm, Nghị định số 11 đã bổ sung quy định về việc xử lý TSBĐ theo phương thức này như sau:

(i) Các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản để có cơ sở xác định giá trị của TSBĐ;

(ii) Trong trường hợp giá trị của TSBĐ lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

(iii) Bên nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ phải xuất trình văn bản chứng minh quyền được xử lý TSBĐ và kết quả xử lý TSBĐ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng TSBĐ từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm

Tuy nhiên, Nghị định số 11 không quy định các bên phải ký kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng trong trường hợp nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và về bản chất việc nhận chính TSBĐ

Trang 28

để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm là biện pháp cấn trừ nợ, khác với việc mua bán, chuyển nhượng tài sản Thực tế cho thấy, có nhiều cơ quan công chứng, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản yêu cầu TCTD phải xuất trình hợp đồng mua bán tài sản với chủ sở hữu tài sản thì mới làm thủ tục công chứng, sang tên cho TCTD

Xuất phát từ vướng mắc thực tế này, Thông tư liên tịch số 16 đã quy định

rõ thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng) Theo đó, hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận khác về việc nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm được sử dụng thay thế cho hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng TSBĐ

Thứ ba, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ

người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ

Do quyền đòi nợ là một loại tài sản đặc biệt nên Điều 59 Nghị định 163

về các phương thức xử lý TSBĐ theo thỏa thuận đã dành riêng khoản 3 để quy định về phương thức xử lý TSBĐ này Theo đó, bên nhận thế chấp quyền đòi

nợ nhận các khoản tiền được hiểu là giá trị của khoản nợ đến hạn hoặc tài sản

từ người thứ ba (người có nghĩa vụ trả nợ) Như vậy, phương thức bán trực tiếp TSBĐ sẽ không phù hợp khi áp dụng để xử lý TSBĐ là quyền đòi nợ, bởi vì dù tài sản là quyền đòi nợ được thế chấp nhưng chính đối tượng của quyền đòi nợ tức là khoản tiền sẽ thu được trong tương lai khi đến hạn Bên nhận bảo đảm

có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ trả nợ chuyển giao các khoản tiền hoặc tài sản khác

Trong trường hợp quyền đòi nợ được thế chấp đến hạn trước nghĩa vụ được bảo đảm thì nhà làm luật đã quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 22 Nghị

định 163 như sau: bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền từ chối thanh toán cho bên nhận thế chấp nếu bên nhận thế chấp không cung cấp thông tin về việc thế chấp

Trang 29

quyền đòi nợ cho bên có nghĩa vụ trả nợ Như vậy, nếu bên nhận thế chấp thận trọng và đã thực hiện việc thông báo này thì sẽ được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ thanh toán nợ cho mình Tuy vậy, Điểm a, Khoản 2, Điều 22, Nghị định 163 lại giới hạn việc thực hiện quyền ưu tiên thanh toán này của bên nhận thế chấp quyền đòi nợ ở mỗi một trường hợp là khi đến hạn mà bên có

nghĩa vụ trả nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm đến hạn trước quyền đòi nợ được thế chấp thì nhà làm luật đã quy định tại Điểm a Khoản 2 và 3 Điều 22 Nghị định 163 như sau: bên nhận thế chấp quyền đòi nợ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán cho mình khi đến hạn mà bên có nghĩa vụ (bên thế chấp) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và bên có nghĩa

vụ trả nợ phải thực hiện việc thanh toán cho bên nhận thế chấp Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm và quyền đòi nợ được thế chấp đến hạn cùng một lúc thì đương nhiên việc áp dụng quy định này không đặt ra vấn đề gì Tuy vậy không phải lúc nào thời điểm đến hạn của nghĩa vụ được bảo đảm và thời điểm đến hạn của quyền đòi nợ cũng trùng nhau

Trường hợp lãi phát sinh từ quyền đòi nợ được thế chấp, theo quy định Điều 174 BLDS 2005, Điều 107 BLDS 2015, quyền tài sản không được liệt kê trong danh sách bất động sản nên áp dụng nguyên tắc loại trừ, quyền tài sản (trong đó có quyền đòi nợ) đều là động sản

Như vậy, khi áp dụng Khoản 1 Điều 342 của BLDS 2005, Điều 318 BLDS 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên nhận thế chấp sẽ được nhận cả nợ gốc và tiền lãi của quyền đòi nợ nhằm thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm Khi quy định về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền, BLDS không quy định rõ thứ tự việc thanh toán khoản gốc và khoản lãi của nghĩa vụ được bảo đảm trong trường hợp thanh toán từng phần tức là các khoản tiền thu được

từ việc xử lý quyền đòi nợ không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ được bảo

Trang 30

đảm BLDS chỉ quy định trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận bảo đảm theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có)

2.1.3 Thực trạng quy định về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Trong BLDS năm 2015, nhà làm luật đã quy định cơ bản một số trình tự, thủ tục mà các NHTM cần tuân thủ trước và trong khi thực hiện xử lý TSBĐ

để thu hồi nợ như sau:

Thứ nhất, thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Điều 300, BLDS 2015 quy định: trừ trường hợp TSBĐ

có nguy cơ bị hư hỏng, về nguyên tắc “trước khi xử lý TSBĐ, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý TSBĐ cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác” Vấn đề ở đây là cần

phải hiểu “thời hạn hợp lý” là bao nhiêu ngày? Có sự khác biệt khi TSBĐ là động sản và khi TSBĐ là bất động sản hay không? Liệu các bên có thể thỏa thuận rõ một thời hạn thông báo trong hợp đồng bảo đảm? Hơn nữa, khoản 2,

Điều 300 quy định “trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử

lý TSBĐ mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác” Dù quy định này không nêu rõ liệu nếu không thực hiện

việc thông báo về việc xử lý TSBĐ thì sẽ có tác động nào đến việc xử lý TSBĐ nhưng có thể nhận định rằng, việc không thông báo không ảnh hưởng đến quá trình xử lý bảo đảm và ngân hàng chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu như việc không thực hiện việc thông báo này dẫn tới thiệt hại cho các bên liên quan Trên thực tế khi thực hiện thủ tục thông báo trước theo quy định này, các NHTM gặp không ít khó khăn Do đa phần khi khoản nợ chuyển quá hạn hoặc chuyển nợ xấu, bên bảo đảm, Khách hàng không còn hợp tác với Ngân hàng trong việc xử lý TSBĐ, hoặc một phần Khách hàng, Bên bảo đảm thường xuyên

Trang 31

thay đổi địa chỉ cư trú gây khó khăn cho việc thông báo xử lý TSBĐ của ngân hàng Các quy định của pháp luật cũng chưa hướng dẫn cụ thể về việc ngân hàng chỉ cần chứng minh có gửi Thông báo cho khách hàng, bên bảo đảm theo đúng địa chỉ đã cung cấp trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm hay phải đảm bảo việc họ phải nhận được Thông báo và biết về việc ngân hàng xử lý TSBĐ

Thứ hai, tổ chức định giá tài sản bảo đảm

Khoản 2, Điều 306, BLDS 2015 đã đặt ra yêu cầu “việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường” Đây là một

yêu cầu phù hợp nhằm tránh việc TSBĐ được định giá dưới mức giá thị trường (nhất là trong trường hợp bên nhận bảo đảm tự bán TSBĐ để xử lý); và vì thế, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bảo đảm Tuy nhiên, nếu đọc Điều 306 thì vẫn chưa rõ liệu yêu cầu này có áp dụng cho trường hợp bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm thỏa thuận về giá TSBĐ hay không, nhất là khi mức giá thỏa thuận

rõ ràng thấp hơn mức giá thị trường của TSBĐ? Hơn nữa, do Khoản 3, Điều

306 chỉ nêu chế tài bồi thường thiệt hại áp dụng cho hành vi vi phạm của tổ chức định giá trong quá trình định giá tài sản, nên liệu có thể hiểu tinh thần của BLDS 2015 là yêu cầu định giá phù hợp với giá thị trường chỉ áp dụng cho việc định giá thông qua tổ chức định giá hay không? Thiết nghĩ, cần đi theo hướng này bởi nó tôn trọng sự thỏa thuận của các bên: ngân hàng chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu bên bảo đảm chứng minh được việc bị cưỡng ép trong việc xác định giá TSBĐ Cách tiếp cận này, cũng phù hợp với tinh thần của điểm c, khoản 3, Điều 104, Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; theo đó, Tòa án chỉ can thiệp định giá tài sản trong trường hợp “các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy

Trang 32

tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá”

Thứ ba, giao tài sản bảo đảm để xử lý

Điều 301 BLDS 2015 quy định “người đang giữ TSBĐ có nghĩa vụ giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý [ ] Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” Có thể thấy, không nhất thiết phải quy định về quyền yêu cầu Tòa án can thiệp như trong điều luật này bởi

vì đây là một quyền hiển nhiên được pháp luật thừa nhận: chủ thể của một quyền nhất định luôn có thể yêu cầu Tòa án can thiệp để thực hiện quyền đó của mình Thêm vào đó, điều luật này cũng như khoản 5 Điều 323 (áp dụng đối với trường hợp thế chấp) chỉ nêu quyền của bên nhận bảo đảm được yêu cầu bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ TSBĐ giao tài sản đó cho mình để xử lý, chứ chưa đề cập đến quyền thu giữ TSBĐ để xử lý Các yếu tố này khiến một

số người lo ngại việc nhà làm luật chủ định bỏ quyền thu giữ TSBĐ để xử lý của ngân hàng

Về điểm này cần lưu ý, Điều 307, BLDS 2015 có nhắc đến “chi phí thu giữ” Liệu có thể hiểu là điều luật này gián tiếp công nhận quyền thu giữ TSBĐ

để xử lý của bên nhận bảo đảm? Thông thường, bên thứ ba mua TSBĐ thường chỉ yên tâm mua tài sản (ngay cả khi TSBĐ được bán đấu giá) khi ngân hàng đang quản lý hay nắm giữ được TSBĐ Tương tự, quyền thu giữ cũng phát huy được tác dụng khi bên bảo đảm bỏ trốn hay không hợp tác, khi đó ngân hàng

sẽ lập biên bản thu giữ có xác nhận của cơ quan công quyền và sau đó, tiến hành bán đấu giá tài sản Hơn nữa, khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ của các cơ quan công quyền (Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an) trong việc thu giữ TSBĐ để xử lý cũng không được ghi nhận trong BLDS 2015 trong khi trong thực tế, một số ngân hàng triển khai một cách khá hiệu quả cơ chế này Quy định về trình tự thủ tục thu giữ để xử lý TSBĐ hiện nay được quy

Trang 33

định cụ thể, chi tiết hơn tại Nghị quyết 42 Tại Điều 7, Nghị quyết 42 đã quy định khá chi tiết về trình tự thủ tục thu giữ TSBĐ về: thời gian, địa điểm phải tiến hành niêm yết, thông báo trước khi thực hiện thủ tục thu giữ TSBĐ, việc đăng tải thông tin công khai, gửi văn bản, thông báo cho cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân, cơ quan Công an) … phải được các NHTM tuân thủ đúng các thủ tục trên theo quy định của pháp luât [18, Điều 7]

Có thể thấy, các quy định mới của BLDS 2015 về xử lý TSBĐ tuy ít nhiều có bước đột phá nhưng còn bộc lộ khá nhiều hạn chế Đây là một điều thực sự đáng tiếc, nhất là trong bối cảnh ngân hàng còn gặp khá nhiều khó khăn khi xử lý TSBĐ như hiện nay

Từ các quy định chung của BLDS 2015, luật chuyên ngành có liên quan như Luật đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2016 và một

số văn bản hướng dẫn dưới luật, các NHTM đã tự thể chế thành các quy định

cụ thể chi tiết hơn về trình tự thủ tục khi xử lý TSBĐ tiền vay tương ứng theo từng phương thức xử lý TSBĐ Ví dụ như: Quyết định số 213/2017/QĐ-TGĐ của Ngân hàng TMCP Bản Việt, quy định chi tiết về quy trình thu giữ, xử lý TSBĐ tại Ngân hàng TMCP Bản Việt; Quyết định số 198/2018/QĐ-TGĐ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngày 23 tháng 7 năm 2018 quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, quy trình phát mại tài sản thu hồi nợ thông qua hình thức đấu giá tài sản; Quy trình số 79/2017/QĐ-MB-AMC ngày 20 tháng 02 năm 2017 của Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản (MBAMC) Ngân hàng TMCP Quân Đội quy định chi tiết về trình tự, thủ tục nhận chính TSBĐ để thay thế nghĩa vụ trả nợ của Bên bảo đảm

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt

Trang 34

2.2.1 Khái quát về tình hình xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Theo số liệu về tình hình xử lý nợ xấu năm 2018 được Ngân hàng Nhà nước công bố vào ngày 7/1/2019, [10] trong bài báo “Nợ xấu hệ thống Ngân hàng giảm mạnh cuối năm 2018” đã nêu rõ ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu,

tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống tổ chức tín dụng là 1,89%, giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017 Tỷ lệ 1,89% cũng là mức thấp nhất ghi nhận kể từ năm 2012 đến nay - thời điểm nợ xấu ngân hàng bắt đầu được nhận diện một cách đầy đủ và sát thực hơn, với các bước nâng cao tiêu chuẩn phân loại nợ

Dù chưa cập nhật cụ thể thêm về nợ tiềm ẩn thành nợ xấu, nhưng mức

nợ xấu nội bảng nói trên đã nằm sâu dưới ngưỡng 2%, ngưỡng mà tại Nghị quyết số 01 vừa ban hành đầu năm 2019 Chính phủ đặt ra yêu cầu hệ thống

ngân hàng phải đảm bảo thực hiện được cho năm nay

Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2017 và 2,46% cuối năm 2016)

và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2016 và 7,36% cuối năm 2017 Trong đó, kết quả xử lý nợ xấu của VAMC cũng khá khả quan; tính đến hết tháng 8/2018, VAMC đã thu hồi gần 100.000 tỷ đồng trên 227.000 tỷ đồng nợ gốc đã mua Đặc biệt là tác động của Nghị quyết 42 tương đối rõ nét Theo số liệu từ NHNN, tính từ giữa năm

2012 đến hết tháng 6/2018, toàn hệ thống đã xử lý được 785.930 tỷ đồng nợ xấu, riêng sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 42, toàn hệ thống đã xử lý được 138.290 tỷ đồng (tương đương tỷ lệ 17,5% của cả 6 năm qua); trong đó các TCTD đã xử lý được 58.800 tỷ đồng Với những bước tiến trong công tác

Trang 35

xử lý nợ xấu thời gian qua, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu gộp về 3% đến cuối năm

2020 là khả thi [9]

Nhìn vào bảng số liệu ở trên đây, chúng ta sẽ thấy rõ hiệu quả về xử lý

nợ xấu mà Nghị quyết 42 mang lại trên toàn hệ thống ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu giảm dần từ 2,55% năm 2015, 2,46% năm 2016, 2% vào năm 2017 và chỉ còn 1,89% trong năm 2018

Ngoài ra, một điểm cần nhấn mạnh và được xem là một điểm đạt được rất quan trọng mà Nghị quyết 42 mang lại chính là nhận thức của Bên vay, Bên bảo đảm trong tình hình các TCTD ráo riết áp dụng biện pháp xử lý tài sản Sẽ không còn việc các TCTD chỉ trông cậy vào biện pháp tố tụng tại tòa án với thời gian kéo dài để xử lý tài sản Theo Nghị quyết 42, quyền chủ động của các TCTD trong việc xử lý tài sản được khẳng định, các TCTD được phép chủ động quyết định biện pháp xử lý tài sản, như là bán nợ, thu giữ tài sản cho dù có hay không có sự đồng ý của Bên vay, Bên bảo đảm Việc này vô hình trung tạo một

áp lực rất lớn buộc Bên vay, Bên bảo đảm phải có trách nhiệm trong việc trả

Trang 36

nợ và phải hợp tác với các TCTD trong quá trình xử lý nợ nếu không muốn mất tài sản

2.2.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt

Ngân hàng TMCP Bản Việt được thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm

1992 với tên gọi trước đây là Ngân hàng TMCP Gia Định Ngày 09 tháng 01 năm 2012, Ngân hàng TMCP Gia Định chính thức thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu, với tên gọi mới là Ngân hàng TMCP Bản Việt (Tên viết tắt là VCCB) Trải qua suốt 26 năm hoạt động, dư nợ tính đến thời điểm cuối năm

2018 là 29.471 tỷ đồng của tổng số lượng khoản nợ là 37.015, trong đó khoản

nợ xấu phải xử lý theo quy định của pháp luật (nợ nhóm 3,4,5) là: 589 tỷ đồng

Bảng 2.1: Chi tiết về tình hình dư nợ, nợ quá hạn (NQH) và nợ xấu (NX) tại VCCB được chia theo nhóm nợ, loại hình qua hai năm 2018-2019 như sau:

Đơn vị: tỷ đồng

Nhóm nợ

Ngày 31/12/2018 Ngày 28/06/2019

Cá nhân

Doanh nghiệp Tổng

Cá nhân

Doanh nghiệp Tổng

Trang 37

(Nguồn: Báo cáo tình hình xử lý nợ của Ngân hàng TMCP Bản Việt)

TSBĐ cho khoản nợ phải xử lý này tính đến 31 tháng 12 năm 2018 là: 17.861 tài sản tương đương với giá trị bảo đảm là 47.900 tỷ đồng (bao gồm các loại TSBĐ như: Bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển, giấy

tờ có giá, quyền đòi nợ, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng…)

Để đảm bảo tuân thủ đúng tỷ lệ nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, cũng như tạo hành lang đảm bảo cho hoạt động thu hồi nợ hiệu quả, VCCB luôn chú trọng đến việc xây dựng, ban hành các quy định nội bộ dựa trên các quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ như:

(i) Quyết định số 87/2019/QĐ-TGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019 về việc ban hành quy định chung về quản lý và thu hồi nợ tại VCCB, theo đó tại Điều

7 đã chi tiết rõ các phương thức xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ tại VCCB

như sau: “Xử lý TSBĐ để thu hồi nợ: bao gồm nhưng không giới hạn các biện pháp thu giữ TSBĐ, nhận bàn giao TSBĐ từ KH để quản lý, khai thác, xử lý TSBĐ, bán TSBĐ để thu hồi nợ Việc bán tài sản bảo đảm có thể thực hiện thông qua phương thức bán đấu giá tài sản tại Công ty có chức năng bán đấu giá hặc bán trực tiếp tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm: là biện pháp VCCB nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm”

(ii) Quyết định số 213/2017/QĐ-TGĐ của Ngân hàng TMCP Bản Việt, quy định chi tiết về quy trình thu giữ, xử lý TSBĐ để triển khai chi tiết quy định mới tại Nghị quyết 42 và BLDS 2015

Tổng quan tình hình xử lý và thu hồi nợ xấu của VCCB từ năm 2015 đến nay (bao gồm cả bán nợ cho VAMC) như sau:

Trang 38

(Nguồn: Báo cáo số liệu thu nợ của VCCB từ năm 2015 tới 30/6/2019)

Áp dụng các quy định của pháp luật và quy định nội bộ của VCCB, tình hình xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ của VCCB ngày càng hiệu quả hơn Đặc biệt là sau khi Nghị quyết 42 có hiệu lực thi hành, VCCB đã chủ động hơn trong việc áp dụng phương thức thu giữ để xử lý tài sản bảo đảm, nhằm nhanh chóng thu hồi nợ xấu Hiệu quả thu hồi nợ được thể hiện chi tiết về số thu nợ

Ngày đăng: 16/07/2020, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm