- Bảo hiểm là chế độ cam kết bồi thường về mặt kinh tế, trong đó người được bảo hiểm phải đóng góp một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện
Trang 1CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN
CHỞ BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG.
1 Khái niệm và các nguyên tắc về bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng đường hàng không
1.1 Khái niệm của bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng đường hàng không.
Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm được đưa ra, như :
- Bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế nhằm tổ chức các quỹ bảo hiểm huy động từ các đơn vị và cá nhân tham gia bảo hiểm để bồi thường những tổn thất, thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra
- Hay có thể định nghĩa : bảo hiểm là phương thức xử lý rủi ro, nhờ đó, việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng nhóm người được thực hiện thông qua các công ty bảo hiểm
- Bảo hiểm là chế độ cam kết bồi thường về mặt kinh tế, trong đó người được bảo hiểm phải đóng góp một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm đã được quy định, còn người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các rủi ro đã bảo hiểm gây nên
Điều này có nghĩa là : người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng đường hàng không.
Giống như các ngành kinh doanh khác, bảo hiểm cũng có những nguyên tắc hoạt
động riêng Nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít, san sẻ và phân tán rủi ro Quỹ bảo hiểm được hình thành từ nguồn phí bảo hiểm do
những người tham gia bảo hiểm đóng góp, sau đó nó được phân phối lại cho một số ít người gặp rủi ro Phí bảo hiểm chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với giá trị bảo hiểm, do vậy, phải tính toán chính xác sao cho vừa đảm bảo kinh doanh bảo hiểm có lãi vừa đảm bảo được khách hàng chấp nhận
Trang 2Ngoài nguyên tắc trên thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản sau :
a Nguyên tắc bảo hiểm rủi ro chứ không bảo hiểm cái chắc chắn
Theo nguyên tắc này, người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm rủi ro tức là bảo hiểm một sự cố tai nạn, tai hoạ xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, có thể lường trước được cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại do rủi ro gây ra chứ không bồi thường những thiệt hại chắc chắn hay đương nhiên xảy ra
b Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Theo nguyên tắc này, bảo hiểm phải tiến hành trên cơ sở trung thực và tin tưởng lẫn nhau giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm thể hiện ở :
- Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, biểu phí cho người được bảo hiểm biết; không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn hay đã bị tổn thất
- Người được bảo hiểm phải kê khai chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm và các rủi ro hay hiểm hoạ có thể gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm; phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm; không được mua bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm đã bị tổn thất
Hợp đồng bảo hiểm còn là hợp đồng của sự tín nhiệm: "contract of goodfaith", do đó, nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực
c Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm
Theo nguyên tắc này, chỉ có những người có lợi ích bảo hiểm thực sự thì mới được kí kết hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng đó mới hợp pháp Ở đây, lợi ích bảo hiểm là lợi ích của quyền lợi gắn liền với, liên quan đến, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Như vậy, người có lợi ích bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro Do đó, chỉ những người có lợi ích bảo hiểm mới được mua bảo hiểm và khi có tổn thất xảy ra, chỉ những người được bảo hiểm đã có lợi ích bảo hiểm mới được bồi thường
2 Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không
Trang 3Từ khi chiếc máy bay đầu tiên ra đời năm 1903 và chuyến bay quốc tế đầu tiên được thực hiện từ London đi Paris năm 1919 thì ngành hàng không trên thế giới đã có những bước phát triển cực kỳ mạnh mẽ Với sự phát triển không ngừng của khoa học
kỹ thuật đã cho ra đời những chiếc máy bay hiện đại có thể chở tới hơn 400 hành khách như Boeing 767, kèm theo đó là sự tăng lên không ngừng của giá trị các loại máy bay và khối lượng hàng hoá chuyên chở Vì vậy, khi có tai nạn xảy ra thì thiệt hại
về vật chất là rất lớn, điều này không những ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tài chính của các hãng hàng không mà còn ảnh hưởng đến hành khách đi trên máy bay cũng như là các chủ hàng hoá Ngành vận tải hàng không là một ngành sử dụng công nghệ cao với đội ngũ nhân viên lành nghề nhằm đạt đuợc tốc độ cao, khả năng bay xa; bên cạnh đó, mỗi chuyến bay cũng đòi hỏi sự an toàn rất cao bởi vì tính mạng con người và giá trị tài sản của máy bay, hàng hoá mà nó mang theo Các chuyến bay dân dụng cũng còn đòi hỏi một sự an toàn rất cao bởi tính mạng con người, giá trị tài sản của chiếc máy bay và hàng hoá mà nó mang theo, và bởi không thể dừng lại để sửa chữa trên không khi máy bay bị trục trặc Vì vậy, hoạt động hàng không đòi hỏi sự nghiêm ngặt tuân thủ nội quy, quy định nhằm đảm bảo sự an toàn cao nhất cho mỗi chuyến bay Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn xảy ra tai nạn dù rất ít, nhưng mức độ tổn thất thì lại rất lớn Giá trị tổn thất của toàn ngành hàng không nếu xét trên toàn thế giới
từ năm 1982 là 520 triệu USD thì nay đã lên tới 3.000 triệu USD Một phần không nhỏ trong giá trị tổn thất đó là trách nhiệm bồi thường đối với hàng hoá được vận chuyển trên máy bay Bởi vậy, ngay từ năm 1929 Công ước quốc tế đầu tiên về vận chuyển hàng không đã được ký tại Vac-sa-va quy định trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và các bên thứ ba khác Về sau, các mức trách nhiệm này lại được nâng lên dần theo sự phát triển của nền kinh tế và ngành hàng không và đến nay có thể lên đến hàng trăm triệu USD một vụ tổn thất
Với đặc điểm riêng có của hình thức vận tải hàng không như : tuyến đường trong vận tải hàng không là không trung và hầu như là đường thẳng không phụ thuộc vào địa hình mặt đất, mặt nước, không phải đầu tư xây dựng; tốc độ vận tải cao, thời gian vận tải ngắn; an toàn nhất trong các phương thức vận tải; thì dường như chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng không đã khắc phục được những hạn chế cố hữu gây ra nhiều tổn thất cho hàng hoá của hình thức vận tải đường biển Tuy nhiên, do giá trị của mặt hàng trong vận tải hàng không thường rất lớn nên việc lựa chọn tất yếu của các chủ
Trang 4hàng để đảm bảo công việc kinh doanh của mình ổn định, nếu có tổn thất xảy ra, chính
là mua bảo hiểm
Hơn nữa, ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ngành hàng không phát triển với tốc độ rất nhanh và trở nên vô cùng quan trọng không chỉ về mặt vận chuyển hành khách mà còn đáp ứng cả nhu cầu ngày càng cao về vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất nhập khẩu Đi kèm với nó, dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không cũng ngày một phát triển và thiết yếu hơn bao giờ hết
3 Một số nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không
Khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá bằng đường hàng không, mỗi một chủ hàng đều có thể mua bảo hiểm cho hàng hoá của mình theo hai cách : mua trực tiếp từ hãng hàng không thông qua cước phí vận chuyển phải trả cho hàng hoá đó, hoặc là mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm chuyên ngành Trong nội dung bài viết này, chỉ
đề cập đến cách thứ hai : đó là bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không được mua từ hãng bảo hiểm
3.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không là những loại hàng hoá được chuyên chở bằng máy bay; trừ thư, bưu kiện bưu phẩm, và hàng chuyển phát nhanh Trong vận tải hàng không quốc tế, hàng hoá thông thường được chuyên chở bằng máy bay chiếm khoảng 80%, còn lại 16% là hàng chuyển phát nhanh, 4% là bưu phẩm bưu kiện
Hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không thường gồm những loại chính sau đây :
• Hàng có giá trị cao (high value commodity) : (có giá trị vận chuyển từ 1.000 USD/kg trở lên)
+ vàng, bạch kim, đá quý hay các sản phẩm bằng vàng, bạch kim
+ tiền, séc du lịch, thẻ tín dụng, các loại chứng từ có giá
• Hàng dễ hư hỏng do thời gian (perisable) : bao gồm hoa quả tươi, thực phẩm đông lạnh,
• Hàng nhạy cảm với thị trường (market sensitive air freight) : như các loại hàng bán theo mùa, hàng mốt, hàng thời trang (fashion goods)
Trang 5• Động vật sống (alive animals) : loại này gồm động vật nuôi trong nhà, động vật ở các vườn thú
3.2 Các điều khoản bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường hàng không
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không có thể
do các chủ hàng mua từ các công ty bảo hiểm chuyên ngành, nó tương tự như hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá bằng đường biển Do vậy, điều khoản bảo hiểm này không nằm trong các Công ước hay các Nghị định thư của vận tải hàng không mà được ban hành trong điều khoản bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của ICC
Đối với bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không thì điều khoản bảo hiểm của ICC 1982 (do Viện những người bảo hiểm Luân đôn ban hành ngày 1/1/1982) hiện là phổ biến nhất và trở thành điều kiện áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới (với hơn 200 nước tham gia trong đó có Việt Nam) Ở Việt Nam hiện nay, ngoài điều kiện áp dụng cho bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu theo những quy tắc của ICC còn có những quy tắc riêng của Bảo Việt (Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam) Tuy nhiên, trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường hàng không thì hiện Bảo Việt vẫn chưa có quy tắc riêng mà việc áp dụng chủ yếu theo
“điều khoản bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường không” của ICC 1982
Nếu như bảo hiểm hàng hoá bằng đường biển có các đIều kiện A, B, C tuỳ theo mức độ rủi ro thì bảo hiểm hàng hoá bằng đường không chỉ có đIều khoản về những rủi ro được bảo hiểm và loại trừ Các rủi ro loại trừ bao quát hơn nên người ta thường gọi đIều khoản bảo hiểm hàng hoá bằng đường không là “covering institute cargo clause”
a Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là 30 ngày sau khi dỡ hàng hoá ra khỏi máy bay tại nơi dỡ hàng cuối cùng
Nếu một trong hai điều trên xảy ra thì điều còn lại không có giá trị Nghĩa là : nếu hàng hoá được vận chuyển về kho an toàn ngay sau khi dỡ ra khỏi máy bay thì bảo hiểm sẽ hết hiệu lực, không cần chờ 30 ngày Ngược lại, sau 30 ngày kể từ ngày dỡ xong hàng mà không đưa được hàng về kho thì bảo hiểm cũng hết hiệu lực, không cần chờ mang vào kho
• Kết thúc hợp đồng vận chuyển
Trang 6Ngoài ra, về thời hạn bảo hiểm ICC còn quy định về việc kết thúc hợp đồng vận chuyển: nếu do những tình huống ngoài khả năng kiểm soát của người được bảo hiểm
mà hợp đồng vận chuyển kết thúc tại một nơi khác nơi đến có tên ghi trong hợp đồng bảo hiểm hoặc việc vận chuyển được kết thúc theo cách khác trước khi giao hàng thì bảo hiểm này cũng sẽ kết thúc trừ khi có giấy báo gửi ngay cho người bảo hiểm yêu cầu tiếp tục bảo hiểm trong khi bảo hiểm vẫn còn hiệu lực với điều kiện phải nộp thêm phí bảo hiểm nếu người bảo hiểm yêu cầu, hoặc
- cho tới khi hàng được đem bán và giao ngay tại địa điểm đó, hoặc trừ khi
có thoả thuận riêng khác, cho tới khi hết thời hạn 30 ngày sau khi hàng hoá được bảo hiểm đến địa điểm đó, tuỳ theo trường hợp nào xảy ra trước, hoặc
- nếu hàng hoá được gửi đi trong thời hạn 30 ngày nói trên (hoặc bất kỳ thời hạn mở rộng nào đã thoả thuận) tới nơi đến có tên ghi trong hợp đồng bảo hiểm hay tới bất kỳ nơi đến nào khác cho tới khi kết thúc bảo hiểm theo những quy định trên
• Thay đổi hành trình
Sau khi bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực nếu người được bảo hiểm thay đổi nơi đến thì bảo hiểm này vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết với phí bảo hiểm và những điều kiện được thoả thuận
d Khiếu nại
•Quyền lợi bảo hiểm
Theo điều khoản này, người được bảo hiểm cần phải có quyền lợi bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm vào thời gian xảy ra tổn thất và sẽ có quyền đòi bồi thường cho những tổn thất được bảo hiểm đó trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực Điều khoản này cũng phù hợp với nguyên tắc lợi ích bảo hiểm thực sự
3.3 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền do người tham gia bảo hiểm nộp cho người bảo hiểm để hàng hoá được bảo hiểm Phí này được xác định trên cơ sở giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm thường được xác định theo công thức :
Trang 7P = CIF x R (nếu không bảo hiểm lãi dự tính a)
hoặc P = CIF x (1 + a) x R (nếu bảo hiểm lãi dự tính a)
Trong đó :
P : phí bảo hiểm
C : số tiền bảo hiểm
R : tỷ lệ phí bảo hiểm
Như vậy thực chất phí bảo hiểm gồm 2 phần : phí gốc và phí phụ
Còn tỷ lệ phí bảo hiểm (R) thì lại phụ thuộc vào các yếu tố sau : chủng loại hàng hoá, bao bì đóng gói, phương tiện vận chuyển, hành trình vận chuyển và điều kiện bảo hiểm Việc xác định được mức phí bảo hiểm cụ thể là bao nhiêu, nếu càng thấp sẽ càng nâng cao khả năng cạnh tranh về sản phẩm bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp bảo hiểm đó lên
3.4 Giám định tổn thất và bồi thường
a Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là việc làm của người bảo hiểm hoặc người được uỷ thác nhằm đánh giá, xác định nguyên nhân, mức độ và trách nhiệm đối với tổn thất của đối tượng được bảo hiểm để làm cơ sở cho việc tính toán tiền bồi thường Khi hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất (hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt,…), yêu cầu giám định trong thời gian quy định Sau khi giám định xong, cán bộ giám định sẽ cung cấp chứng từ giám định trong đó có xác định mức độ tổn thất hoặc mức giảm giá trị thương mại của hàng hoá làm cơ sở cho việc bồi thường
Mọi tổn thất được khách hàng thông báo đều phải được giám định một cách nhanh chóng để các tang vật và nhân chứng không bị phân tán Trong quá trình giám định tổn thất phải tạo bầu không khí tin cậy và hợp tác giữa người được bảo hiểm và giám định viên nhưng tuyệt đối không đưa ra bất kỳ một cam kết nào về số tiền bồi thường hay nói cho khách hàng cách tính toán số tiền thu được để tránh các trường
hợp lạm dụng bảo hiểm.
b Nguyên tắc và cách tính toán bồi thường
Bồi thường thực chất là kết quả hữu hình của bảo hiểm với mục đích giúp cho người được bảo hiểm có thể khôi phục tình hình tài chính như trước khi xảy ra tổn thất
Việc bồi thường tổn thất phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 8+ Nguyên tắc thứ nhất : chỉ bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm Tuy
nhiên, các khoản tiền sau cũng được bồi thường: các chi phí đã chi ra để cứu vớt hàng hoá, chi phí cứu nạn, phí giám định, chi phí bán đấu giá hàng bị hư hỏng, tiền đóng góp tổn thất chung dù tổng số tiền bồi thường vượt quá số tiền bảo hiểm
+ Nguyên tắc thứ hai : bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng hiện vật.
Thông thường nộp phí bảo hiểm bằng loại tiền tệ nào thì sẽ được bồi thường bằng loại tiền tệ đó
+ Nguyên tắc thứ ba : người bảo hiểm có quyền khấu trừ những khoản thu nhập
của người được bảo hiểm trong việc bán hàng và đòi người thứ ba có lỗi
Để tính toán tiền bồi thường, hiện nay người ta sử dụng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên số tiền bồi thường (STBT) thường được tính theo công thức sau: STBT = STBH x Tỷ lệ tổn thất
Trong đó :
∑ giá trị khi hàng còn nguyên - ∑ giá trị hàng hoá còn lại
Tỷ lệ tổn thất =
∑ giá trị khi hàng còn nguyên
STBH : số tiền bảo hiểm
Trang 9CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG Ở
VIỆT NAM I.Hoạt động của bảo hiểm hàng không từ năm 1989 trở về trước :
1 Một vài nét chung :
Kể từ khi được thành lập (năm 1976), ngành Hàng không dân dụng Việt Nam cũng đã nhanh chóng phát triển và đạt được một số thành tựu nhất định Để đáp ứng được yêu cầu bay nội địa và quốc tế, năm 1980, nghiệp vụ bảo hiểm hàng không đã ra đời nhằm góp phần ổn định hoạt động của ngành hàng không dân dụng, góp phần đẩy mạng nền kinh tế quốc dân Giai đoạn 1980-1989, nghiệp vụ bảo hiểm hàng không cũng như các loại hoạt động bảo hiểm khác tồn tại và phát triển trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mặc dù đã từng bước mở rộng phạm vi hoạt động của mình
2 Hoạt động bảo hiểm hàng không Việt Nam từ năm 1989 trở về trước :
2.1 Môi trường pháp lí :
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng không ra đời từ năm 1980 trước sự phát triển ngành hàng không thế giới và hàng không quốc gia Hàng không dân dụng Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của loại hình bảo hiểm hàng không và không thể làm ngơ trước những tổn thất lớn lao nếu như để tai họa xảy ra Chỉ bằng nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, Hãng hàng không dân dụng Việt Nam có thể đảm bảo được hoạt động kinh doanh của mình luôn ổn định Tuy nhiên, giai đoạn 1980-1989, do cơ chế Nhà Nước vẫn còn mang tính chất bao cấp, hàng không lại là ngành độc quyền nhà nước, nên bảo hiểm hàng không ở nước ta vẫn còn khá mới mẻ, dù trên thế giới nó đã trở nên rất phổ biến Vì vậy trong giai đoạn này, chỉ có một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm (Bảo Việt) đứng ra đảm nhiệm kinh doanh loại hình này Vì tiềm lực tài chính còn quá yếu cho nên Bảo Việt cũng phải tái bảo hiểm ở các nhà môi giới bảo hiểm nước ngoài Do tính chất mới mẻ của loại hình nghiệp vụ này, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam còn chưa thwucj sự mở cửa và hàng không dân dụng Việt Nam còn chưa có luật cụ thể nên cơ sở pháp lí của bảo hiểm hàng không cũng dựa vào những điều ước quốc tế có sẵn và một số quy tắc bảo hiểm của Bảo Việt đưa ra dựa trên các điều ước quốc tế:
- Các Công ước quốc tế về trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, hàng hóa và hành lí
Việc vận chuyển hàng hóa (có cả hành khách) bằng đường không quốc tế do Công ước Warsaw 1929 điều chỉnh Về sau công ước này được Nghị định thư The Hague 1955 sửa đổi và Công ước Guadalajara 1961 bổ sung Sửa đổi sau cùng là các
Trang 10Nghị định thư Montreal (số 3 và số 4 năm 1955) Trong các điều khoản Công ước đề
ra quyền hạn, nghĩa vụ và tách nhiệm của người chuyên chở và người gửi hàng hay người nhận hàng cũng như bảo vệ cho họ trong hợp đồng vận tải hàng không
- Công ước Montreal bổ sung thêm một số vấn đề mới như việc đơn giản hóa và hiện đại hóa các chứng từ liên quan đến vận chuyển hành khách, hành lí, hàng hóa và tạo điều kiện cho việc rút ngắn quá trình xét xử của tòa án trong các trường hợp đền bù thiệt hại Một điểm nổi bật là các công ước ra đời sau đều có xu hướng ngày càng chặt chẽ, hợp lí hơn và trách nhiệm của người chuyên chở cũng tăng lên nhiều
2.2 Công tác bảo hiểm hàng không :
Về phương diện bảo hiểm, Việt Nam không chỉ rập khuôn theo các nước Xã hội chủ nghĩa mà đã có sự nhìn nhận sâu rộng, có sự đổi mới với tình hình đất nước Đối với bảo hiểm trách nhiệm của người chuyên chở, ta dựa vào thị trường bảo hiểm của
hệ thống Tư bản chủ nghĩa là chính (chiếm tới 90%) còn lại ta tham gia hợp tác với các nước trong hệ thông Xã hội chủ nghĩa Hàng khoogn Việt Nam đã kí hợp đồng bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm – Công ty bảo hiểm duy nhất trên thị trường Do tiềm thực tài chính còn hạn hẹp, Bảo Việt không dám và cũng không đủ khả năng để một mình đảm nhận nghiệp vụ này mà phải nhờ tới nhà môi giới bảo hiểm nước ngaofi bằng nghiệp vụ tái bảo hiểm Chính các nhà đứng đầu nahanj bảo hiểm đã định đoạt phí bảo hiểm tách nhiệm theo tính toán đơn phương của họ Hàng không Việt Nàm và Bảo Việt cũng chỉ biết chấp nhận mức phí do họ đưa ra vào thời điểm sát nút của năm hợp đồng sắp kết thúc (ngày 31/12 hàng năm)
Theo quy trình này, hàng năm sau khi nhận các bản câu hỏi về hàng không từ các nhà môi giứi bảo hiểm, Bảo Việt chuyển cho hàng không Việt Nam tả lời Nếu các nhà nhận tái bảo hiểm hiểu rõ về tình hình hoạt động cảu ngành hàng không thì họ sẽ thông báo cho Bảo Việt mwusc phsi bảo hiểm dựa trên những thông tin số liệu mà Bảo Việt cung cấp cho họ Sau đó, căn cứ vào mức phí này và theo tính toán của riêng mình mà Bảo Việt sẽ cộng thêm một khoản phí rồi thông báo lại cho Hàng không Việt Nam thực hiện Quyền lợi và trách nhiệm của Hàng không Việt Nam là nhận thông báo từ Bảo Việt về khoản phí phải nộp và đóng phí Trong giai đoạn đầu, Hàng không Việt Nam chỉ thực hiện về bảo hiểm thân máy aby, trách nhiệm của nhà chuyên chở đối với hành khách, hành lí, hàng hóa, bưu kiện và người thứ ba, bảo hiểm tai nạn tổ bay là chính, còn các đối tượng khác chưa tiến hành được do nhu cầu và khả năng của công ty là chưa cần thiết Năm 1980, Hàng không Việt Nam mới tiến hành bảo hiểm 16 máy bay