PORTER *Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu và phân tích các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam đối với ngành công nghiệp sản xuất ô tô trong nước.. Giới thiệu ch
Trang 1NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM DỰA TRÊN MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA M PORTER
*Tóm tắt:
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu và phân tích các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam đối với ngành công nghiệp sản xuất ô tô trong nước Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu, cải thiện năng lực cạnh tranh ngành ô tô Việt Nam thực sự rất cần thiết không chỉ để định hướng ngành vươn lên nắm giữ vai trò chủ chốt trong nền kinh tế mà còn để đáp ứng sự kỳ vọng của Nhà nước, cũng như nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng cao của người dân Cũng từ đó, mỗi chúng ta có những đánh giá, nhìn nhận thực tế về tình hình phát triển ngành ô tô trong nước
Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra kết luận và hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp và hướng nghiên cứu tiếp theo
* Từ khóa: năng lực cạnh tranh, ngành công nghiệp sản xuất ô tô, Việt Nam, mô hình kim
cương
*Abstract
This study aims to learn and analyze the factors that make up Vietnam's national competitive advantage in the domestic automobile industry As a matter of fact, it is essential to research and improve the competitiveness of Vietnam's automobile industry, not only to oriently take a leading role in the economy but also to meet the State's expectation, as well as the increasing consumption needs in society Therefore, each of us is urged to evaluate and acknowledge the actual development of the domestic automobile industry Last but not least, the study draws conclusions and policy implications for businesses and further research
Trang 2Key words: competitiveness, the automobile industry, Vietnam, national competitive advantage
1 Giới thiệu chung:
Trong sự nghiệp công nghệ hóa, hiện đại hóa cùng xu thế hội nhập nền kinh tế của quốc gia với khu vực và trên toàn thế giới, Việt Nam đang hết sức nỗ lực để nâng cao vị thế cạnh tranh kinh tế toàn diện, trong đó có ngành công nghiệp sản xuất ô tô, ngành công nghiệp chủ chốt góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập sâu rộng nền kinh tế cả nước Có thể nói, bước ngoặt lớn trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ buộc Chính phủ Việt Nam phải có những bước đi và chính sách phù hợp, không chỉ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước thích ứng nhanh chóng quá trình hội nhập, mà còn đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngành ô tô Việt Nam
Trên thực tế, sau 10 năm kể từ khi phát động chiến lược phát triển ngành ô tô trong nước, Việt Nam đã xuất hiện hơn 160 doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp Tỷ lệ nội địa hóa mới chỉ đạt
từ 7 - 10% đối với xe con (theo quy hoạch là 50%), 30 - 40% đối với xe tải nhẹ và xe khách trên
10 chỗ (quy hoạch là 60%) Việt Nam vẫn đang đảm nhận công đoạn lắp ráp ô tô hoàn chỉnh, các
linh kiện nội địa giản đơn, công nghệ đa phần lạc hậu nên doanh nghiệp không chỉ nhập khẩu linh kiện mà còn nhập khẩu cả cụm chi tiết để lắp ráp
Nhìn chung, chiến lược đã không đạt được kỳ vọng như mong đợi Điều đó cho thấy, các công ty sản xuất ô tô trong nước còn gặp phải nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc chuyên môn hóa ngành, đặc biệt là trong tiến trình tham gia WTO, hội nhập quốc tế Đồng thời, nhiều thực nghiệm ở Việt Nam về lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất ô tô chưa tìm thấy, những nghiên cứu còn hạn chế Chính vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét các tác nhân quan
Trang 3trọng ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ cạnh tranh của ngành, phân tích trong mô hình kim cương của M Porter
2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu:
2.1 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào những năm 1990 Mục đích là để giải thích tại sao một số nước lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một
số sản phẩm, tức là có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm Lý thuyết này xây dựng dựa trên
cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một nền công nghiệp được thể hiện qua khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết 4 nhóm yếu tố, tạo thành mô hình kim cương (diamond) Các nhóm yếu tố bao gồm: điều kiện các yếu tố sản xuất (factor of production), điều kiện về cầu (demand conditions), các ngành công nghiệp hỗ trợ
và có liên quan (related and supporting industries), chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh (strategies, structures and competition) Ngoài ra, còn có hai yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ hội cũng tác động đến 4 yếu tố cơ bản trên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp nghiên cứu tài liệu với phỏng vấn chuyên gia, các đối tượng có liên quan trong cụm ngành, Kết quả thu được được phân tích cụ thể trong các mục sau đây
Trang 4Hình 1: Khối kim cương của M Porter
3 Các yếu tố tác động tới lợi thế cạnh tranh quốc gia ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam:
3.1 Điều kiện yếu tố sản xuất:
Một số chuyên gia cho rằng các trường dạy nghề tại Việt Nam hiện đã có khá nhiều nhưng chất lượng chưa đồng đều và đặc biệt đào tạo chưa mang tính thực nghiệm Nhiều doanh nghiệp, đại lý ô tô thừa nhận nguồn lao động Việt Nam trẻ, năng động nhưng nhân lực chất lượng cao còn thiếu, đặc biệt trong ngành ôtô vốn là ngành đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, kỹ thuật cao Cùng với sự phát triển của thị trường cũng như ngành công nghiệp ôtô, nhân lực chất lượng cao đã và sẽ trở thành bài toán không dễ giải cho các doanh nghiệp Đại diện Toyota Việt
Nam (TMV) - hãng xe hiện chiếm thị phần lớn nhất thị trường xe du lịch - cho biết: “Không chỉ
tại Hà Nội và TPHCM, chúng tôi nhận thấy nhu cầu rất lớn về lực lượng lao động trong ngành tại các tỉnh, thành trong hiện tại, và đặc biệt là trong thời gian tới” Để tự giải bài toán cho
chính mình và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, hãng này đã tiếp tục mở rộng Chương trình đào tạo kỹ thuật Toyota (gọi tắt là T-TEP) thông qua việc liên tiếp khai trương hai
Trang 5trung tâm đào tạo kỹ thuật tại hai trường đại học lớn tại khu vực Tây Nam Bộ và Đông Bắc Bộ là Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long tại Vĩnh Long và Trường ĐH Sao Đỏ tại Chí Linh, Hải Dương
Một ví dụ điển hình là sự thành công của công ty Vinfast trong việc “hồi sinh” ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam với việc đưa những chiếc xe thương hiệu Việt đầu tiên vươn tầm ra thế giới, mà đóng góp vào thành công đó, chính là việc Vinfast đã chú trọng đầu tư vào yếu tố con người Vinfast tập trung vào đầu tư nhân sự, những người Việt có kiến thức để làm trong ngành công nghiệp ô tô Theo đó, vào ngày 7/2/2018, VinFast đã chính thức ra mắt Trung tâm Đào tạo
Kỹ thuật viên Cơ điện tử và Cơ khí công nghiệp Trung tâm nằm trong Tổ hợp dự án sản xuất ô
tô Vinfast do Tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, tại khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng) Trung tâm đã chính thức hoạt động vào tháng 8/2018, trong đó, niên khóa đầu tiên có quy mô
200 học viên khóa thuộc 2 ngành học chính là Cơ điện tử và Cơ khí công nghiệp Tiêu chuẩn của giảng dạy được hướng theo tiêu chuẩn Đức – quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp nặng
và cơ khí chính xác với thời lượng đào tạo kéo dài trong 2,5 năm Có thể nói, Vinfast là một minh chứng rõ ràng nhất cho thành quả của công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong công nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam
Tóm lại, nguồn nhân lực trong ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam là vô cùng lớn, song các phương án để đẩy mạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp sản xuất ô tô vẫn còn chưa cụ thể, rõ ràng và còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự cố gắng hơn nữa đến từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng như sự hỗ trợ đến từ Chính phủ
Trang 6Hiện nay Việt Nam mới có khoảng 1 triệu ô tô các loại trên tổng số 80 triệu dân với diện tích gần 330.000 km2 đất liền và kinh tế đang phát triển mạnh Với tỷ lệ nhỏ như vậy, áp lực số lượng ô tô lên ngành giao thông đường bộ là không đáng kể Việc ùn tắc giao thông ở thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh chỉ là hiện tượng cục bộ chứ không phải là bản chất ở đâu cũng ùn tắc
Trong giai đoạn 2011 - 2019, nhiều công trình giao thông lớn, hiện đại như: đường bộ cao tốc, mở rộng quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên, các tuyến đường cao tốc được đầu tư xây mới như: Hà Nội Hải Phòng, Hà Nội – Lào Cai, Đà Nẵng -Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây đã tiêu chuẩn khu vực và quốc
tế, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước, tạo lập được sự kết nối giữa các vùng miền trong cả nước và với quốc tế Đặc biệt, tình trạng ùn tắc chủ yếu diễn ra tại các đô thị do đó giao thông đô thị từng bước được cải tạo, nâng cấp và mở rộng, đặc biệt tại các đô thị lớn
Đã có nhiều tính toán cho thấy hệ thống giao thông ở Việt Nam hoàn toàn có đủ chỗ cho
số lượng ô tô lớn hơn tham gia giao thông nếu ta chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng của ngành giao thông Trong thực tế thì chính ô tô sẽ giúp làm giảm sự tập trung phương tiện ở các khu trung tâm
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam phát triển muộn hơn so các nước trong khu vực khoảng 30 năm Thái Lan, Indonesia, Malaysia phát triển công nghiệp ô tô từ năm 1960, trong khi tại Việt Nam đến năm 1991 ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới ra đời Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, Việt Nam đã có những giải pháp chiến lược dài hạn cho công nghiệp ô tô, coi ngành này là ngành tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
Trang 7hóa, cần được khuyến khích phát triển bằng những chính sách ổn định, nhất quán và dài hạn Đồng thời đưa Việt Nam trở thành nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và an toàn môi trường, phù hợp với các cam kết quốc của Việt Nam trong quá trình hội nhập Nhờ đó, tổng năng lực sản xuất, lắp ráp ô tô ở Việt Nam đến nay đạt khoảng 600.000 xe/năm, gồm hầu hết các chủng loại xe con, xe tải và xe khách; một số chủng loại xe như xe tải trọng tải đến 7 tấn có tỷ lệ nội địa hóa 55%; xe khách từ 24 chỗ ngồi trở lên tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 45% đến 55% cơ bản đáp ứng mục tiêu đề ra vào năm 2020
Bên cạnh đó, Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang được xem là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam có thể tạo bước phát triển mang tính đột phá theo 4 xu hướng chính gồm: tự động hóa, kết nối, xa điện và chia sẻ xe như một dịch vụ
Sự ra mắt thành công bước đầu của thương hiệu ô tô VinFast cùng với sự tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong nước như Thaco hay Huyndai Thành Công và những nỗ lực tham gia đầu tư từ các công ty công nghệ sẽ là những bước tiên phong đáng tin cậy
để hướng đi của ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam ngày càng rộng mở hơn
3.2 Điều kiện nhu cầu trong nước
Có thể thấy với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có được những bước phát triển lớn mạnh Đi cùng với đó, thu nhập của người dân trong nước cũng đang ngày một tăng cao dẫn đến lượng cầu về ô tô trong nước cũng ngày một trở nên dồi dào và phong phú Theo báo cáo bán hàng mới nhất từ VAMA ( Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam), lượng ô tô mới tiêu thụ trong tháng 6/2019 tổng kết từ các thành viên VAMA và doanh nghiệp ngoài thành viên (trừ Hyundai Thành Công) là 27.520 xe, tăng 0,1% so với tháng 5/2019, và tăng 19% so với Tháng 6/2018 Trong đó, tổng số xe tiêu thụ bao gồm 20.287 xe du lịch (tăng 3% so với cùng kỳ
Trang 8năm ngoái); 6.649 xe thương mại (giảm 9%) và 584 xe chuyên dụng (tăng 14%) Như vậy, tổng
số xe tiêu thụ 6 tháng vừa qua theo VAMA là 154.273 xe, tăng hơn 27.073 so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương mức tăng trưởng 21,2% Cùng thời điểm công bố của VAMA, công ty Hyundai Thành Công (HTC) cũng thông báo con số tiêu thụ xe của mình trong tháng 6/2019, đạt 6.577 xe, tăng nhẹ 4,8% so với tháng trước đó Lượng xe cộng dồn của HTC sau 6 tháng của năm 2019 đạt 35.723 xe Cộng dồn cả kết quả VAMA, thị trường ô tô Việt Nam có mức tiêu thụ
6 tháng của năm 2019 là 189.996 xe Con số này chưa thể so cụ thể với cùng kỳ năm 2018 được
vì thiếu mất dữ liệu của HTC do công ty này chỉ công khai con số bán hàng bắt đầu từ tháng 6/2018
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (IPSI) ngày 7/6/2018, về tiêu thụ xe trong nước, Việt Nam đang trong giai đoạn “dân số vàng” với sự tăng trưởng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu - những khách hàng tiềm năng của dòng xe cá nhân được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh từ nay đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 Tăng trưởng tiêu thụ xe của Việt Nam được dự báo sẽ đạt mức 22,6%/năm trong giai đoạn 2018-2025 và đạt khoảng 18,5%/năm trong giai đoạn 2025-2035 Vào năm 2020, nhu cầu thị trường ô tô trong nước cũng được dự báo đạt khoảng 500.000-600.000 xe và xu thế ô tô hóa sẽ diễn ra khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 3.000 USD và tiến tới sở hữu bình quân đạt trên 50 xe/1.000 dân Xu hướng phổ cập ô tô cũng sẽ diễn ra tại Việt Nam trong giai đoạn 2020-2030 Do dó, dự báo thị trường ô tô đến năm 2025 có thể đạt 750.000-800.000 xe và đến năm 2035 sẽ đạt từ 1,7 triệu đến 1,85 triệu xe Bên cạnh đó, tính đến hết năm 2017, dân số Việt Nam đã đạt hơn 96 triệu người Dự báo con số này đến năm 2020 đạt khoảng 98,2 triệu người, đến năm 2025 đạt khoảng 101,1 triệu người và năm 2035 là 107,8 triệu người
Trang 9Ngoài ra, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2017 đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD/người/tháng Dự báo từ nay đến năm 2035, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đạt trên 6,8%/năm và đạt bình quân 7.780 USD vào năm 2035 Cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của người dân Việt Nam cũng tăng cao từ năm 2012 đến nay Dự báo đến năm
2035, hơn nửa dân số Việt Nam sẽ gia nhập hàng ngũ tầng lớp trung lưu toàn cầu với mức chi tiêu từ 15 USD trở lên trong ngày Kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng tốt, đồng thời với các chính sách của Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp ô tô, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện số lượng các loại phương tiện giao thông hứa hẹn tiếp tục tăng cao là những yếu
tố thuận lợi để thị trường ô tô phát triển; công nghiệp và thị trường ô tô cho thấy còn rất nhiều tiềm năng để các doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh
Thêm vào đó, theo số liệu của Công ty khảo sát thị trường quốc tế Business Monitor International (BMI - một tổ chức nghiên cứu, đánh giá về kinh tế, tài chính có trụ sở tại London), Việt Nam đang là quốc gia có tỷ lệ sở hữu xe ô tô thấp nhất trong khu vực, chỉ 4-5% số gia đình
có ô tô Trong khi đó, Việt Nam đang nổi lên là thị trường tiêu thụ ô tô tiềm năng nhất thế giới với tỷ lệ rất thấp, chỉ 23 xe/1.000 dân trong khi tại Thái Lan là 204 xe và tối thiểu là 400 xe/1.000 dân ở các nước phát triển, riêng Mỹ là 790 xe/1.000 dân Đồng thời, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tiêu dùng xe ô tô của Việt Nam cũng tăng trưởng khá mạnh, năm 2015 tăng trưởng 55% và năm 2016 tăng trưởng cao thứ 2 trên thế giới với 27,1%, Nói chung, nhu cầu về ô tô trong nước là vô cùng dồi dào và đầy tiềm năng Đây cũng có thể coi là một trong những cơ hội lớn của Việt Nam không chỉ trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam mà còn tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước không ngừng cố gắng, sáng tạo và nỗ lực phát triển trong việc tạo ra những chiếc xe ô tô mang thương hiệu Việt
Trang 103.3 Các ngành hỗ trợ liên quan:
Công nghiệp hỗ trợ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công nghiệp sản xuất
ô tô Hiện nay, trong nước mới chỉ một vài nhà cung cấp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô tô vẫn còn rất ít Thái Lan có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng Việt Nam chỉ có chưa đến con số 100 Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2, 3, trong khi Việt Nam chỉ có chưa đến 150 Phụ tùng linh kiện ô tô hiện đang sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các phụ tùng thâm dụng lao động, công nghệ đơn giản như kính, săm… Trong khi đó,
để hoàn thiện được một chiếc ô tô cần tới gần 30.000 chi tiết, do vậy, các linh kiện lắp ráp ôtô tại Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào nhập khẩu Theo Bộ Công Thương, tính đến nay, cả nước mới chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp (DN) công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô Bình quân mỗi DN lắp ráp
ô tô tại Việt Nam có 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình Hơn 90% các DN cung cấp linh kiện ô tô tại Việt Nam là các DN có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi, mới chỉ có một số DN trong nước tham gia vào mạng lưới cung ứng cho sản xuất, lắp ráp ô tô Trong khi để làm ra một chiếc ô tô, phải cần từ 30.000 - 40.000 chi tiết, linh kiện
Các yếu tố khác bất lợi cho công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam là tình trạng thiếu nguyên liệu, công nghệ khuôn mẫu kém phát triển
Hiện nay, một tín hiệu đáng mừng là một số doanh nghiệp đã chủ động đầu tư dây chuyền máy móc công nghệ để sản xuất sản phẩm phụ tùng linh kiện, chi tiết về ô tô Đã có