Thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay .... Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÃ TRƯỜNG ANH
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lã Trường Anh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9 1.2 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu 28
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC
TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 36
2.1 Khái quát về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 36 2.2 Lý luận pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 64 2.3 Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở một số nước và gợi mở cho Việt Nam 75
Chương 3 THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 92
3.1 Thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay 92 3.2 Thực tiễn thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay 101 3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ người tiêu dùng của các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay 119
Trang 4Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 149
4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 149 4.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay 152
KẾT LUẬN 172 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 140 TÀI LIỆU THAM KHẢO 176
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KH&ĐS : Khoa học và Đời sống
ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian vừa qua, kinh tế Việt Nam phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã mang lại những thành quả đáng ghi nhận Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, NTD có nhiều sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ với chất lượng ngày càng tăng và giá cả ngày càng hợp lý Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực thì những mặt trái
cố hữu vẫn tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và quyền lợi của NTD nói riêng Đó là tình trạng một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận đã thực hiện những hành vi vi phạm như: buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại Thực tiễn công tác bảo vệ NTD tại Việt Nam cho thấy, các vụ vi phạm quyền lợi NTD không giảm đi mà có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng, tính chất, mức độ
và hình thức vi phạm Hàng loạt các vụ vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích của NTD được phát hiện như: quảng cáo sai sự thật thông qua hình thức trúng phiếu mua hàng qua điện thoại của công ty Thái Dương Xanh; Bán hàng không đúng như nội dung cam kết qua trang web, chương trình bán hàng trên tivi, facebook Nhiều trang web bán hàng lợi dụng việc mua hàng qua mạng đã giao hàng không đúng như thông tin giới thiệu…
Với việc ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 11 hiệp định đã có hiệu lực thi hành, có thể nói chưa bao giờ Việt Nam lại mở cửa, hội nhập quốc tế sâu và rộng như lúc này Có thể khẳng định rằng, vấn
đề bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ là vấn đề thời sự của mỗi quốc gia, mà còn là vấn đề của khu vực và toàn cầu do tính xuyên biên giới của nó Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản quy
Trang 7phạm pháp luật cũng như áp dụng nhiều biện pháp để thực thi có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện mới
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là, trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, các mục tiêu bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có thể thực hiện được khi thiết lập các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đầy đủ và hiệu quả Kinh nghiệm quốc tế đã chứng tỏ rằng, sự hiện diện của các thiết chế của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi NTD tuy cần thiết song thiếu đầy đủ và toàn diện Để thực thi hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện hội nhập sâu và rộng như hiện nay, cần phải thiết lập, củng cố, tăng cường mạng lưới các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Từ cách tiếp cận trên, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã dành một Chương quy định vai trò, vị trí của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, do phải đối mặt với nhiều rào cản khách quan lẫn chủ quan, đặc biệt là cơ chế tham gia nên trên thực tế, hoạt động của các tổ chức xã hội vẫn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều bất cập, chưa thực sự trở thành một thiết chế hữu hiệu trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta hiện nay
Từ phía các tổ chức xã hội, do ý thức được vai trò, vị trí của mình trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nên các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD đã có những bước phát triển tích cực trong những năm gần đây Ngày 29/11/2018, Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vietnam Consumers Protection Association - VICOPRO) đã được thành lập trên cơ sở tách ra từ Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) hướng tới mục đích đảm bảo tính pháp lý và thực hiện đầy đủ, toàn diện các nội dung bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội theo đúng quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Hội bao gồm
61 các Hội địa phương và tổ chức là thành viên trải dài ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Thời gian vừa qua, các Hội đã có những đóng góp rất quan
Trang 8trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, thực tế hoạt động của Hội vừa qua cũng đã cho thấy nhiều điểm còn bất cập trong pháp luật quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức bảo vệ NTD Pháp luật hiện hành không quy định về mối quan hệ giữa các tổ chức bảo vệ NTD ở các cấp khác nhau, dẫn đến hoạt động bảo vệ NTD của các tổ chức đơn lẻ sẽ có thể trở nên rời rạc, không thống nhất mang tính hệ thống Kinh phí cho hoạt động của các
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp là do các thành viên đóng góp Tuy nhiên, khác với những tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp khác, tổ chức bảo vệ NTD không có nguồn thu ổn định từ các hội viên Hoạt động vì lợi ích chung của NTD và của toàn xã hội nhưng lại không có bất kỳ một sự hỗ trợ kinh phí hay bất kỳ một sự đóng góp nào Chính điều này đã gây ra những khó khăn trong quá trình hoạt động của tổ chức bảo vệ NTD
Thực tiễn cũng cho thấy, ở những nơi mà Hội bảo vệ NTD Việt Nam nhận được sự hỗ trợ về mặt tài chính của địa phương như Kiên Giang, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu… thì hoạt động của các Hội này được thực hiện rất
có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho NTD Các quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam mới quy định cơ chế hỗ trợ tài chính cho hoạt động của tổ chức bảo vệ NTD ở mức độ nguyên tắc và thiếu hiệu quả Từ những phân tích trên cho thấy, hoạt động của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay đang gặp những vướng mắc, bất cập về hành lang pháp lý, đưa đến vai trò, trách nhiệm của các tổ chức này trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng không được đề cao Đây
cũng là lý do mà tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để thực hiện Luận án Tiến sĩ luật học
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi trách nhiệm
của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay;
từ đó, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu so sánh trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về trách nhiệm của các tổ
chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu thực tiễn về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Trách nhiệm của các tổ chức xã hội
trong bảo vệ quyền lợi của NTD là một vấn đề rộng, có nhiều nội dung khác nhau Chủ thể là tổ chức xã hội có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của NTD cũng có nhiều tổ chức với phạm vi trách nhiệm khác nhau Tuy nhiên, trong Luận án này, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ thể là Hội bảo vệ NTD Việt Nam với tư cách là “tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi NTD”
Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian: Căn cứ vào thực tiễn
áp dụng, Luận án tổng hợp, đánh giá trách nhiệm của các Hội bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam từ năm 2010 (khi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ra đời) đến nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, nhà nước ta về chính sách và pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích: được tác giả sử dụng khi đánh giá, bình luận
các quan điểm, các quy định của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD… Phương pháp này được tác giả sử dụng trong tất cả các chương của luận án, đặc biệt nhấn mạnh ở Chương 1, Chương
2, Chương 3 của luận án
- Phương pháp tổng hợp: được tác giả sử dụng khi đánh giá nhằm rút
ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, đề xuất và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi
Trang 11của NTD Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 4 của luận án
- Phương pháp so sánh luật học: được tác giả sử dụng khi phân tích,
đánh giá các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD hiện hành của Việt Nam trong mối tương quan với các quy định pháp luật các nước nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt, trên cơ sở đó gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 2
- Phương pháp thống kê: được tác giả vận dụng nhằm thu thập các văn
bản quy định pháp luật mới nhất về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; các công trình nghiên cứu về trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; tiến hành thu thập số liệu mới nhất về các việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD của các tổ chức xã hội; đánh giá mức độ và tình trạng các đối tượng yếu thế (NTD) được
tổ chức xã hội bảo vệ…Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 của luận án
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: được tác giả sử dụng từ khi
nêu nội dung điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, sau đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị tương ứng Phương pháp này được sử dụng chủ yếu và đảm bảo sự xuyên suốt từ Chương 2, Chương 3, Chương 4 của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Từ trước đến nay, các nghiên cứu trong nước và quốc tế về lĩnh vực các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có rất nhiều, tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chỉ gọi là nghiên cứu khái quát hoặc nhắc đến trong nghiên cứu của mình Đặc biệt, công trình nghiên cứu độc lập, các khảo sát về
Trang 12trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam chưa hề có, mặc khác khi các quy định về trách nhiệm của các tổ chức
xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được đưa vào Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng không có luận cứ Bởi vậy, đây là lần đầu tiên có một nghiên cứu toàn diện, cụ thể và có luận cứ chi tiết, các hoạt động thực tiễn
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Đề tài chỉ ra cơ sở lý thuyết về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Đây là căn cứ khoa học để đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Chỉ ra quá trình tham gia bảo vệ NTD của các tổ chức xã hội ở một số nước trên thế giới Đây là cơ sở, bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng điều chỉnh pháp luật và thực trạng thực hiện trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay, bao gồm trách nhiệm về: Phản biện và giám định xã hội; giáo dục NTD; đại diện giải quyết khiếu nại của NTD; thay mặt khởi kiện dân sự vì quyền lợi của NTD Thông qua đó, đề tài đã phát hiện và chỉ ra: (i) Những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian vừa qua; (ii) Những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi của NTD Đề tài đưa ra các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đã xây dựng, cung cấp cơ sở khoa học về mặt
lý luận, thực tiễn và pháp lý về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay Thông qua việc nhận diện đa chiều
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; trên cơ
sở đánh giá thực trạng pháp luật và đưa ra các quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian tới
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo
tốt cho các cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng
là công trình, là sản phẩm cho việc giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài Lời nói đầu, Kết cấu và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lí luận về trách nhiệm của các tổ chức xã hội
trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Chương 3 Thực trạng trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Báo cáo “Thực thi trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của
các hiệp hội nghề nghiệp trong bảo vệ người tiêu dùng – cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của ThS Viên Thế Giang và Lê Tuấn Tú tại Hội thảo “Các
tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và quyền con người”: tác giả đã chỉ ra các tổ chức xã hội đã có nhiều nỗ lực
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thực thi tốt trách nhiệm của các
tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng Sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp
trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ tạo “thế lực cân bằng”, là đối trọng
tương xứng giữa người tiêu dùng và người cung ứng hàng hóa, dịch vụ
- Đề tài cấp Bộ năm 2006 với tiêu đề: “Bảo đảm quyền của NTD trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của Viện
nghiên cứu con người – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, do TS Tường Duy Kiên làm Chủ nhiệm đề tài Đề tài đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định
Trang 15hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể đề tài đã làm sáng tỏ khái niệm người tiêu dùng, phân biệt người tiêu dùng với khách hàng
- TS Đặng Vũ Huân với bài viết “Pháp luật và vấn đề bảo vệ người
tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật
và tiêu dùng tháng 1 năm 2005, bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ NTD theo kinh
tế học Tác giả phân tích mối quan hệ kinh tế giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường, từ đó có thể thấy NTD giữ vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế Bài viết cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến quyền lợi của NTD chưa được bảo đảm Trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là do các quy định của pháp luật mang tính tổng quát, chung chung và chưa có cơ chế xử lý thích đáng đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị mang tính
vĩ mô nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ NTD
- Bài viết “Một số vấn đề lý luận xung quanh luật bảo vệ người tiêu
dùng” của PGS.TS Nguyễn Như Phát (2010) đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, Số 2 Bài viết đã đề cập đến nhiều vấn đề trong dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi NTD Trong đó, tác giả phân tích mối quan hệ giữa NTD với
thương nhân, trong mối quan hệ này thì NTD luôn yếu thế “do tính chất xã
hội của quan hệ tiêu dùng mà người tiêu dùng khó có thể có cơ hội trở thành
tự do, bình đẳng vì họ buộc phải tham gia vào mối quan hệ với đặc tính truyền kiếp là “thông tin bất cân xứng”, chính vì vậy, pháp luật phải ưu tiên
bảo vệ “kẻ yếu” Cũng theo tác giả, pháp luật bảo vệ NTD hiểu theo nghĩa tổng quát là một hệ thống pháp luật có liên quan đến nhau mà đạo luật về bảo
vệ quyền lợi NTD chỉ có giá trị tiên phong Đồng thời, tác giả đã phân tích sự hình thành và những đặc điểm của điều kiện giao dịch chung, mối quan hệ giữa NTD và thương nhân trong việc thiết lập và thực hiện điều kiện giao dịch chung Và qua đó, tác giả cho rằng cần thiết phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ điều kiện giao dịch chung
Trang 16- Cuốn “Tìm hiểu Luật bảo vệ NTD các nước và vấn đề bảo vệ NTD ở
Việt Nam”, Nxb Lao động, 1999, do Viện Nhà nước và pháp luật biên soạn là
một trong số những công trình tiên phong nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam đồng thời là tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với những nhà nghiên cứu quan tâm tới Luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ cũng như chính sách bảo vệ NTD của các quốc gia này Bên cạnh đó, cuốn sách cũng có những phân tích
về hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam mà cụ thể là hoạt động của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên vấn đề xâm hại quyền lợi của NTD diễn ra ngày càng phổ biến và trầm trọng
ở nước ta, lý giải các nguyên nhân gây ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD cũng như đề ra các biện pháp để bảo vệ NTD hữu hiệu nhất
- Cuốn “Bàn về tiêu dùng của Chủ nghĩa xã hội” của Trần Tri Hoằng,
Nxb Chính trị quốc gia, 1999 là công trình tiên phong nghiên cứu những vấn
đề mang tính lý luận về tiêu dùng Cuốn sách đã tổng kết thực tiễn tiêu dùng hơn 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ cải cách, mở cửa từ năm 1978 đến nay dựa trên cơ sở lý luận của C Mác- Ph ĂngGhen, V I Lê Nin về vấn đề tiêu dùng và tham khảo thành tựu lý luận về tiêu dùng trong kinh tế học phương Tây Trong cuốn sách này, ông đã trình bày năm vấn đề lớn: Quan niệm về tiêu dùng; hệ thống tiêu dùng; cơ cấu tiêu dùng; hành vi tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng Tác giả tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện về lý luận cơ bản, các quy luật vận hành, diễn biến, các quan hệ của tiêu dùng: giữa sản xuất với tiêu dùng, phân phối với tiêu dùng, trao đổi với tiêu dùng Ngoài những vấn đề mang tính lý luận về tiêu dùng, tác giả cũng đã đề cập đến một số quyền của NTD như: quyền được tìm hiểu; quyền được lựa chọn; quyền bảo đảm chất lượng, giá cả, an toàn, cân đong; quyền sửa chữa, thay đổi, trả lại tiền và đòi bồi thường Quyền của NTD tuy chưa được đề cập và phân tích một cách đầy đủ, nhưng
Trang 17đây có thể xem là sự gợi mở cho các công trình sau, kế thừa và tiếp tục làm rõ hơn các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD
- Iain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and Materials on
Regulating Consumer Markets: học giả đề cập sâu sắc về vai trò của Nhà nước
trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các quan điểm, chính sách về pháp luật bảo vệ NTD ở nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế từ
đó đưa ra các nhận định về cách thức xây dựng chính sách và pháp luật bảo vệ NTD của quốc gia, quốc tế
- A Brooke Overby, An Institutional Analysis of consumer Law: Trong
tài liệu này, Brooke đưa ra định nghĩa “NTD” được sử dụng trong một đạo luật của Anh Quốc là Fair Trading Act năm 1973, trong đó NTD là người được cung cấp hoặc tìm kiếm sự cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong quá trình kinh doanh của bên cung cấp nhưng không tiếp nhận hàng hóa hay dịch
vụ trong quá trình kinh doanh của mình Brooke cũng nhận định tính bất cân bằng trong quyền thương lượng, một điều liên quan tới những vấn đề phi đạo đức và phi thị trường được phản ánh thông qua sự tương phản về kinh nghiệm của bên bán với sự thiếu kinh nghiệm của cá nhân người mua
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu khác cũng cung cấp những quan điểm, lí luận ở nhiều khía cạnh cụ thể liên quan tới bảo vệ quyền lợi NTD phải kể đến như:
- Private and Financial Sector Development Department - World Bank,
Good Practices for Consumer Protection and Financial Literacy in Europe and Central Asia: A Diagnostic Tool: Công trình nghiên cứu này đề cập về
NTD trên thế giới, chủ yếu tập trung ở những nước đang phát triển - những nước có nền kinh tế còn non kém, hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD còn chưa phát triển Đồng thời, nghiên cứu còn để cập đến nội dung thực hành tốt đối với bảo vệ quyền lợi NTD trong các lĩnh vực khác nhau của ngành tài chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao
Trang 18gồm 8 vấn đề chính: (i) Các tổ chức bảo vệ NTD, (ii) Các nguyên tắc bán hàng
và công bố thông tin, (iii) Quản lý và duy trì tài khoản của NTD, (iv) Bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, (v) Cơ chế giải quyết tranh chấp, (vi) Phương án bảo lãnh/bảo đảm và bồi thường, (vii) Giáo dục tài chính và (viii) Các vấn đề cạnh tranh trong dịch vụ tài chính
- Committee on Consumer Policy - Directorate for Science, Technology
and Industry-OECD, Best Practices for Consumer Policy: Report on the
Effectiveness of Enforcement Regimes: Nghiên cứu này xem xét chế độ thực thi
nào có hiệu quả về mặt chi phí trong việc đảm bảo tuân thủ nghiêm mặt pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi NTD được lập ra để ngăn ngừa các tổn thất tài chính Nghiên cứu đưa ra 5 mô hình để thực thi pháp luật bảo vệ NTD gồm: (i) Mô hình dựa vào hệ thống pháp luật hình sự về xử phạt; (ii) Mô hình trong đó các
cơ quan hành chính chủ yếu sử dụng hệ thống pháp luật dân sự để đưa ra các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả; (iii) Mô hình trong đó các cơ quan hành chính có quyền áp dụng các biện pháp xử phạt tài chính; (iiii)
Mô hình chủ yếu dựa vào khiếu nại của NTD lên cán bộ thanh tra; (iv) Mô hình chủ yếu dựa vào việc sắp xếp và thực thi các quyền hạn riêng Qua đó, học giả nghiên cứu phát triển một khung lý thuyết về đánh giá tính hiệu quả về mặt chi phí của các phương án thực thi này thông qua các nghiên cứu thực tiễn tại các quốc gia như: Anh, Australia, Bỉ, Hà Lan
- Alternative consumer dispute resolution in the EU, Committee for
Consumer Affairs (CCA) - Social and Economic Council (SER): Báo cáo nhìn nhận các cơ chế hiện tại như Quy định thành lập Trình tự giải quyết vụ việc khiếu kiện nhỏ của EU (the Regulation establishing a European Small Claims Procedure); Nghị quyết về Thương lượng (the Mediation Directive) và Nghị quyết về bảo vệ lợi ích NTD (the Injunctions Directive) chưa tạo nên chuyển biến thực sự tích cực trong hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng
ở Châu Âu Theo báo cáo, rào cản lớn nhất trong việc sử dụng cơ chế phối
Trang 19hợp ADR đối với các vụ việc vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ chính nằm ở sự thiếu các thông tin cần thiết về địa lý, lĩnh vực, đặc điểm giao dịch đặc biệt trong hoạt động thương mại điện tử
Có thể khẳng định rằng, các nghiên cứu của các học giả trên chủ yếu mang tới cái nhìn đa chiều về quan hệ tiêu dùng, về các khía cạnh chi tiết trong hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng, số lượng nghiên cứu mang tính chất tổng quan về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD hiện nay chưa nhiều, các tác phẩm
đa phần vẫn chỉ phân tích sâu về từng điểm nhỏ mà chưa cho thấy được bức tranh tổng thể của mối quan hệ phức tạp này
1.1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Các tổ chức xã hội hiện nay đang phát triển một cách phong phú, đa dạng và cũng tác động lớn đến xã hội với sự tham gia rộng rãi hơn vào các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, nghiên cứu khoa học Các tổ chức này còn đóng một vai trò rất lớn trong việc phát triển cộng đồng, tư vấn phản biện chính sách cho Nhà nước, phát triển các dịch vụ cộng đồng cũng như trong hoạt động giám sát đối với những tiêu cực của xã hội, của Nhà nước Chính vì vậy, các tổ chức xã hội là một lĩnh vực quan trọng, đã và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn
Từ những năm 1993 đến nay, chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về hội, về tổ chức xã hội: Những thông tin về hoàn thiện pháp luật về Hội
ở Việt Nam trong thời gian tới; vị trí, vai trò của các hội quần chúng đối với
sự hình thành, phát triển của xã hội ở Việt Nam; quan hệ của nhà nước và các
hiệp hội quần chúng được đề cập tới trong Đề tài cấp Nhà nước “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” trong Chương trình
khoa học trọng điểm cấp Nhà nước mã số KX.02/06-10 do GS.TS Đỗ Hoài
Trang 20Nam làm chủ nhiệm; GS.TS Dương Xuân Ngọc, “Xây dựng xã hội dân sự ở
Việt Nam”, NXB Chính trị - Hành chính, năm 2009; Nguyễn Khắc Mai, “Vị trí, vai trò các hiệp hội quần chúng ở nước ta”, NXB Lao động, năm 1996
Có một số công trình nghiên cứu đã xác định tầm quan trọng của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD - là tổ chức xã hội, đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD theo quy định của pháp luật – trong công tác bảo vệ NTD hiện nay Xây dựng được cơ sở lý luận và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD trong việc đảm bảo quyền lợi NTD Đề xuất một
số vấn đề nâng cao năng lực của tổ chức này, mà trước hết cần phải luật hóa vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD như báo cáo tại Hội thảo quốc tế và
KASS tổ chức năm 2008 của tác giả Phan Huy Hồng: Vai trò của các tổ chức
bảo vệ NTD ở Việt Nam (2008): Bài viết xác định tầm quan trọng của Tổ
chức bảo vệ quyền lợi NTD - là tổ chức xã hội, đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD theo quy định của pháp luật – trong công tác bảo vệ NTD hiện nay Bài viết xây dựng được cơ sở lý luận và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD trong việc đảm bảo quyền lợi NTD Trên cơ sở đó, đề xuất một số vấn đề nâng cao năng lực của tổ chức này, mà trước hết cần phải luật hóa vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD
- PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Vai trò của Hội bảo vệ người
tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia – Sự
thật: tác giả đã đưa ra các cơ sở pháp lý của việc xác định vai trò của Hội bảo
vệ NTD trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD Tiếp đến, tác giả trình bày quá trình hình thành và các hoạt động của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Việt Nam
- TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên):
Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia –
Sự thật (2012); TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (đồng chủ
biên): Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội,
Trang 21NXB Chính trị quốc gia (2010) Đây là những nghiên cứu công phu, tỉ mỉ về các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp; những khuyến nghị xã hội về phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam là những nguồn tư liệu quý để luận án kế thừa và phát triển
- Báo cáo “Hội bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta hiện nay – thực trạng
hoạt động và định hướng đổi mới” của TS Đinh Thị Mỹ Loan tại Hội thảo
“Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam”(2009): Tác giả đã làm rõ những đóng góp của Hội bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ở nước ta trong bảo vệ NTD và chỉ ra một số các phương hướng cụ thể để tăng cường và phát triển vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi NTD trong phạm vi cả nước
- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người
tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”(2008) của Viện Khoa học
Pháp lý thực hiện, do ThS Đinh Thị Mai Phương làm chủ nhiệm: Đề tài đã chỉ rõ được các vấn đề lý luận về cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng (Khái niệm, bản chất, các bộ phận cấu thành của cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng; Các bộ phận cấu thành của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; Lịch sử phát triển của chế định pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển)
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do TS Đinh Thị
Mỹ Loan chủ nhiệm năm 2006 là một trong những đề tài khoa học đầu tiên nghiên cứu về vấn đề bảo vệ NTD Nội dung của đề tài chủ yếu đề cập tới các vấn đề mang tính cốt lõi liên quan tới pháp luật bảo vệ NTD như quyền của NTD; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nghĩa vụ
và quyền hạn của cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ NTD Ngoài ra đề tài còn giới thiệu pháp luật bảo vệ NTD của một số nước trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Canada, Hướng
Trang 22dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD, của Tổ chức quốc tế NTD Từ những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của pháp luật các nước về bảo vệ NTD, đề tài đưa ra những hạn chế của pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam đồng thời đưa ra các phương hướng và kiến nghị những giải pháp rất có giá trị trong việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi NTD
- Đề tài “Nghiên cứu Vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ
NTD ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của trường Đại học
Luật Hà Nội do TS.Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm năm 2011 nêu những kiến thức tổng quan về bảo vệ NTD và Hội bảo vệ NTD như nêu cơ sở pháp lý, thiết chế thực thi luật bảo vệ NTD trong đó có nêu vai trò của Hội trong các mặt hoạt động như phản biện xã hội, giáo dục NTD, giải quyết khiếu nại của NTD Từ đó kiến nghị những phương hướng, giải pháp giúp nâng cao vai trò của Hội trong việc bảo vệ NTD ở Việt Nam
- Đề tài cấp Bộ “Tăng cường năng lực thiết chế thực thi pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Viện Khoa học Pháp lý (2012) do TS
Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận
về năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD với những nội dung: Làm rõ được khái niệm, đặc điểm thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; Nêu và phân loại được các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở trên thế giới và ở Việt Nam; Phân tích được vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD liên quan tới vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD; Đưa ra hệ thống các tiêu chí xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của các thiết chế đó; Nghiên cứu kinh nghiệm tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD ở một số nước trên thế giới (tập trung vào nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước châu Á, Hoa kỳ và Canada); Phân tích và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt
Trang 23Nam; Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam
Ngoài ra, còn rất nhiều những ấn phẩm nghiên cứu về Hội, các tổ chức
xã hội ở Việt Nam hiện nay như: Tài liệu tập huấn về tổ chức, quản lý hội và tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam do Ban tổ chức – cán bộ của Chính phủ thực
hiện tháng 11/2000; Đề tài cấp Bộ: Thực trạng và giải pháp về quản lý Nhà
nước với các tổ chức phi Chính phủ, năm 2007; Kỷ yếu hội thảo phục vụ tọa
đàm về đối tượng, phạm vi điều chỉnh Luật về Hội tổ chức tháng 07/2001; Bùi
Thị Thanh Hằng: Pháp luật về Hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 5, 2007; Ngân hàng thế giới tại Việt Nam xuất bản cuốn sách “Sổ tay kinh nghiệm về pháp luật liên quan đến các tổ chức phi chính phủ”;…
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD - một bộ phận cấu thành cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi
NTD Trong đó, các bài viết tiêu biểu như: “Quyền của NTD và trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, báo cáo tại Hội thảo
quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức
tháng 2/2008; Hội thảo “Pháp luật về bảo vệ NTD – kinh nghiệm quốc tế,
thực trạng và triển vọng ở Việt Nam”(2009); GS.TS Lê Hồng Hạnh, “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD”, báo
cáo tại hội thảo Bảo vệ NTD – kinh nghiệm từ pháp luật của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp tổ chức tại TP.HCM tháng
7/2010; TS PGS.TS Đinh Văn Thanh, “ Thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ
án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD – Nhu cầu và định hướng lập pháp”, báo
cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ NTD – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng
và triển vọng ở Việt Nam, do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009;
+ Trong bài viết “Quyền của NTD và trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng đã nêu bật vai trò của các cơ quan quản
Trang 24lý Nhà nước trong việc bảo vệ NTD Đây là thiết chế cơ bản và quan trọng nhất, bởi lẽ, NTD bị xâm phạm ở hầu hết tất cả lĩnh vực quản lý của Nhà nước như quảng cáo, nhãn hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm Và nhà nước là chủ thể
có trình độ, có phương tiện và có nguồn tài chính dồi dào để phát hiện, ngăn chặn sự xâm phạm này Bài viết đưa ra một số giải pháp giúp cơ quan quản lý Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn trong công tác bảo vệ NTD
+ Trong bài viết “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế
bảo vệ quyền lợi NTD”, báo cáo tại hội thảo Bảo vệ NTD – kinh nghiệm từ
pháp luật của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp tổ chức tại TP.HCM tháng 7/2010, GS.TS Lê Hồng Hạnh đã xác định các bộ phận của thiết chế bảo vệ NTD, trong đó, mỗi thiết chế có vị trí và vai trò khác nhau trong cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, chúng vẫn có một điểm chung hiện nay khá yếu, kém Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật hiện hành, bài viết đề một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của các thiết chế Trong đó, nổi bật là việc bổ sung thủ tục tố tụng rút gọn của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp giữa NTD và nhà sản xuất, kinh
doanh Cùng với quan điểm này, PGS.TS Đinh Văn Thanh đã có bài viết “
Thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD – Nhu cầu và định hướng lập pháp”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ NTD –
kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009 Tác giả phân tích, luận giải sự cần thiết áp dụng thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD Điều này giúp NTD tiết kiệm thời gian, công sức cũng như tiền bạc khi tham gia tranh chấp với tổ chức sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi cho NTD “tiếp cận công lý”
Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết đi sâu, làm sáng tỏ vị trí, vai trò, bản chất của các thiết chế bảo vệ NTD như Tòa án, Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức bảo vệ NTD và các đòi hỏi của thực tiễn nhằm bảo vệ tốt nhất
Trang 25quyền lợi NTD Từ đó kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những thiếu sót trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, góp phần đảm bảo sự
công bằng trong xã hội Cụ thể: ThS Ngô Vĩnh Bạch Dương, “Vấn đề nghĩa
vụ chứng minh trong các vụ án về bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam”,
báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ NTD – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM ngày
16-17/11/2009; Tưởng Duy Lượng, “Vai trò của tòa án trong việc bảo vệ
quyền lợi NTD”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007, trang 29-34; …
- Cross-Border Alternative Dispute Resolution in the European Union,
Directorate General for Internal Policies: Báo cáo là kết quả nghiên cứu được thực hiện vào năm 2011 cung cấp cái nhìn khái quát về cơ chế ADR hiện có tại tất cả 27 quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, đồng thời đánh giá hiệu quả vận hành của các cơ chế giải quyết các vụ việc quốc tế thông qua ADR
- “Effective Enforcement of Consumer Law in Europe Synchronizing
Private, Public, and Collective Mechanisms” của Willem van Boom và
Macro Loos đã có những phân tích về luật bảo vệ NTD của Châu Âu, sự liên quan của luật cạnh tranh không lành mạnh trong việc xác định các công cụ hiệu quả cho việc bảo vệ lợi ích của NTD Đồng thời tác phẩm cũng cho thấy mối quan hệ giữa việc thực thi luật cạnh tranh với việc thực thi luật bảo vệ quyền lợi NTD
- Nhóm tác giả Geraint G.Howells, Iain Ramsay, Thomas Wilhelsson, David Kraft cung cấp những phân tích về các vấn đề trung tâm trong pháp luật và chính sách bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới trong cuốn
“Handbook of Research on International Consumer Law”, Edward Elgar Pub, 2010 Các tác giả phân tích những quy định cả về thể chế và thiết chế
bảo vệ NTD, những phương pháp tối ưu để thực thi pháp luật bảo vệ NTD trên cơ sở so sánh pháp luật bảo vệ NTD của Hoa Kỳ và EU Từ đó, đưa ra cái nhìn sâu sắc về chính sách bảo vệ NTD cũng như mô hình các quy định
Trang 26pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nhằm hỗ trợ cho việc đánh giá các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD ở các quốc gia đang phát triển
1.1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các đề xuất, kiến nghị liên quan đến trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD:
- Công trình “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Thư (2013)
Tác giả đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay Các giải pháp đều xuất phát từ việc tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật nên có ý nghĩa thiết thực và đóng góp không nhỏ vào việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các giải pháp này chỉ đề cập chung cho việc bảo vệ quyền lợi NTD (gồm 8 quyền) mà không nghiên cứu sâu về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD
- Trong công trình “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở nước ta”,Báo cáo kết quả nghiên cứu đề
tài cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Như Phát chủ nhiệm đề tài (2009), tác giả đã đưa ra các nguyên tắc và các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu lực và quản
lí Nhà nước về bảo vệ NTD như: nguyên tắc bảo vệ NTD là nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước và toàn xã hội; nguyên tắc khắc phục tình trạng “bất cân xứng” trong mối quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất; nguyên tắc đề cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh Đồng thời, tác giả đề xuất giải pháp xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD; giải pháp tăng cường năng lực thực thi pháp luật từ phương diện quản lý nhà nước; nâng cao nhận thức cho nhà sản xuất và NTD… Các nguyên tắc và giải pháp này có ý nghĩa thiết thực
Trang 27trong việc xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, những đề xuất trong công trình cũng không nghiên cứu sâu về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD
- Công trình“Hoàn thiện pháp luật về Hội ở Việt Nam hiện nay” của
TS Phạm Thị Hồng cũng đã đưa ra bức tranh khái quát về những vấn đề lý luận cơ bản về Hội, pháp luật về Hội, hoàn thiện pháp luật về Hội, đồng thời đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về Hội ở Việt Nam hiện nay
- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người
tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”(2008) của Viện Khoa học
Pháp lý thực hiện, do ThS Đinh Thị Mai Phương làm chủ nhiệm: Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam (đánh giá thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và các nỗ lực bảo
vệ của nhà nước và của xã hội, đánh giá thực trạng pháp luật, các thiết chế thực thi và các điều kiện bảo đảm vận hành cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng (trong đó có nghiên cứu nỗ lực chung của quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật, Canada, Trung Quốc, Thái Lan v.v.)
Ngoài ra, còn phải kể đến các đề tài nghiên cứu cấp Bộ như: “Tăng cường
năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” do TS Nguyễn Thị Vân Anh chủ nhiệm năm 2012: đề tài đã đưa ra các
kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như các giải pháp nhằm tăng cường năng lực của hệ thống thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
- Trong tác phẩm “Consumer Policy Toolkit” của OECD, các vấn đề về
sự thay đổi của chính sách bảo vệ NTD trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, phân tích và đánh giá các vấn đề trọng tâm của chính sách bảo vệ NTD, xác định những công cụ của chính sách này để từ đó đề ra các giải pháp giúp cho
Trang 28các quốc gia tự mình xây dựng chính sách bảo vệ NTD sao cho hiệu quả nhất
1.1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.1.2.1 Nhận xét tổng quát:
Số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án tương đối phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng với các mức độ liên quan khác nhau như: kinh tế học, xã hội học, luật học Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án
Kết quả các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về các giá trị của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD như khái niệm, các thiết chế bảo vệ NTD, Hội bảo vệ NTD, Đây là nguồn tư liệu vật chất cần thiết, rất quan trọng để tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung trọng yếu của đề tài luận án
Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu về trách nhiệm của các tổ chức
xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay đang có nhiều khoảng trống, nhiều sự khác biệt, cộng với các thông tin đa chiều, thiếu thống nhất và tính phức tạp của vấn đề lại là những trở lực không nhỏ, đồng thời đặt ra trách nhiệm nặng nề cho công việc nghiên cứu đề tài
1.1.2.2 Những thành tựu trong nghiên cứu đã làm sáng tỏ và được luận án kế thừa và tiếp tục phát triển
Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể nhận thấy một số nội dung liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết và đề tài có thể tiếp thu, làm sáng tỏ thêm
- Thứ nhất, về mặt lý luận: Các công trình kể trên đã đưa ra nhận thức
chung về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam: Khái niệm, sự cần thiết của luật hóa trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Theo đó, trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sự bảo đảm được quyền lợi của người tiêu dùng khi tham gia sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Trang 29của nhà sản xuất và đặc biệt có ý nghĩa đối với tất cả mọi người trong xã hội, bởi “người tiêu dùng là tất cả chúng ta” – nhóm người có vị trị yếu thế Đó là những người có vị thế bất lợi, thiệt thòi, đặc biệt là “bất cân xứng về thông tin” trong quan hệ tiêu dùng Hay nói cách khác, họ là những người gặp phải những rào cản cản trở họ thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nhận định với việc đánh giá chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ bỏ tiền ra mua để sử dụng Như vậy, trên phương diện lý luận, luận án có kế thừa những vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Luận
án có nhiệm vụ làm rõ thêm sự cần thiết phải điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD;
- Thứ hai, trên phương diện thực tiễn: Các công trình đã chỉ ra trong
quá trình thực hiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi của NTD đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế Các công trình nghiên cứu trước đó nhìn chung đều đánh giá thực trạng về trách nhiệm, vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi của NTD mà không nghiên cứu sâu về các tổ chức xã hội Đây là những mảnh ghép để luận án có cái nhìn thấu đáo hơn Tuy nhiên,
vì chưa xác định được hệ thống cấu thành của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD và cách tiếp cận chưa được bao quát, chưa đầy đủ, chưa đưa ra được tiêu chí đánh giá thực trạng về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay một cách xác thực Vì thế, căn cứ vào hệ thống cấu thành của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam, căn cứ vào nội dung điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam, luận án đã đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam theo các nhóm vấn đề được đưa ra
Trang 30- Thứ ba, trên phương diện đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
Phần lớn nghiên cứu hướng sự quan tâm đến nhu cầu tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về: Hội bảo vệ quyền lợi NTD, Pháp luật bảo vệ NTD, thiết chế bảo vệ NTD, cơ chế bảo vệ quyền lợi của NTD, Như vậy, các công trình phần nào nghiên cứu trên phần nào đã giải quyết được vấn đề hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, vấn đề về quan điểm, nhu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD thì chưa được làm rõ Đây là nhiệm vụ mà luận án phải thực hiện và làm sáng tỏ
Như vậy, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án phong phú và đa dạng nhưng hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tổ chức nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ, toàn diện về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam Để từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam, nhất là Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, hội nhập quốc tế và trong yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013
1.1.2.3 Các vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên cứu
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu kể trên đã cho thấy, bên cạnh những thành tựu về mặt lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, Luận án đã phát hiện còn tồn tại những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ hoặc chưa giải quyết thấu đáo, cụ thể:
- Thứ nhất, về phương diện lý luận: (1)Về sự cần thiết, cách tiếp cận
và mức độ điều chỉnh pháp trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, chưa được lập luận đầy đủ và thuyết phục
Trang 31trong các công trình nghiên cứu (2) Về khái niệm trách nhiệm của các tổ
chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Nội dung pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Hầu hết các công trình nghiên cứu chưa
nghiên cứu sâu về những vấn đề trên Trên thực tế, có công trình nghiên cứu
đề cập đến khái niệm tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD và một số quy định về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD là cá nhân của các hiệp hội nghề nghiệp[22]
- Thứ hai, về phương diện thực tiễn: Do chưa có sự nhận diện rõ nét
về khái niệm trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD dưới góc độ pháp lý nên chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra tiêu chí đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi NTD; đánh giá toàn diện, cụ thể về thực trạng quy định pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong từ trước đến nay Ngoài ra, đối với thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD đã được một số công trình trong nước nghiên cứu như nghiên cứu về thực trạng vai trò của Hội bảo vệ NTD trong bảo vệ NTD nhưng vẫn chưa làm nổi bật được các vấn đề như thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; thực trạng tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD; thực trạng về nguồn nhân lực tổ chức thực hiện trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện hành Khoảng trống này đã dẫn đến sự thiếu hụt căn cứ thực tiễn cho các kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian tới
- Thứ ba, về giải pháp, kiến nghị (1) Kết quả tổng quan tình hình
nghiên cứu liên quan đến chủ đề trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi của NTD cho thấy hiện đang thiếu sự phân tích, lập luận đầy đủ
Trang 32về quan điểm và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức
xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt là bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế (2) Cũng liên quan đến vấn đề nói trên là thực trạng thiếu một hệ quan điểm được thừa nhận chung về mô hình chính sách pháp luật cần thiết và khung chính sách pháp luật cơ bản về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay Đây là cơ sở để xây dựng và ban hành pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian tới (3) Ngoài ra, các công trình nghiên cứu cũng chưa xây dựng được giải pháp mang tính cụ thể cho từng thành tố cấu thành pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.4 Những vấn đề được nghiên cứu trong luận án
Xuất phát từ sự đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án nêu trên, có thể thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn hết sức rộng rãi, bao gồm những vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những đổi mới trong nhận thức lý luận về trách
nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, các quan niệm về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD trên thế giới và
ở Việt Nam Qua đây, tác giả xây dựng được khái niệm trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD, đặc điểm của pháp luật
Trang 33về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay;
Thứ hai, nghiên cứu đưa ra quan điểm về sự cần thiết phải xây dựng
pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam, nội dung chính và các nguyên tắc của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay;
Thứ ba, nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng, điều chỉnh pháp luật về
trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở một số nước trên thế giới để gợi mở cho Việt Nam;
Thứ tư, nghiên cứu đưa ra tiêu chí đánh giá thực trạng pháp luật về
trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay; thực trạng điều chỉnh và thực hiện pháp luật về về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam như: nghiên cứu thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD thông qua Hội bảo vệ quyền lợi NTD; đánh giá thực trạng hoạt động của một số tổ chức xã hội khác trong hoạt động bảo vệ quyền lợi của NTD, Việc nghiên cứu phải chỉ rõ được những thành tựu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các thành tựu, hạn chế đó;
Thứ năm, nghiên cứu xác định phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay
1.2 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu
1.2.1 Các lý thuyết nghiên cứu
Một số cơ sở lý thuyết được sử dụng trong luận án
+ Lý thuyết về nhà nước nhỏ xã hội lớn Theo đó, Thể chế kinh tế có
liên quan chặt chẽ với thể chế chính trị Những năm qua, chúng ta tập trung đổi mới thể chế kinh tế, điều đó là đúng, nhưng đến nay, công cuộc đổi mới
Trang 34đòi hỏi đẩy mạnh đổi mới thể chế chính trị, đó là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan nhà nước
và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, v.v… mà cốt lõi là bảo đảm các quyền của con người, quyền và nghĩa vụ của công dân[63] Trong nền kinh tế thị trường, cần có sự hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp của ba trụ cột (Nhà nước, Thị trường, Tổ chức xã hội), trong đó có sự “phân vai” rõ ràng, hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau cùng vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước, các tổ chức xã hội có chức năng góp phần với Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ công đồng thời khỏa lấp các khiếm khuyết của thị trường, nhất là bảo
vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi của NTD Việc vận dụng lý thuyết nhà nước nhỏ xã hội lớn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD Thực hiện chính sách, pháp luật
về hiện chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi của NTD là thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa các tổ chức xã hội
với Nhà nước, thị trường để đảm bảo quyền lợi của NTD
+ Lý thuyết về nhu cầu Abraham Maslow – Một nhà tâm lý học nổi
tiếng, người đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Ông xây dựng một lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Theo ông, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, ông cho rằng, mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó Nếu một nhu cầu không được đáp ứng thì cá nhân đó sẽ gặp cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, các nhà làm luật đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau, bới bất cứ chủ thể nào trong xã hội cũng cần được
Trang 35yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, được an toàn, được phát huy và
tự chứng tỏ năng lực bản thân… Trong hoạt động xây dựng pháp luật, nhất là pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD thì lý thuyết về nhu cầu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách tìm hiểu và đánh giá nhu cầu cần được hỗ trợ, bảo vệ của từng đối tượng yếu thế trong xã hội, tạo sự công bằng trong xã hội, giúp cho các chủ thể đó được thể hiện bản thân Ngoài ra, việc áp dụng lý thuyết về nhu cầu là cơ sở để đối chiếu hệ thống nhu cầu của các đối tượng yếu thế trong xã hội với sự điều chỉnh của pháp luật Tức là xem mức độ phù hợp, khả năng đáp ứng của hệ thống chính sách, pháp luật so với nhu cầu của con người;
+ Lý thuyết về quyền con người Theo đó, quyền con người (nhân
quyền) là các quyền mà mỗi con người đều có, vì đơn giản họ là con người Nhân quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người Đặc biệt, có rất nhiều văn bản quốc tế có đề cập đến quyền con người, trong đó quyền được sống, được an toàn, được sống trong môi trường trong lành: “Mọi người đều
có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”[34] Việc vận dụng lý thuyết
về quyền con người có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ
quyền lợi của NTD có mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ, bởi lẽ “Người tiêu
dùng chính là tất cả chúng ta” Thực hiện tốt chính sách, pháp luật về trách
nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD là một trong những bảo đảm quan trong về quyền con người Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ bản của dân tộc, với quyền của công dân, quyền của người tiêu dùng; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, lích ử, văn hóa, dân tộc Thực hiện chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD chính là quá trình cụ thể hóa bảo vệ quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước cũng như các thỏa thuận pháp lý quốc tế Thông
Trang 36qua chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD mà quyền của con người, quyền và nghĩa vụ của công
dân, của người tiêu dùng, của “tất cả chúng ta” được đảm bảo ngày càng đầy
đủ, hoàn thiện hơn Đồng thời thực hiện tốt chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống an toàn, trong lành, cuộc sống khỏe, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững Hiện nay, phương pháp tiếp cận dựa trên nhân quyền để bảo vệ xã hội, bảo vệ quyền lợi của NTD là một công cụ quyền lực quan trọng để giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra được quan điểm, định hướng đúng đắn Trên thực tế, bảo vệ quyền lợi của NTD và nhân quyền đang được đẩy lại gần nhau hơn nhờ sự tăng cường về nhận thức về vấn đề bất cân xứng và dễ bị xâm phạm quyền lợi trong xã hội,… Cách tiếp cận về quyền con người để bảo vệ xã hội có thể giúp tháo gỡ những sai lầm trong ý thức bảo vệ chính mình của NTD, hướng tới một mô hình trong đó mọi người được sống một cuộc sống an toàn, trong lành, quyền lợi được đảm bảo lành mạnh, cuộc sống trở nên văn minh hơn;
+ Lý thuyết về mối liên hệ biện chứng giữa nhà sản xuất, cung ứng
hàng hóa, dịch vụ với NTD mà quan hệ cung cầu, quan hệ giá trị, sự cạnh
tranh là những thành tố đặc biệt quan trọng Lý thuyết này giúp nhìn nhận được rõ hơn trách nhiệm của nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ với NTD cung cấp thông tin về chất lượng hàng hóa từ các góc nhìn khác nhau về quan hệ kinh tế, xã hội, pháp lý Trên sơ sở này các nhà hoạch định chính sách sẽ nhận định được vấn đề và xây dựng chính sách, pháp luật để đảm bảo được quyền lợi của người tiêu dùng mà đại diện cho người tiêu dùng để bảo
vệ quyền và lợi ích của họ là các tổ chức bảo vệ quyền lợi của NTD
+ Lý thuyết về thông tin bất cân xứng George Akerlof, Michael Spence
và Joseph Stiglitz là các nhà khoa học đưa ra lý thuyết về “thông tin bất cân
xứng” năm 1970 Nội dung lý thuyết thể hiện ở sự không cân xứng, hay còn
Trang 37gọi là thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin Lý thuyết này được áp dụng trong quan hệ giữa nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ với NTD mà trong đó, nhà sản xuất và cung ứng
là bên có nhiều lợi thế (kẻ mạnh) nắm giữ các thông tin về chất lượng hàng hóa hơn và cố tình che đậy các thông tin, còn bên kia là NTD (kẻ yếu) không biết đích thực mức độ thông tin chất lượng hàng hóa như thế nào Lý thuyết này giúp các nhà hoạch định chính sách, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD hướng tới một mô hình trong đó mọi người được sống một cuộc sống an toàn, trong lành, quyền lợi được đảm bảo lành mạnh, cuộc sống trở nên văn minh hơn;
+ Lý thuyết về tổ chức xã hội Đây là một học thuyết[64] được đưa ra
bởi hàng chục chuyên gia đại diện từ thiết chế, nhà khoa học và trường phái
tư tưởng khác nhau và được nhà nước chấp nhận Mục đích mà học thuyết xã hội hướng đến là định hướng phương pháp tiếp cận để nhà nước, tổ chức và các công dân trong xã hội cùng hành động trong việc duy trì mối quan hệ lẫn nhau, bảo đảm được vị trí, lợi ích cho các giai tầng và sự thịnh vượng chung của nền kinh tế, văn hóa, xã hội của toàn xã hội Các chức năng cơ bản của học thuyết xã hội là chức năng định hướng, chức năng xây dựng và duy trì đồng thuận quốc gia, chức năng ổn định, chức năng huy động xã hội, chức năng đảm bảo duy trì định hướng làm giảm sự bất công trong xã hội Thuyết này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực bảo trợ xã hội, học thuyết xã hội định hướng, cung cấp các biện pháp để bảo vệ cho những quyền cơ bản của con người trong đó có đối tượng yếu thế, mở rộng cơ hội bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực phù hợp với cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội như việc tiếp cận bình đẳng với giáo dục, về chăm sóc sức khỏe với chất lượng tốt,… Ngoài ra, căn cứ vào các chức năng cơ bản
mà học thuyết chỉ ra thì phát huy trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong
Trang 38bảo vệ quyền lợi của NTD là một trong các rất tối ưu của việc bảo đảm quyền lợi của NTD, của lực lượng yếu thế trong xã hội
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Hiện nay, luận án đứng trước một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng cần giải mã:
- Trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là gì? Trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay được quy định như thế nào?
- Nội dung trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được thể chế hóa trong pháp luật như thế nào?
- Thực hiện trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có khó khăn, vướng mắc gì? Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc là gì?
- Để nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu ở nước ta hiện nay cần những giải pháp gì?
1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Với kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứ vào các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
Sự phát triển của kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập, của khoa học công nghệ, tri thức tiêu dùng đã làm thay đổi cách tiếp cận của NTD với sản phẩm, dịch vụ đòi hỏi những cách tiếp cận mới trong bảo vệ NTD nói chung, pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD nói riêng Ở Việt Nam, vị thế, vai trò và trách nhiệm của các tổ chức
xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD còn rất mờ nhạt và thiếu định hình tổng thể về khung pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo
vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam Bên cạnh đó, thực tiễn cũng chứng tỏ rằng vẫn còn tồn tại những khoảng trống và thiếu hụt các quy định pháp luật, đặc
Trang 39biệt là điều kiện bảo đảm để các tổ chức xã hội thực hiện sứ mạng bảo vệ quyền lợi của NTD Đồng thời, việc thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay đang bộc lộ những bất cập, hạn chế Trong bối cảnh đó, từ vị thế, vai trò và trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD cần xác định cách tiếp cận mới của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam; xác định rõ khung pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam; trên cơ
sở khảo sát thực tiễn, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy, hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dưới nhiều góc độ khác nhau như: kinh tế học, xã hội học, luật học Về cơ bản, các công trình đi trước đã đặt nền tảng nhận thức chung về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam, bước đầu đã chỉ ra được những tồn tại, hạn chế nhất định của thực tiễn thực thi Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể thấy rằng các quan điểm nghiên cứu về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay đang có nhiều khoảng trống, nhiều sự khác biệt, cộng với các thông tin đa chiều, thiếu thống nhất và tính phức tạp của vấn đề lại là những trở lực không nhỏ cho việc thực hiện đề tài Vấn đề về quan điểm, nhu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng vẫn chưa được làm rõ Với những thuận lợi và khó khăn như trên, chúng tôi đã xác định những nhiệm vụ cụ thể đặt ra trong luận án này về cả ba phương diện: lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện
Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, đồng thời để giải đáp được câu hỏi nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận án đã được thực hiện trên những cơ sở lý thuyết nền tảng gồm: Lý thuyết về nhà nước nhỏ xã hội lớn; Lý thuyết về nhu cầu; Lý thuyết về quyền con người; Lý thuyết về mối liên hệ biện chứng giữa nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng; Lý thuyết về thông tin bất cân xứng; Lý thuyết về tổ chức xã hội