CHƯƠNG II: CÁC VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VỚI NHẬT BẢN TRONG HÀNG RÀOPHI THUẾ QUAN CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU I.. CÁC VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VỚI NHẬT BẢN TRONG HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN CỦA HO
Trang 1CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN
Hiện nay, bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan, hàng rào phi thuế quan ngày càng trở nên đa dạng, một phần vì mức độ cần thiết của việc bảo hộ sản xuất nội địa của từng nước cũng khác nhau, nguyên nhân,đối tượng bảo hộ cũng khác nhau
Các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như một sự đồng nghĩa với các biện pháp phi thuế quan, mà nên coi là tập hợp một số biện pháp phi thuế quan Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan, song không phải tất cả các biện pháp phi thuế quan đều là các hàng rào phi thuế quan
Định nghĩa về các biện pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của WTO:
“Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước” Từ đó, WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
II SỰ CẦN THIẾT TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1 Đối với các nước trên thế giới
- Nâng đỡ các doanh nghiệp khó khăn
- Duy trì việc làm, giảm bớt sức ép về chính trị của các tổ chức đoàn thể
- Cải thiện các ngành sản xuất nội địa, duy trì cán cân thanh toán có lợi và cải thiện nguồn ngân sách
2 Đối với Việt Nam
- Tránh sự mất cân đối và phụ thuộc nặng vào các yếu tố bên ngoài
- Cải thiện khả năng cạnh tranh trên phương diện quốc gia cũng như trên phương diện ngành/doanh nghiệp và sản phẩm
- Tạo lập một thế vững chắc trên trường quốc tế, bảo hộ phi thuế quan là một công cụ chúng ta có thể mang ra “mặc cả” để đổi lấy những ưu đãi chính trị nhất định
Trang 2CHƯƠNG II: CÁC VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VỚI NHẬT BẢN TRONG HÀNG RÀO
PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
I KHÁI QUÁT CHUNG
1 Hoa Kì và nền kinh tế ngoại thương của Hoa Kì
Hoa Kỳ, còn gọi là Liên bang Mỹ, tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Mỹ)
, là một cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang
Năm 2002, Hoa Kỳ đầu tư ra nước ngoài gần 120 tỷ USD, xuất khẩu 1.018,6 tỷ USD (theo giá FAS, trong đó xuất khẩu hàng hoá là 713,8 tỷ USD, dịch vụ là 304,8 tỷ) và nhập khẩu từ thế giới 1.507,9 tỷ USD (theo giá FOB, trong đó nhập khẩu hàng hoá là 1.263,2 tỷ USD và dịch vụ là 244,8 tỷ)
Bảng 1 Tóm tắt Ngoại thương Hoa Kì (2000 – 2005)
Đơn vị: Tỷ USD
Tổng xuất khẩu 1.070,1 1.007,6 974,1 1.018,6 1.151 1.323,6
Hàng hoá 772,0 718,7 681,9 713,8 806,5 927,5 Dịch vụ 298,1 288,9 292,2 304,8 344,4 396,0
Tổng nhập khẩu 1445,4 1365,4 1392,1 1507,9 1.764,2 2.134,7
Hàng hoá 1224,4 1145,9 1164,7 1263,2 1.477,9 1.788,3 Dịch vụ 221,0 219,5 227,4 244,8 286,4 346,5
Tổng cán cân TM -75,4 -57,8 -418,0 -489,4 -613,2 -811,0
Hàng hoá -452,4 -427,3 -482,9 -549,4 -671,3 -860,7
2 Nhật Bản và nền kinh tế ngoại thương của Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia hải đảo ở vùng Đông Á Tọa lạc trên Thái Bình Dương Nhật Bản là một quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước
Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn
Trang 3Quốc 7.8%, Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005) Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng
Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%, Hoa Kỳ 12.7%, A Rập Xê Út 5.5%, UAE 4.9%, Australia 4.7%, Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005) Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt
là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của đất nước
3 Mối quan hệ Hoa Kì - Nhật Bản
Tổng thống Clinton nói rõ quan hệ giữa Mỹ với Nhật Bản là hạt nhân trong chính sách của Mỹ với cộng đồng Thái Bình Dương và chính phủ Nhật thì luôn coi quan hệ Nhật
- Mỹ là hòn đá tảng trong quan hệ đối ngoại của Nhật Bản
Sự thâm nhập và nương tựa lẫn nhau về kinh tế giữa Mỹ và Nhật Bản khăng khít đến mức không thể tách rời được Mỹ là thị trường xuất khẩu và là nơi đầu tư lớn nhất của Nhật Bản, cũng là nơi cung cấp kỹ thuật mới, sản phẩm kỹ thuật và thông tin cho Nhật Bản Sản xuất của hai nước chiếm 40% thế giới, nhiều vấn đề lớn trong nền kinh tế thế giới phải cần đến sự hợp tác mạnh mẽ của hai nước mới có thể giải quyết được Do vậy, dù trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hay trên phạm vi toàn cầu, Mỹ và Nhật Bản đều có lợi ích chung rộng rãi và có nhu cầu hợp tác với nhau, điều này tạo cơ sở thiết lập mối quan hệ kinh tế lâu dài giữa hai nước
Trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu chung là kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc mối quan hệ Mĩ- Nhật lại càng trở nên gắn bó, đặc biệt là khi cả 2 quốc gia đều tham gia hiệp định TPP
Trang 4III CÁC VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VỚI NHẬT BẢN TRONG HÀNG RÀO PHI
THUẾ QUAN CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
1 Giai đoạn 2002 – 2007
Nhật Bản đã đưa ra một bảng kê chi tiết các vấn đề gặp phải với hàng rào thương mại của Mỹ Cụ thể trong khoảng thời gian từ 2002 đến 2007 gồm những vấn đề tồn tại từ lâu Những vấn đề này đưa ra chủ yếu về quyền đơn phương tăng cường các biện pháp
và quyền thương mại
a Các vấn đề liên quan đến quản lý thương mại
- Thuế Bảo trì Cảng : Nhật Bản chỉ ra rằng Hoa Kì vi phạm Điều khoản III của
GATT quy định yêu cầu đối xử công bằng đối với các sản phẩm trong nước và quốc tế, vi phạm Điều khoản II của GATT quy định hạn chế phí giao dịch thương mại thực tế của một thương vụ giao dịch Nhật Bản tham gia vào tham vấn với Hoa Kỳ về loại thuế này với tư cách là bên thứ ba vào tháng 2 năm 1998
- Quy định xuất xứ các loại đồng hồ : Nhật Bản lập luận rằng quy định của Luật
Thuế Mỹ năm 1930 (xuất xứ quốc gia phải được khai báo đối với từng bộ phận của đồng
hồ kể cả đeo tay) không tuân thủ Điều khoản IX:2 của GATT, cho rằng việc xác định xuất
xứ không được phép cản trở thương mại
b Các hạn chế về dịch vụ từ nước ngoài
- Rào cản dịch vụ tài chính nước ngoài (Hoa Kỳ phân biệt đối xử với các nhà cung
cấp dịch vụ tài chính nước ngoài): Hoa Kỳ đã áp đặt rất nhiều hạn chế khi nước này ký
kết Cam kết về dịch vụ tài chính Nhật Bản hy vọng rằng việc tăng cường khởi kiện có thể giúp gỡ bỏ một số rào cản mang tính phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài đang mong muốn thâm nhập thị trường Mỹ
- Luật sửa đổi Exon-Florio (Hoa Kỳ, 1968 5 USCapp 2170): Luật sửa đổi bổ sung
Exon-florio 1988 trao cho tổng thống quyền ngưng các vụ sáp nhập, mua lại và thu mua các công ty của Mỹ bởi các công ty nước ngoài nếu chúng đe dọa an ninh quốc gia Ủy ban đầu tư nước ngoài, cơ quan của Bộ tài chính Mỹ chịu trách nhiệm báo cáo cho tổng thống những ảnh hưởng lớn của những giao dịch như vậy
Nhật lập luận rằng những thủ tục này đang tạo nên những môi trường đầu tư không
rõ ràng Nhật Bản công nhận rằng Exon Floriio không vi phạm luật pháp quốc tế Tuy nhiên Nhật yêu cầu Mỹ bớt lệ thuộc vào các vấn đề như vậy và yêu cầu minh bạch đối với quy trình đầu tư và ra quyết định
c Các vấn đề mua sắm chính phủ
Trang 5- Rào cản tham gia thị trường mua sắm công của các DN nước ngoài: Chính quyền
Nhật Bản xem xét các điều khoản đa dạng của Đạo luật Buy American ( chỉ định các cơ quan liên bang thu mua cho mục đích công chỉ những hàng hóa được ‘sản xuất chế tạo tại Mỹ’) không nhất quán với tinh thần của GATT Nhật Bản yêu cầu chính quyền Mỹ xem xét lại tình trạng của các chương trình Buy American
d Các vấn đề liên quan đến phòng vệ
- Sử dụng phương pháp “Quy về 0”: Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ sẽ áp đặt
giá trị 0 đối với chênh lệch giữa giá quốc tế và giá nhập khẩu của Mỹ bất kỳ khi nào giá của nước này cao hơn giá quốc tế Việc sử dụng phương pháp zero này về cơ bản là lờ đi
những chứng cứ quan trọng chống lại việc tìm ra chứng cứ bán phá giá, nó đã bóp méo công cuộc điều tra
- Biện pháp trả đũa của Mỹ chống lại sự phân biệt trong mua sắm chính phủ: Theo
luật liên bang Buy America, cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ được hướng dẫn phải báo cáo với Quốc hội về những sự phân biệt đối xử bởi chính phủ nước ngoài đối với các sản phẩm và dịch vụ của Mỹ
Nhật Bản đồng ý rằng những quy trình ban đầu bao gồm xác định các quốc gia phân biệt đối xử và bước đưa ra tham vấn song phương là hoàn toàn phù hợp với phạm vi và tinh thần của GATT/WTO Tuy nhiên việc trao quá nhiều quyền hạn cho các biện pháp đơn phương lại không phù hợp với Hiệp ước mua sắm chính phủ
- Luật Carousel về các khoản bổ sung liên quan đến các biện pháp trừng phạt: Luật
thương mại và phát triển năm 2000 đã bao gồm một điều khoản “quay vòng” trong đó yêu cầu USTR luân phiên các khoản mục mà Hoa Kỳ có thể áp đặt các biện pháp trả đũa trong các vụ tranh chấp WTO với chu kỳ 180 ngày để đảm bảo mọi hành động trừng phạt được thực thi Nhật Bản cho rằng những điều khoản này không tuân theo Quan niệm về giải quyết tranh chấp của WTO
- Luật trừng phạt Iran và Libi năm 1996: Luật “Damato” cho phép tổng thống Mỹ
tiến hành một loạt các hành động đơn phương chống lại những công ty có hoạt động phần lớn tại Iran hoặc/và Libi
Nhật Bản cho rằng những hành động trừng phạt này là vi phạm quy định GATT/WTO, đặc biệt là do chúng được tiến hành như là một đặc quyền ngoại giao Đạo luật này hết hiệu lực vào tháng 8 năm 2001 Tuy nhiên, Tổng thống Bush đã ký một sắc lệnh cho phép kéo dài thời hạn của đạo luật này thêm 5 năm nữa
Trang 6- Quá trình đăng ký các cơ sở chế biến thực phẩm (Yêu cầu thông báo trước về tất cả
các lô hàng chuyên chở thực phẩm đến Mỹ, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, và yêu cầu về các bước tạm giữ đối với những lô hàng có dấu hiệu khả nghi)
Bên phía Nhật Bản cho rằng những điều khoản này có ảnh hưởng không mong muốn cả
ở ngoài lãnh thổ Mỹ và đã áp đặt một gánh nặng hành chính lớn lên các doanh nghiệp Nhật
Bản có hàng thực phẩm xuất sang Mỹ (vấn đề này được đưa ra lần đầu vào 2007)
4 Các vấn đế tranh chấp trong năm 2002 và đã được giải quyết trước năm 2007.
Một vấn đề thương mại do Nhật Bản kiến nghị vào năm 2002 nếu được bỏ ra khỏi báo cáo năm 2006 hoặc 2007 thì nghĩa là câu hỏi đó đã có lời giải Bao gồm 2 vấn đề liên quan đến nhập khẩu đã được giải quyết:
a Hạn chế về cung cấp dịch vụ pháp lý:
Chỉ có 24 tiểu bang và hạt Columbia cho phép luật sư nước ngoài làm việc Rất nhiều bang yêu cầu các ứng viên ngoại quốc ứng tuyển gia nhập giới luật sư Mỹ phải có 5 năm kinh nghiệm, và thời điểm hành nghề gần nhất cách không quá 5 năm trước lúc ứng tuyển Nhật đề nghị rút ngắn và nới lỏng điều kiện này
b Điều khoản “hoàng hôn” trong điều tra chống bán phá giá :
Vào đầu những năm 2000, Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá lên rất nhiều sản phẩm thép nhập khẩu Có một số bằng chứng cho rằng, hành vi đó là nhằm chống đỡ cho ngành công nghiệp thép èo uột của nước này, bởi nó diễn ra không lâu sau khi Luật sửa đổi Byrd được thông qua Nhật Bản yêu cầu tra cứu lại phán quyết sơ bộ của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ cho rằng các mặt hàng thép cuộn cán nóng của Nhật đã bị bán phá giá tại thị trường Mỹ
Vào ngày 10/12/2003, Tổng thống Mỹ công bố tất cả các biện pháp bảo hộ đối với mặt hàng thép đã được loại bỏ từ ngày 4/12 theo Mục 204 Bộ Luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974
Trang 7CHƯƠNG III: BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN VIỆT NAM CÓ THỂ SỬ DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Để tránh những vấn đề không đáng có như việc tranh chấp giữa Nhật Bản và Hoa Kì đã nêu ở chương II Từ những vấn đề đó, ta có thể rút ra được bài học đối với Việt Nam không chỉ về vấn đề xuất khẩu sang thị trường Hoa Kì một cách thuận lợi và không bị thiệt mà còn tránh những vấn đề còn khúc mắc để đề xuất các biện pháp phi thuế quan có thể sử dụng một cách hiệu quả và hợp lý nhất
I QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG HOA KÌ
1 Quan điểm của Đảng
Việt Nam coi thị trường Hoa Kì là một trong các thị trường rộng lớn và khá khó tính, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm thủy sản Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì được kí kết và phê chuẩn năm 2001 đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa của ta đồng thời thúc đẩy các nước đầu tư vào Việt Nam để xuất sang Hoa Kì Hoa Kì
sẽ là khâu đột phá về thị trường xuất khẩu của Việt Nam và sẽ là một trong những thị trường tăng nhanh nhất trong những nhanh tới đây Xong để đạt được điều này cần chú ý một số đặc điểm về thị trường sau:
Thứ nhất, Hoa Kì là một thị trường lớn sức mua cao Nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên
đến 1.200 tỷ USD
Thứ hai, nhu cầu đa dạng và tương đối dễ tính Vì Mỹ là một thị trường đa chủng tộc,
mức sống rất khác nhau, có nhiều tỉ phú nhất nhưng cũng có người nghèo
Thứ ba, đây là một thị trường đòi hỏi về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa rất cao vì hầu
hết các tiêu chuẩn về hàng hóa đều từ quốc gia này mà ra
Thứ tư, hệ thống luật pháp của Mĩ vô cùng phức tạp Mĩ cũng có những quy định khắt
khe đối với hàng nhập khẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kì đối với trường hợp cá basa và tôm
5 Định hướng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hoa Kì
2.1 Cơ sở lí luận
a Nhân tố bên trong
Thành tựu kinh tế thương mại của Việt Nam trong những năm gần đây
- Về tăng trưởng kinh tế
Trang 8Từ những năm đầu thế kỉ 21 đến nay, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới và được xếp vào nhóm tăng trưởng cao trên thế giới
Quy mô nền kinh tế tăng nhanh và cao, tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2014 đã đạt khoảng 184 tỷ USD Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, để gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được cải thiện, hệ số gia tăng vốn đầu ra (ICOR) giảm từ 6,96 giai đoạn 2006 - 2010, giai đoạn 2011 - 2015 ước tính khoảng 6
Lạm phát được kiểm soát, tỷ lệ lạm phát đã giảm mạnh từ mức 18,13% (năm 2011) xuống 6,81% (năm 2012), còn 6,04% vào năm 2013 và chỉ còn khoảng 3% năm 2014
- Về cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và
công nghiệp Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 25%; công nghiệp
tăng từ 22,7% lên 34,5%; dịch vụ tăng từ 38,6% lên 40,5%
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu
- Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2010- 2015
Năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 327,587 triệu USD, tăng 10% so với năm 2014, trong đó xuất hàng hóa đạt 162,107 triệu USD, tăng 7,9%
so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu hàng hóa là 165,570 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước Cán cân thương mại hàng hóa cả nước thâm hụt 3,54 triệu USD (tương đương khoảng 2,2% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước) và ngược lại so
với xu hướng thặng dư 2,37 triệu của năm trước
Bảng 2 Trị giá xuất nhập khẩu giai đoạn 2010 – 6/2016 (đơn vị: Triệu USD)
Năm ngạch XN Tổng kim Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại
Trị giá Tỉ lệ %
Trang 9Biểu đồ 1 Diễn biến kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại
giai đoạn 2006-2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Như vậy, so với năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm, kim ngạch xuất nhập khẩu
đã tăng hơn 124 triệu USD (từ 203,7 triệu năm 2011 lên 327,76 triệu USD năm 2015) nhưng xét về tốc độ tăng thì năm 2015 có tốc độ tăng thấp nhất cả giai đoạn và thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân 15,8%/năm giai đoạn 2011-2015
Thành tựu đạt được trong quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Bảng 3 Diễn biến xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
từ năm 2011 đến tháng 04/2016
Năm
cân thương mại Kim ngạch Tỷ trọng ngạch Kim trọng Tỷ ngạch Kim trọng Tỷ
2011 16,93 17,5% 4,53 4,2% 21,46 10,5% 12,40
2012 19,67 17,2% 4,83 4,2% 24,49 10,7% 14,84
2013 23,84 18,1% 5,23 4,0% 29,07 11,0% 18,61
2014 28,64 19,1% 6,30 4,3% 34,94 11,7% 22,35
2015 33,47 20,7% 7,79 4,7% 41,26 12,6% 25,67
Đến T4 /2016 11,45 21,6% 2,47 4,8% 13,92 13,3% 8,98
Trang 10Xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng trưởng liên tục trong suốt 15 năm qua Từ
tỉ lệ khiêm tốn là 1% tổng giá trị xuất khẩu của ASEAN vào Mỹ năm 2000, kết thúc năm
2015, Việt Nam đạt 22% tổng giá trị xuất khẩu của khu vực vào thị trường này, tăng xấp xỉ
36 lần
Kim
thương
Kỳ trong 10 năm trở lại đây luôn đạt mức tăng trưởng cao, cụ thể kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 là 8,81 tỷ USD thì đến năm 2015 đạt 41,26 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 19% mỗi năm Cán cân thương mại hàng hóa song phương luôn đạt mức thặng dư cao về phía Việt Nam,cụ thể từ mức 6,85 tỷ USD năm 2006 và đã lên đến 25,67 tỷ USD năm 2015
b Nhân tố bên ngoài
- Những thời cơ:
Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ thuận lợi trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông sản, đặc biệt một số hàng nông sản chủ lực của Việt Nam góp phần nâng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Mỹ Mặt hàng rau tươi xuất sang Mỹ chênh lệch giữa MFN và không có MFN là 10-50%, nên khi có MFN, doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu hàng chục triệu USD rau quả tươi sang Mỹ, nếu đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt của Mỹ Hiện nay mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ khoảng 30 triệu USD hạt điều, kim ngạch này có thể tăng lên gấp đôi, nếu các doanh nghiệp sản xuất và chế biến mặt hàng này đáp ứng đòi hỏi của chất lượng
Biểu đồ 2 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 2006 đến 04/2016