1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

84 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục .... Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quy

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC 9 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 9

1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 9 1.1.2 Đặc điểm về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 13 1.1.3 Ý nghĩa bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 15

1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 19

1.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố các vụ án xâm phạm tình dục 19 1.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 21 1.2.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm tình dục 23 1.2.4 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của

bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm tình dục 24

Tiểu kết chương 1 27 Chương 2:THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC – TỪ THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28 2.1 Tổng quan về các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 28

Trang 2

2.1.1 Khái quát chung về các đặc điểm kinh tế, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 28 2.1.2 Tình hình các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 29 2.1.3 Đặc điểm các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 32

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 40

2.2.1 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố các vụ án xâm phạm tình dục 41 2.2.2 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục trong giai đoạn điều tra 43 2.2.3 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục trong giai đoạn truy tố 47 2.2.4 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục trong giai đoạn xét xử 49

2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền của

bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 53 Tiểu kết chương 2 57 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONGCÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC 58 3.1 Quan điểm bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 58 3.2 Giải pháp góp phần bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 60 3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật 60

3.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường nhận thức về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18

tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục 65 Tiểu kết chương 3 70

Trang 3

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Số vụ án, số bị cáo hình sự đã xét xử và số vụ, số bị cáo xâm

phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

28

Bảng 2.2: Thống kê tình hình các tội xâm phạm tình dục người dưới 18

tuổi xét theo tội danh căn cứ vào số liệu của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

29

Bảng 2.4: Độ tuổi của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, đây được xem là quá trình phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc, nhân dân trên toàn thế giới Ở Việt Nam vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng thu hút được sự quan tâm của dư luận và có sự tác động mạnh mẽ đến các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả xâm phạm, nó được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó

có lĩnh vực Tố tụng hình sự (viết tắt là TTHS)

Tố tụng hình sự bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án hình sự Đây là những giai đoạn độc lập vì thực hiện những nhiệm vụ khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ thể hiện ở các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, kiểm sát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Trong hoạt động TTHS quyền con người chính là quyền dễ bị xâm phạm và tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất vì nó liên quan đến quyền sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của con người chính vì vậy vấn đề bảo đảm quyền con người nhất là bảo đảm quyền của bị hại phải được đặt lên hàng đầu

Trong giai đoạn hội nhập quốc tế như hiện nay, tình hình tội phạm ở nước ta

có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, xuất hiện nhiều loại hình tội phạm mới với những thủ đoạn tinh vi hơn trước Trong số đó, tội phạm xâm phạm tình dục đang

có chiều hướng gia tăng Đáng chú ý, ngày càng xuất hiện nhiều các vụ án XPTD

mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương do sự phát triển về thể chất và tinh thần chưa hoàn thiện cũng như khả năng phòng vệ và tự vệ còn yếu

Ngoài vai trò chính trị quan trọng (đứng sau Thủ đô Hà Nội), Thành phố Hồ Chí Minh còn được coi là trung tâm kinh tế của cả nước, nơi mà những tác động tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường thể hiện rõ nét nhất Bên cạnh những thành tựu lớn về kinh tế, văn hóa và xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, trong đó có sự gia tăng nhóm tội XPTD nói chung và XPTD đối với bị hại là người dưới 18 tuổi nói riêng Qua thực tiễn áp

Trang 7

dụng BLTTHS, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đã có những bước tiến rõ rệt; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng được quy định

rõ ràng Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết và bất cập cả lập pháp, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, những người tham gia tố tụng cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng Cơ chế đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD chưa rõ ràng, còn nhiều yếu kém nhất định như quá trình giải quyết vụ án hình sự có dấu hiệu quá tải, các cơ quan THTT vẫn còn một số thiếu sót nhất định; bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD chưa

có nhận thức đúng đắn về việc tự bảo vệ mình trước sự XPTD…

Trong điều kiên xây dựng nhà nước pháp quyền, quy định mới của hiến pháp năm 2013, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta yêu cầu cải cách tư pháp cần phải đảm bảo quyền của trẻ em trong lĩnh vực tư pháp hình sự

Chính vì những điều trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục từ thực tiễn Thành phố

Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ chuyện ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung và bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự nói riêng, trong đó có quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi Về cơ bản, các công trình này có thể được chia thành hai nhóm sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:

Trang 8

Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:

- Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại

- Ngô Thị Thanh (2013), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử

vụ án hình sự, Đại học quốc gia Hà Nội

- Võ Thị Khánh Hoài (2015), Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội

- Trương Minh Hiếu (2018), Bào chữa chỉ định theo pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam cho người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh,

Luận văn thạc sĩ Luật học, HVKHXH

Tạp chí nghiên cứu khoa học:

- Trần Thu Hạnh (2018), “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử

vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, số 3, tr 54 – 59

- Nguyễn Hải Ninh (2019) “Pháp luật tố tụng hình sự đối với việc bảo đảm

quyền con người của người bị buộc tội dưới 18 tuổi”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,

số 08

Các công trình này tập trung phân tích cơ chế bảo đảm quyền con người của các chủ thể khác nhau trong các hoạt động khác nhau của TTHS Trong các công trình này, việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên nói chung và bị hại là người chưa thành niên nói riêng mới chỉ được đề cập ở mức khái lược, mang tính chất giới thiệu chung chứ chưa khảo cứu sâu hơn

Khác với nhóm các công trình nghiên cứu trên, nhóm các công trình nghiên cứu thứ hai tập trung vào chủ đề bảo đảm quyền của đối tượng cụ thể là người dưới

18 tuổi trong TTHS Trong số đó, có thể kể đến một số công trình như:

Trang 9

Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:

- Nguyễn Thị Bích Vân (2016), Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn

Hà Giang), Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội

- Vũ Xuân Tân (2018), Bảo vệ quyền trẻ em bị xâm hại tình dục tại các tỉnh Tây Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ pháp luật về quyền con người, Học viện chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh

- Nguyễn Chí Tâm (2018), Phòng, chống xâm hại trẻ em của công an huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ luật hoc, Học viện quốc gia Hồ Chí

Minh

- Nguyễn Hữu Thịnh (2018), Bảo đảm quyền của bị hại là người dân tộc thiểu số trong điều tra các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ pháp luật về quyền con người, Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh

Tạp chí nghiên cứu khoa học

- Diệp Huyền Thảo (2015), “Tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em

trên địa bàn tỉnh Trà Vinh – thực trạng và dự báo”, Tạp chí nhà nước và pháp luật,

số 06, tr 23 – 29

- Thái Vũ (2019), “Quy định mới về xét xử vụ án có bị cáo, người bị hại là người dưới 18 tuổi”, tại trang apchitoaan.vn/bai-viet/cong-dan-va-phap-luat-2/quy-dinh-moi-ve-xet-xu-vu-an-co-bi-cao-nguoi-bi-hai-la-nguoi-duoi-18-tuoi, truy cập ngày 12/12/2019

- Phạm Minh Tuyên (2019), “Một số vấn đề cần chú ý trong việc giải quyết

vụ án hình sự về xâm hại tình dục có người dưới 18 tuổi tham gia tại Tòa án”, tại tranghttps://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/mot-so-van-de-can-chu-y-trong-viec-giai-quyet-cac-vu-an-hinh-su-ve-xam-hai-tinh-duc-co-nguoi-duoi-18-tuoi-, truy cập ngày 13/10/2019

Điểm chung của các công trình này là đi sâu phân tích việc bảo đảm các quyền con người khác nhau của người chưa thành niên khi tham gia tố tụng hình sự Các khía cạnh khác nhau trong cơ chế bảo đảm quyền con người đối với loại đối

Trang 10

tượng này đã được phân tích khá chi tiết và chuyên sâu Tuy nhiên, trong các công trình này, vấn đề bảo đảm quyền con người của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD phần lớn xoay quanh hoạt động điều tra, mà ít đề cập đến hoạt động xét xử Hơn thế nữa, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Mặc dù vậy, với các cách tiếp cận đa dạng đối với quyền con người, những công trình kể trên đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú và hữu ích để tác giả có thể tham khảo, kế thừa và phát triển khi hoàn thành luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về bảo đảm

quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD; phân tích vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới;

Hai là, phân tích quy định hiện hành của luật TTHS Việt Nam, đánh giá việc

áp dụng pháp luật trong thời gian qua, làm rõ những bất cập, hạn chế về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD ;

Ba là, những nội dung cần sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần hoàn thiện hơn

nữa pháp luật và hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD theo pháp luật Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

- Phạm vi về nội dung: Vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD có thể khảo sát dưới góc độ luật hình sự hoặc TTHS Trong luận văn này tác giả chỉ giới hạn việc nghiên cứu bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi theo luật TTHS Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thống kê được tác giả thu thập trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2019

- Địa bàn nghiên cứu: Khảo sát nghiên cứu tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người và đặc biệt là bảo đảm quyền của

bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của lĩnh vực khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù đó là: Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội nói chung

và chuyên ngành pháp luật về quyền con người nói riêng Đó là các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp trong việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự nói chung Cụ thể như sau:

- Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử: đây là phương pháp cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu

- Trong chương 1 tác giả sử dụng các phương pháp:

+ Phương pháp lịch sử, liệt kê hệ thống hóa vấn đề

+ Phương pháp phân tích, suy diễn logic, diễn giải, giải thích

- Trong chương 2 tác giả sử dụng các phương pháp:

+ Phương pháp phân tích, liệt kê, suy diễn logic, giải thích, dẫn chiếu

+ Phương pháp đánh giá: từ nội dung của những quy định đã được phân tích

Trang 12

tác giả đưa ra một số đánh giá ở các khía cạnh khác nhau: tính hợp lý, khả thi cũng như hiệu quả áp dụng trên thực tiễn

+ Tác giả sử dụng bản án, quyết định của TA để đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, phân tích những mặt hạn chế của pháp luật và thực trạng áp dụng thông qua giải thích, suy diễn logic, đánh giá Kết hợp với phương pháp so sánh để làm rõ điểm tiến bộ trong quy định của luật TTHS Việt Nam Từ đó, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá nhằm đưa ra các khía cạnh hợp lý, khả thi của các quy định pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật

- Trong chương 3 của luận văn tác giả sử dụng:

+ Phương pháp liệt kê để đưa ra các quan điểm bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD

+ Phương pháp suy diễn lo gic, diễn dãi, liệt kê là phương pháp chủ yếu để tác giả kiến nghị dựa trên cơ sở những bất cập quy định của pháp luật và tăng cường nhận thức về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD

Ngoài ra trong quá trình thực hiện luận văn tác giả còn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp trong chương 1 và chương 2 về các vấn

đề liên quan đến bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, từ đó khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn Bằng phương pháp này tác giả đã phân tích những quy định hiện hành của luật TTHS Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD tại hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Từ đó, tác giả phân tích những tồn tại, bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành để làm cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị của mình

- Sau mỗi tiểu mục, mục cuối của mỗi chương cũng như cuối luận văn tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra kết luận trọng tâm về nội dung đã phân tích Những kết luận này là kết quả của quá trình tổng hợp những đặc điểm và nội dung của vấn đề đã đề cập trước đó.

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền con

người trong tố tụng hình sự của đối tượng bị hại là người dưới 18 tuổi, góp phần làm rõ những thuật ngữ, khái niệm có liên quan, phân tích, làm rõ những qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích, nêu rõ những vướng mắc, bất cập của pháp

luật qui định về quyền con người của đối tượng là bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD Sau khi phân tích, xác định những vướng mắc, bất cập, Luận văn cũng sẽ đưa

ra những đề xuất, kiến nghị về mặt khoa học trong việc hoàn thiện qui định về quyền con người của đối tượng là bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trong tương lai, góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam trong thời gian tới

Luận văn có thể cung cấp thêm kiến thức cho sinh viên, học viên các trường học có chuyên ngành Luật, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Kiểm sát, Học viện Tòa án, Học viện Tư pháp Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác giải quyết các vụ án hình sự có đối tượng bị hại

là người chưa thành niên trong thực tế như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư, người bào chữa

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn có kết cấu ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền của bị hại

dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ

án xâm phạm tình dục từ thực tiễn tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần bảo đảm quyền của bị

hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM

QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM

1.1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi

Ở Việt Nam vấn đề bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi được xác định tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013, Luật trẻ em năm 2016, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ

sung 2017) quy định tại chương XII với tên gọi: “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi” (từ điều 90 đến điều 107), BLTTHS năm 2015 quy định tại chương

XXVIII với tên gọi “thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” (từ điều 413 đến điều 430) nằm trong phần thứ 7 “thủ tục tố tụng đặc biệt” … và một số văn bản pháp luật khác có liên quan Trong đó độ tuổi của trẻ em được quy định như sau:

Điều 1, Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [33, Điều 1] Tuy nhiên, quy định này đang được kiến nghị sửa đổi nâng độ tuổi đến

dưới 18 để phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em nhằm mục đích tăng mức độ bảo vệ trẻ em cho tất cả những người có độ tuổi dưới 18

Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người dưới

18 tuổi” [28, Điều 20, khoản 1] và “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” [28, Điều 21, khoản 1] Trong pháp luật hình sự, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi,

bổ sung năm 2017 dành hẳn một chương XII để quy định đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội, trong đó tại điều 90 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”

Người dưới 18 tuổi có thể tham gia TTHS với tư cách người bị hại, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Người dưới 18 tuổi là đối tượng

Trang 15

được pháp luật bảo vệ đặc biệt Trong một số trường hợp, hành vi xâm phạm không

bị coi là tội phạm nếu đối tượng bị xâm hại là người đã thành niên, ngược lại hành

vi xâm hại đó sẽ có tội nếu đối tượng đó là người chưa thành niên hoặc trẻ em Mặc

dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng có thể hiểu như sau: “Người dưới 18 tuổi là người đang trong độ tuổi phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm

lý, dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội”

1.1.1.2 Khái niệm xâm phạm tình dục

Ở Việt Nam các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được ghi nhận tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013, thể hiện ở 4 cấp độ gồm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm [27] Bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng sức khỏe của con người, của công dân là nhiệm vụ của xã hội

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao” [14, tr 98] và “Xâm hại là xâm phạm đến khiến cho bị tổn hại” [14, tr 127] Do vậy, xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi là xâm phạm,

động chạm đến các quyền tự do, quyền tự nhiên của người dưới 18 tuổi về quan hệ tính giao; xâm phạm đến thân thể, sức khỏe

Hiện nay, ở Việt Nam, vấn đề XPTD người dưới 18 tuổi cũng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên cũng chưa có một khái niệm thống nhất

nào được đưa ra Tại khoản 8, Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định rõ: xâm hại tình dục trẻ em được hiểu là việc “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [33]

Tại báo cáo “Phân tích kết quả kết nối can thiệp các ca trẻ em bị xâm hại tình dục qua hoạt động của đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em” năm 2008 của

Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông - Cục bảo vệ, Chăm sóc trẻ em thuộc Bộ

lao động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra một định nghĩa khác như sau: “Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi có chủ ý làm hài lòng nhu cầu tình dục của một người lớn đối với trẻ em, là sự tham gia của trẻ em vào một hành vi tình dục mà các em chưa hiểu biết đầy đủ, không thể đồng ý, vi phạm pháp luật và đạo lý xã hội Hành vi này

Trang 16

có thể bao gồm thuyết phục hoặc đe dọa trẻ tham gia vào bất kỳ hành vi tình dục phi pháp nào; sử dụng trẻ em mang tính bóc lột ấn phẩm khiêu dâm, hiếp dâm trẻ em”[62, tr.3]

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLTTHS năm 2015 quy định nếu một người bị nghi là có một trong những hành vi nêu trên thì sẽ bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật Hình sự Và để luật hình sự hóa các hành vi XPTD trẻ em của Luật trẻ em năm

2016 thì theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có 05 tội danh liên quan đến XPTD trẻ em bao gồm: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146); Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147); Ngoài ra còn có 03 tội danh quy định tình tiết phạm tội lạm dụng tình dục trẻ em là dấu hiệu định khung tăng nặng (trong trường hợp nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) bao gồm: Tội chứa mại dâm (Điều 327); Tội môi giới mại dâm (Điều 328); Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)

Tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019 ngày 1 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS về việc xét xử vụ án xâm hại tình

dục người dưới 18 tuổi giải thích về xâm hại tình dục như sau: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ )” [59]

Như vậy, ta có thể đưa ra định nghĩa: “Các tội XPTD người dưới 18 tuổi là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực

Trang 17

hiện một cách cố ý trực tiếp biểu hiện ở hành vi XPTD đối với nạn nhân là người dưới 18 tuổi”

1.1.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [14, tr.63 ]

Quyền cơ bản của mỗi công dân được quy định trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Quyền của người tham gia tố tụng hình sự, đặc biệt là bị hại được quy định trong chính sách hình sự của quốc gia đó

Cũng theo từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm” là: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [14, tr 23]

Theo quy định tại điều 62 BLTTHS năm 2015 về bị hại thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [31]

Tại Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đưa ra khái niệm “Người bị hại” theo đó “Người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản

do tội phạm gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản Nếu người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì cha, mẹ, người giám hộ của họ với tư cách là người đại diện hợp pháp của người bị hại” Trong trường hợp

người bị hại chết thì cha, mẹ, vợ, chồng, con của người bị hại tham gia tố tụng với

tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của người bị hại,

tuy nhiên trong BLTTHS năm 2015 thuật ngữ “Người bị hại” trong BLTTHS năm

2003 đã được thay thế bằng thuật ngữ “Bị hại” trong đó khái niệm bị hại mở rộng

hơn đối tượng bao gồm công dân và pháp nhân (BLTTHS năm 2003 quy định người bị hại chỉ có công dân)

Bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ em là thành tố quan trọng để vụ án được xét xử khách quan, công bằng thông qua đó góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn công lý trong xã hội toà án

Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được thể hiện trên

Trang 18

ba phương diện, đó là: Thứ nhất, hình thành hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về quyền con người; Thứ hai, có các biện pháp bảo đảm thực thi

có hiệu quả pháp luật về quyền con người; Thứ ba, có cơ chế giám sát thực thi

quyền con người [80, tr.56]

Bảo đảm quyền của người bị hại trong các vụ án XPTD trẻ em gắn với phương thức sống của cá nhân, các mối quan hệ xã hội và các hoạt động sống của con người trong xã hội Những quyền cần thiết và cơ bản để con người tham gia vào quá trình sống và được nhà nước công nhân đó là: quyền được sống, quyền được tôn trọng danh dự nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về thân thể…

Bảo vệ chăm sóc giáo dục người dưới dưới 18 tuổi là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

để phù hợp với pháp luật quốc tế và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi là bị hại trong các vụ án XPTD thể hiện ở

sự thống nhất trong những quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp,

về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người dưới 18 tuổi theo những tính chất, đặc thù vốn có

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền của bị hại là

người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD như sau: “Bảo đảm quyền của bị hại dưới

18 tuổi trong các vụ án XPTD là bảo đảm những quyền đặc thù chỉ dành cho nhóm đối tượng này, là đối tượng cần chăm sóc đặc biệt bởi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần đồng thời Nhà nước phải có nghĩa vụ ghi nhận trong Hiến pháp và

hệ thống pháp luật quốc gia, được Nhà nước đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại”

1.1.2 Đặc điểm về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ em được thể hiện thông qua những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Chủ thể bảo đảm

Trang 19

Bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ

em xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người nói chung chính là việc đảm bảo tính hiện thực của quyền này đã được pháp luật thừa nhận

Đảng và Nhà nước ta đã ghi nhận việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ em trong TTHS vừa là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời với việc thừa nhận đó cũng có nghĩa Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm bằng biện pháp pháp lý mà còn bằng những bảo đảm bằng chính trị, xã hội và kinh tế Nhà nước xây dựng hệ thống pháp luật TTHS để bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, đồng thời thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án bảo đảm quyền này trong suốt quá trình tố tụng Như vậy, chủ thể bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trước hết là các cơ quan xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS

Tuy nhiên, ngoài ra việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD còn thông qua: người bào chữa, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, gia đình, nhà trường, đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…

Thứ hai, về đối tượng bảo đảm

Bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD có đầy đủ các quyền như

bị hại là người chưa thành niên Bên cạnh đó họ còn được bảo đảm những quyền đặc thù để có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình đó là:

Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người nói chung trong đó có quyền của người dưới 18 tuổi Đây là quyền hiến

định Do đó, bị hại là người chưa thành niên khi bị XPTD, bị bạo hành hoặc bị mua bán sẽ được giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời [31, Điều 20]

Quyền được điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với tâm lý, lứa tuổi [31, khoản 1

Điều 414] Hiện nay người chưa thành niên đặc biệt là bị hại trong các vụ án XPTD

đã được các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình như việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên đây là bước tiến lớn trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho hoạt động tố tụng phù hợp với tâm lí của người chưa thành niên như phòng lấy lời khai, phòng xử án thân thiện

Trang 20

được quy định tại Thông tư số 01/2017/TT – TANDTC quy định về phòng xử án Các cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ đứng dưới góc độ pháp luật mà còn phải đứng dưới góc độ chuyên môn như tâm lý học và giáo dục học để làm sáng tỏ nguyên nhân và bối cảnh giải quyết của vụ việc Việc xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người dưới 18 tuổi là một trong những giải pháp bảo đảm quyền của

bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được thể hiện trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn bản mà Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện được thể hiện trong các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình

sự, hàng loạt các chế định mang tính cá biệt nhằm đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi

Quyền ưu tiên được đảm bảo giữ bí mật thông tin cá nhân của người dưới 18 tuổi [31, khoản 2 Điều 414] Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến người dưới 18

tuổi cần được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc đảm bảo bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm của họ

Quyền có sự hiện diện bắt buộc của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng [31, khoản 3 Điều 414] có hiểu biết về người dưới 18 tuổi đó là

người đại diện, người bào chữa, người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đại diện Nhà trường, Đoàn thanh niên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải có mặt

và tham gia đầy đủ các hoạt động tố tụng theo quyết định hoặc theo yêu cầu của cơ quan THTT, người có thẩm quyền THTT Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi được phân công tiến hành tố tụng, hội thẩm nhân dân phải nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dưới 18 tuổi đây là những người phải có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lí, đã được tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có sự tham gia của người dưới 18 tuổi

1.1.3 Ý nghĩa bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

1.1.3.1 Thể hiện sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các Công ước quốc tế về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm

Trang 21

phạm tình dục

Ở Việt Nam, việc tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế nói chung, trong đó

có các điều ước quốc tế về quyền con người được quy định cụ thể trong Luật Điều

ước quốc tế năm 2016 Theo Điều 76, Luật Điều ước quốc tế: "Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, phê duyệt kế hoạch thực hiện, quyết định biện pháp chỉ đạo, điều hành hoặc biện pháp khác để thực hiện điều ước quốc tế”

Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á, thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990 Việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em là cam kết chính trị mạnh mẽ của nước ta đảm bảo cho trẻ em có cuộc sống tốt đẹp hơn

Việc vận dụng các giá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ em là một nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nước, mặt khác đó là một thành tích được cộng đồng quốc tế ghi nhận

và đánh giá cao Việc tham gia công ước này thể hiện quyết tâm cao độ của Việt Nam trong việc thúc đẩy và tôn trọng các nhân quyền cũng như các quy định của pháp luật quốc tế về nhân quyền Việc vận dụng, phát triển các quan điểm chung của cộng đồng quốc tế có tính đến bối cảnh đặc thù về dân tộc, lịch sử, văn hóa, chính trị của nước toà án nhằm bảo vệ đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương trong xã hội Việt Nam đã xây dựng Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia

Phát triển quan điểm của các quốc gia có nghĩa vụ hàng đầu trong việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi, Việt Nam đã đẩy mạnh nghiên cứu nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước như: Quốc hội, Chính Phủ, TAND, VKSND, chính quyền địa phương, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp; trách nhiệm của thiết chế truyền thông, báo chí trong định hướng dư luận xã hội liên quan đến vấn đề này

Đảng và Nhà nước đã nghiên cứu để giám sát và ngăn ngừa tình trạng vi phạm quyền con người, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm quyền con

Trang 22

người, quyền công dân trên các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt trong tư pháp hình

sự, bảo vệ quyền của người tham gia tố tụng là bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XHTD trẻ em và có sự hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân khi xảy ra vụ việc Mặt khác, đã hướng tới xây dựng cơ quan chuyên trách về quyền con người, phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam

Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã chủ động tham gia vào các diễn đàn

và hoạt động quyền con người khu vực cũng như toàn cầu Đảng toà án luôn khẳng định, việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, động lực của cách mạng, là trách nhiệm lớn của Đảng và Nhà nước Trong bối cảnh mới Đảng nêu rõ: "Chủ động, tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn,

tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước (…) là bạn, là đối tác tin cậy

và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" [2, tr 152 - 153]

1.1.3.2 Góp phần thực thi hiệu quả quyền của người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục trong tố tụng hình sự

Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý,

là những đối tượng dễ bị tổn thương, vì vậy trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi cần phải bảo đảm quyền và lợi ích của họ theo quy định pháp luật Xuất phát từ ý nghĩa nhân văn, BLTTHS năm 2015 đã dành hẳn

một chương với tên gọi "Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi" nằm trong

phần thứ bảy "Thủ tục tố tụng đặc biệt" với nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung Dù tham gia với tư cách nào thì người chưa thành niên cũng được hưởng sự

bảo vệ đặc biệt: Một là, sự bảo vệ chung như những người tham gia tố tụng khác; Hai là, sự bảo vệ đặc biệt dành riêng cho người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em

tham gia tố tụng hình sự Các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước toà án đối với người dưới 18 tuổi đã và đang làm hài hòa các văn kiện quốc tế về người chưa thành niên mà Việt Nam là thành viên như Công ước quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan, như Nghị định thư không bắt buộc của Công ước quyền trẻ em về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em, Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về quản lý tư pháp người chưa thành niên

Thực tiễn hiện nay cho thấy những vụ việc XPTD người dưới 18 tuổi ngày

Trang 23

càng diễn biến phức tạp về quy mô và cách thức thực hiện Đây là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại tương lai của các em Trong nhiều năm qua, Nhà nước và các cơ quan ban ngành đã

có nhiều biện pháp để phòng chống, giảm thiểu và đẩy lùi hiện tượng XPTD trẻ em này

1.1.3.3 Góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội, Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước toà án ký kết” [2]

Hiện nay, sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế đến công tác bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, vẫn chuyển biến theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực Trong điều kiện như vậy, công tác này đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Để có được điều đó là do các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu là Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đã tích cực và chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người; hệ thống thiết chế và thiết chế bảo đảm quyền con người được xây dựng theo hướng hoàn thiện;

sự tham gia tích cực của con người và các tổ chức xã hội vào công tác bảo đảm quyền con người

Việc bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong vụ án XPTD trẻ

em trên thực tế còn tồn tại nhiều bất cập về tổ chức, hoạt động của một số thể chế liên quan đến quyền con người Chính việc nhìn nhận những mặt tích cực và tiêu cực như vậy sẽ cho phát huy được những mặt tích cực, đồng thời đề ra được những

Trang 24

giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, nhất là bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ XPTD

1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

1.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố các vụ án xâm phạm tình dục

Khởi tố vụ án hình sự được xác định là giai đoạn mở đầu trong quá trình tố tụng hình sự Trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn này bắt đầu khi phát hiện những nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Điều 18

BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội” [31]

Bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố

và khởi tố được thể hiện qua những nội dung sau:

- Thứ nhất, đảm bảo giải quyết vụ án, vụ việc nhanh chóng, kịp thời Tại

Điều 13 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT – VKSNDTC- TANDTC- BCA – BTP- BLĐTBXH về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi: Đối với vụ việc có bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT phải phối hợp chặt chẽ với nhau và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan ngay từ khi phát hiện nguồn tin về tội phạm, khẩn trương kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm giải quyết vụ án, vụ việc nhanh chóng, kịp thời, trong thời gian ngắn nhất Độ tuổi dưới 18 tuổi là một độ tuổi hết sức nhạy cảm, Việt Nam với cương vị đã tham gia công ước về quyền trẻ em Điều này được đề ra để phù hợp với tâm sinh lý, những tâm tư tình cảm khác biệt đang trong giai đoạn phát triển chỉ có ở người dưới

Trang 25

18 tuổi nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho họ đặc biệt là bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục

- Thứ hai, khởi tố theo yêu cầu của bị hại Cơ quan THTT chỉ được quyền

khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc đại diện của bị hại và họ chỉ được quyền rút yêu cầu khởi tố thuộc một trong các tội danh được liệt kê tại khoản

1 Điều 155 của BLTTHS năm 2015: chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 266 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) [31] Bảo vệ bị hại không chỉ đơn thuần

là đưa ra pháp luật và trừng trị người phạm tội mà còn phải xem xét đến mong muốn của bị hại liên quan đến vấn đề xử lý người phạm tội như thế nào Nếu bị hại hoặc người đại diện của họ đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức Thực tế hiện nay có trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, gây hậu quả không lớn khi xảy ra thường ít khi khởi

tố, điều tra vì nhiều vụ việc bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không muốn giải quyết công khai vụ việc bằng thủ tục tố tụng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh

dự, nhân phẩm của mình hoặc vì giữa bị hại và người gây thiệt hại có mối quan hệ đặc biệt hoặc tốn kém thời gian và chi phí hay trong nhiều trường hợp bị hại chỉ quan tâm đến bồi thường về dân sự…

- Thứ ba, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố được BLTTHS năm 2015 quy định thành một chương riêng (Chương IX), ngày 29/12/2017[31], Liên ngành Trung ương cũng đã ban hành thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT – BCA – BQP – BTC – BNN & PTNT – VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Cụ thể nguồn tin về tội phạm được quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 Đối với những vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi trong các

vụ án XPTD thì việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có vai trò đặc biệt quan trọng Đây là những đầu mối, căn cứ đầu tiên để cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh từ đó quyết định có ban hành hay không ban hành quyết định khởi tố vụ

án hình sự Giai đoạn này Viện kiểm sát phải chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; đảm bảo việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can cũng như việc không khởi

Trang 26

tố vụ án hình sự, kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai, hạn chế bỏ lọt tội phạm…

1.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn TTHS thứ hai mà trong đó cơ quan điều tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và cùng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm bảo cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên Đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tình dục theo quy định của BLTTHS Việt Nam được thể hiện qua những nội dung như sau:

Thứ nhất, về người tiến hành tố tụng Theo điều 415 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi” [31]

Theo Điều 5 Thông tư số 06/2018/TTLT số 06/2018/TTLT – VKSTC – TANDTC – BCA – BTP- BLĐTBXH củaViện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người dưới 18 tuổi: Điều tra viên, Cán

bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi được phân công THTT đối với vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi phải có ít nhất một trong các điều kiện sau đây: Có kinh nghiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi; Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các

vụ án hình sự tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi; Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi Việc quy định về người tiến hành tố tụng đảm bảo cho quá trình tố tụng được diễn ra khách quan, công bằng và đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án

Trang 27

XPTD

Thứ hai, về lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều

tra các vụ án XPTD Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD trẻ

em Nơi lấy lời khai có thể thực hiện tại nơi học tập, lao động và sinh hoạt của người đó hoặc nơi tiến hành điều tra Trường hợp lấy lời khai tại nơi điều tra, truy

tố, xét xử thì phải sắp xếp, bố trí phòng lấy lời khai đảm bảo thân thiện, phù hợp với tâm lý người dưới 18 tuổi [59, Khoản 1 Điều 14]

Bảo đảm việc lấy lời khai phải theo đúng trình tự, thủ tục, thời gian, bảo đảm

sự tham gia của người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; thực hiện đúng trình tự, thủ tục ghi âm hoặc ghi hình

có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử [59, Khoản 2 Điều 14]

Đối với bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD, bị bạo hành hoặc

bị mua bán thì việc lấy lời khai của họ phải được tiến hành ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm Địa điểm lấy lời khai phải ưu tiên tại nơi cư trú của người

đó, nếu không có nơi cư trú thì phải tiến hành tại cơ sở chăm sóc trẻ em

Khi tiến hành lấy lời khai người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có thái

độ thân thiện, nhẹ nhàng, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức của họ; xem xét áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm giảm đến mức thấp nhất về thời gian, số lượng lần lấy lời khai, hỏi cung [59, Khoản 3 Điều 14]

Điều tra viên, Kiểm sát viên phải kiểm soát chặt chẽ việc hỏi của người đại diện; yêu cầu không được hỏi và phải dừng ngay việc hỏi đối với những câu hỏi có tính chất gợi ý, định hướng hoặc có tính chất khẳng định, phủ định liên quan đến vụ

án Trường hợp phát hiện người đại diện, người bào chữa có dấu hiệu thông cung, mớm cung phải lập tức yêu cầu họ dừng ngay việc hỏi và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật [59, Khoản 4 Điều 14]

Thứ ba, quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ cần phải tiến hành nhanh

chóng, kịp thời kịp thời thu giữ các dấu vết đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án XPTD có bị hại là người dưới 18 tuổi Phối hợp

Trang 28

với các bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em để xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không

có dấu hiệu XPTD Công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, để làm căn cứ đấu tranh với bị can vì đây là chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng Cơ quan điều tra

và Viện kiểm sát cần phải có sự phối hợp chặt chẽ trong giai đoạn này Kịp thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền cử người giám hộ, người đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý, người bào chữa, bào chữa viên nhân dân để tham gia tố tụng với bị hại

là người dưới 18 tuổi

Thứ tư, về xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi được quy định tại Khoản 1 Điều 14 BLTTHS năm 2015 như sau: “Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật”[31] Và khoản 2, khoản 3 Điều 14 của BLTTHS năm

2015 cũng có quy định về các trường hợp áp dụng các biện pháp hợp pháp mà không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh và không xác định được năm sinh đây là điểm mới so với BLTTHS năm 2003 đã quy định một nguyên tắc thống nhất trong việc xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính dáng cho những người này

1.2.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm tình dục

Truy tố là một giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Giai đoạn truy tố được bắt đầu khi VKS nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước tòa bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự Truy tố là hoạt động thực hành quyền công tố của VKS sau khi kết thúc giai đoạn điều tra Quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo đảm quyền của

bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn truy tố các vụ án XPTD được thể hiện

Trang 29

qua những nội dung sau:

Thứ nhất, về việc phân công kiểm sát viên Theo quy định tại điều 415

BLTTHS năm 2015 đối với các vụ án XPTD có bị hại là người dưới 18 tuổi phải phân công kiểm sát viên có trình độ, năng lực để thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, xét xử các loại án này, đồng thời phải hiểu biết về tâm sinh lý trẻ em, người dưới 18 tuổi, hoàn cảnh sống của họ… để giải quyết tốt vụ án

Thứ hai, đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong việc ra quyết

định truy tố Điều 243 BLTTHS năm 2015, quy định cụ thể về việc VKS quyết định truy tố bị can trước TA bằng bản cáo trạng Bản cáo trạng là căn cứ đầu tiên để xác định phạm vi và cơ sở cho TA ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo cho quá trình truy tố chặt chẽ hơn; đánh giá được đầy đủ, đúng đắn tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; giúp cho Kiểm sát tranh tụng, luận tội tại phiên tòa có căn

cứ pháp lý, góp phần để TA đưa ra quyết định đúng pháp luật bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD

Thứ ba, việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Tại khoản 3 Điều 245

BLTTHS năm 2015 quy định: sau khi Viện kiểm sát trả hồ sơ yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung thì cơ quan điều tra phải thực hiện đầy đủ những yêu cầu như quyết định trả hồ sơ của VKS… và ngoài quy định của BLTTHS thì vấn đề này cũng được quy định tại Thông tư số 02/2017/TTLT – VKSNDTC – BCA – BQP ngày 22/07/2017 quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan THTT trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ điều tra bổ sung Vấn đề này để đảm bảo xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án Đảm bảo cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS bảo về quyền và lợi ích của bị hại

là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD

1.2.4 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm tình dục

Một trong những điểm mới của BLTTHS năm 2015 là những quy định về bảo đảm quyền con người trong TTHS PGS TS Nguyễn Hòa Bình đã nhận xét:

“Đặc biệt những yêu cầu của Hiến pháp về dân chủ, pháp quyền, tôn trọng, bảo vệ,

Trang 30

bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được thể hiện sâu sắc trong Bộ luật” [1, tr.40]

Xét xử là giai đoạn quan trọng trong tố tụng hình sự, được bắt đầu từ khi TA nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước TA kèm theo bản cáo trạng) do VKS chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của TA Hiện nay Nghị quyết số 06/2019/NQ – HĐTP nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS về việc xét xử các vụ án XPTD đã tháo gỡ những khó, khăn vướng mắc trước đây trong việc xét xử các vụ án XPTD có bị hại là người dưới 18 tuổi Quy định của BLTTHS về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử các vụ án XPTD được thể hiện qua các nội dung:

Thứ nhất, Về thẩm quyền xét xử, việc xét xử các vụ án có bị hại là người

dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 02/2018/ TT – TANDTC ngày 21/09/2018 của Chánh án TAND tối cao quy định chi tiết việc xét

xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên

Thứ hai, Về phòng xử án, tại khoản 4 Điều 423 BLTTHS năm 2015 quy định: “Phòng xử án được bố trí thân thiện, phù hợp với người dưới 18 tuổi” Phòng

xử án đảm bảo tiêu chí thân thiện là Phòng xử án giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên quy định tại Điều 6 của Thông tư

số 01/2017/TT – TANDTC ngày 28/07/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

quy định về phòng xử án: “1 Vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp trong phòng xử án được bố trí trên cùng một mặt phẳng, sắp xếp theo hình thức bàn tròn; tường trong phòng xử án có màu xanh Người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ 2 Bàn, ghế trong phòng xử án được thiết kế theo kiểu dáng, bàn ghế văn phòng 3 Ngoài các quy định tại điều này; phòng xử án giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên phải đảm bảo quy định tại Điều 4 và Điều 5

Trang 31

Thông tư này” Phòng xử án theo không gian mới sẽ tác động tâm lý tốt tới người

dưới 18 tuổi, không làm họ hoảng sợ, việc khai báo sẽ chính xác hơn, góp phần đảm bảo chất lượng xét xử vụ án của TA được nâng cao Phòng xử án thân thiện là một trong những bước cải cách tư pháp để thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ các quyền trẻ em, người dưới 18 tuổi đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế và Việt Nam là thành viên

Thứ ba, về thành phần tham gia xét xử, khoản 1 Điều 423 BLTTHS năm

2015 quy định: “Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm

là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm

lý người dưới 18 tuổi”[31] Người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18

tuổi là người có thâm niên công tác trong các lĩnh vực tư pháp, quản lý, đào tạo, bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục người dưới 18 tuổi; người được đào tạo về giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng hoặc những người khác có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi

Khi phân công thẩm phán phải đảm bảo đúng quy định tại khoản 1, Điều 6 Thông tư số 02/2018/TT – TANDTC ngày 21 tháng 09 năm 2018 quy định chi tiết

về xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm

quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên: “Thẩm phán là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”

Ngoài ra còn có quy định về trang phục của Thẩm phán tại điểm b, khoản 1 Điều 7 của thông tư số 02/2018/TT – TANDTC là mặc trang phục hành chính làm

và việc của Tòa án nhân dân (không mặc áo choàng)

Thứ tư, về bản án, quyết định của Tòa án, khi xét xử các vụ án XPTD người

dưới 18 tuổi, TA phải xét xử kín, tuyên án công khai theo đúng quy định tại Điều

325 của Bộ luật tố tụng hình sự Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án Khi xét xử các vụ án XPTD người dưới 18 tuổi, không được yêu cầu bị hại là người dưới 18 tuổi tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội; không sử dụng câu hỏi có tính chất công kích, đe dọa, gây xấu hổ, xúc phạm bị hại; không đối chất giữa bị hại với người phạm tội tại phiên tòa Bản án, quyết định của Tòa án liên

Trang 32

quan đến vụ án trên cũng không được công khai trên cổng thông tin điện tử của Tòa

án [Khoản 2 Điều 7, 59]

Thứ năm, Việc tiếp xúc giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị cáo được quy

định cụ thể tại Điều 10 thông tư số 02/2018/TT – TANDTC Bị hại là người dưới

18 tuổi trong các vụ án XPTD là đối tượng dễ bị tổn thương Để bảo đảm quyền và lợi ích cho người dưới 18 tuổi trong các vụ án này, Hội đồng xét xử đã cách ly bị hại đối với bị cáo Đây là một biện pháp thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi Trong quá trình xét xử, bị hại sẽ được tham gia phiên tòa ở phòng cách ly Để bảo đảm cho họ vẫn có thể theo dõi diễn biến phiên tòa, thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đầy đủ, thông tìn về phiên tòa sẽ được truyền qua hệ thống truyền hình trực tuyến có âm thanh hoặc phương thức khác Trong phòng cách ly, bị hại sẽ được hỗ trợ bởi: người đại diện, người giám hộ; chuyên gia hoặc cán bộ tâm lý, xã hội; người làm công tác bảo vệ trẻ em

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 của luận văn tác giả đã trình bày những nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở phân tích những quan điểm tác giả đã đưa ra khái niệm

người dưới 18 tuổi, xâm hại tình dục, đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD; đặc điểm về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD; ý nghĩa bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ

án XPTD

Thứ hai, làm rõ những quy định của BLTTHS Việt Nam về bảo đảm quyền

của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án XPTD thông qua những nội dung: quy định của BLTTHS Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử các vụ

án XPTD

Những vấn đề lý luận đã nêu ở nội dung chương 1 sẽ là nền tảng để tác giả tiếp tục nghiên cứu nội dung chương 2

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC – TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ

tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW và Kết luận

số 92-KL/TW của Bộ Chính trị; hoàn thành các chỉ tiêu công tác theo tinh thần Nghị quyết 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội; Nghị quyết số 01-NQ/BCS, ngày 26/01/2018 của Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao; Chỉ thị số 01/2018/CT-CA ngày 26/01/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cũng như các nhiệm vụ chung của thành phố đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng bộ; một số nội dung về cơ chế đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017

Tháng 04/2016, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên Đây là giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả toà án nói chung, công tác xét xử giải quyết các vụ XPTD người dưới 18 tuổi nói riêng Bên cạnh đó sẽ nâng cao vai trò của gia đình tạo điều kiện cho người chưa thành niên phát triển nhân cách và thể chất; góp phần vào sự ổn định chung của xã hội Việc triển khai mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên là một trong những dấu ấn quan trọng của tiến trình cải cách tư pháp, chứng tỏ cam kết

Trang 34

mạnh mẽ của Việt Nam trong tiến trình bảo vệ quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ XPTD trẻ em Là bước đi cụ thể của Việt Nam để thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ các quyền của trẻ em, người chưa thành niên đã được ghi trong các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990, phù hợp với mô hình tổ chức toà án của nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời đây cũng là phương thức để thực hiện nguyên tắc hiến định về việc xét xử kín đối với người chưa thành niên theo quy định tại khoản 3 điều 103 của Hiến pháp năm 2013

Thời gian qua, tình trạng tội phạm XPTD và bạo hành trẻ em diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội Bên cạnh đó, việc triển khai các quy định của BLHS, BLTTHS, các đạo luật có liên quan và các hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố xét xử cũng phát sinh một số vướng mắc

2.1.2 Tình hình các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Tình hình giải quyết các vụ án hình sự nói chung và các vụ XPTD người dưới 18 tuổi nói riêng được thể hiện rõ nét trong báo cáo tổng kết của các cơ quan tiến hành tố tụng Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015 - 2019, cụ thể như

sau:

Bảng 2.1 Số vụ án, số bị cáo hình sự đã xét xử và số vụ, số bị cáo xâm phạm

tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 35

(Nguồn số liệu thống kê của TAND thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2019) [52]

Biểu đồ 2.1 Số vụ phạm tội và số bị cáo trong các vụ xâm phạm tình dục trẻ

em giai đoạn 2015 đến năm 2019

Số lượng vụ án XPTD cao nhất là năm 2015 với 53 vụ, 65 bị cáo và xảy ra

số vụ XPTD người dưới 18 tuổi thấp nhất là năm 2019 với 37 vụ 41 bị cáo Biểu đồ 2.2 cho thấy tình tình các tội XPTD người dưới 18 tuổi có những diễn biến phức tạp, số lượng các vụ án có chiều hướng tăng, giảm thất thường Sự tăng giảm không đồng đều của tình hình các tội XPTD người dưới 18 tuổi cũng cho thấy được sự diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, ẩn chứa những nguy cơ gia tăng nhóm tội phạm này trong thời gian tới

Qua số liệu trên chúng ta có thể thấy những vụ án XPTD người dưới 18 tuổi

đã giải quyết chiếm tỉ lệ khá cao, nhưng nhìn chung các cơ quan tiến hành tố tụng

đã giải quyết tốt để bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ XPTD

Trang 36

Tình hình các tội XPTD trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cao nhất qua các năm là năm là năm 2015 với 53 vụ, thấp nhất là năm 2019 với 37 vụ Tình hình các tội XPTD người dưới 18 tuổi có xu hướng diễn biến phức tạp Trong đó tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142) cao nhất là năm 2015, 2017 với 37 vụ chiếm tỉ

lệ lần lượt là 69,8% và 75,5 thấp nhất là năm 2019 với 26 vụ chiếm tỉ lệ 70,3%; Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi cao nhất là năm 2015 với 14 vụ, chiếm tỉ lệ 26,4%, thấp nhất là năm 2014 với 1 vụ chiểm tỉ lệ 4,4%; Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi cao nhất là năm 2016, 2017 với 3 vụ mỗi năm và chiếm tỉ lệ là 15,8% và 9,7% Trong khi đó tội dâm ô người 16 tuổi chiểm tỷ lệ cao nhất là năm 2017 với 3 vụ chiếm tỉ lệ 9,7%; thấp nhất là năm 2018 với 3 vụ chiểm tỉ lệ 7,7% Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm xảy ra ít trong năm 2018 là 2 vụ và năm 2019 là 1 vụ điều này được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Thống kê tình hình các tội Xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi xét theo tội danh căn cứ vào số liệu của Tòa án nhân dân

Trang 37

2.1.3 Đặc điểm các vụ án xâm phạm tình dục người dưới 18 tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Căn cứ vào số liệu của TAND Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 221 vụ với

259 bị cáo XPTD người dưới 18 tuổi trên địa bàn trong giai đoạn 2015 đến 2019 có thể rút ra những đặc điểm như sau:

- Đặc điểm về địa điểm phạm tội:

Các vụ án XPTD người dưới 18 tuổi thường tập trung nhiều ở những địa bàn đông dân cư, nơi có nhiều phòng trọ, khu công nghiệp, gia đình thiếu sự quan tâm đến con cái Qua nghiên cứu các vụ án cho thấy đối tượng phạm tội trong nhà nạn nhân chiếm tỉ lệ khá cao với 57/221 vụ chiếm tỉ lệ 25,79% [52] Chúng ta có thể thấy rằng nguyên nhân này xuất phát từ việc gia đình thiếu sự quan tâm, chăm sóc,

giáo dục con cái Điển hình như vụ án thứ nhất: Đầu năm 2012, Danh Bạch từ Sóc

Trăng lên Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê tại bô rác, thuộc khu vực đường số 10, khu phố 5, phường X, Quận Y (gần nhà cháu Đặng Thị Kim N, sinh ngày 22/08/2001) Sau đó, Bạch và cháu N quen biết nhau, phát sinh tình cảm yêu đương , gia đình cháu N có biết quan hệ tình cảm này nhưng không ngăn cấm mà vẫn thường xuyên cho Bạch đến nhà chơi với N, trong những lần đó, Bạch và N đã xảy

ra quan hệ tình dục trên gác lửng bằng gỗ tại nhà của cháu N, trong lúc mẹ của N cùng đang có mặt tại nhà (tại nhà không số, đường số 10, khu phố 5, phường X, quận Y), cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất, thứ hai: Vào khoảng tháng 10/2012 và tháng 05/2013, thời điểm này cháu N đã trên 11 tuổi nhưng chưa tròn 12 tuổi, đang học lớp 6

- Lần thứ ba, thứ tư: Vào khoảng tháng 10, 12/2013, thời điểm này cháu N đã trên 12 tuổi nhưng chưa tròn 13 tuổi, đang học lớp 7

Tháng 8/2014, gia đình cháu N đang mang thai, qua gặng hỏi cháu N thú nhận đã quan hệ tình dục với Bạch dẫn đến có thai Sau đó, gia đình Bạch và gia đình cháu N đã thống nhất cho Bạch ở rể tại gia đình N, đi làm kiếm tiền nuôi mẹ con N và không khai báo với chính quyền địa phương Ngày 14/10/2104, cháu N đã sinh 01 bé gái đặt tên là Tr

Ngày 19/09/2014, tổ công tác xóa đói giảm nghèo của Uỷ ban nhân dân

Trang 38

phường X, quận Y đi khảo sát địa bàn, nắm tình hình các hộ gia đình khó khăn, cần được sự trợ giúp theo chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương, phát hiện sự việc trên nên tiến hành lập biên bản, chuyển giao cho công an phường X, kết hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận Y tiến hành điều tra và chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý theo thẩm quyền [41]

(Trích bản án số 16/2016/HSST ngày 14/01/2016 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh)

Trong vụ án trên, gia đình của bị hại biết mối quan hệ tình cảm yêu dương của Danh Bạch và N nhưng không ngăn cấm mà còn cho phép qua lại – điều đó cho thấy gia đình bị hại rất vô tâm, thiếu quản lý, hướng dẫn và chăm sóc con mình về mặt phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi dậy thì để xảy ra hành vi quan hệ tình dục tại gác lửng bằng gỗ tại nhà của cháu N, trong lúc mẹ của N cùng đang có mặt tại nhà Khi sự việc xảy ra gia đình bị hại không báo với chính quyền mà còn cho bị cáo được ở rể chỉ đến khi tổ công tác xóa đói giảm nghèo của Uỷ ban nhân dân phường

X, quận Y đi khảo sát thì sự việc trên mới được phát hiện

- Đặc điểm về phương thức, thủ đoạn phạm tội

Bảng 2.3: Phương thức, thủ đoạn phạm tội

25,34% (56/221 vụ) Điển hình như vụ án thứ hai: Lê Văn Sám làm nghề bẫy chim

tại khu vực gần trường học K, quận N, có quen biết cháu N.T.H.T, sinh ngày 17/06/2003, là học sinh lớp 4, trường K Sám thường lợi dụng lúc vắng người để

Trang 39

thực hiện hành vi dâm ô cháu T, mỗi lần cho cháu từ 10.000 đến 30.000 đồng Khoảng 11 giờ ngày 02/11/2015, cháu T đang trên đường đi học về thì gặp Sám Sám nói thương gửi xe đạp rồi rủ vào nhà trọ bỏ hoang ở cuối hẻm 143, khu phố X, phường H, quận N Thương đồng ý và mang xe đạp gửi rồi đi bộ ra nhà trọ bỏ hoang Tại đây Sám đã thực hiện hành vi giao cấu với T Bà D T P ngụ tại cùng khu phố phát hiện sự việc và đã báo cho mẹ của cháu T là P.T.D biết Chị D đã trình báo với Cơ quan điều tra Ngày 06/11/2015, Cơ quan điều tra – Công an Quận 7 đã

ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Lê Văn Sám Tại cơ quan điều tra bị can Sám khai nhận hành vi phạm tội của mình Ngoài ra, còn khai nhận: Khoảng giữa tháng 10/2015 đến ngày 02/11/2015, Sám đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu T, tại địa điểm nêu trên tổng cộng là 05 lần, mỗi lần quan hệ xong Sám cho cháu T 100.000 đồng Riêng lần thứ 6, ngày 02/11/2015, Sám nói cháu T lát ra ngoài rồi cho tiền nhưng khi Sám ra ngoài thấy bà P ngồi phơi cơm nên Sám bỏ đi không đưa tiền cho T

được [45] (Trích bản án số 180/2017/HSST ngày 24/05/2017 của TAND Thành phố

Hồ Chí Minh)

Qua vụ án trên chúng ta có thể thấy, Lê Văn Sám đã lợi dụng sự non nớt, thiếu hiểu biết của cháu T để thực hiện hành vi XPTD nhiều lần Mỗi lần đều sử dụng vật chất để dụ dỗ cho việc dâm ô là từ 10 000 đến 30.000 và hành vi giao cấu

là 100.000 đồng đây là hành vi gây hậu quả nghiêm trọng không những xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm mà còn gây ảnh hưởng xấu về lâu dài đến quá trình phát triển tâm sinh lý của bị hại

Hay như vụ án thứ ba: Tháng 02/2017, Trần Tựu mua sim điện thoại 3G (số

thuê bào 0123XXX) tạo tài khoản Zalo lấy tên nickname “Cô đơn mình anh” để giao lưu và kết bạn với những người có tài khoản trên Zalo Khoảng đầu tháng 3/2017, Tựu tìm trên mạng và kết bạn với nick name “Chết” do cháu T.T.L (sinh ngày 23/10/2002) sử dụng Khi trò chuyện Tựu yêu cầu L gửi ảnh cho Tựu xem và

L cũng yêu cầu Tựu gửi ảnh cho L xem Sau khi xem ảnh, Tựu thấy L là một cháu gái còn trẻ, do đã lớn tuổi sợ gửi ảnh thật của mình thì L sẽ không chấp nhận làm bạn nên Tựu lấy hình của người thanh niên khác trên mạng gửi cho L và giới thiệu tên là Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 2001, Tựu ngỏ lời yêu L và L đồng ý Do muốn

Trang 40

quan hệ tình dục với L nên Tựu bịa ra câu chuyện Tuấn Anh là con một trong gia đình, do không muốn con mình chia sẻ tình cảm với người khác nên mẹ Tuấn Anh

đã làm bùa không cho người con gái nào yêu Tuấn Anh, để được yêu nhau thì L phải gặp cậu của Tuấn Anh để giải bùa; L tin tưởng nên đồng ý gặp cậu của Tuấn Anh

Trưa ngày 03/03/2017, Tựu đóng vai là cậu của Tuấn Anh và nói với L vào khách sạn cho vắng người, rồi chở L vào một khách sạn tại huyện X Khi vào phòng, Tựu lấy vàng mã kêu cháu L viết họ tên, năm sinh của mình và Tuấn Anh lên giấy vàng mã rồi thực hiện hành vi quan hệ tình dục với L Trong lúc giao cấu, Tựu dùng điện thoại di động hiệu FPT của mình quay lại cảnh giao cấu với L, sau

đó Tựu chở L về lại công ty

Ngày 05/03/2017, Tựu muốn tiếp tục quan hệ tình dục với L nên đóng giả làm cậu của Tuấn Anh và nói L đi làm bùa L nghi ngời Tựu lợi dụng việc làm bùa yêu để quan hệ tình dục nên không đồng ý; Tựu gửi đoạn phim đã quay cảnh quan

hệ tình dục với L tại khách sạn X vào ngày 03/03/2017 đến nick name “Chết” của L cho L xem và dọa sẽ đăng lên mạng và gửi vào công ty nơi L làm việc để cho mọi người biết nếu L không cho Tựu quan hệ tình dục Do sợ, nên L đồng ý và hẹn trước công ty nơi L làm việc Tựu điều khiển xe gắn máy tới một khách sạn tại huyện X thuê phòng Khi vào phòng, Tựu phát hiện L có kinh nguyệt nên không giao cấu Cũng với thủ đoạn đe dọa sẽ đăng cảnh quan hệ tình dục với L trên mạng, Tựu đã

ép buộc L quan hệ tình dục 02 lần vào các ngày 12/03/2017, 25/03/2017 tại một khách sạn trên địa bàn huyện X

Trong thời gian trên, Tựu dùng nick name “Cô đơn mình anh” để kết bạn và tiếp tục làm quen với nick name “Kelly Tiên” trên mạng zalo do cháu P.T.C.T (sinh ngày 25/11/2002) sử dụng và nick name “Pin pin” do cháu N.T.H.Y (sinh ngày 05/05/2002) sử dụng; Tựu tiếp tục lấy hình ảnh của người thanh niên khác trên mạng gửi cho T, Y và bịa đặt chuyện giải bùa yêu để hẹn gặp T, Y

Ngày 18/03/2018, Tựu hẹn gặp cháu N.T.H.Y tại trước trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện X Tựu điều khiển xe gắn máy chở Y đến chợ mua giấy tiền vàng

mã Sau đó, Tựu chở Y đến một khách sạn tại huyện X Khi vào phòng, Tựu nói Y

Ngày đăng: 16/07/2020, 12:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm