MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở nông thôn. Hiện nay, dân số nông thôn nước ta chiếm gần 65,4% dân số và chiếm đến 60,7% lao động xã hội. Cùng với mức độ đô thị hóa ngày càng cao thì sự khác biệt giữa thu nhập và mức sống dân cư ở khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn; tốc độ phát triển không đồng đều cũng diễn ra giữa các khu vực của nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi. Ở nước ta tồn tại nhiều khó khăn ảnh hưởng tới quá trình phát triển của nông thôn như: tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ đói nghèo lớn, diện tích đất nông nghiệp giảm do quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ nông thôn kém phát triển, phương thức sản xuất kém hiệu quả, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật chậm tiến bộ, đất đai nhỏ lẻ manh mún chủ yếu là đất đồi núi bạc màu. Trên đây là những rào cản rất lớn cho quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất, phát triển kinh tế của nông thôn. Trước yêu cầu của phát triển và hội nhập, mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là rất cần thiết, đòi hỏi phải có nhiều chính sách đột phá và đồng bộ nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh tế xã hội, văn hóa chính trị của nông thôn. Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên, từ năm 2010 chính phủ nước ta đã đề ra chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020 (Quyết định số 8002010QĐTTg) và xây dựng nông thôn mới trở thành mục tiêu quan trọng của Quốc sách “tam nông”: nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, các địa phương, các khu vực vùng núi của cả nước đã và đang từng bước thực hiện theo chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020. Ngân Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, được chọn làm điểm trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020. Trong những năm gần đây, huyện Ngân Sơn đã có những bước phát triển về kinh tế lẫn đời sống văn hóa xã hội. Để hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện Ngân Sơn đã tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước, của tỉnh, huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển và xây dựng mô hình phát triển sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên so với Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới của chính phủ thì huyện còn nhiều tiêu chí chưa đạt được hoặc đạt được ở mức trung bình. Tính đến 31122018, trên địa bàn huyện mới hoàn thành được trung bình 819 tiêu chí, toàn huyện không có xã đạt chuẩn Nông thôn mới. Thực tế cho thấy, môi trường còn bị ô nhiễm, sản xuất công nông nghiệp dịch vụ chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có, kết cấu hạ tầng còn chưa thực sự tốt, thương mại phát triển chưa đạt hiệu quả, công trình thủy lợi đạt hiệu quả chưa cao, sản xuất manh mún hiệu quả thấp, đời sống nhân dân phát triển chưa đồng đều, nhìn chung tiến độ thực hiện còn chậm chưa đạt được kế hoạch huyện đã đề ra, do vậy việc xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố và bảo vệ môi trường là thực sự cần thiết. Vốn đầu tư là điều kiện quyết định tới việc thực hiện Chương trình xây dựng NTM. Trên thực tế, huy động vốn đầu tư xây dựng NTM còn hạn chế về số lượng và cơ cấu nguồn vốn. Chương trình xây dựng NTM, nội dung tiêu chí nhiều, việc phân bổ nguồn lực còn bị phân tán; Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách chỉ chiếm khoảng 6% trong tổng vốn đầu tư kinh tế xã hội; Cơ chế lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và chưa quan tâm tới đặc thù của từng địa phương. Huy động vốn đầu tư của DN vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế. Chính sách huy động vốn và ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa đủ hấp dẫn. Số liệu thống kê cho thấy, cả nước có 1% tổng số DN đầu tư vào nông nghiệp với số vốn chiếm khoảng gần 3% tổng số vốn đầu tư của cộng đồng DN vào sản xuất kinh doanh. Hoạt động đầu tư vào nông nghiệp là các DN có quy mô nhỏ, số DN có quy mô vốn dưới 05 tỷ đồng chiếm 55%. Trong khi, huy động vốn đầu tư từ nông dân hiện còn ít, do nguồn thu nhập thấp, đóng góp xây dựng NTM của người dân theo nguyên tắc tự nguyện, cũng chưa phải là khoản thu bắt buộc. Xuất phát từ những vấn đề trên em quyết định chọn, nghiên cứu đề tài: “Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài đề án môn học của mình.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 218 XDNTM Xây dựng nông thôn mới
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, lựclượng lao động chủ yếu tập trung ở nông thôn Hiện nay, dân số nông thôn nước
ta chiếm gần 65,4% dân số và chiếm đến 60,7% lao động xã hội Cùng với mức
độ đô thị hóa ngày càng cao thì sự khác biệt giữa thu nhập và mức sống dân cư ởkhu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn; tốc độ phát triển không đồng đềucũng diễn ra giữa các khu vực của nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi Ởnước ta tồn tại nhiều khó khăn ảnh hưởng tới quá trình phát triển của nông thônnhư: tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ đói nghèo lớn, diện tích đất nông nghiệp giảm doquá trình công nghiệp hóa, dịch vụ nông thôn kém phát triển, phương thức sảnxuất kém hiệu quả, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật chậm tiến bộ, đất đai nhỏ
lẻ manh mún chủ yếu là đất đồi núi bạc màu Trên đây là những rào cản rất lớncho quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất, phát triển kinh tế của nông thôn
Trước yêu cầu của phát triển và hội nhập, mục tiêu đẩy nhanh côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là rất cần thiết, đòi hỏi phải có nhiều chínhsách đột phá và đồng bộ nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh tế - xã hội, vănhóa chính trị của nông thôn Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên, từ năm 2010chính phủ nước ta đã đề ra chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thônmới giai đoạn 2010-2020 (Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg) và xây dựng nôngthôn mới trở thành mục tiêu quan trọng của Quốc sách “tam nông”: nông nghiệp,nông dân và nông thôn Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, các địa phương, cáckhu vực vùng núi của cả nước đã và đang từng bước thực hiện theo chương trìnhmục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
Ngân Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, được chọn làm điểmtrong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Trong những năm gần đây,huyện Ngân Sơn đã có những bước phát triển về kinh tế lẫn đời sống văn hóa xãhội Để hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới,huyện Ngân Sơn đã tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước, của tỉnh, huyđộng mọi nguồn lực đầu tư phát triển và xây dựng mô hình phát triển sản xuất
Trang 4mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên so với Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựngnông thôn mới của chính phủ thì huyện còn nhiều tiêu chí chưa đạt được hoặcđạt được ở mức trung bình Tính đến 31/12/2018, trên địa bàn huyện mới hoànthành được trung bình 8/19 tiêu chí, toàn huyện không có xã đạt chuẩn Nôngthôn mới Thực tế cho thấy, môi trường còn bị ô nhiễm, sản xuất công nôngnghiệp dịch vụ chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có, kết cấu hạ tầng còn chưathực sự tốt, thương mại phát triển chưa đạt hiệu quả, công trình thủy lợi đạt hiệuquả chưa cao, sản xuất manh mún hiệu quả thấp, đời sống nhân dân phát triểnchưa đồng đều, nhìn chung tiến độ thực hiện còn chậm chưa đạt được kế hoạchhuyện đã đề ra, do vậy việc xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, nângcao đời sống nhân dân, củng cố và bảo vệ môi trường là thực sự cần thiết.
Vốn đầu tư là điều kiện quyết định tới việc thực hiện Chương trình xâydựng NTM Trên thực tế, huy động vốn đầu tư xây dựng NTM còn hạn chế về
số lượng và cơ cấu nguồn vốn Chương trình xây dựng NTM, nội dung tiêu chínhiều, việc phân bổ nguồn lực còn bị phân tán; Nguồn vốn đầu tư cho nôngnghiệp từ ngân sách chỉ chiếm khoảng 6% trong tổng vốn đầu tư kinh tế - xãhội; Cơ chế lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng vàchưa quan tâm tới đặc thù của từng địa phương Huy động vốn đầu tư của DNvào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế Chính sách huy động vốn và ưu đãiđầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa đủ hấp dẫn Số liệu thống kêcho thấy, cả nước có 1% tổng số DN đầu tư vào nông nghiệp với số vốn chiếmkhoảng gần 3% tổng số vốn đầu tư của cộng đồng DN vào sản xuất kinh doanh.Hoạt động đầu tư vào nông nghiệp là các DN có quy mô nhỏ, số DN có quy môvốn dưới 05 tỷ đồng chiếm 55% Trong khi, huy động vốn đầu tư từ nông dânhiện còn ít, do nguồn thu nhập thấp, đóng góp xây dựng NTM của người dântheo nguyên tắc tự nguyện, cũng chưa phải là khoản thu bắt buộc
Xuất phát từ những vấn đề trên em quyết định chọn, nghiên cứu đề tài:
“Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh BắcKạn” làm đề tài đề án môn học của mình
Trang 52 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thônmới trên địa bàn huyện Ngân Sơn, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăngcường công tác huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyệnNgân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động nguồn lựcxây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác huy động nguồn lực trong xâydựng nông thôn mới của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về thời gian: số liệu phân tích trong báo cáo được tổng hợp
trong giai đoạn 2016-2018
- Phạm vi về nội dung: các nguồn lực huy động để thực hiện chương trìnhxây dựng nông thôn mới, gồm: vốn từ ngân sách trung ương; vốn từ ngân sáchđịa phương; vốn lồng ghép, vốn từ tổ chức doanh nghiệp đóng góp; vốn huyđộng từ cộng đồng và người dân; vốn khác
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trong đề án, tác giả sử dụng các số liệu thứ cấp trong giai đoạn
2016-2018 để phân tích thực trạng tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địabàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Tác giả căn cứ vào các tài liệu đã đượccông bố, báo cáo, số liệu thống kê về tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mớitrên địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, cụ thể là:
- Báo cáo kết quả thực hiện chương trình MTQG về xây dựng nông mớicủa Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Ngân Sơn
- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Ngân Sơn trong 3 năm2016-2018
- Một số báo cáo, tài liệu thống kê của phòng Nông nghiệp huyện NgânSơn, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, Ban quản lý các Dự ánĐầu tư và Xây dựng huyện Ngân Sơn
4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
- Phương pháp phân tổ thống kê: phân tổ thống kê là căn cứ vào một haymột số tiêu thức để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu
thành các tổ và tiểu tổ sao cho các đơn vị trong cùng một tổ thì giống nhau về
tính chất, ở khác tổ thì khác nhau về tính chất Ý nghĩa của phương pháp nàynhằm hệ thống hóa và phân tích các số liệu thu thập, từ đó xem xét thực trạngvấn đề nghiên cứu Qua đây ta thấy được mối liên hệ, sự tác động qua lại giữacác yếu tố Trong báo cáo, tác giả sử dụng phương pháp này để chia số liệu thuthập được thành các nhóm khác nhau, sau đó tác giả sẽ đi xem xét thực trạng củatừng vấn đề nghiên cứu và mối quan hệ giữa các vấn đề này
- Trong báo cáo tác giả sử dụng máy tính và phần mềm Excel để phân tích
và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài Từ đó xác định những vấn đề chung
và vấn đề riêng nhằm giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra
4.3 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích, tính toán để xác định mức độ của các chỉ tiêu phântích, sắp xếp một cách logic Tính toán các mức độ biến động để xem xét tốc độphát triển bình quân, tốc độ tăng, giảm của các chỉ tiêu Qua đó cũng dự báo đượcnhững biến động của chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 75 Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề án gồm 3 phần:
Phần 1 Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mớiPhần 2 Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyệnNgân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
Phần 3 Đánh giá chung về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mớitại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 8PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Khái quát về nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới
- Khái niệm về nông thôn
+ Theo Từ điển tiếng Việt: “Nông thôn là danh từ để chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị
+ Theo điều 1 trong thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8
năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản
lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”.
Như vậy có thể hiểu, “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
- Khái niệm về nông thôn mới
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấphành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì khái
niệm về nông thôn mới được định nghĩa như sau :“Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định và giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”
Với tinh thần đó, nông thôn mới có 5 nội dung cơ bản: Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.
Trang 91.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Trong đề án Xây dựng nông thôn mới thời kì công nghiệp hóa, hiện đạihóa, giai đoạn 2010-2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm
2009, đề án đã chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta là docác lý do sau:
- Nông thôn hiện nay phát triển thiếu quy hoạch, mang tính tự phát Quyhoạch dân cư nông thôn đến nay mới có khoảng 23% trên tổng số xã có quyhoạch Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết sử dụng đất cho từng lĩnhvực như: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch pháttriển hạ tầng kinh tế xã hội Không có quy định, quy chế quản lý phát triển theoquy hoạch Nông thôn xây dựng tự phát, kiến trúc, cảnh quan làng quê pha tạp,lôn xộn, môi trường ô nhiễm, nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống bị hủy hoạihoặc mai một
- Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hôi còn lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu pháttriển lâu dài Đường trục xã được cứng hóa đạt chuẩn chiếm 30%; Tỷ lệ thôn cónhà văn hóa đạt 80%, hệ thống điện nông thôn đạt chuẩn chiếm 72%
- Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp.Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu nhưng ở quy mô nhỏ; Kinh tế trang trại hìnhthức sản xuất hiệu quả nhất trong nông nghiệp hiện nay chiếm xấp xỉ 1% tổng sốhộ; Trên 54% số hợp tác xã hoạt động ở mức trung bình và yếu; Doanh nghiệptrong nông nghiệp không đáng kể; Liên kết tổ chức sản xuất hàng hóa yếu; Đờisống người dân nông thôn còn ở mức thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chênh lệchgiàu nghèo cao (13,5 lần)
- Các vấn đề về văn hóa, xã hội, y tế, môi trường: Tỷ lệ thôn không có lớpmẫu giáo chiếm 45,5%; Tỷ lệ thôn không có nhà trẻ chiếm 84%; Tỷ lệ lao độngqua đào tạo là 12,8%, chất lượng rất thấp, nhất là vùng sâu vùng xa; Tệ nạn xãhội tăng, hủ tục lạc hậu còn dai dẳng; Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển,môi trường sống bị ô nhiễm
- Hệ thống chính trị cơ sở còn yếu, nhất là trình độ và năng lực điều hành.Trong xấp xỉ 81 nghìn công chức xã có 0,1% công chức xã không biết chữ;
Trang 102,4% công chức xã đạt trình độ tiểu học; 22,5% công chức xã đạt trình độ trunghọc cơ sở; 75% công chức xã đạt trình độ trung học phổ thông Trình độ chuyênmôn có 9,1% công chức xã đạt trình độ đại học và cao đẳng, trung cấp chiếm32,4%; sơ cấp chiếm 9,8%; chưa qua đào tạo chiếm 48,7%.
Như vậy, xây dựng nông thôn mới là điều hết sức quan trọng và cấp thiết,đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và anninh quốc phòng tại khu vực nông thôn So với xây dựng nông thôn trước đâyvới xây dựng nông thôn mới hiện nay thì xây dựng nông thôn mới có các điểmkhác biệt
- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí
chung cả nước được định trước
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước,
không thí điểm, nơi làm nơi không, 9.111 xã trên cả nước cùng làm
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới,
không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục
tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôntrên phạm vi cả nước
1.1.3 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg,ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí
và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; Nhóm tiêu chí
về hạ tầng kinh tế - xã hội; Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất; Nhómtiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường và Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị.Các tiêu chí được phân chia cụ thể như sau:
- Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí, tiêu chí số 1), có nội dung như sau:
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nôngnghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
+ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội-môi trường theo chuẩn.+ Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư
Trang 11hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp.
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - Xã hội (có 08 tiêu chí gồm tiêu chí 2, 3, 4,
5, 6, 7, 8 và 9)
• Tiêu chí Giao thông
+ Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạtchuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải
+ Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹthuật của Bộ Giao thông vận tải
+ Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
+ Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lạithuận tiện
• Tiêu chí Thủy lợi
+ Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
+ Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá
• Tiêu chí Điện
+ Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
+ Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
• Tiêu chí Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở
có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
• Tiêu chí Cơ sở vật chất văn hoá gồm:
+ Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa - Thểthao- Du lịch
+ Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy định của BộVăn hóa - Thể thao- Du lịch
• Tiêu chí Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
• Tiêu chí Bưu điện
+ Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
+ Có Internet đến thôn
• Tiêu chí Nhà ở dân cư
Trang 12+ Nhà tạm, dột nát
+ Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí gồm tiêu chí số:
10, 11, 12, 13)
• Tiêu chí Thu nhập: thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình
quân chung của tỉnh
• Tiêu chí Hộ nghèo: đánh giá về Tỷ lệ hộ nghèo.
• Tiêu chí Cơ cấu lao động: tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong
lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
• Tiêu chí Hình thức tổ chức sản xuất: có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt
+ Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
+ Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
• Tiêu chí Văn hoá
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quyđịnh của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch
• Tiêu chí Môi trường
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia.+ Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
+ Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạtđộng phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
+ Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
Trang 13+ Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí gồm tiêu chí 18, 19)
• Tiêu chí Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
+ Cán bộ xã đạt chuẩn
+ Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định
+ Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” + Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
• Tiêu chí An ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững.
1.1.4 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020
a, Mục tiêu tổng quát
Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chongười dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp,dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bìnhđẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững
b, Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% (trong
đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 28,0%; Đồngbằng sông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 60%;Tây Nguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng sông Cửu Long: 51%);Khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01huyện đạt chuẩn nông thôn mới;
- Bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó, mục tiêu phấn đấu củatừng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng sông Hồng: 18,0; BắcTrung Bộ: 16,5; Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ:17,5; Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí;
- Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triểnsản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt,trường học, trạm y tế xã;
Trang 14- Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hìnhsản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 2 lần sovới năm 2016.
Nhằm thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12 tháng 11 năm
2015 của Quốc hội Khóa XIII về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trìnhmục tiêu quốc gia giai đoạn 2017-2020 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và cóhiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia xâydựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020 với các nội dung sau:
- Về quy hoạch xây dựng nông thôn mới:
Đạt yêu cầu tiêu chí số 01 về quy hoạch và thực hiện quy hoạch trong Bộtiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2018, có 100% số xã đạt chuẩn tiêuchí số 01 về quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Về phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân:
Đạt yêu cầu tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động cóviệc làm thường xuyên, tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất trong Bộ tiêu chí quốcgia về nông thôn mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã thông quatăng cường năng lực tổ chức, điều hành, hoạt động, kinh doanh cho các hợp tác
xã, tổ hợp tác Đến năm 2020, có 80% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 10 về thu nhập
và tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, có 85% số xã đạttiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất
- Về giảm nghèo và an sinh xã hội: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 về hộ nghèo
trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Đến năm 2020, có 60% số xã đạtchuẩn tiêu chí số 11 về hộ nghèo; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước từ1,0% - 1,5%/năm (riêng các huyện, các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm)theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2017-2020
Trang 15- Về phát triển giáo dục ở nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 14 về Giáo
dục trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Đến năm 2020, có 80% số xãđạt chuẩn tiêu chí số 14 về giáo dục
- Về phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 15 về Y tế trong Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới Đến năm 2020, có 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 15 về Y tế
- Về việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn:
Đạt yêu cầu tiêu chí số 16 về văn hóa của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nôngthôn mới Đến năm 2020, có 75% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 16 về Văn hóa
- Về công tác vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và
cải thiện môi trường tại các làng nghề.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 về môi trường trong Bộ tiêu chí quốc gia về xâydựng nông thôn mới Đến năm 2020, có 70% số xã đạt tiêu chí số 17 về môitrường; 75% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% trườnghọc, trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt
- Về việc nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị, dịch vụ hành chính công
và tiếp cận pháp luật của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Đến năm 2020,
có 95% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị, dịch vụ hành chínhcông và tiếp cận pháp luật
- Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 về an ninh, trật tự xã hội của Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới Đến năm 2020, có 98% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 19 vềQuốc phòng và An ninh
- Về việc nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới và công tác giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng nông thôn mới.
Trang 16Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mớicác cấp; thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêucầu quản lý Chương trình; nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về xây dựngnông thôn mới Phấn đấu có 70% đơn vị cấp huyện đạt chuẩn tiêu chí số 9 về chỉđạo xây dựng nông thôn mới trong bộ tiêu chí huyện nông thôn mới; phấn đấu100% cán bộ chuyên trách xây dựng nông thôn mới các cấp, 70% cán bộ trong
hệ thống chính trị tham gia chỉ đạo xây dựng nông thôn mới được bồi dưỡng, tậphuấn kiến thức xây dựng nông thôn mới
1.2 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm nguồn lực, huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
- Khái niệm nguồn lực
+ Theo nghĩa hẹp: nguồn lực là được hiểu là các yếu tố vật chất phục vụcho phát triển như tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền
+ Theo nghĩa rộng: nguồn lực bao gồm tất cả các lợi thế gồm các tiềm năngvật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định
Như vậy, nguồn lực được hiểu là tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên thiênnhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn vàthị trường…ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụcho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định Nguồn lực có ý nghĩa:+ Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cậnhay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước
+ Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất Đó là nguồnlực vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế.+ Nguồn lực KT – XH, nhất là dân cư và lao động, nguồn vốn, KH – KT vàcông nghệ, chính sách và đường lối phát triển có vai trò quan trọng để lựa chọnchiến lược phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn
Trang 17- Khái niệm huy động nguồn lực
Thuật ngữ‚ “huy động nguồn lực” được sử dụng để mô tả tiến trình thuhút và tập hợp tiền hoặc các nguồn lực khác từ các cá nhân, doanh nghiệp, cơquan nhà nước, các quỹ nhân đạo, hoặc nguồn ngân sách nhà nước Huy độngnguồn lực là việc đổi một nguồn lực đang có để lấy tiền hoặc một nguồn lực cầnthiết khác Để xây dựng nông thôn mới trước hết phụ thuộc vào nguồn lực huyđộng được Các nguồn lực được xem xét theo số lượng và chất lượng theo chiềuhướng khác nhau Tỷ lệ tham gia của mỗi yếu tố nguồn lực để xây dựng nôngthôn mới tùy thuộc vào đặc điểm của từng địa phương Nguồn vốn sử dụng đểxây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng do đó vấn đề huy động nguồnvốn phải đặt lên hàng đầu, cần có kế hoạch huy động từ nhà nước, doanh nghiệp
và địa phương một cách hợp lý Vốn là nguồn lực có hạn do đó mỗi địa phươngcần có những phương án để sử dụng một cách hiệu quả Để có được điều nàyphụ thuộc chủ yếu vào khả năng cũng như trình độ quản lý ở các địa phươngtrong quá trình xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó yếu tố tuyên truyền đểngười dân hiểu rõ xây dựng nông thôn mới chính là phục vụ lợi ích cho chínhbản thân họ sẽ giúp người dân quan tâm đến chương trình lấy được sự đồngthuận, tín nhiệm của dân Đồng thời phải củng cố, nâng cấp và xây dựng mới hệthống hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn, nhằm nhanh chóng phát huy có hiệu quảtrong quá trìnhsử dụng các yếu tố nguồn lực
Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới được hiểu là việc huy độngcác hình thức vốn tự nhiên, vật chất bằng tiền, vốn nhân lực, vật lực và xã hội cóđược từ các nguồn khác nhau, gồm vốn ngân sách trung ương và địa phương,đầu tư và tín dụng từ các cá nhân và tổ chức, từ dân cư và cộng đồng, nguồn tàitrợ cho, biếu, tặng Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là các giảipháp nhằm tìm kiếm, khai thác các nguồn lực kể trên cho hoạt động xây dựngnông thôn mới
1.2.2 Sự cần thiết phải huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới
Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng,hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Trong
Trang 18những năm qua, cả nước đã đồng tình, tích cực triển khai thực hiện Chươngtrình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều quantrọng, tích cực Nổi bật là nhận thức về Chương trình ngày càng được nânglên trong các cấp ủy đảng, chính quyền, trong nhân dân; các cơ chế chính sáchđược ban hành nhìn chung là kịp thời; bộ máy thực hiện Chương trình từTrung ương đến cơ sở được tổ chức đồng bộ, thống nhất; công tác quy hoạch
và lập đề án xây dựng nông thôn mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở địa bàn nông thôn cónhiều tiến bộ; nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng lên; côngtác kiểm tra, giám sát được tăng cường; quyền làm chủ, vai trò làm chủ củanhân dân được nâng lên; hệ thống chính trị cơ sở được vững mạnh lên; anninh trật tự ở nông thôn được đảm bảo; đặc biệt, trong 3 năm qua, thu nhậpcủa người nông dân đã tăng gấp gần 2 lần Bên cạnh những kết quả đạt được vẫntồn tại, hạn chế trong xây dựng nông thôn mới, trong đó nổi lên là để đạt đượcmục tiêu phấn đấu số xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2020 là 50% đòi hỏi
sự nỗ lực phải lớn hơn rất nhiều; nhận thức về ý nghĩa quan trọng của Chươngtrình ở nhiều cơ quan, đơn vị, trong nhân dân còn chưa sâu; việc tổ chức chỉ đạotriển khai thực hiện còn chưa quyết liệt, nhiều nơi làm chưa tốt; nguồn lực đầu
tư còn hạn chế
Do đó các Bộ, ngành chức năng, các địa phương tiếp tục bám sát, thựchiện, đồng bộ các nội dung, giải pháp của Chương trình, trước hết là tập trungđưa khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản để tăngnăng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệpViệt Nam; từ đó tăng thu nhập cải thiện đời sống của người dân; Việc đưa khoahọc, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp phải làm nhanh,khẩn trương, đặc biệt là trong lai tạo giống cây con cho năng suất, chất lượngcao; đưa máy móc, công nghệ cơ giới hiện đại vào thâm canh, tưới tiêu Bêncạnh đó, các địa phương cần có các cách làm năng động, sáng tạo, có chính sáchkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn như đầu tư làmcông nghiệp, làm dịch vụ trên địa bàn nông thôn, qua đó góp phần giải quyết
Trang 19việc làm cho người lao động, chuyển dịch lao động trực tiếp làm nông nghiệpsang làm dịch vụ, làm công nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho laođộng nông thôn Tạo sự liên kết chặt chẽ, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất,chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Bên cạnh nguồn lực đầu tư, nhà nước cần đặc biệt quan tâm xã hội hóa,huy động các nguồn lực đầu tư khác vào nông thôn, đặc biệt là đầu tư cho cơ
sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, y tế, giáo dục, viễn thông Lồng ghép,
sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho các chương trình xây dựng vàphát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương Quan tâm đến công tác đào tạonghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn Đào tạo nghề theo hướng, thứnhất là trang bị kiến thức khoa học, công nghệ, cách làm để làm tốt hơn côngviệc đang làm, cụ thể là làm nông nghiệp; thứ hai là đào tạo để chuyển sanglàm ngành nghề khác cho thu nhập cao hơn như làm công nghiệp, làm dịch vụtrên địa bàn.Giải pháp quan trọng để thực hiện Chương trình huy động nguồnlực xây dựng nông thôn mới, cần hết sức quan tâm đẩy mạnh công tác tuyêntruyền vận động, nâng cao nhận thức, phát huy sự tham gia tích cực, chủ độngcủa nhân dân và sự quan tâm của toàn xã hội; tiếp tục hoàn thiện các cơ chếchính sách, có cơ chế đặc thù hỗ trợ xây dựng nông thôn mới ở các vùng khókhăn, có điểm xuất phát thấp; đẩy mạnh thực hiện các nội dung xây dựngnông thôn mới; đặc biệt quan tâm đến công tác lãnh đạo, điều hành, có kếhoạch hoạt động, phân công cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thựchiện Chương trình; kịp thời động viên, khen thương các cá nhân, tổ chức cónhiều thành tích trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
1.2.3 Nội dung huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
a, Nguồn vốn Trung ương
* Vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:
- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là mộtchương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốcphòng do Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôntoàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trang 20Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nôngthôn (ngày 5 tháng 8 năm 2008).
- Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện chương trình mụctiêu quốc gia chịu trách nhiệm huy động và đảm bảo nguồn lực để hoàn thànhmục tiêu, nhiệm vụ của từng chương trình được Thủ tướng Chính phủ giao Đốivới các địa phương không được hỗ trợ nguồn vốn thực hiện các chương trìnhmục tiêu quốc gia từ ngân sách trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hộiđồng nhân dân cùng cấp ban hành Nghị quyết bố trí vốn từ ngân sách địaphương để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia tại địa phương Đối vớicác địa phương được hỗ trợ nguồn vốn thực hiện các chương trình mục tiêuquốc gia từ ngân sách trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồngnhân dân cùng cấp ban hành nghị quyết bố trí vốn đối ứng từ ngân sách địaphương theo quy định đối với nguồn vốn huy động từ cộng đồng dân cư để thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia phải được thực hiện trên tinh thần tựnguyện, hợp lý, có tính đến đặc điểm kinh tế - xã hội, mức độ khó khăn của từngđịa phương; đảm bảo các nguyên tắc công khai, minh bạch và trách nhiệm giảitrình theo quy định
- Ban Chỉ đạo Trung ương có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủnghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan đến quản lý,điều hành và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn
- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch;gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; từng bước thực hiện côngnghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Trang 21- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dântộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đờisống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nângcao
- Trái phiếu Chính phủ có 3 hình thức chủ yếu sau:
+ Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu ngắn hạn dưới 1 năm, dùng để huyđộng vốn bù đắp thiếu hụt NSNN tạm thời trong năm tài chính
+ Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn từ 1 năm trở lên, dùng
để huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNN, đáp ứng nhu cầu chi đầu tư phát triểntrong kế hoạch NSNN được duyệt
+ Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu có kỳ hạn từ 1 năm trở lên, dùng
để huy động vốn cho từng công trình cụ thể theo kế hoạch đầu tư của Nhà nước,trái phiếu công trình bao gồm Trái phiếu công trình huy động vốn cho các côngtrình của Trung ương do Bộ Tài chính bảo lãnh thanh toán, trái phiếu huy độngvốn cho các công trình địa phương do ngân sách địa phương bảo lãnh thanhtoán
- Tuỳ theo từng đợt phát hành, trái phiếu Chính phủ có những mệnh giákhác nhau được in sẵn trên chứng chỉ trái phiếu, hoặc không in sẵn trên tờ tráiphiếu, nhưng được cơ quan phát hành ghi trên chứng chỉ trái phiếu hoặc giấy sởhữu trái phiếu theo nhu cầu của người mua trái phiếu
- Vốn trái phiếu Chính phủ bố trí để đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã theođúng mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đãđược cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 22b, Nguồn ngân sách địa phương
Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chứctriển khai chương trình Hội đồng nhân dân tỉnh quy định tăng tỷ lệ vốn thuđược từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặccho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí) để lại cho ngân sách xã,
ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới
Tăng cường nguồn thu cho ngân sách địa phương thông qua việc xác địnhlại nguồn thu phân cấp cho các địa phương trên cơ sở Luật Ngân sách nhà nướcsửa đổi Đồng thời tăng cường nguồn thu cho ngân sách địa phương từ đất thôngqua rà soát xác định quỹ đất, tạo quỹ đất sạch để thực hiện đấu giá; tăng cườngcông tác đấu giá quyền sử dụng đất và thu hẹp đối tượng giao đất; đẩy nhanhtiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
c, Nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác
- Quy trình lồng ghép các nguồn vốn đầu tư của các dự án, chương trìnhđược thực hiện đồng bộ, thống nhất từ khâu lập, phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu
tư phát triển, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả
- Lồng ghép các nguồn vốn đầu tư để thực hiện một hoặc nhiều chươngtrình, dự án trên địa bàn; trong đó phải phân định cụ thể tỷ lệ, cơ cấu đối vớitừng nguồn vốn đầu tư trong tổng mức đầu tư
- Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư lồng ghép phải kế hoạch hóa hàng năm vàtrong hồ sơ dự án, để cơ quan quản lý cân đối kế hoạch nguồn vốn đầu tư cácchương trình, dự án đang triển khai trên địa bàn; tham mưu cho cơ quan có thẩmquyền quyết định phê duyệt dự án
- Trong quá trình thực hiện lồng ghép các nguồn vốn đầu tư khác nhau từcác chương trình, dự án phải đảm bảo nguyên tắc có nhiệm vụ và mục tiêutương đồng; trong quá trình lồng ghép không làm thay đổi mục tiêu riêng vàđảm bảo tính hiệu quả đầu tư của các chương trình, dự án khi tham gia lồngghép
- Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí đủ các nguồn vốn do tỉnh quản lý trong kếhoạch hàng năm và kế hoạch trung hạn cho các huyện nghèo trong tổng mức