Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về HĐCCN sạch sinh hoạt tuy nhiên hợp đồng trên là một dạng hợp đồng đặc biệt do nó là hợp đồng mẫu, bên cạnh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ HỒNG SANG
HỢP ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÔNG TY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu, dẫn chứng thể hiện trong luận văn là trung thực và được chú thích nguồn đầy đủ
NGƯỜI CAM ĐOAN
HUỲNH THỊ HỒNG SANG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt 7
1.2 Bản chất của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt và những ảnh hưởng của nó đến quyền tự do ký kết hợp đồng 9
1.3 Nội dung, ý nghĩa và quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt 19
1.4 Quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt 29
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT 32
2.1 Thực trạng thi hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành 32
2.2 Một số nhận xét và đánh giá về thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành 49
2.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt và tổ chức thực hiện từ góc độ áp dụng pháp luật 52
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 66
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với sức khỏe con người nước là một loại thức uống không thể thiếu được đối với cơ thể chúng ta Nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và nó phân phối khắp nơi trong cơ thể như: Máu, cơ bắp, xương tủy, phổi… Chúng ta có thể nhịn
ăn vài tuần, thậm chí vài tháng nhưng không thể chịu khát được vài ngày Như vậy, ta có thể thấy được tầm quan trọng của nước đối với con người
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội kèm theo đó là sự biến đổi khí hậu làm cho nguồn nước ít đi, gia tăng nhanh chóng của các nhà máy xí nghiệp mà nguồn nước thải không được xử lý mà xả thải trực tiếp ra môi trường từ đó sẽ làm ô nhiễm môi trường và đặc biệt là nguồn nước cũng bị ô nhiễm thì việc cung cấp nước sạch sinh hoạt cho con người lại càng quan trọng
Biết được tầm quan trọng đó vào năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch như là một bước đệm ban đầu để bảo vệ nguồn nước Nhằm đẩy mạnh việc cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân và có một khung pháp lý để bảo vệ người dân khi tham gia vào hoạt động cung cấp nước sạch sinh hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 9/2/2007 về ban hành quy định về cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên trong quá trình thực hiện quy định trên thì vẫn còn có nhiều bất cập trong quy định đặc biệt là đối với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt của người sử dụng nước hiện nay
Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo cho người dân có nước sạch sinh hoạt thì Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương phải
Trang 62
đảm bảo 100% hộ dân được sử dụng nước sạch Để đáp ứng chủ trương trên thì các đơn vị cung cấp nước sạch trên địa bàn phải đảm bảo được cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cần thiết bên cạnh đó thì Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đơn vị cung cấp nước sạch cũng phải xây dựng khung pháp lý vững chắc để đảm bảo quyền lợi cho bên cung cấp và bên sử dụng nước trên cơ sở các quy định của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác
Do đó, tác giả đã chọn “Hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành” để làm
đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về HĐCCN sạch sinh hoạt tuy nhiên hợp đồng trên là một dạng hợp đồng đặc biệt do nó là hợp đồng mẫu, bên cạnh đó nguồn nước sạch rất quan trọng đối với cuộc sống hằng ngày của con người do đó cũng có một số giáo trình, công trình nghiên cứu, tạp chí về hợp đồng mẫu và nước sạch nhưng các bài nghiên cứu chủ yếu chỉ nghiên cứu chung
về hợp đồng mẫu hoặc ở một lĩnh vực cụ thể khác, chủ yếu là bảo vệ NTD bên giao kết hợp đồng với vai trò là bên yếu thế hơn trong quan hệ này cũng như các bài viết về nước sạch như:
Các tài liệu về sách, giáo trình như:
- Doãn Hồng Nhung, Hoàng Anh Dũng (2018), Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mẫu trong mua bán căn hộ chung cư tại Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
- Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Mạnh Diệp Nguyễn Viết Minh… (2013), Pháp luật về hạn chế rủi ro cho người tiêu dùng trong hợp đồng mẫu, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội
Trang 73
- Các quy định pháp luật về hợp đồng và mẫu hợp đồng (2003), Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, Hà Nội
Các tài liệu được đăng trên báo, tạp chí như:
- Nguyễn Thị Hồng Minh, Nguyễn Thị Lệ Thúy, Bùi Thị Hồng Việt (2018) Thể chế thị trường trong lĩnh vực cung cấp nước sạch ở Việt Nam, Kinh tế
và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 01/2018, Số 02
- Hà Thị Thúy (2017) Giải thích hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung – Một số điểm bất cập và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số
Các tài liệu về luận văn, luận án như:
- Phạm Thị Thanh Nhàn (2010), Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về hợp đồng mẫu và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Hoàng Thùy Linh (2018), Luận văn thạc sĩ Luật học “Thực trạng pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện hợp đồng theo mẫu ở Việt Nam”, trường Đại học Luật Hà Nội
- Phạm Thị Kim Thanh (2016), Luận văn thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện quy định của pháp luật về Hợp đồng mẫu dưới góc độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Trường Đại học Cần Thơ
Trang 84
- Nguyễn Công Đại (2017), Luận án Tiến sĩ Luật học “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Khoa học Xã hội
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu rất quý giá cho việc nghiên cứu đề tài này, vì nó một phần nào cũng đã nêu ra được những bất cập trong hợp đồng mẫu, tầm quan trọng của nước sạch và có những ý kiến đề xuất cần thiết khi thay đổi những quy định liên quan đến hợp đồng mẫu ở khía cạnh nào đó cũng ảnh hưởng đến đề tài đang nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, đặc điểm, nội dung và thực tiễn thực hiện các quy định về hợp đồng mua bán nước sạch sinh hoạt từ đó đề xuất các phương án để hoàn thiện các quy định của pháp luật
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài thì nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về HĐCCN sạch sinh hoạt thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, của HĐCCN sạch sinh hoạt, nội dung của HĐCCN sạch sinh hoạt
Thứ hai, nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong quá trình giao kết, thực hiện, sửa đổi, bổ sung… chấm dứt HĐCCN sạch sinh hoạt để nhận biết được những bất cập của pháp luật cũng như những vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật
Trang 95
Thứ ba, từ những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐCCN sạch sinh hoạt để nêu phương hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐCCN sạch sinh hoạt từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng các quy định pháp luật cho các bên tham gia giao kết hợp đồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực cung cấp nước sạch sinh hoạt và thực trạng hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: trong đề tài này chủ yếu tập trung phân tích những nội dung trong HĐCCN sạch sinh hoạt theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành và các quy phạm pháp luật được áp dụng
từ trước đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử đi từ cái chung đến cái riêng, từ lịch sử đến hiện tại để làm rõ nội dung cần nghiên cứu
Bên cạnh đó luận văn sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích: trong luận văn sẽ nêu ra các quy định của pháp luật để từ đó nêu ra các vấn đề còn vướng mắc và những số liệu cần thiết
để chứng minh những tồn tại
- Phương pháp so sánh: các quy định của pháp luật sẽ thay đổi theo sự biến đổi của xã hội do đó khi phân tích đề tài HĐCCN sạch sinh hoạt sẽ sử
Trang 106
dụng phương pháp trên để làm rõ những điểm nổi bật và hạn chế của quy
định pháp luật
- Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học, luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu chuyên sâu trong một lĩnh vực, giúp khai thác được những vấn đề của pháp luật hiện tại chưa theo kịp với sự phát triển của xã hội và những nhận thức về các quan hệ trong hợp đồng dịch vụ cấp nước cần phải thay đổi
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ ra những vấn đề còn gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật, đồng thời đưa ra các phương hướng, giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật trong HĐCCN sạch sinh hoạt và có thể sử làm nguồn tư liệu nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện cũng như nâng cao giá trị thực thi các quy định về HĐCCN sạch sinh hoạt nhằm hướng tới việc đảm bảo quyền lợi của BSDN
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu gồm 2 chương với những nội dung cơ bản sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
Chương 2: Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
Trang 117
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP
ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt 1.1.1 Khái niệm hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
Để có những nhận thức về khái niệm HĐCCN sạch sinh hoạt trước hết cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng Trong đời sống hằng ngày của chúng ta phát sinh rất nhiều các quan hệ dân sự mà nó cũng liên quan đến hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng cho thuê tài sản, hợp đồng tư vấn dịch vụ… những loại hợp đồng khác nhau được ký kết, giao dịch cũng dựa trên những quy định chung của hợp đồng
Các Mác đã nói: “bản chất của con người là tổng hòa tất cả quan hệ xã hội” [22] Thật vậy con người không thể tồn tại và phát triển khi không có mối
quan hệ với nhau và khi có các mối quan hệ với nhau đặc biệt là về trao đổi hàng hóa thì con người cần có một hợp đồng để đảm bảo lợi ích của nhau
Từ điển tiếng Việt năm 2000 định nghĩa hợp đồng là “giấy cam kết giữa hai hoặc nhiều người để làm việc gì” [19] Từ điển Hán Nôm Nguyễn Quốc Hùng ghi nhận hợp đồng là “tờ giấy làm bằng, ghi sự thỏa thuận của đôi bên về việc gì” [19] Từ điển Luật học được biên soạn dựa trên các quy định của pháp luật dân sự, xuất bản năm 1999 ghi nhận hợp đồng là “sự thỏa thuận của các bên
có tư cách pháp nhân hoặc giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên” [19] Với
những định nghĩa như trên cho ta thấy được điểm chung bản chất của hợp đồng
là sự thỏa thuận của các bên nhưng về hình thức thì định nghĩa của Luật học rộng hơn nó được thể hiện không chỉ được thể hiện ở dạng văn bản mà còn thông
Trang 128
qua nhiều hình thức khác như lời nói, hành vi hay các hình thức khác Với cách định nghĩa như vậy cho thấy sự mở rộng của thuật ngữ hợp đồng để hòa hợp pháp luật quốc tế và xu thế hội nhập
Điều 385 BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”
Như vậy, từ khái niệm trên có thể rút ra khái niệm hợp HĐCCN sạch sinh
hoạt như sau: “hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt là sự thỏa thuận giữa hai bên (bên cung cấp nước sạch sinh hoạt và bên có nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt), về việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của hai bên, căn cứ để phát sinh, chấm dứt hay thay đổi giữa hai bên trong hoạt động cung cấp nước sạch sinh hoạt”
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
Từ những phân tích trên cho ta thấy HĐCCN sạch sinh hoạt có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, HĐCCN sạch sinh hoạt là sự thỏa thuận giữa hai bên, sự thỏa thuận đó phải thống nhất ý chí và nó phải phù hợp với quy định của pháp luật
Trong đó, sự thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng được biểu hiện thông qua một bên là đơn vị cung cấp nước sạch sinh hoạt bên còn lại là tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng nước Đồng thời, sự thỏa thuận giữa hai bên trong quan
hệ này phải thống nhất ý chí với nhau nếu một trong hai bên không thống nhất ý chí với nhau thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực đối với các bên Tuy nhiên, sự thống nhất ý chí của hai bên không phải lúc nào cũng hình thành hợp đồng được pháp luật công nhận mà sự thống nhất ý chí đó phải dựa trên cơ sở tự nguyện, có
Trang 13Khi HĐCCN sạch sinh hoạt được ký kết thì nó sẽ xác lập, thay đổi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, ràng buộc các bên khi tham gia quan hệ này như BCCN phải có nghĩa vụ cung cấp nước sạch đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, việc cung cấp nước sạch phải liên tục…, BSDN phải có nghĩa vụ đóng tiền nước hàng tháng, có trách nhiệm bảo quản đồng hồ nước…
Tuy nhiên, khi tham gia bất kỳ một quan hệ nào không chỉ trong HĐCCN sạch sinh hoạt các bên cũng có quyền chấm dứt quan hệ này khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng hoặc một bên không còn nhu cầu tham gia vào quan hệ này nữa
Thứ ba, nội dung của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ mà các bên tham gia trong quan hệ HĐCCN sạch sinh hoạt quy định cho nhau Những nội dung do hai bên quy định cho nhau phải đảm bảo quyền lợi của các bên đồng thời những nội dung đó phải phù hợp với quy định của pháp luật
Thứ tư, mục đích của HĐCCN sạch sinh hoạt
Trong quan hệ này thì mục đích của hai bên sẽ khác nhau thể hiện thông qua BCCN sạch sinh hoạt mong muốn bán được nước sạch sinh hoạt của mình
và thu được lợi nhuận còn BSDN sinh hoạt lại mong muốn có được nguồn nước đạt tiêu chuẩn đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày
Trang 1410
1.2 Bản chất của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt và những ảnh
hưởng của nó đến quyền tự do ký kết hợp đồng
1.2.1 Bản chất của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
Mỗi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào bất kỳ quan hệ nào cũng mong muốn đạt được lợi ích nhất định và cũng cần có một cái gì đó để đảm bảo cho những thỏa thuận, mong muốn của mình đạt được đồng thời phải có sự an toàn cho mình khi có tranh chấp xảy ra Vì vậy, các bên khi tham gia vào quan hệ trên thường lựa chọn hình thức hợp đồng và đưa ra các đề nghị để cùng nhau soạn thảo hợp đồng, để thống nhất những nội dung trong hợp đồng được ký kết của hai bên
Trong quan hệ cung cấp nước sạch cũng không ngoại lệ khi hai bên tham gia vào quan hệ này đều mong muốn có một cái gì đó để bảo vệ họ khi xảy ra tranh chấp hoặc là đảm bảo rằng bên kia phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trước đó Vì vậy, HĐCCN sạch sinh hoạt đã ra đời hay còn gọi là hợp đồng dịch vụ cung cấp nước
Theo quy định tại Điều 513 BLDS 2015 thì: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên
sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”
Như khái niệm được nêu ở trên thì trong hoạt động cung cấp nước sạch sinh hoạt hai bên giao kết hợp đồng phải có sự thỏa thuận với nhau nếu như bên nào không đồng ý với các điều khoản ghi trong hợp đồng thì có quyền nêu ra ý kiến của mình và đề nghị bên còn lại chỉnh sửa nội dung của hợp đồng cho phù hợp với ý chí của hai bên Tuy nhiên, trên thực tế thì mọi cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ trên không có thỏa thuận hoặc thay đổi nội dung của hợp đồng Bên sử dụng dịch vụ muốn được sử dụng dịch vụ phải ký kết hợp đồng dựa trên
Trang 15Trên thế giới, các quốc gia theo các chế độ khác nhau nên việc sử dụng các quy định và các nguồn để áp dụng pháp luật cũng khác nhau do đó tên gọi và hình thức tồn tại của hợp đồng mẫu cũng khác nhau như một số quốc gia quan niệm đây là hợp đồng mẫu tiêu chuẩn (standard form contract) tức là khi giao dịch dạng hợp đồng này thì nó đã được soạn sẵn, dùng để áp dụng cho mọi đối tượng và không có sự thỏa thuận để thay đổi nội dung của hợp đồng, một số quốc gia khác quan niệm là hợp đồng gia nhập (adhesion contract) tức là khi tham gia vào một quan hệ có sử dụng hợp đồng thì hợp đồng sẽ do một bên soạn sẵn, các nội dung trong hợp đồng sẽ do bên soạn sẵn quyết định còn bên tham gia hợp đồng còn lại chỉ có lựa chọn là tham gia hợp đồng hoặc từ chối tham gia, cũng có một số quốc gia quan niệm là hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract)
Một số quốc gia đưa ra định nghĩa hợp đồng mẫu của mình như sau:
Hàn Quốc định nghĩa hợp đồng gia nhập: “là những điều khoản và điều kiện chung trong hợp đồng, bất kể mang tên, hình thức hay phạm vi như thế nào,
do một bên soạn sẵn bằng một hình thức nhất định nhằm giao kết hợp đồng với
số đông người” (Khoản 1 Điều 2 Luật Hợp đồng gia nhập) [17]
Điều 3 Luật hợp đồng gia nhập Hàn Quốc quy định: “theo cách được sử dụng phổ biến cho loại hợp đồng này và theo yêu cầu của NTD, phải cung cấp cho NTD một bản của hợp đồng để họ có thể hiểu được nội dung của hợp đồng”
Trang 16Trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan tại Khoản 9 Điều 2 định
nghĩa hợp đồng theo mẫu là: “hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ điều khoản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh” [15] Tại Khoản 7 Điều 2 cũng đưa ra định nghĩa về các điều khoản của hợp đồng theo mẫu là “các điều khoản mẫu được các doanh nghiệp đơn phương soạn thảo để giao kết với số lượng lớn và không xác định các đối tác Ngoài dạng văn bản, những điều khoản này còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, tờ rơi, các màn hình quảng cáo công cộng, internet hoặc các phương tiện khác”
Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan đã dành hẵn Mục 2 với bảy điều (từ Điều 11 đến Điều 17) để điều chỉnh chế định hợp đồng theo mẫu như vậy có thể thấy được Đài Loan cũng rất chú trọng điều chỉnh chế định hợp đồng theo mẫu
Tại Điều 11, còn có một quy định mang tính nguyên tắc chung là “các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng theo mẫu được soạn thảo bởi các doanh nghiệp phải được soạn thảo trên cơ sở các nguyên tắc của công bằng và có đi có lại Nếu các điều khoản và điều kiện của hợp đồng theo mẫu không rõ nghĩa, việc giải thích sẽ được thực hiện theo hướng có lợi cho người tiêu dùng”
Đồng thời, Luật cũng bắt buộc các doanh nghiệp phải cho NTD một khoảng thời gian ít nhất là 30 ngày để NTD xem xét tất cả các nội dung, điều
Trang 1713
kiện và điều khoản trong hợp đồng mẫu trước khi giao kết Trường hợp không tuân thủ quy định này thì các điều khoản và điều kiện được giao kết sẽ vô hiệu Ngoài ra, Luật cũng quy định các cơ quan có thẩm quyền ở cấp trung ương có thể lựa chọn một ngành, lĩnh vực cụ thể và công bố thời hạn phù hợp cho NTD xem xét một hợp đồng mẫu trên cơ sở các tiêu chí về tính quan trọng của các điều kiện và điều khoản đó, số lượng các vấn đề có liên quan và mức độ phức tạp của hợp đồng mẫu đó Có thể nói rằng, các quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan rất nghiêm khắc và chặt chẽ đối với các doanh nghiệp và rất
có ý nghĩa đối với NTD Thông qua việc cho NTD có một thời gian xem xét nội dung của hợp đồng mẫu là rất hợp lý do NTD không phải là người trực tiếp soạn thảo và cũng không có khả năng đàm phán, thỏa thuận lại từng điều khoản trong hợp đồng do đó, họ cần phải có một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu các nội dung trong hợp đồng trước khi ký kết
Theo Isreal thì hợp đồng mẫu là: “hợp đồng mà tất cả hoặc một phần các điều kiện đã được xác định trước bởi một bên sử dụng nhiều lần trong hợp đồng với những người chưa được xác định cụ thể” (Điều 2 Luật Hợp đồng theo
Trang 1814
“Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa
ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”
Qua định nghĩa trên ta có thể thấy hợp đồng theo mẫu cũng có những đặc điểm như các loại hợp đồng khác bên cạnh những đặc điểm riêng của mình do đó HĐCCN sạch sinh hoạt cũng có những đặc điểm như sau:
Một là, HĐCCN sạch sinh hoạt là hợp đồng được soạn sẵn bởi bên cung cấp dịch vụ
Theo như hiểu biết thông thường thì hợp đồng nó phải thể hiện sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên khi tham gia vào quan hệ trên Tuy nhiên, khi tham gia vào việc ký kết HĐCCN sạch sinh hoạt thì bên muốn được sử dụng nước sạch không được quyền thỏa thuận trong việc giao kết hợp đồng mà chỉ có thể chấp nhận tất cả nội dung của hợp đồng để giao kết hợp đồng hoặc từ chối giao kết hợp đồng chính điều này đã dẫn đến việc bất cân xứng của hai bên trong hợp đồng dù nó là loại hợp đồng bắt buộc phải đăng ký theo quy định của pháp luật và đã được kiểm tra để đảm bảo quyền lợi của bên yếu thế trong quan hệ này nhưng như thế vẫn chưa đủ
Hai là, hợp đồng trên được áp dụng đối với tất cả các khách hàng có đủ điều kiện tham gia vào hợp đồng
Như đã phân tích ở trên thì HĐCCN sạch sinh hoạt có những đặc điểm của các loại hợp đồng nói chung do đó, không phải bất kỳ khách hàng nào cũng được tham gia vào HĐCCN sạch sinh hoạt mà phải đáp ứng được các điều kiện về chủ thể được quy định trong BLDS như:
Trang 1915
Đối với cá nhân: khách hàng tham gia vào HĐCCN sạch sinh hoạt phải đáp ứng các điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 16 và Điều 19 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Đối với pháp nhân: Khoản 1 Điều 86 BLDS năm 2015 quy định “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa
vụ dân sự” nhưng trước tiên để có được năng lực pháp luật dân sự thì pháp nhân
phải được công nhận theo quy định Tại Khoản 1 Điều 74 BLDS năm 2015 quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ điều kiện sau:
- Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Như vậy, pháp nhân được công nhận theo quy định của pháp luật thì có đủ điều kiện tham gia vào HĐCCN sạch sinh hoạt
Ba là, chủ thể của HĐCCN sạch sinh hoạt luôn bao gồm một bên là bên BCCN và bên còn lại là BSDN
Để tham gia vào quan hệ trên thì các chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định Theo đó, để hợp đồng có hiệu lực thì một trong những điều kiện tiên quyết
là chủ thể phải có “năng lực hành vi dân sự” được quy định cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 như sau:
“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”
Theo quy định của BLDS năm 2015 thì chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng gồm cá nhân, tổ hợp tác, pháp nhân, hộ gia đình Mặt khác, năng lực hành
Trang 20ra Tuy nhiên, HĐCCN sạch sinh hoạt thì lại khác, giữa các chủ thể tồn tại một khoảng cách về địa vị rất lớn Bên đưa ra các điều khoản trong hợp đồng là bên
có địa vị pháp lý cao hơn, có sự am hiểu về pháp lý, có khả năng tài chính cao đồng thời cũng có sự am hiểu, điều kiện và khả năng tìm hiểu về loại sản phẩm
mà mình cung cấp Ngược lại, BSDN do họ có nhu cầu sử dụng nước và ở một
vị thế thấp hơn hẳn do đó họ phải chấp nhận vô điều kiện nội dung của hợp đồng Họ không thể thương lượng lại các nội dung trong hợp đồng
Bốn là, hình thức của hợp đồng được thể hiện dưới hình thức văn bản
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 401 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định” Theo như quy định trên thì BLDS năm 2005 không quy
định cụ thể về hình thức của hợp đồng tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 119 BLDS
năm 2005 quy định cụ thể hình thức của giao dịch dân sự như sau: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”
Trang 2117
Tại BLDS năm 2015 đã loại bỏ điều luật quy định về hình thức của hợp đồng dân sự mà chỉ quy định về hình thức của các giao dịch dân sự tại Khoản 1 Điều 119 như sau:
“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”
Khoản 1 Điều 14 Luật Bảo vệ người tiêu dùng quy định: “Hình thức hợp đồng giao kết với người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự”
Như vậy, theo quy định trên thì hợp đồng được thể hiện dưới nhiều hình thức tuy nhiên Điều 7 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định:
“Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản…” Vì vậy, HĐCCN sạch sinh hoạt cũng phải được thể hiện bằng văn bản
Năm là, nội dung của hợp đồng thường là do BCCN sạch sinh hoạt soạn thảo trước trên cơ sở các quy định của pháp luật và các nội dung đó không được trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
Nội dung của hợp đồng là vấn đề mà các bên thỏa thuận với nhau Nó được thể hiện thông qua các điều khoản trong hợp đồng và ghi nhận các quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung của nó thường bao gồm các điều khoản như: đối tượng của hợp đồng, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm thực hiện hợp đồng, giá cả…
Trang 2218
Do HĐCCN sạch sinh hoạt bản chất của nó là hợp đồng mẫu do đó toàn
bộ nội dung của hợp đồng sẽ do BCCN sạch sinh hoạt soạn thảo và phải đáp ứng các quy định của pháp luật về bảo vệ NTD, các luật chung, luật chuyên ngành và các luật có liên quan Trong vấn đề này, chúng ta có thể nhận thấy một số nội dung của hợp đồng bị hạn chế quyền tự do thỏa thuận giữa các bên, là do Nhà nước với mục đích bảo vệ đạo đức xã hội, trật tự công cộng, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự kinh tế - xã hội, bảo vệ trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ sự bình đẳng, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, trong lĩnh vực cạnh tranh, pháp luật chống độc quyền có quy định cấm bên có thế mạnh đưa ra những điều khoản trong hợp đồng có tính chất lạm dụng để gây hại cho bên còn lại
1.2.2 Hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt và những ảnh hưởng của nó
đến quyền tự do ký kết hợp đồng
Điều 4 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”
Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”
Tuy cách diễn đạt của hai BLDS của các năm khác nhau nhưng nó vẫn giống nhau về nội dung là khi giao kết hợp đồng thì các bên có quyền thỏa thuận với nhau và quyết định là có giao kết hoặc không giao kết hợp đồng HĐCCN
Trang 2319
sạch sinh hoạt cũng là một dạng hợp đồng do đó các bên khi tham gia vào hợp đồng cũng có quyền thỏa thuận, ký kết hoặc không ký kết hợp đồng tuy nhiên như đã phân tích ở trên thì nó là hợp đồng đặc biệt là hợp đồng mẫu do đó quyền thỏa thuận trong hợp đồng đối với BSDN gần như là không có, khi BSDN mong muốn có nước sạch sinh hoạt để sử dụng và bắt buộc phải ký kết hợp đồng thì họ chỉ có một lựa chọn duy nhất là ký vào hợp đồng do BCCN sạch sinh hoạt đã soạn sẵn
1.3 Nội dung, ý nghĩa và quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng
cung cấp nước sạch sinh hoạt
1.3.1 Nội dung cơ bản của hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt
HĐCCN sạch sinh hoạt là một dạng của hợp đồng do đó nó cũng có những nội dung giống như các loại hợp đồng khác Tại Điều 398 của BLDS năm 2015 quy định nội dung của hợp đồng như sau:
- Đối tượng của hợp đồng
- Số lượng, chất lượng;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Phương thức giải quyết tranh chấp
Như vậy, trong HĐCCN sạch sinh hoạt cũng có gần như đầy đủ những nội dung theo quy định trên, gồm các nội dung sau:
Một là, đối tượng của hợp đồng là nước sạch
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính Phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch thì
Trang 2420
nước sạch được định nghĩa là “nước đã qua xử lý có chất lượng bảo đảm, đáp ứng yêu cầu sử dụng”, các quy định của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh về nước sạch cũng có định nghĩa tương tự
Luật Tài nguyên nước định nghĩa nước sạch là “nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam”, bên cạnh đó còn định nghĩa thêm về nước sinh hoạt là “nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người”
Như vậy, không phải mọi nguồn nước đều là đối tượng của HĐCCN sạch sinh hoạt mà chỉ những nguồn nước đã qua xử lý, đáp ứng được các tiêu chuẩn
về nước sạch mới thuộc đối tượng của hợp đồng
Không phải mọi cá nhân muốn tham gia vào quan hệ trên đều trở thành chủ thể mà phải đáp ứng được các điều kiện để trở thành chủ thể tham gia quan
hệ như năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 16, Điều 19 của BLDS năm 2015
Việc quy định tổ chức là chủ thể trong quan hệ trên là rất rộng do đó có thể là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều có thể trở thành chủ thể nếu đáp ứng được các điều kiện để trở thành pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác do BLDS
Trang 2521
năm 2015 quy định Như vậy, chủ thể ký kết HĐCCN sạch sinh hoạt rất rộng nó bao gồm tất cả các chủ thể được quy định trong BLDS năm 2015
Thứ ba, giá và phương thức thanh toán
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nghĩa là số lượng tiền phải trả cho hàng hóa đó [20] Với định nghĩa trên thì BSDN sạch phải trả một
số lượng tiền nhất định cho BCCN sạch
Nước sạch là nguồn tài nguyên của một quốc gia vì vậy nó là một loại hàng hóa đặc biệt do đó, giá nước sạch sẽ không do BCCN sạch và BSDN sạch
tự thỏa thuận với nhau mà hằng năm cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành giá nước để BCCN áp dụng cho BSDN Như vậy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, các chi phí cần thiết để tạo
ra nước sạch từ đó sẽ ban hành biểu giá tiền nước và cách thức áp dụng cho từng đối tượng sử dụng nước khác nhau
Khi mua bán bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào với nhau thì các bên cũng luôn quan tâm đến phương thức phải thanh toán như thế nào Đối với HĐCCN sạch sinh hoạt cũng vậy BCCN lúc nào cũng mong muốn thu được số tiền mà họ đã cung cấp nước nhanh nhất, BSDN thì mong muốn được hoàn thành nghĩa vụ của mình sớm nhất và được cung cấp nước liên tục Do đó, BCCN đã liên kết với các
tổ chức khác nhau nhằm đa dạng các loại hình thanh toán để tạo mọi điều kiện thuận lợi để BSDN thanh toán tiền nước Trước đây, khi thanh toán qua ngân hàng hoặc các dịch vụ thu hộ không được phát triển thì BCCN phải cử nhân viên đến tận nhà BSDN để thu điều này đã gây khó khăn cho BSDN khi mà họ không biết được thời gian khi nào có người đến thu tiền nước và ở nhà đợi gây mất nhiều thời gian cho họ Tuy nhiên, khi mà nền kinh tế phát triển thì các loại hình
hỗ trợ thu tiền nước như qua ngân hàng, dịch vụ thu hộ, các ví điện tử… ngày
Trang 26Thứ tư, thời hạn, địa điểm và phương thức thực hiện hợp đồng
Nước sạch cũng là một loại hàng hóa nên khi thực hiện giao kết hợp đồng thì nó cũng có những quy định về thời hạn, địa điểm và phương thức thực hiện hợp đồng như các loại hàng hóa khác được quy định trong BLDS năm 2015 như sau:
Về thời hạn thực hiện hợp đồng Điều 434 BLDS năm 2015 quy định:
1 Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý
2 Khi các bên không thỏa thuận thời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một thời gian hợp
lý
3 Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời điểm nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng nhận quyền
sở hữu tài sản
Trang 2723
Về địa điểm giao tài sản Điều 435 BLDS năm 2015 quy định “Địa điểm giao tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 277 của Bộ luật này”
Về phương thức giao tài sản Điều 436 BLDS năm 2015 quy định:
1 Tài sản được giao theo phương thức do các bên thỏa thuận; nếu không
có thỏa thuận thì tài sản do bên bán giao một lần và trực tiếp cho bên mua
2 Trường hợp theo thỏa thuận, bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán thực hiện không đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến lần vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Như vậy, khi thực hiện HĐCCN sạch sinh hoạt thì thời hạn thực hiện hợp đồng, địa điểm và phương thức thực hiện do các bên thỏa thuận Tuy nhiên, về địa điểm thì thường được thực hiện tại bất động sản của BSDN với mục đích BCCN phục vụ tốt hơn, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của BSDN
Thứ năm, quyền và nghĩa vụ các bên
HĐCCN sạch sinh hoạt cũng ghi nhận rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào giao dịch này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, một số quyền và nghĩa vụ của BCCN sạch
Quyền được vào khu vực quản lý của bên sử dụng nước sạch để kiểm tra
và thực hiện các nghiệp vụ cấp nước
Quyền ngừng thực hiện dịch vụ cấp nước trong các trường hợp: theo yêu cầu bằng văn bản của BSDN sạch; do BSDN sạch vi phạm thời hạn thanh toán tiền nước hoặc các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng; do yêu cầu của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 28Thứ hai, một số quyền và nghĩa vụ của BSDN sạch
Quyền yêu cầu BCCN sạch: cung cấp nước sạch với chất lượng và điều kiện dịch vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng; kiểm tra chất lượng nước sạch, tính chính xác của thiết bị đo đếm nước sạch, số tiền nước phải thanh toán; khôi phục việc cung cấp nước trong thời gian sớm nhất sau khi hệ thống cấp nước bị sự cố
Quyền được BCCN sạch cung cấp thông tin về: các sự cố liên quan đến việc cung cấp nước; kế hoạch sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng hệ thống cấp nước; các quy định mới liên quan đến việc cung cấp, sử dụng nước
Nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho BCCN sạch ghi chỉ số đồng hồ nước, thay đồng hồ nước định kỳ và kiểm tra hệ thống cấp nước phía sau đồng hồ nước
Nghĩa vụ kịp thời thông báo cho BCCN sạch khi phát hiện các sự cố về chất lượng nước, áp lực nước hoặc sự bất thường của đồng hồ nước
Thứ sáu, phương thức giải quyết tranh chấp
Trong bất kỳ quan hệ giao dịch dân nào khi các bên đã thỏa thuận được với nhau và tiến tới ký kết hợp đồng họ sẽ luôn dự đoán những rủi ro có thể xảy
ra trong lúc giao kết tuy nó là đều mà chẳng bên nào tham gia vào quan hệ hợp đồng mong muốn Rủi ro là đều bắt buộc các bên phải lường trước nhưng không phải lúc nào các rủi ro phát sinh xảy ra trong hợp đồng đều nằm trong dự đoán của họ và việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khi xảy ra là đều rất
Trang 2925
quan trọng HĐCCN sạch sinh hoạt cũng vậy khi giao kết hợp đồng các bên cũng phải nghĩ đến các tranh chấp có thể phát sinh hoặc vượt ngoài dự đoán của
họ và khi đó họ sẽ lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp nào là tốt nhất
để đạt đến những gì mà các bên mong muốn lúc ký kết hợp đồng đề ra
Tại Điều 317 Luật Thương mại năm 2005 có nêu ra các hình thức giải quyết tranh chấp là thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án Trong HĐCCN sạch sinh hoạt thì BCCN sạch lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp như trong Luật Thương mại, bằng cách lựa chọn phương thức giải quyết như vậy thì BCCN mong muốn khi có tranh chấp xảy ra các bên nên hướng đến thương lượng để giải quyết được vấn đề rắc rối đang xảy ra trên tinh thần thiện chí, đảm bảo quyền lợi của nhau nhằm giải quyết vướng mắc nhanh nhất để hợp đồng có thể được tiếp diễn và đạt được mong muốn ban đầu đặt ra Trường hợp, thương lượng không thể giải quyết được thì các bên mới lựa chọn con đường tiếp theo để giải quyết tranh chấp đang xảy ra bằng cách thức lựa chọn một bên thứ
ba, Trọng tài, Tòa án trong đó khi lựa chọn bên thứ ba giải quyết thì quá trình hòa giải có kết quả các bên tự nguyện thực hiện theo sự hòa giải trên và hoàn toàn không có tính bắt buộc còn đối với Trọng tài hoặc Tòa án thì ngược lại khi
có phán quyết của Trọng tài hoặc quyết định của Tòa án thì các bên bắt buộc phải thi hành
1.3.2 Ý nghĩa và quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng cung cấp
nước sạch sinh hoạt
Bất cứ chủ thể nào khi tham gia vào quan hệ hợp đồng đều có những nhận thức nhất định của mình về quan hệ đó dù ít hay nhiều Do đó, các chủ thể tham gia vào HĐCCN sạch sinh hoạt cũng không là ngoại lệ
Trang 3026
Như đã phân tích ở trên HĐCCN sạch sinh hoạt là một hợp đồng mẫu nên chủ thể tham gia ký kết gồm BCCN và BSDN với vai trò là NTD bên yếu thế cần được bảo vệ trong quan hệ này vì vậy có thể thấy rằng nhận thức của họ trong quan hệ này không bằng BCCN Điều đó được thể hiện thông qua một số nội dung sau:
Đối với BSDN:
Một là, họ sẽ không đọc nội dung của hợp đồng do họ không thể hiểu được các thuật ngữ pháp lý trong hợp đồng hoặc nếu họ có hiểu được các thuật ngữ đó thì cũng không thể nào thương lượng và yêu cầu bên cung cấp nước thay đổi những nội dung đó
Hai là, họ tin rằng những giả định trong hợp đồng có thể sẽ không xảy ra đối với họ; tin rằng các chủ thể kinh doanh sẽ vì danh tiếng của mình mà không áp đặt những điều kiện bất công đối với họ [40]
Ba là, họ cho rằng lĩnh vực cung cấp nước sạch sinh hoạt là đặc thù có tính chất độc quyền chỉ có một đơn vị duy nhất cung cấp nước cho họ nếu không ký kết với đơn vị cung cấp đó thì không còn đơn vị nào cung cấp cho mình do đó thường có tâm lý là thờ ơ, mặc kệ, chấp nhận ký kết hợp đồng và cũng chẳng quan tâm trong hợp đồng có những nội dung, trường hợp có xem xét đến nội dung nhận thấy có những điều bất lợi cho mình thì cũng chẳng thể thương lượng
để thay đổi nội dung của hợp đồng
Đối với BCCN:
Trong quan hệ HĐCCN sạch sinh hoạt thì BCCN có vị trí, vai trò cao hơn BSDN do đó nhận thức của họ về HĐCCN sạch sinh hoạt cũng cao hơn chính điều đó dẫn đến họ sẽ đưa ra những điều khoản bất lợi trong hợp đồng cho người
sử dụng nước nhiều hơn
Trang 31Như vậy, ta có thể thấy được sự lạm dụng quyền lực và hiểu biết của mình để đàn áp bên yếu thế hơn như thế nào khi mà họ có nhận thức cao hơn
Hơn thế nữa, BCCN còn có những lợi thế riêng biệt của mình về mặt nhận thức như:
Sự hiểu biết các quy phạm pháp luật của họ về lĩnh vực cung cấp nước sạch
do họ là người quản lý, cung cấp và kinh doanh nên họ sẽ tìm hiểu các quy định pháp luật trong lĩnh vực mà họ đang kinh doanh
Nguồn nhân lực: chủ thể kinh doanh nước sẽ tìm kiếm, tổ chức các lớp nghiệp vụ để đào tạo cho mình nguồn nhân lực am hiểu về các quy phạm pháp luật về lĩnh vực cung cấp nước từ đó có thể tư vấn và đưa ra những quyết định có lợi cho mình khi có các tranh chấp phát sinh với BSDN
Khả năng tiếp cận thông tin: do cung cấp nước sạch là lĩnh vực đặc thù nên những quan điểm, chỉ đạo trong lĩnh vực này thì chủ thể này dễ dàng tiếp cận, bên cạnh đó họ lúc nào cũng nâng cao cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên để lúc nào cũng nắm bắt được các quy phạm pháp luật về lĩnh vực cấp nước nhanh nhất
Với những phân tích trên ta có thể thấy rằng về nhận thức các bên tham gia quan hệ HĐCCN sạch sinh hoạt không tương thích với nhau BCCN là bên có ưu thế về mọi mặt trong hợp đồng này do đó họ thường sẽ dùng những ưu thế, thủ thuật của mình để đưa ra những điều khoản bất lợi mà bên sử dụng nước khi
Trang 32Đối với Nhà nước thì nó là căn cứ để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của NTD, bảo đảm là BCCN không lợi dụng vị trí độc quyền của mình trong cung cấp nước để đưa ra những bất lợi cho NTD đồng thời đưa ra những điều khoản trái với các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội mà pháp luật nghiêm cấm Là hình thức pháp lý đảm bảo sự bình đẳng, tự do và tự nguyện của các bên khi xác lập quan hệ với nhau
Đối với BCCN sạch nó là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi của họ, được áp dụng đối với tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ trên khi có tranh chấp phát sinh các bên dựa vào các quy định đã được thống nhất trong hợp đồng để giải quyết
Đối với NTD nó cũng là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi của họ như các vấn đề về chất lượng nước, khiếu nại, tranh chấp… xảy ra khi BCCN không thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng, nó có giá trị ràng buộc các bên khi tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã được ghi nhận trong hợp đồng Tuy nhiên, quyền lợi của NTD trong hợp đồng này không được đảm bảo và họ là bên yếu thế do đó cần phải bảo vệ họ khi có các tranh chấp phát sinh thể hiện thông qua nội dung sau: theo quy định của BLDS khi tham gia ký kết hợp đồng thì các bên có quyền thỏa thuận, bảo lưu, lựa chọn chủ thể ký kết phù hợp với nhu cầu của mình nhưng do đây là HĐCCN sạch sinh hoạt và NTD muốn sử dụng nước thì chỉ có duy nhất một chủ thể cung cấp nước
Trang 3329
tại khu vực mà họ đang sinh sống do đó bắt buộc họ phải ký hợp đồng mẫu mà BCCN đưa ra cho dù họ nhận thấy có những điều khoản bất lợi cho mình Vì vậy, quyền thỏa thuận, bảo lưu, lựa chọn chủ thể ký kết hợp đồng trong quan hệ này không được thể hiện
1.4 Quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung cấp nước sạch sinh
ra đối với nguồn nước, con người và nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng, tác động của nguồn nước đến con người Chính phủ đã ban hành Luật số 08/1998/QH10 ngày 20/5/1998 của Quốc hội về Luật Tài nguyên nước để bảo vệ con người trong tương lai Nhưng khi xã hội ngày càng phát triển, con người được tiếp cận nhiều khoa học kỹ thuật tiến bộ thì những việc làm ảnh hưởng tới nguồn nước sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ do đó với Luật Tài nguyên nước đã ban hành không còn phù hợp và ngày 21/6/2012 Quốc hội đã thông qua Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 có hiệu lực thi hành ngày từ ngày 01/01/2013 đến nay
Để hướng dẫn chi tiết hơn về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính, Bộ Y tế,… đã được banh hành bên cạnh Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực cung cấp nước sạch sinh
Trang 3430
hoạt như: Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về Sản xuất, Cung cấp và tiêu thụ nước sạch, Thông tư số 100/2009/TT-BTC ngày 20/5/2009 của Bộ Tài chính về việc ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt, Thông tư 01/2008/TT-BXD hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về Sản xuất, Cung cấp
và tiêu thụ nước sạch, Thông tư 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ Y tế
về ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt”,…
Những văn bản ban hành ở trên được áp dụng trên toàn cả nước và để những quy định đó được thể hiện, áp dụng thực tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định
số 146/2003/QĐ-UB ngày 13/8/2003 về việc ban hành quy định về cung cấp sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 20/2007/QĐ-UB ngày 9/2/2007 về ban hành quy định về cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 25/2019/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 ban hành giá nước sạch sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh lộ trình 2019-2022…
Với những quy định trên thì khung pháp lý để điều chỉnh hợp HĐCCN sạch sinh hoạt cũng đã hoàn thiện với mục đích để đảm bảo lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ trên Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng thì những quy định đó sẽ không tránh khỏi những vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng đặc biệt nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến lợi ích của BSDN đóng vai trò là bên yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi khi tham gia vào quan hệ trên
Trang 35Nói chung, việc xem xét một số vấn đề lý luận cơ bản về HĐCCN sạch sinh hoạt và các quy định của pháp luật điều chỉnh HĐCCN sạch sinh hoạt tại Chương 1 là cơ sở để người viết đi vào tìm hiểu, phát hiện những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện, áp dụng các quy định của pháp luật về HĐCCN sạch sinh hoạt tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành, để từ đó đề ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành và nhằm mục đích bảo vệ bên yếu thế hơn khi tham gia ký kết hợp đồng
Trang 3632
CHƯƠNG 2:
THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH SINH HOẠT
2.1 Thực trạng thi hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành
2.1.1 Một số nét khái quát về Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành
Năm 1880, một hệ thống cung cấp và phân phối nước đầu tiên tại Sài Gòn được người Pháp đưa vào hoạt động, khởi đầu cho lịch sử ngành cấp nước thành phố với những bước tiến không ngừng đi suốt chiều dài lịch sử phát triển của vùng đất Sài Gòn – Gia Định Hơn 136 năm qua, cùng với những đổi thay của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt từ sau giai đoạn đổi mới của nước nhà, thành phố
Hồ Chí Minh ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội hàng đầu của cả nước Trước yêu cầu phục vụ cấp nước trên địa bàn ngày càng phát triển trên diện rộng, tháng 7/1992 Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn ra đời trên cơ sở phân chia vùng phục vụ cấp nước trên địa bàn của Công ty Cấp nước Thành phố thành các chi nhánh cấp nước Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định Sau quá trình thành lập, Chi nhánh đã trải qua nhiều giai đoạn chia tách, phân bổ lại vùng quản lý cấp nước, thay đổi tên gọi cũng như được cổ phần hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đem lại lợi ích nhiều hơn cho nền kinh tế theo chủ trương của thành phố
Ngày 20/11/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 388/HĐBT
về việc thành lập, giải thể, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước Trước yêu cầu trên, ngày 01/7/1992 Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn ra đời trên cơ sở phân chia vùng phục vụ cấp nước trên địa bàn của Công ty Cấp nước Thành phố thành
Trang 3733
các chi nhánh cấp nước Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định Giai đoạn này, với 151 lao động, Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn đảm trách nhiệm nhiệm vụ cấp nước trên địa bàn quận 1, quận 3, quận 4 và huyện Nhà Bè thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 01/1997, quận 7 được thành lập trên cơ sở tách một phần diện tích, dân số từ một số xã của huyện Nhà Bè Trước sự phát triển khá nhanh về lượng khách hàng và địa bàn quản lý cung cấp nước, để nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, tháng 4/2003 Công ty Cấp nước Thành phố tách Chi nhánh thành Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn và Chi nhánh Cấp nước Nhà
Bè Sau khi chia tách, Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn tập trung phục vụ khách hàng quận 1, quận 3 với số lượng đồng hồ nước quản lý gần 60.769 cái, chiều dài mạng lưới đường ống là 331.251 mét và tỷ lệ cung cấp nước cho khách hàng giai đoạn này đạt 90% hộ dân
Đến năm 2005, thực hiện yêu cầu phân vùng tách mạng theo ranh giới địa
lý để phục vụ công tác quản lý mạng lưới cấp nước của Công ty Cấp nước Thành phố, Chi nhánh Cấp nước Sài Gòn lại tách một phần mạng lưới cấp nước thuộc phường 12, 13, 14 - Quận 3 sang cho Chi nhánh Cấp nước Gia Định quản lý Số lượng đồng hồ nước quản lý của đơn vị trong giai đoạn này còn 59.104 cái, trong khi đó tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch tăng lên 93%
Tháng 5/2005, theo Quyết định số 85/2005/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân TP.HCM, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn được thành lập, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Để cơ cấu tổ chức bộ máy cũng được thay đổi theo mô hình mới, tháng 9/2005 Chi nhánh Cấp nước Bến Thành được thành lập (theo Quyết định số 62/QĐ-TCT-TC ngày 31/8/2005 của Tổng Công ty), là một trong sáu công ty con của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn chuyên kinh doanh, phân phối nước sạch [10]
Trang 38hệ
Tại Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành để điều chỉnh HĐCCN sạch sinh hoạt thì Công ty sử dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành để giải quyết các quan hệ phát sinh trong hợp đồng hoặc các văn bản do Tổng Công
ty Cấp nước Sài Gòn Trách nhiệm hữu hạn một thành viên ban hành để hướng dẫn thực hiện một số nội dung còn gặp vướng mắc khi áp dụng trên thực tế
Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch nhưng trong quá trình thực thi văn bản trên thì cũng có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp do đó Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch đã được ban hành để sửa đổi, bổ sung một số nội dung phù hợp với tình hình thực tế
Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành dùng để áp dụng chung trong cả nước còn để nó đi vào thực tế địa phương thì mỗi địa phương lại căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của mình để ban hành văn bản cho phù hợp Đối với Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành
Trang 3935
phố năng động, sáng tạo bậc nhất của cả nước bên cạnh đó nó cũng là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu hút nhiều nguồn dân cư đến sinh sống thì nguồn nước sạch lại có vai trò rất quan trọng do đó Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-UBND ngày 09/02/2007 của Ủy ban nhân dân về ban hành quy định cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Nước sạch suy cho cùng nó cũng là một dạng hàng hóa do vậy khi trao đổi mua bán thì cũng phải có một giá trị chung để trao đổi và Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 24/12/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
về điều chỉnh giá nước sạch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã được ban hành Sau 10 năm thực hiện (đến năm 2019) các chi phí để tạo ra nguồn nước sạch cũng tăng lên nên Quyết định số 25/2019/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về giá nước sạch sinh hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh lộ trình 2019-2022
đã được ban hành để phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, trong văn bản trên thì giá nước cho cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể; đơn vị sản xuất; đơn vị kinh doanh, dịch vụ không được quy định và giao cho Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn trách nhiệm hữu hạn một thành viên ban hành Ngày 05/11/2019, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã ban hành Quyết định số 728/QĐ-TCT-KDDVKH về ban hành đơn giá tiêu thụ nước sạch cho cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể; đơn vị sản xuất; đơn vị kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, lộ trình 2019-2022, bên cạnh đó để việc cấp định mức nước cho sinh viên, người lao động thuê nhà để ở thì Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã ban hành các công văn số 1353/TCT-KDDVKH ngày 23/3/2016, số 1442/TCT-