Mục đích nghiên cứu - Từ việc tìm hiểu mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam, thấy được sự tương đồng và sự khác biệt trong truyện cổ, văn học dân gian và văn hó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
VƯƠNG ĐẠI LIÊN
SO SÁNH MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ
TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
VƯƠNG ĐẠI LIÊN
SO SÁNH MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ
TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62220125
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PSG.TS Trần Lê Bảo
2 PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của luận án "So sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam" là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Lê Bảo và PGS TS Nguyễn Thị Bích Hà
Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án này là trung thực và chưa được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận án của mình
Tác giả
Vương Đại Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Lê Bảo và PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà - hai thầy cô đáng kính đã luôn chỉ bảo tận tình, cung cấp những định hướng chuyên môn và cho tôi những gợi ý hết sức hữu ích để phát triển nội dung luận án Nhờ sự hỗ trợ và khích lệ thường xuyên của thầy cô, tôi mới có thể thực hiện được luận án này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với các thầy cô giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học hỏi thêm kiến thức và phương pháp để nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin cảm ơn các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trân quý thuộc các trường đại học, viện nghiên cứu, viện khoa học… đã cho tôi những góp ý giá trị, chia sẻ cho tôi những thông tin quý báu đối với luận án Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Thị Thu Hương đã cho tôi nhiều ý kiến để hoàn thiện luận án
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Vương Đại Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
I Lí do chọn đề tài 5
II Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
IV Phương pháp nghiên cứu 8
V Đóng góp của luận án 9
VI Cấu trúc luận án 9
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Trung Quốc 10
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Việt Nam 15
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam 21
1.2 Một số khái niệm liên quan đến luận án 22
1.2.1 Truyện cổ 22
1.2.2 Thần thoại 24
1.2.3 Truyền thuyết 26
1.2.4 Truyện cổ tích 27
1.2.5 Sinh đẻ thần kỳ 28
1.2.6 Mô típ sinh đẻ thần kỳ 35
1.3 Cơ sở lý luận của luận án 37
1.3.1 Lý thuyết típ và mô típ 37
1.3.2 Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa 39
1.3.3 Lý thuyết so sánh văn hóa, so sánh loại hình 44
1.3.3.1 So sánh văn hóa 44
Trang 61.3.3.2 So sánh loại hình 46
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2: KHẢO SÁT MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 50
2.1 Mục tiêu khảo sát và cách thức khảo sát 50
2.1.1 Mục tiêu khảo sát 50
2.1.2 Cách thức khảo sát 50
2.2 Khảo sát mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc 49
2.2.1 Phạm vi khảo sát 49
2.2.2 Nội dung khảo sát 52
2.2.3 Kết quả khảo sát, phân loại 52
2.3 Khảo sát mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Việt Nam 64
2.3.1 Phạm vi khảo sát 64
2.3.2 Nội dung khảo sát 64
2.3.3 Kết quả khảo sát, phân loại 65
2.4 Nhận xét chung về kết quả khảo sát 75
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 80
3.1 Những yếu tố tương đồng trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 80
3.1.1 Phương thức mộng triệu phổ biến hơn phương thức khác 80
3.1.2 Thần có tần số xuất hiện cao nhất 82
3.1.3 Thời gian mang thai dài hơn bình thường 85
3.1.4 Trứng xuất hiện nhiều lần 87
3.1.5 Tương đồng về đặc điểm của những nhân vật 90
3.2 Những tín ngưỡng dân gian tương đồng trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 93
3.2.1 Vạn vật hữu linh 93
Trang 73.2.2 Tín ngưỡng phồn thực 98
3.2.3 Sùng bái nhật nguyệt tinh tú và thiên tượng 105
3.2.4 Sùng bái totem, sùng bái con rồng 110
3.2.5 Sùng bái thủy tổ, sùng bái tổ tiên và sùng bái anh hùng 116
3.3 Mô típ sinh đẻ thần kỳ cùng thể hiện quá trình phát triển của nhân loại 119 3.3.1 Từ xã hội mẫu hệ đến xã hội phụ hệ 119
3.3.2 Lịch sử hóa thần thoại và thần thoại hóa lịch sử 123
Tiểu kết chương 3 126
Chương 4 SỰ KHÁC BIỆT CỦA MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 127
4.1 Một số yếu tố khác biệt trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 127
4.1.1 Khác biệt về sự xuất hiện của những loại động vật 127
4.1.2 Khác biệt về sự xuất hiện của những loại thực vật 132
4.1.3 “Khí” xuất hiện nhiều lần trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 134
4.1.4 Một bọc nhiều con xuất hiện nhiều lần trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 136
4.2 Mô típ sinh đẻ thần kỳ thể hiện sự khác biệt về một số tư tưởng, quan niệm 139
4.2.1 Tư tưởng “âm dương” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 139
4.2.2 Quan niệm “ngũ hành tương sinh tương khắc” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 142
4.2.3 Quan niệm “ở hiền gặp lành” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 146
4.2.4 Quan niệm “đi chùa cầu tự” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 148
4.3 Mô típ sinh đẻ thần kỳ thể hiện sự khác biệt về lịch sử văn hóa 151
Trang 84.3.1 Văn hóa đế vương, văn hóa phụ quyền thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần
kỳ của Trung Quốc 151 4.3.1.1 Những người thống trị trong lịch sử Trung Quốc sinh ra đều bằng phương thức sinh đẻ thần kỳ, hình thành một hệ thống hoàn chỉnh 151 4.3.1.2 Tư tưởng “quân quyền thần thụ” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 153 4.3.1.3 Mặt trời tượng trưng cho vương quyền trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 155 4.3.1.4 Phụ quyền thể hiện tuyệt đối trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 157 4.3.2 Văn hóa làng xã, giao lưu và tiếp biến văn hóa thể hiện trong mô típ sinh
đẻ thần kỳ của Việt Nam 159 4.3.2.1 Dấu ấn văn hóa làng xã thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 159 4.3.2.2 Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 162
Tiểu kết chương 4 166 KẾT LUẬN 167 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 171 TÀI LIỆU THAM KHẢO 172 PHỤ LỤC 191
Trang 9Sọ Dừa do mẹ uống nước đựng trong sọ dừa sinh ra, Trần Hà Trần Giới thì do người mẹ bị giao long cuốn sinh ra
Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ xuất hiện nhiều, nhưng những chuyên luận nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳ chưa thật sự tương xứng với số lượng truyện, bài luận nghiên cứu so sánh về sinh đẻ thần kỳ của hai nước lại càng ít thấy, đây vẫn là một khu vườn bỏ hoang của giới nghiên cứu Tuy nhiên, từ trước đến giờ, mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ quen thuộc được nhiều học giả, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam quan tâm Nhưng do điều kiện ngôn ngữ và một số nguyên nhân khác, nên việc nghiên cứu của các học giả thường chỉ giới hạn việc khảo sát tác phẩm trong nước Cũng
có một số bài so sánh về văn hóa, văn học của Trung Quốc và Việt Nam có đề cập đến mô típ sinh đẻ thần kỳ, nhưng nghiên cứu chưa hình thành một hệ thống Do đó, việc tiến hành nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ của Trung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống, chi tiết là thực sự cần thiết
Theo xu thế phát triển của thế giới, sự giao lưu và hợp tác giữa các nước là một xu hướng tất yếu Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có lịch sử
Trang 10giao lưu từ lâu Những năm gần đây, Trung Quốc và Việt Nam hợp tác trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa… nên việc tìm hiểu lẫn nhau trở thành một nhu cầu tất yếu Truyện cổ là truyện đời xưa, thể hiện văn hóa, tư tưởng của một dân tộc, một quốc gia Nghiên cứu về truyện cổ hai nước từ góc độ nguồn gốc nghiên cứu lịch sử giao lưu của hai nước và văn hóa của hai nước, chúng tôi nhận thấy mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ xuất hiện trong truyện cổ với tần số cao
Từ những điểm tương đồng của mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ có thể nhận thấy nhân dân hai nước có những cảm nhận tương đồng đối với một vấn đề nào đó, cũng có thể nhìn ra mối liên hệ nội tại của văn hóa hai nước Từ những điểm khác biệt, có thể suy đoán về sự khác nhau do điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên, tâm
lý văn hóa dân tộc và nhu cầu thẩm mỹ của nhân dân hai nước Để có thể học tập và
mở rộng hợp tác, gắn chặt mối quan hệ của các quốc gia thì chúng ta nhất thiết phải
có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về xã hội, đặc biệt là văn hóa
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “So sánh mô típ sinh
đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam”
II Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
- Từ việc tìm hiểu mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam, thấy được sự tương đồng và sự khác biệt trong truyện cổ, văn học dân gian và văn hóa của hai nước
- Tăng cường hiểu biết về quy luật giao lưu và tiếp biến văn hóa của Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời thấy được sự độc lập, tính sáng tạo trong việc xây dựng nền văn học dân gian, văn hóa dân gian của hai nước
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Sưu tập các truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc
và Việt Nam
Trang 11- Khảo sát và phân loại những truyện đã sưu tập được Lập ra bảng khảo sát
III Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc
và Việt Nam Truyện cổ ở đây gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích của hai nước, chủ yếu của dân tộc Hán của Trung Quốc và dân tộc Kinh của Việt Nam Nhưng cũng không loại trừ một số truyện cổ của một số dân tộc khác cũng được lựa chọn vào để làm đối tượng nghiên cứu so sánh
2 Phạm vi nghiên cứu
2.1 Phạm vi tài liệu của Trung Quốc gồm bốn phần
1 Những truyện sinh đẻ thần kỳ trong Vĩ Thư (Vĩ Thư là tên gọi của một
loạt sách lưu hành ở Tây Hán và Đông Hán mang màu sắc kỳ dị)
2 Những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện kể về các vua chúa của các
triều đại phong kiến Trung Quốc trong Sử Ký, Hán Thư, Hậu Hán Thư
3 Những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong cuốn sách “Vân Cấp Thất
Thiêm” và sách “Trung Quốc dân gian chu thần”
4 Những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong 10 cuốn sách của Tổng tập
truyện dân gian Trung Quốc
2.2 Phạm vi tài liệu của Việt Nam
Các truyện dân gian Việt Nam gần như được sưu tập vào bộ sách Tổng tập văn học dân gian Việt Nam do viện Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn, do nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản Vì vậy, chúng tôi khảo sát dựa trên tài liệu:
Trang 121 Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số, tập 3, Thần thoại
2 Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4, tập 5 Truyền thuyết dân
gian người Việt
3 Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6, Truyện cổ tích thần kỳ
IV Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện luận án, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu dưới đây:
1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp
Đầu tiên, tác giả sẽ thống kê số lượng truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong những tài liệu ở trên của Trung Quốc và Việt Nam và phân loại theo phương thức cảm ứng Sau đó tác giả thống kê những vật cụ thể xuất hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ và phân loại theo tính chất của vật cảm ứng cụ thể là động vật, thực vật, những vật thể trong tự nhiên, những vật dụng trong cuộc sống và thần Cuối cùng, tác giả thống kê tần số xuất hiện của từng loại vật cụ thể xuất hiện trong mô típ sinh
đẻ thần kỳ
2 Phương pháp so sánh loại hình
Phương pháp so sánh là phương pháp quan trọng trong luận án, như tiêu đề của luận án là so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam, nên luận án sẽ dựa vào những mô típ tương đồng về sự sinh đẻ thần kỳ của hai nước, từ đó so sánh sự tương đồng và sự khác biệt
3 Phương pháp nghiên cứu ngữ văn dân gian
Trên cơ sở phân tích tư liệu, chúng tôi sẽ phân tích, tổng hợp và tìm hiểu nội dung, ý nghĩa, vai trò của những mô típ này trong truyện cổ dân gian hai nước và tìm nguyên nhân tạo ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt
4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Nghiên cứu văn học dân gian nói chung cũng như mô típ nói riêng, phải vận dụng đến những phương pháp liên ngành như văn hóa học, lịch sử học, dân tộc học,
xã hội học, phiên dịch học
Trang 13V Đóng góp của luận án
Hệ thống được những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam, phân loại theo một số tiêu chí nhất định So sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống, tìm hiểu về những điểm tương đồng và những điểm khác biệt của chúng để rút ra những kết luận khoa học Từ đó, có một tầm nhìn tổng quan về mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam Trong phụ lục sẽ thống kê mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam, dịch phần tiếng Trung sang tiếng Việt và lập bảng phụ lục để cung cấp một nguồn tài liệu cho những người nghiên cứu văn học dân gian hai nước nói riêng và nghiên cứu văn hóa, văn học của hai nước nói chung
Phân tích sự tương đồng và sự khác biệt của truyện cổ hai nước, tức là từ nguồn gốc phân tích sự giống nhau và khác nhau về tư tưởng, ý thức, văn hóa của hai dân tộc Tìm hiểu về mô típ sinh đẻ thần kỳ hai nước có thể hiểu thêm một số vấn đề văn hóa, văn học của hai dân tộc Trong bối cảnh giao lưu giữa Trung Quốc
và Việt Nam ngày càng tăng cường, tìm hiểu văn hóa hai nước trở thành vấn đề tất
yếu thì biết được quá khứ, mới có thể khai thác tương lai một cách tốt nhất
VI Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai trên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ phổ biến trên thế giới Nền văn học Trung Quốc sở hữu số lượng lớn các truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu và cho xuất bản một số chuyên luận về vấn đề này Việt Nam cũng có nhiều truyện xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ, nhưng những chuyên luận nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳ số lượng còn hạn chế Không chỉ
ở Trung Quốc và Việt Nam mà trên thế giới, sinh đẻ thần kỳ cũng trở thành một mô típ quen thuộc với những người nghiên cứu Folklore
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Trung Quốc
Thế kỷ XX, thần thoại học Trung Quốc phát triển nhanh chóng Mô típ sinh
đẻ thần kỳ cũng được nghiên cứu như một loại thần thoại Học giả Trung Quốc đã
sử dụng thuật ngữ “thần thoại cảm sinh (感生神话)” để chỉ loại truyện này Thần thoại - vốn chỉ một thể loại của văn học dân gian, nhưng ở đây, ý nghĩa của từ thần thoại được hiểu là những truyện sinh đẻ thần kỳ Từ cảm ứng trong cụm từ cảm sinh
- cảm ứng sinh đẻ không chỉ đơn thuần chỉ cảm ứng thiên nhiên, mà còn có thể từ động vật, thực vật, những vật dụng trong cuộc sống Hứa Thận (许慎) đời Đông
Hán trong cuốn Ngũ Kinh Dị Nghĩa (五经异义) dẫn “Xuân Thu Công Dương Truyện (春秋公羊传)” đã nói rằng: “Thần Nhân đều không có bố, cảm ứng thiên
mà sinh ra”
Về bản chất, sinh đẻ thần kỳ thuộc một loại thần thoại Do tình trạng hôn nhân tạp hôn cộng với trình độ hiểu biết còn thấp kém, người nguyên thủy không hiểu và không thể lý giải được nguyên nhân khoa học của hiện tượng sinh đẻ nên đã dùng nhiều cách khác nhau để giải thích Họ cho rằng việc sinh đẻ có được là do người phụ nữ ăn phải trứng yến mang thai, hoặc là do người phụ nữ giẫm vào vết chân khổng lồ mang thai, hoặc mơ thấy rồng mang thai Về sau người ta sử dụng
Trang 15những mô típ này trong truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi nhưng nguồn gốc của những mô típ này vẫn thuộc phạm trù của thần thoại
Về cơ bản, thuật ngữ “thần thoại cảm sinh” của Trung Quốc tương đương với khái niệm mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam Nó được dùng để chỉ một người (thường là những nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích ) ra đời một cách kỳ lạ, khác thường, có thể do người mẹ ăn, uống phải vật lạ, tiếp xúc với vật lạ, nằm mơ thụ thai sinh ra; cũng có thể chỉ hiện tượng lúc nhân vật ra đời có yếu tố dị thường, hào quang chiếu vào phòng, mùi thơm khắp nhà
Trong bộ sách tổng tập thi ca sớm nhất của Trung Quốc - Kinh Thi (诗经) đã
có ghi chép về thần thoại cảm sinh, tức là mô típ sinh đẻ thần kỳ “Thương tụng,
Huyền điểu (商颂玄鸟)” ghi chép về sự ra đời thần kỳ của tổ tiên Thương Khiết
(商契) “Đại nhã, Sinh dân (大雅生民)” ghi chép về sự ra đời thần kỳ của tổ tiên
Chu Hậu Tắc Mặc dù chỉ là mấy câu chưa đủ độ hoàn chỉnh, nhưng nó là sử liệu
quý để các nhà nghiên cứu có cơ sở dữ liệu tìm hiểu về mô típ này Trong “Hỏi trời
(Thiên vấn 天问)” của bộ Sở Từ (楚辞) cũng có nói đến thần thoại cảm sinh Sử Ký
(史记) cũng ghi chép nhiều về thần thoại cảm sinh như sự ra đời của Lưu Bang (刘
邦), sự ra đời thần kỳ của tổ tiên Tần Đại Nghiệp (秦大业)… Có thể thấy rằng, ở Trung Quốc, nhiều vị vua, hoàng đế xưa được sinh ra một cách khác thường và hiện tượng này đã được ghi chép vào các sách cổ khác nhau
Nghiên cứu về thần thoại cảm sinh cũng đã đạt được những thành quả nhất định Các nhà nghiên cứu Trung Quốc chủ yếu có bốn quan điểm về nguyên nhân xuất hiện thần thoại cảm sinh Thứ nhất là thuyết sùng bái Totem Đây là quan điểm được đưa ra sớm nhất Những người đại diện cho thuyết này chủ yếu có Tôn Tác Vân (孙作云), Viên Kha (袁珂)… Thứ hai là thuyết sùng bái phồn thực Trong bài
văn “Thử bàn về thần thoại cảm sinh có nguồn gốc từ sùng bái sinh nở (试论感生
cho rằng trong thần thoại cảm sinh của các dân tộc, người nguyên thủy không những không nhận thức được yếu tố người cha trong việc sinh đẻ mà thậm chí còn
Trang 16không biết liên hệ trực tiếp hai vấn đề giao hợp nam nữ và thụ thai, do đó sinh ra sùng bái Totem và sùng bái tổ tiên Nhưng nhìn từ góc độ văn tự học, khảo cổ học,
xã hội học, tư duy thần thoại học, thái độ sùng bái này có nguồn gốc từ sùng bái
sinh nở Thứ ba là thuyết sùng bái tự nhiên Trong bài luận “Bước đầu tìm hiểu
nguồn gốc của thần thoại cảm sinh Trung Quốc (中国感生神话起源初探 1998)”,
Mông Phi (蒙飞) đã chỉ ra thần thoại cảm sinh xuất hiện ở thời đại quần hôn, người nguyên thủy cho rằng nguyên nhân thụ thai là do thiên nhân cảm ứng Thứ tư là thuyết thần hóa tổ tiên Đây là quan điểm chủ lưu của những năm gần đây cho rằng thần thoại cảm sinh của Trung Quốc đều xuất hiện ở “thời đại văn minh”, mục đích của nó là thần hóa tổ tiên, thánh nhân, để lấy niềm tin của dân chúng Nhiều người còn gọi loại này là thần thoại cảm sinh chính trị, chủ yếu tập trung vào thời đại
Mười sáu nước (十六国时期) Những bài nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến “Thần
thoại cảm sinh chính trị của thời kỳ Mười sáu nước và dung hợp dân tộc (十六国时
hiện tượng dựa vào nguồn gốc tổ tiên thời kỳ Bắc triều Mười sáu nước (十六国北
thần thoại cảm sinh chính trị đế vương thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều (魏晋南北
Ngoài những bài viết tìm hiểu nguyên nhân của thần thoại cảm sinh ra, cũng
có những bài viết tìm hiểu thần thoại cảm sinh các dân tộc thiểu số của Trung Quốc
Tiêu biểu có bài nghiên cứu của Vương Hiến Chiêu (王宪昭) “Khám phá phân tích
thần thoại cảm sinh của các dân tộc thiểu số Trung Quốc (中国少数民族感生神话
探析 2008)” chỉ ra thần thoại cảm sinh là một loại thần thoại quan trọng của thần
thoại các dân tộc thiểu số, chủ yếu phản ánh nguồn gốc của loài người Có người từ
góc độ giới tính tìm hiểu thần thoại cảm sinh Ví dụ bài “Từ góc độ giới tính xem
xét thần thoại cảm sinh của sự ra đời thủy tổ (从性别角度看始祖诞生感生神话
2004)” phân tích nội hàm của thần thoại cảm sinh của Trung Quốc và sử thi của
Trang 17Phần Lan Kalevala Tác giả Khương Uẩn Hà (姜韫霞) đã chỉ ra một số thần thoại cảm sinh mặc dù có dấu tích của chế độ thị tộc mẫu hệ, nhưng nhìn từ tổng thể nó thuộc về thế hệ thần thoại phụ quyền Bề ngoài là tôn sùng nữ thủy tổ, tôn sùng mẫu tính, nhưng bản chất là phục vụ cho tư tưởng phụ quyền và nam quyền Những tác phẩm này chỉ từ thiên chức sinh đẻ khẳng định phụ nữ, coi phụ nữ là công cụ sinh
đẻ mà thôi Bài “Nguyên mẫu hình tượng nữ tính trong thần thoại cảm sinh các dân
tộc thiểu số và giải thích nó từ góc độ nhân loại học nữ tính (少数民族感生神话女
thoại cảm sinh của các dân tộc thiểu số, bất cứ thần hay là người, hình tượng phụ nữ đều liên quan đến sinh đẻ Mẫu thần nhờ có vai trò sinh nở vạn vật mà được ca tụng
và tán thưởng, do năng lực sinh nở nên được làm mẹ của người anh hùng Người nguyên thủy chỉ nhìn thấy khả năng sinh đẻ của người phụ nữ, do vậy nhiều người phụ nữ tự mình vật hóa mình, dần dần mất ý thức chủ thể
Một số bài nghiên cứu tập trung phân tích thần thoại cảm sinh thông qua một
số văn bản tác phẩm cụ thể “Bàn về thần thoại cảm sinh trong Sử Ký (论《史记》
thoại cảm sinh của đế vương Tư Mã Thiên (司马迁) ghi chép lại thần thoại cảm sinh, một mặt nói rõ suy ngẫm của ông đối với nguồn gốc dân tộc, mặt khác nói rõ vai trò của một sử quan, phải ghi chép những thần thoại cảm sinh từ ngày xưa đã có
ở dân gian và những thần thoại cảm sinh xuất hiện ở thời Hán “Giải mã thần thoại
cảm sinh trong Kinh Thi (《诗经》中感生神话的解读 2014)” của Mai Tiệp (梅婕)
chỉ ra cảm ứng thụ thai là phương thức giáng sinh của thủy tổ Thương Chu, theo Kinh Thi lưu truyền, những phương thức giáng sinh trở thành nguyên mẫu của đời
sau “Bàn về thần thoại cảm sinh trong hai lăm bộ sử (论二十五史中的感生神话
2014)” của Điền Văn Tú (田文秀) phân loại thần thoại cảm sinh trong hai lăm bộ sử
thành bốn loại: cảm sinh do tiếp xúc vật lạ, cảm sinh do nuốt vật lạ, cảm sinh do nhìn thấy vật lạ, cảm sinh do nằm mơ
Trang 18Một số bài tập trung phân tích một truyện thần thoại cảm sinh cụ thể Bài
“Bàn về sự ra đời của Hoàng đế Hiên Viên và nội hàm lịch sử của nó (论轩辕黄帝
kỳ của Hoàng đế Hiên Viên: Hoàng đế Hiên Viên là anh em của Ngọc Hoàng, thấy người dân chịu khổ, quyết tâm xuống trần gian giúp dân, đầu thai vào một người
phụ nữ đang hái rau trên đồi tên Phú Bảo Bài “Khảo sát thần thoại cảm sinh Hậu
Tắc (后稷感生神话考 2006)” của Dương Kiến Quân (杨建军) khảo sát từ ngữ ghi
chép về sự sinh đẻ thần kỳ của Hậu Tắc trong sách Kinh Thi phần “Đại nhã, Sinh
dân (大雅生民)” và trong “Sử Ký, bản kỷ nhà Chu (史记周本纪)” và nhận định
hai bài trong Kinh Thi và trong Sử Ký tuy có khác nhau nhưng bài trong Sử Ký là dị bản của bài trong Kinh Thi Trong bài “Thuyết mới về Khương Nguyên giẫm vào vết
chân khồng lồ (姜源“履巨人迹”新说 2014)”, Vương Hướng Huy (王向辉) đã khái
quát những quan điểm chủ yếu về vết chân khổng lồ đang tranh luận trong giới nghiên cứu, cuối cùng chỉ ra vết chân khổng lồ là chỉ con cú mèo Doãn Thừa (尹承)
trong bài “Mấy biểu trưng về thần thoại ra đời của Tống Thái Tổ (宋太祖诞生神话
表微 2015)” khái quát năm tình tiết sinh đẻ thần kỳ của Tống Thái Tổ bao gồm mẹ
mơ thấy mặt trời vào bụng, thần quang chiếu vào phòng, thân thể được màu vàng kim che phủ, nhau thai hình hoa sen, hương thơm lạ thường và phân tích những nguyên nhân của những tình tiết này
Nhìn chung, giới nghiên cứu Trung Quốc đã có khá nhiều bài nghiên cứu về thần thoại cảm sinh, nhưng phần lớn chỉ nghiên cứu một hoặc vài thần thoại cảm sinh, hoặc chỉ nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong một số sách cổ nhất định, chưa
có công trình nghiên cứu nào thống kê tất cả các thần thoại cảm sinh ở Trung Quốc
và so sánh đối chiếu những thần thoại cảm sinh ấy Hơn nữa, khái niệm “thần thoại cảm sinh” của Trung Quốc chủ yếu chỉ những người con gái chưa chồng do ăn, uống phải dị vật, tiếp xúc dị vật, cảm ứng rồng, cảm ứng thiên tượng dị thường thụ thai sinh con Ở đây, vai trò người bố thường không được nhắc đến Những truyện này xuất hiện khá sớm và phản ánh bóng dáng của xã hội mẫu hệ, thời điểm con
Trang 19người sinh ra “biết mẹ không biết bố” Còn đến thời đã có nhà nước thì “thần thoại cảm sinh” chủ yếu là thần thoại cảm sinh của các vua và một số người thân tín của vua, thường liên quan đến chính trị nhà nước, nên đã có người gọi là thần thoại cảm sinh chính trị (政治感生神话) Những truyện này thường xuất hiện trong truyền thuyết, nên học giả Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong thần thoại và truyền thuyết, còn những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ tích thì ít được đề cập đến
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Việt Nam
Ở Việt Nam thì không có thuật ngữ chuyên để chỉ những loại truyện này Người ta coi sinh đẻ thần kỳ là một mô típ mà không coi là một loại thần thoại riêng, gọi nó là mô típ “sự ra đời thần kỳ”, “mô típ ra đời kỳ lạ”, “mô típ sinh nở thần kỳ”… Nhìn chung những thuật ngữ đó đều có ý nghĩa gần giống nhau Nếu nói học giả Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong thần thoại và truyền thuyết, thì ở Việt Nam, những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ tích được nghiên cứu nhiều, thậm chí có thể nói giới nghiên cứu Việt Nam chủ yếu tập trung nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích
Những sách cổ ghi chép về sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam có “Lĩnh Nam
Chích quái” tương truyền do Trần Thế Pháp viết, có lời nói đầu của Vũ Quỳnh và
Kiều Phú, sách “Việt Điện U Linh” do Lý Tế Xuyên viết Những tác phẩm ghi
chép về mô típ sinh đẻ thần kỳ cũng có thể gọi là truyện sinh đẻ thần kỳ vì những truyện này kết cấu hoàn chỉnh, đã độc lập thành truyện Tác phẩm tiêu biểu phải kể đến Truyện họ Hồng Bàng, Âu Cơ đẻ bọc trứng nở ra trăm con, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không nói về sự ra đời thần kỳ của Lý Nhân Tông, Truyện Man Nương nói về sư Già La Đồ Lê bước qua Man Nương, Man Nương mang thai
đẻ con Việt Điện U Linh cũng có nhiều truyện kể về sự sinh đẻ thần kỳ như sự ra
đời thần kỳ của Trần Hưng Đạo…
Về mô típ sinh đẻ thần kỳ thì cũng có nhiều công trình nhắc tới, như công
trình“Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á”
(1998) của Nguyễn Bích Hà Tác giả đã khái quát ra mười dạng sinh đẻ thần kỳ:
Trang 20a Đứa trẻ ra đời do thiên nhiên cảm ứng
b Đứa trẻ ra đời do người mẹ ăn hoặc uống phải dị vật
c Đứa trẻ ra đời do người mẹ uống nước đựng trong dị vật
d Đứa trẻ ra đời do người mẹ nằm mộng
e Đứa trẻ ra đời do người mẹ kết hợp với một con vật nào đó
f Đứa trẻ ra đời do người mẹ kết hợp với thần linh
g Đứa trẻ ra đời do người mẹ sinh ra bọc trứng hoặc một cục thịt
h Đứa trẻ ra đời từ một quả cây hoặc từ một cây tre, khúc gỗ…
i Đứa trẻ ra đời là do được một lực lượng siêu nhiên đầu thai hoặc do thần thánh mượn cửa để xuống trần gian
j Đứa trẻ ngay khi ra đời đã có dị tật hoặc là một con vật
Những mô típ ra đời thần kỳ được khái quát ra trong cuốn sách này về cơ bản
là hoàn chỉnh, là một tài liệu quý báu cho người sau nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳ cũng như nghiên cứu về truyện kể dân gian
Trong công trình: “Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam”
(1999) Nguyễn Thị Huế chỉ ra yếu tố làm nên nguồn gốc nhân vật xấu xí mà tài ba
là mô típ sinh đẻ thần kỳ Tác giả còn khẳng định: “Khi hình thức hôn nhân cổ điển
là hình thức quần hôn của chế độ thị tộc còn đang tồn tại, người phụ nữ sinh con sẽ nhận được sự chăm lo chung của cộng đồng huyết thống Còn khi chế độ thị tộc mẫu hệ với hình thức hôn nhân quần hôn tan rã thì cũng phát sinh sự tan rã của họ hàng huyết thống nguyên thủy Việc các bà mẹ sinh con không rõ nguồn gốc sẽ dẫn đến việc đứa trẻ sẽ không còn nhận được sự quan tâm chung của cộng đồng nữa Không những như vậy mà những đứa con đấy còn bị cộng đồng xua đuổi và hắt hủi Với mô típ sinh đẻ thần kỳ, tác giả dân gian đã dùng tư duy thần thoại truyền thống
để “thần thánh hóa” nguồn gốc nhân vật để hé mở một tương lai tốt đẹp cho nhân vật" [43, tr 51]
Phần khái luận của cuốn sách “Tổng tập văn học dân gian của người Việt,
tập 4, truyền thuyết dân gian” (2004) do Kiều Thu Hoạch chủ biên, Trần Thị An,
Trang 21Mai Ngọc Hồng cùng biên soạn đã chỉ ra mô típ sinh đẻ thần kỳ có hai dạng thức thể hiện Dạng thức thứ nhất là kể trực tiếp bà mẹ đi tắm bị giao long phủ quanh
người như truyện Trần Giới Trần Hà, cầu vồng sa xuống người bà mẹ như truyện
Năm anh em làng Na, sao chiếu thẳng xuống giường bà mẹ như Truyện hai ông gác cổng, bà mẹ đi tắm gặp rồng quấn như truyện Thánh Linh Lang, bà mẹ giẫm dấu
chân hổ như Sự tích Cả Hai Cả Lợi… nhân đó thụ thai đẻ ra người anh hùng, những
người anh hùng này thường nằm trong một bọc thai chung Dạng thức thứ hai là kể việc thụ thai thông qua một giấc mơ của các bà mẹ Các bà mẹ mơ thấy trăng sa vào
bụng như Truyện núi Vú Thúng, mơ nuốt hai quả trứng như truyện Cao Sơn Quý
Minh, mơ thấy viên ngọc năm sắc bị vỡ như Truyền thuyết Mai Thúc Loan, mơ thấy
tấm lụa đỏ choàng vào người như truyện Nhã Lang và đình Chu Quyến… Sau
những giấc mơ - điềm báo ấy là sự ra đời của những nhân vật phi thường Tác giả còn chỉ ra: “Các biểu hiện phong phú này chắc chắn có liên quan đến tín ngưỡng vạn vật hữu linh thời cổ, không loại trừ sự ảnh hưởng của các tín ngưỡng nguyên thủy khác và Phật giáo, Đạo giáo…” [110, tr 44]
Trong cuốn sách “Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân
gian Việt Nam” (2014) của Trần Thị An, ở phần phụ lục, tác giả khái quát sự ra đời
thần kỳ của các nhân vật trong những truyền thuyết xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ Tác giả còn chỉ ra sự ra đời thần kỳ trong truyện cổ tích và truyền thuyết có sự khác nhau: “Sự ra đời của truyện cổ tích bó hẹp trong phạm vi gia đình, là ao ước của một gia đình, nhân vật ra đời thường mang đức tính tốt theo chuẩn mực đạo đức xã hội mà gia đình mong muốn; trong khi đó, nhân vật truyền thuyết ra đời do mong muốn của cộng đồng về người tài, họ phải có những phẩm chất cao cả để giải quyết những vấn đề đang đặt ra cho cộng đồng đó” [1, tr 113]
Trong bài viết “Sự ra đời thần kỳ của người anh hùng trong sử thi Khan - Ê
Đê” (2007), tác giả Phạm Đặng Xuân Hương đã nghiên cứu về sự ra đời thần kỳ
của người anh hùng với sự mang thai thần kỳ, sự sinh đẻ bất thường và lễ đặt tên đầy khó khăn trong 9 bản sử thi Ê Đê Trong đó, sự mang thai người anh hùng thần
kỳ được kể như sau: Người mẹ mang thai người anh hùng là do ăn hoặc uống phải
Trang 22dị vật, hoặc do có một con vật bay vào miệng của người mẹ, do thiên nhiên cảm ứng, do tự nhiên mang thai người anh hùng và người anh hùng là con cháu của vị
thần Trong bài luận “Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết nhân vật của người Việt ở
Nam Trung Bộ” (2007), tác giả Nguyễn Định cho rằng trong số tác phẩm truyền
thuyết nhân vật người Việt ở Nam Trung Bộ mà tác giả tập hợp được chỉ có vua Nam Chiếu do mẹ bị con rái lớn hãm hiếp mang thai sinh ra Từ đấy, tác giả nhận xét: “Trong truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ, mô típ sinh đẻ thần kỳ hầu như ít khi được sử dụng ở truyền thuyết nhân vật Đây không phải chỉ là đặc điểm của truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ mà còn là đặc điểm của truyền thuyết
người Việt ở Nam Bộ và Thừa Thiên - Huế” [20, tr 20] Trong bài luận “Tìm hiểu
về mô típ sinh đẻ thần kỳ của kiểu truyện “người khỏe” trong kho tàng truyện cổ Việt Nam” (2008), tác giả Nguyễn Thị Hoa Mai chỉ ra bốn kiểu ra đời thần kỳ của
những “người khỏe” là: kết quả của những hôn nhân kỳ lạ, do người mẹ kết hợp với thần linh sinh ra, do được một lực lượng siêu nhiên nào đó sinh ra, đứa trẻ sinh ra
đã dị dạng Trong bài viết “Mô típ “người mang lốt cóc” trong truyện cổ tích từ góc
nhìn dân tộc học” (2015), tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan chỉ ra ba dạng thức của
người mang lốt được sinh ra là: do người mẹ (một bà goá hay một cô gái chưa chồng) ăn, uống phải dị vật sinh ra; do người mẹ có quan hệ gián tiếp với thần linh (đặt chân vào dấu chân lạ, hào quang chiếu rọi vào buồng ngủ) sinh ra; nhân vật được sinh ra từ một giống thực vật (quả bí)
Ngoài những cuốn sách và những bài nghiên cứu ở trên, chúng tôi còn tìm thấy một số luận văn và luận án có đề cập đến mô típ sinh đẻ thần kỳ Dưới đây chúng tôi liệt kê các công trình theo giai đoạn thời gian:
Từ năm 2000 đến 2009: Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ hội Linh Lang
vùng ven Hồ Tây - Hà Nội” (2004) của Hoa Hữu Vân chỉ ra sự sinh đẻ thần kỳ của
mẹ Linh Lang là do người mẹ nằm mơ và sự ra đời thần kỳ của Uy Linh Lang là do người mẹ bị con giao long cuốn Tác giả cho rằng sự ra đời thần kỳ do người mẹ nằm mơ là bắt nguồn từ quan niệm linh hồn và thể xác của người nguyên thủy, còn chi tiết bị giao long cuốn thì có liên quan đến “vua rắn” của Việt Nam Trong luận
Trang 23văn thạc sĩ “Truyền thuyết và Lễ hội về Hai Bà Trưng ở Hát Môn - Phúc Thọ - Hà
Tây” (2004), tác giả Nguyễn Thị Dung chỉ ra truyền thuyết về Hai Bà ở Hát Môn có
tình tiết mô típ sinh đẻ thần kỳ: bà Trần Thị Đoan (mẹ của Hai Bà) do nằm mơ mà
có mang, lúc sinh Hai Bà thì hương thơm sực nức, ánh sáng rực rỡ, ban ngày trời
đất bỗng tối tăm mù mịt như ban đêm Trong luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ
hội về Cao Lỗ ở xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” (2006), tác giả
Nguyễn Văn Triệu chỉ ra sự ra đời thần kỳ của Cao Lỗ là do người mẹ mơ thấy rồng trắng quấn quanh giường rồi mang thai sinh ra Sự ra đời thần kỳ này có cội nguồn
từ trong thần thoại cổ xưa, nhắc nhở những quan hệ lưỡng phân giữa “đất và nước”,
“núi và sông” Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ văn hóa Tày - Việt dưới góc độ thẩm
mỹ qua một số kiểu truyện dân gian cơ bản” (2008) của tác giả Hà Thị Thu Hương
phân loại các dạng thụ thai thần kỳ là do ăn uống phải vật lạ, tiếp xúc với vật lạ và
nằm mơ Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ hội các làng La (Hà Nội)” của tác
giả Nguyễn Thị Nguyệt (2009) kể chuyện sinh đẻ thần kỳ của thành hoàng các làng
La Cả, La Dương, La Phù Tác giả đã khái quát ba ý nghĩa của mô típ sinh đẻ thần
kỳ Thứ nhất, xét về góc độ sáng tạo văn học nghệ thuật thì mô típ này nhằm tạo ra các yếu tố thần kỳ để thu hút, hấp dẫn người đọc, người nghe Thứ hai, xét ở góc độ văn hóa tâm linh thì mô típ này nhằm linh thiêng hóa nhân vật được dân làng thờ cúng (thành hoàng làng) Thứ ba, xét dưới góc độ nhận thức lịch sử thì mô típ này phản ánh thái độ yêu mến, tôn vinh, đề cao của nhân dân với các thần linh
Từ năm 2010 đến năm 2015: Trong luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết về một số
danh nhân văn hóa thời trung đại trên đất Hải Dương” (2011), tác giả Nguyễn Thị
Quyên chỉ ra những danh nhân văn hóa thời trung đại trên đất Hải Dương mang sự
ra đời thần kỳ là Mạc Đĩnh Chi và Nguyễn Thị Duệ Bố mẹ của Mạc Đĩnh Chi ngoài 40 tuổi chưa có con Khi đến đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên, một đêm người
vợ mơ thấy một vệt sáng quắc từ trời rơi xuống giữa nhà rồi hóa thành một con khỉ chạy vào trong lòng, một thời gian sau sinh ra Mạc Đĩnh Chi Còn Nguyễn Thị Duệ
là do bà thân mẫu nằm mộng thấy sao trên trời sa vào bụng, sau đó sinh ra bà Trong
luận văn thạc sĩ “Khảo sát truyền thuyết và lễ hội Đinh Lê ở Ninh Bình” (2012) của
Trang 24Giang Thị Thu Phương, tác giả chỉ ra trong truyền thuyết Đinh Lê, sự ra đời của Đinh Bộ Lĩnh là do bà Đàm Thị trong một giấc ngủ như bị thôi miên đã bị rái cá hiếp, sau đó mang thai sinh ra Bộ Lĩnh Còn nhận xét về dạng sinh đẻ thần kỳ thì tác
giả cũng nhận định là có hai dạng sinh đẻ thần kỳ như trong cuốn sách Tổng tập văn
học dân gian người Việt do Viện Khoa học Xã hội biên soạn Hoàng Việt Hương
cũng cùng quan điểm này Trong luận văn thạc sĩ “Khảo sát truyền thuyết và lễ hội
của các di tích Thăng Long Tứ Trấn” (2012), tác giả nói mô típ sinh đẻ thần kỳ có
hai biến dạng, dạng thứ nhất là bà mẹ thụ thai trực tiếp và dạng thứ hai là bà mẹ thụ
thai thông qua một giấc mơ Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết anh hùng chống ngoại
xâm triều Trần” (2012), tác giả Hoàng Thị Lân chỉ ra sự ra đời thần kỳ của Trần
Hưng Đạo, Bảng Công, Đinh Công Tuấn, Quý Minh, Uy Linh Lang là những người được mẹ thụ thai thông qua một giấc mơ Hải Công, Nàng Ngọc là do mẹ bị rắn trắng bao phủ thụ thai đẻ ra Trần Nhật Duật sinh ra trên cơ thể có sự khác biệt… Tác giả nói nguyên nhân của sự sinh đẻ thần kỳ là xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng của con người, con người luôn tin rằng có kiếp luân hồi, có kiếp sau, có sự đầu thai Và con người có niềm tin vào cái siêu nhiên Hơn thế nữa, xuất phát từ tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cũng là trí tưởng tượng sáng tạo của nhân dân để tôn vinh những người anh hùng của dân tộc, gắn vào họ sự cao quý, khác thường để thể hiện lòng thành kính đối với họ, để cho họ bất tử và tồn tại muôn đời Luận án tiến
sĩ “Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ” (2012), tác giả Nguyễn
Thị Thanh Lưu đã khảo sát 144 truyện, trong đó có 35 truyện có mô típ sinh đẻ thần
kỳ như truyền thuyết Trưng Hưng công thần Đinh Bạt Tụy, sự tích đền Bạch Mã Tác giả còn chỉ ra: trong số 35 lần trình diện, các kịch bản của mô típ sinh đẻ thần
kỳ rất hiếm khi trùng lặp Điều đó cho thấy sức sáng tạo dồi dào của dân gian Đó là một quá trình sáng tạo có ý thức nhằm khai thác tối đa vẻ đẹp của đối tượng theo cách cảm nhận của dân gian, đồng thời mở ra một khoảng không rộng lớn để hình tượng ấy lớn vụt lên về tầm vóc và có khả năng trường tồn vĩnh cửu Luận văn thạc
sĩ “Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội (Qua truyện kể và Lễ Hội)” (2012)
của tác giả Vũ Thị Huế chỉ ra sự sinh đẻ thần kỳ của Từ Đạo Hạnh là do người mẹ
Trang 25nằm mộng thụ thai đẻ ra con Trong luận văn thạc sĩ “Những yếu tố văn học dân
gian trong truyện cổ Phật giáo của Thích Minh Chiếu” (2014) của Đỗ Thị Thúy, tác
giả chỉ ra trong 128 truyện mà tác giả tập hợp được thì truyện có mô típ sinh đẻ thần
kỳ là 5 truyện, trong đó có ba khía cạnh nhỏ là: sinh nở trăm trứng, nhân vật mang
hình hài quái dị và nhân vật được thụ thai nhờ thần Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết
về Nữ thần và Thánh Mẫu ở Hà Nam” (2015) của tác giả Trần Thị Bổng khái quát
ba dạng mô típ sinh đẻ thần kỳ là nằm mộng sinh con, thời gian mang thai khác thường và người mẹ đẻ bọc con
Nhìn chung, mặc dù những chuyên luận chuyên nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Việt Nam còn chưa nhiều, nhưng trong những công trình có liên quan đến
mô típ sinh đẻ thần kỳ, các tác giả đều đã đề cập đến Có thể nói, mô típ sinh đẻ thần kỳ đã trở thành một mô típ quen thuộc đối với giới nghiên cứu
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam
Cho đến nay, chưa có chuyên luận nghiên cứu so sánh về mô típ sinh đẻ thần
kỳ của Trung Quốc và Việt Nam Có một số bài văn có bàn về sinh đẻ thần kỳ hoặc
có nhắc một số truyện sinh đẻ thần kỳ “Bàn về so sánh thần thoại và truyền thuyết
của Trung Quốc và Việt Nam (中越神话传说比较谈 1994)”, tác giả Mạnh Chiêu
Nghị (孟昭毅) đã lấy một số thần thoại và truyền thuyết tương tự của Trung Quốc
và Việt Nam tiến hành so sánh, như Thần Trụ trời của Việt Nam so sánh với Thần thoại Bàn Cổ của Trung Quốc, Truyện Họ Hồng Bàng của Việt Nam và Truyện Lưu Nghị của Trung Quốc, Truyện Kim quy của Việt Nam và Quy Hóa thành của Trung Quốc, Đổng Thiên Vương của Việt Nam và Truyền thuyết Hậu Tắc (后稷传说) của Trung Quốc Quan điểm của tác giả là: những thần thoại và truyền thuyết của Việt Nam hình thành dưới sự ảnh hưởng của những thần thoại và truyền thuyết tương tự
của Trung Quốc Trong công trình “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện
cổ Việt Nam và Đông Nam Á” (1998) của Nguyễn Bích Hà có nói đến truyện sinh
đẻ thần kỳ trong Tam quốc chí diễn nghĩa: khi A Đẩu ra đời, có một đám mây lành
Trang 26che trên nóc nhà, một con hạc đến kêu 41 tiếng Trước khi Mạnh Hoạch ra đời, một ngôi sao từ phía đông từ từ bay đến, dừng lại sáng lấp lánh giữa trời Rồi giống như tia chớp, nó cắm mạnh xuống nóc nhà mà từ đó Mạnh Hoạch ra đời Bài viết của
Đàm Lệ Phương (覃丽芳) “So sánh về thần thoại và truyền thuyết liên quan đến
nguồn gốc của dân tộc Trung Quốc và Việt Nam (中越有关民族起源神话传说对
比)” (2008) đã so sánh những điểm tương đồng và điểm khác biệt của Thần Trụ trời
Việt Nam và thần thoại Bàn Cổ của Trung Quốc Trong bài văn của Hoàng Linh (黄
玲) “Những chức năng tự sự và văn hóa của Thần thoại dân tộc xuyên biên giới -
lấy diễn biến của mô típ thần thoại “Trúc sinh người” làm dẫn chứng (中越跨境民
những thần thoại “Trúc sinh người” lưu truyền ở miền Bắc Việt Nam và phía Nam Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu, soi chiếu qua góc độ chính sách văn hóa khác nhau sau khi dân tộc di chuyển thuộc về hai nước Thần thoại “Trúc sinh người” cũng đã phát sinh sự khác nhau về kế thừa và diễn hóa Bài viết cũng chỉ ra, những thần thoại này là tín ngưỡng của dân tộc xuyên biên giới và có chức năng làm cho dân tộc xuyên biên giới tăng cường cảm giác quy thuộc
Nhìn chung, những bài luận đều chỉ bàn về sinh đẻ thần kỳ ở bước sơ bộ hoặc chỉ nhắc đến, chưa thật sự đi sâu để phân tích mô típ này Với luận án này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu, so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống, nhằm có một tầm nhìn tổng thể về mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ hai nước
1.2 Một số khái niệm liên quan đến luận án
1.2.1 Truyện cổ
Truyện cổ dân gian, cũng gọi là truyện dân gian, có nghĩa là truyện đời xưa Nếu muốn tìm một từ trong Tiếng Hán để thay thế thì nó là “cố sự (故事)”, thường gọi là “dân gian cố sự (民间故事 truyện dân gian)” Từ “cố sự (故事)” của tiếng Hán có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa hẹp của “cố sự (故事)”, tương đương với
Trang 27khái niệm truyện cổ tích của Việt Nam, chỉ một thể loại của văn học dân gian, cụ thể
là truyện cổ tích Nghĩa rộng của từ “cố sự (故事)” thì bao gồm các loại truyện dân gian, trong đó có thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại nó tương đương khái niệm truyện cổ ở Việt Nam Ở Trung Quốc
từ “cố sự” được sử dụng nghĩa rộng nhiều hơn nghĩa hẹp Những cuốn sách như
“Sách tra cứu típ truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事类型索引)” của Đinh
Nãi Thông (丁乃通), “Nghiên cứu típ truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事类型研究)” của Lưu Thủ Hoa (刘守华), bộ sách “Tổng tập truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事总集)” đều sử dụng nghĩa rộng của từ “cố sự (故事)” Lời nói
đầu của bộ sách “Tổng tập truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事总集)” đã
chỉ ra danh từ “dân gian cố sự (民间故事)” là một khái niệm rộng, nó bao gồm các thể loại văn học tự sự của quần chúng nhân dân của các dân tộc Trung Quốc, trong
đó có thần thoại, truyền thuyết, còn có các loại truyện, như truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cười, ngụ ngôn và một số thể loại văn học tự sự đặc biệt của một số dân tộc và một số khu vực” [176, tr 1]
Ở Việt Nam thì truyện cổ là một khái niệm được giới folklore sử dụng nhiều,
có nghĩa là truyện cổ xưa, truyện đời xưa Gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại Nguyễn Đổng Chi trong cuốn sách
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam nói rằng: “Theo nghĩa thông thường, truyện cổ là
nói tắt của cách nói đầy đủ truyện cổ dân gian Truyện cổ dân gian là một khái niệm
có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại” [9, tr 39]
Mô típ sinh đẻ thần kỳ thường xuất hiện trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, nên khái niệm truyện cổ mà chúng tôi sử dụng chỉ gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Truyện cổ Trung Quốc chủ yếu chỉ truyện cổ của tộc người Hán, truyện cổ Việt Nam chủ yếu chỉ truyện cổ của tộc người Kinh, nhưng một số truyện của dân tộc khác cũng được thống kê và làm đối tượng khảo sát, vì nó xuất hiện trong những tài liệu mà tác giả sử dụng Theo quan niệm, truyện cổ là
Trang 28truyện cổ dân gian, nhưng một số truyện cổ dân gian đã được sưu tập vào sử sách, nên một số tài liệu chúng tôi chọn đã được ghi trong sử sách của Trung Quốc như
Sử Ký, Hán Thư, Hậu Hán Thư… hoặc sử sách của Việt Nam như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư… Nhưng nguồn gốc của những truyện này vẫn từ dân gian, nên chúng tôi
vẫn lấy làm đối tượng nghiên cứu
1.2.2 Thần thoại
Thần thoại là một thể loại của văn học dân gian Từ “thần thoại” có nguồn gốc từ Hy Lạp - cái nôi của nền văn minh châu Âu là “mythos” Trong tiếng Anh thần thoại là “myth”, thần thoại học là “mythology” Nhìn từ phạm vi thế giới, thần thoại trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học từ thế kỷ XVII, XVIII, thậm chí sớm hơn Nhiều người tiên phong trong giới nghiên cứu đã có cống hiến hữu ích
trong lĩnh vực nghiên cứu thần thoại Tân khoa học (1725) của Giambattista Vico
(1668 - 1744) là tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ bắt đầu của thần thoại học Giambattista Vico nghiên cứu lịch sử phát triển văn hóa của nhân loại, lấy vấn đề thần thoại làm điểm xuất phát và trung tâm, đưa ra ba thời đại phát triển của nhân loại: thời đại thần thoại, thời đại anh hùng và thời đại con người Ngoài ra, nhà nghiên cứu này còn đưa ra thuyết “tư duy thần thoại” Sau đó, những năm đầu của thế kỷ XIX, anh em nhà Grimm vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh lịch sử trong ngôn ngữ học để nghiên cứu thần thoại, sáng lập ra trường phái thần thoại Những lí luận này thúc đẩy “thần thoại phục hưng” của châu Âu một cách mạnh mẽ Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thần thoại học lên đến thời kỳ huy hoàng
Mặc dù việc nghiên cứu thần thoại phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới, nhưng để định nghĩa thần thoại thì lại là một việc không dễ Ernst Cassirer cũng đã từng nói: “Trong tất cả các hiện tượng của văn hóa nhân loại, thần thoại và tôn giáo
là khó sử dụng logic để phân tích nhất” Mỗi người có một định nghĩa riêng Karl Marx cho rằng: “Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng, hình tượng hóa sức mạnh tự nhiên, theo những sức mạnh tự nhiên bị chi phối, thần thoại cũng một đi không trở lại” Lỗ Tấn thì cho rằng: “Người nguyên thủy trước đây, nhìn thấy vạn
Trang 29vật trên trời dưới đất thay đổi liên tục, những thay đổi ngoài khả năng của nhân loại, nên tự tạo ra những giải thích về những hiện tượng này, những giải thích này gọi là thần thoại” [145, tr 17] Mao Thuẫn cho rằng: “Thần thoại tức là một loại truyện lưu hành ở thời đại thượng cổ, nội dung của truyện là những hành sự của các thần, những hành sự này ngoài khả năng của nhân loại, mặc dù hoang đường không có căn cứ, nhưng người dân cổ đại kể lại với nhau và tin là thật” [148, tr 3] Chung Kính Văn cho rằng: “Thần thoại là một thể loại của văn học dân gian, là truyện mang tích chất thần kỳ do người ngày xưa sáng tác ra để phản ánh thế giới tự nhiên, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và hình thái xã hội” [175, tr 166] Theo quan điểm của Võ Quang Nhơn thì: “Thần thoại là một hiện tượng văn hóa tinh thần ra đời từ khá sớm Theo quy luật phổ biến, thần thoại chủ yếu ra đời trong xã hội cộng đồng nguyên thủy, vào những thời kỳ xa xưa của các xã hội trước khi có giai cấp Thần thoại phản ánh một cách kì diệu nhận thức về vũ trụ, về cộng đồng đấu tranh thiên nhiên, sinh hoạt xã hội và tư duy xã hội ở các dân tộc người anh em
từ thời cổ xưa” [81, tr 94] Nguyễn Hùng Vĩ chỉ ra: “Thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóa thần linh, phản ánh quan niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội con người” [84, tr 25] Nguyễn Bích Hà cho rằng: “Thần thoại là truyện kể về các vị thần và những điều thần bí, là hình thức nhận thức thế giới đặc trưng của con người thời cổ Thông qua sự thần thánh hóa và mĩ hóa các hiện tượng tự nhiên và xã hội, con người đã gửi gắm khát vọng giải thích tự nhiên,
xã hội và ước mơ chinh phục thế giới đó” [28, tr 21] Vũ Anh Tuấn trong Giáo
trình văn học dân gian của mình chỉ ra: “Thần thoại là một thể loại văn học dân
gian, một thể sáng tạo nghệ thuật ngôn từ truyền miệng đầu tiên và không tự giác ra đời vào giai đoạn xã hội nguyên thủy đã phát triển từ dã man đến văn minh” [106, tr 46] Ngoài ra, thần thoại còn được rất nhiều nhà nghiên cứu khác đưa ra các cách định nghĩa khác nhau Như vậy, thần thoại là sự sáng tạo của con người nguyên thủy để giải thích thế giới xung quanh Trước thế giới tự nhiên kỳ vĩ, bí ẩn, người nguyên thủy có rất nhiều câu hỏi về tự nhiên và vũ trụ không tự lý giải được Con
Trang 30người đã sử dụng trí tưởng tượng của mình để hình dung và lí giải chúng Như vậy, thần thoại đã được tạo ra Mô típ sinh đẻ thần kỳ trong thần thoại chủ yếu để giải thích nguồn gốc của loài người, chẳng hạn như những vật thể trong tự nhiên sinh người gồm trời sinh người, đất sinh người, đá sinh người động vật sinh người, thực vật sinh người, thần sinh (tạo) người, người đàn ông sinh người Về sau, những mô típ này được truyền thuyết và truyện cổ tích vay mượn
1.2.3 Truyền thuyết
Từ “truyền thuyết” có nguồn gốc từ tiếng Latinh legere Ban đầu nó là tên
gọi của một đoạn tài liệu, để chỉ một cuốn sách chứa đựng những lý giải về cuộc đời của các vị thánh được sắp xếp theo trật tự lịch Thiên Chúa và được đọc trong những ngày lễ thánh tại các nghi lễ thiêng liêng Tuy nhiên, về sau ý nghĩa của từ này đã được mở rộng Truyền thuyết, tiếng Hán là “truyền thuyết (传说)”, từ này thường đi cùng thần thoại, thành một cụm từ là “Thần thoại truyền thuyết (神话传说)” Viên
Kha ở cuốn sách Thần thoại truyền thuyết Trung Quốc (中国神话传说) có nói:
“Trong một truyện, thần thoại và truyền thuyết luôn lẫn lộn nhau, trong đó vừa miêu
tả hành vi của thần, vừa miêu tả hành vi của người, người và thần cùng xuất hiện, mới có thể viết ra những bài ca tráng lệ rực rỡ, rất khó chia cắt họ thành hai; họ có một cái tên gọi chung là “thần thoại” [173, tr 33] Đây chính là thần thoại nghĩa rộng của ông Trên thực tế, ở Trung Quốc thần thoại và truyền thuyết không có sự tách biệt rõ ràng, nên người ta thường gọi chung là “thần thoại truyền thuyết (神话传说) ”
Ở Việt Nam thì khái niệm truyền thuyết được định nghĩa rõ hơn, thường người ta hiểu là phải gắn liền với nhân vật lịch sự hoặc sự kiện lịch sử thì mới là truyền thuyết Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét về truyền thuyết:
“Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng Chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” [21] Kiều Thu Hoạch
Trang 31định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phán ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [34, tr 176] GS.TS Lê Chí Quế cho rằng: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [84, tr 49 ] Trên thực tế, nhiều lúc thần thoại và truyền thuyết rất khó phân biệt, vì nó vừa mang yếu tố của thần thoại, vừa mang yếu tố của truyền thuyết, nhưng truyền thuyết thường được gắn vào một nhân vật cụ thể nào đó trong lịch sử, những nhân vật ấy sinh ra để giải quyết những vấn đề to lớn của cộng đồng Đúng như nhận xét của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực
mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa nhân vật lịch sử và gửi gắm những tâm tình thiết tha của mình vào những nhân vật lịch sử này Mô típ sinh đẻ thần kỳ của những nhân vật trong truyền thuyết là để nói rõ nguồn gốc xuất xứ thần thánh, cao quý của những nhân vật lịch sử này, nhân dân đã dụng trí tưởng tượng mỹ hóa những nhân vật lịch sử này và tạo cho những nhân vật này một tiền đề để những nhân vật này có thể làm được một việc to lớn cho nhân dân, cho nhà nước
1.2.4 Truyện cổ tích
Truyện cổ tích, Tiếng Hán dùng từ “cố sự (故事)” để biểu thị, nó là nghĩa hẹp của từ “cố sự (故事)” Nghĩa rộng của từ “cố sự (故事)” tương đương với khái niệm truyện cổ của Việt Nam, còn nghĩa hẹp tương đương với truyện cổ tích, chỉ một thể loại riêng của văn học dân gian
Trang 32Truyện cổ tích không như truyền thuyết, truyền thuyết quan tâm đến những vấn đề to lớn của cộng đồng, truyện cổ tích quan tâm đến số phận cá nhân, gia đình, truyện cổ tích ra đời để giải quyết những vấn đề của đời sống gia đình, những hiện tượng xung đột xã hội GS.TS Lê Chí Quế định nghĩa truyện cổ tích như sau:
“Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó là xây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được xây dựng thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một loại hoàn chỉnh của văn học dân gian, được hình thành một cách lịch sử; sự hư cấu thần kỳ trong truyện cổ tích do hiện thực đời sống quyết định và nó cũng chịu sự biến đổi theo tiến trình lịch sử” [84, tr 107] Truyện cổ tích được PGS.TS Nguyễn Bích Hà định nghĩa cụ thể như sau: “Truyện cổ tích là những truyện kể có yếu tố hoang đường kì
ảo Nó ra đời từ sớm nhưng đặc biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, xấu tốt Qua những số phận khác nhau của nhân vật, truyện trình bày kinh nghiệm sống, quan niệm đạo đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, hạnh phúc” [28, tr 75] Truyện cổ tích mà chúng tôi sử dụng trong luận án chủ yếu là truyện cổ tích thần kỳ, nó phản ánh ước mơ của những người nhỏ bé, những người mà xã hội coi là những người “thấp kém” Họ ước mơ
có một lực lượng siêu nhiên xuất hiện để họ có thể thay đổi số phận của họ, có được cuộc sống hạnh phúc, ấm no, tự do Tác giả dân gian đã cho họ một xuất xứ khác thường, những người này lúc sinh ra thường rất nhỏ bé, thường mang một bộ lốt xấu xí, nhưng những người này đều có nguồn gốc từ thần thánh, bộ lốt chỉ là bên ngoài, còn trong bộ lốt là những con người rất tài ba, có khả năng siêu thường Cuối cùng những người này đều bỏ được lốt xấu xí trở thành những người đẹp đẽ và có một cuộc sống hạnh phúc Đây cũng chính là đặc điểm thể loại của truyện cổ tích, kết thúc có hậu
1.2.5 Sinh đẻ thần kỳ
Theo chúng tôi, sinh đẻ thần kỳ có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng chỉ tất cả các loại sinh đẻ khác thường Dùng tiêu chí chủ thể sinh đẻ người có thể chia thành những vật thể tự nhiên sinh ra người; thực vật sinh ra người; động vật sinh ra
Trang 33người; thần sinh (tạo) ra người; người đàn ông sinh ra người; người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường Nghĩa hẹp dùng để chỉ người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nghĩa rộng và nghĩa hẹp của mô típ sinh đẻ thần kỳ, đầu tiên là nghĩa rộng:
A Những vật thể tự nhiên sinh người
Những vật thể tự nhiên sinh người chủ yếu có trời sinh ra người, đất sinh ra người… Truyện Sáng lập vũ trụ của người Gia Rai kể rằng: Từ cõi U Minh, thần Bung tạo ra muôn loài Cặp vợ chồng đầu tiên từ dưới lòng đất lên mặt đất để sinh sống, dắt theo đứa con và con trâu Con trâu bị vướng sừng hóa đá và vẫn còn dấu tích ở cao nguyên Ca Nhơ Trong truyện kể của người H’mông thì Ông Chày Bà Chày tạo trời tạo đất, đất quá rộng nên bà Chày đã nắn lại đất Đất thấy đau ran khắp mình mẩy Một chỗ đất bị căng phồng lên, nứt ra Thế là đất trở dạ, sinh đôi được hai người con là gái Gầu Á và trai Dầu Âu
Thần thoại Sự hình thành trái đất và muôn loài của dân tộc Hà Nhì kể rằng
Trời đất ngày xưa không được đẹp như bây giờ Lúc ấy bề mặt quả đất thật vắng vẻ, không có người ở, không có loài vật sinh sống và cũng chẳng có cây cối mọc, vì đất một nửa sống, một nửa chết Một hôm, bỗng có vùng đất sống nứt ra một vệt dài
Từ trong lòng đất chui ra một người Ngưới đó là Ché Pe Á Lòng Mới chui ra, Á Lòng chưa biết đi, vì chỉ có một chân Á Lòng chưa biết làm vì tay chưa đủ một đôi
Á Lòng nghe chưa được nhiều vì tai mới có một bên Á Lòng nhìn chưa rõ vì chỉ có một mắt Thấy đất xung quanh mềm mềm, Á Lòng bốc đất nặn thử thêm một tay và một chân nữa Lắp chân vào thấy đứng vững hơn, đi không bị đổ ngã Lắp tay vào,
Á Lòng nặn đất được nhanh và dễ hơn… Trong truyện Mở trời dựng đất của người
Sán Dìu viết: … Trời đất đang tối tự bừng sáng, nhà cửa xiêm áo chưa hề có, không nón che đầu ba trăm năm, thời xưa trời đất tối mung lung, sinh ra lớp người có mắt thẳng…
Trang 34B Thực vật sinh người
Thực vật sinh ra người chủ yếu là từ cây sinh người Người xưa chủ yếu sống
ở rừng núi, xung quanh họ toàn là cây cối, nên con người đã được gợi ý từ cây cối
về sự sinh đẻ Nguyễn Tấn Đắc trong công trình của mình Truyện kể dân gian đọc
bằng type và motif đã nhận xét rằng: “Đối với người xưa, cây cối là biểu hiện cụ thể
của sự sống cây cối cũng là một gợi ý về thời gian, về không gian, về chu kỳ sinh trưởng, về sự tái sinh Cho nên cây cối thường là một mô típ được người xưa gửi gắm rất nhiều ý nghĩ của họ Đặc biệt trong đó có ý nghĩ về sự sinh nở thần kỳ” [13,
tr 69] Những cây sinh người là cây đa, cây si, cây tre, cây dừa, cây cau, cây bầu… Trong đó, cây bầu sinh người là nhiều nhất, thường kể từ quả bầu sinh ra người Quả bầu ở đây có thể là do cây bầu nở hoa kết quả, cũng có thể là do con người hoặc con vật đẻ ra quả bầu, từ bầu lại chui ra con người Về Truyện Quả bầu mẹ,
trong “Khảo sát truyện Phục Hy (伏羲考)”, Văn Nhất Đa đã sưu tập được 49 dị bản
về thần thoại quả bầu, phần lớn truyện ông sưu tập được là ở miền Nam Trung Quốc Đặng Nghiêm Vạn đã sưu tập được hàng trăm dị bản Thực tế không phải chỉ
ở Việt Nam, cũng không phải chỉ ở vùng Đông Nam Á, cũng không phải chỉ ở phía Nam Trung Quốc, mà truyện bầu mẹ là một truyện ở rất nhiều nơi trên thế giới Đặng Nghiêm Vạn cũng đã có nhận xét rằng: đây là “một truyện phổ biến nhất ở hầu khắp thế giới nhưng lại mang sắc thái bản địa rất rõ rệt Huyền thoại đó không bắt nguồn từ một trung tâm, không có một nguồn gốc chung… Các nhà dân tộc học
và folklore đều thấy ở huyền thoại này nhiều yếu tố văn hóa cổ độc đáo, biểu hiện rất đa dạng tùy theo tâm thức và hoàn cảnh sinh sống của các dân tộc người trong từng khu vực lịch sử văn hóa nhất định… Điều đáng ngạc nhiên là huyền thoại này
có tính phổ biến, không một tộc người nào cho đến nay là không có, chí ít một văn bản Các văn bản đều có nét chung nhất, nhưng lại được thể hiện rất đa dạng tùy theo hoàn cảnh sinh sống và trình độ phát triển kinh tế xã hội của tộc người ấy” [108, tr 50]
Truyện của người Thái ở Tây Bắc thì kể rằng quả bầu mọc bên bờ sông Nậm Rốm đã đẻ ra người Thái, người Xá Truyện của người Dao thì kể từ vỏ, cùi, hạt
Trang 35bầu đều hóa thành người Vỏ bầu ít hóa thành người Dao, người Mèo trên núi cao Cùi bầu nhiều hơn thì hóa thành người Tày, người Nùng ở Lưng chừng núi Còn vô vàn hạt bầu hóa thành người Kinh ở vùng thấp, vùng đồng bằng đông đúc Truyện của người Khơ Me kể rằng: Trái bầu mẹ được gác bếp, những đứa trẻ ra đời sau ít
bị khói chính là tổ tiên của người Khơ Me, Kinh và các dân tộc khác Truyện Quả
bầu vàng của dân tộc Ê Đê kể rằng: Khi ngọn lửa đã tắt hẳn, trời đất trở lại sáng
sủa, hai anh em Khốt và Kho chạy ra xem, họ thấy trái bầu thủng một lỗ khá rộng
và nghe có tiếng người nói rì rầm trong đó Bất thần có hai người trong ruột trái bầu chui ra, rồi tiếp đến hai người nữa, cứ thế từng đôi một cứ ra mãi, ra mãi Tất cả là hơn sáu mươi đôi, đôi nào cũng có một trai một gái Khốt và Kho chia các con đi khắp nơi để sinh cơ lập nghiệp Hai người ra đầu tiên đi về phía mặt trời mọc, nơi
ấy có đồng bằng và biển Đông bao la lộng gió Họ là tổ tiên của người Kinh bây giờ Những người sinh ra tiếp sau đó đi về vùng rừng núi phía Bắc trùng điệp Họ là
tổ tiên của các dân tộc Mèo, Mán, Tày, Nùng, Thái… ngày nay Những người sinh
ra sau nữa đi về vùng núi phía Bắc gần hơn, họ là tổ tiên của các dân tộc ít người miền Trung: Kơ Tu, Bru - Vân Kiều, Tà Ôi… Những người sinh ra sau cùng đi về vùng núi phía Nam hùng vĩ, họ là tổ tiên của các dân tộc Tây Nguyên: Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ…
Truyện của người Mường kể rằng Trời làm hạn hán, nắng suốt 12 năm Vị thần cai quản mặt nước Ông Pồng Pêu ngồi đàn chài, mới ước cho mưa, chín ngày sau mưa về Nhờ có Ông Pồng Pêu ước nước mà đất đai ngấm nước, mới mọc được cây si, rồi đẻ ra mường, có người và muôn vật ngày nay Ở dân tộc Chăm, còn có
truyện kể về dòng họ như Truyện họ Cau kể rằng trong vườn của một nhà vua
Chăm ngày xưa có trồng một cây cau rất kì lạ Trên cây cau đã mọc một cái hoa (cái bẹ), nhưng hoa nằm mãi trên thân cây mà không nở ra nụ, ra trái như thường lệ Vua lấy làm lạ, bèn cho quân hầu trèo lên cây lấy bẹ hoa cau xuống Bổ ra, thấy trong đó không phải là buồng cau mà là một em bé rất khôi ngô, có mang cả thanh kiếm thần nữa Thấy điềm lạ, vua bèn nuôi dưỡng em bé thần kì và sau này vua
Trang 36Chăm truyền ngôi lại cho cậu bé thần kỳ đó Từ đó, cậu bé con của cây cau thần kỳ trở thành thần tổ tiên của một ngành người Chăm
C Động vật sinh ra người
Gặp nhiều nhất không phải là động vật đẻ ra người trực tiếp, mà là động vật
đẻ ra người gián tiếp như chim đẻ ra trứng, trứng nở ra người hoặc con chó đẻ ra quả bầu, từ bầu chui ra người…
Chim đẻ ra trứng, trứng nở ra người ở Việt Nam là một mô típ thường gặp Ở dân tộc Kinh thì có mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng, nở ra trăm con Còn ở các dân tộc ít
người thì có truyện Trứng Điếng trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường kể
chuyện đôi chim Tùng, chim Tót, có nơi còn gọi là chim Ây cái Ứa hoặc chim Tráng, chim Trò… đẻ ra trứng và trứng nở ra người Hoặc như truyện Chim ông
Tôn trong sử thi Ẳm ệt Luông của người Thái… Những chi tiết được kể trong Đẻ
đất đẻ nước như sau: “Trống chim tào trào, mái chim chiền chiền, liệng vào núi đá
Hang Trống, đi ấp trứng ở núi đá Hang Hào… Nghe ồn ào tiếng Lào, nghe lao nhao tiếng Kinh, nghe ình ình tiếng Môn, nghe nhốn nháo tiếng Siên - quan, nghe xôn xao tiếng Thái, nghe hồi hài tiếng Mán, nghe nhao nhác tiếng Mèo”
Ngoài chim đẻ trứng nở ra người, ở người Tà Ôi, có Sự thích trái bầu mẹ hay
là Truyện Kinh và Tà Ôi là anh em kể rằng: Từ thuở xa xưa, khi trên trái đất chỉ có
loài thú sống với nhau, con người chưa xuất hiện, thì bỗng có một tiếng nổ dữ dội Sau tiếng nổ, mặt đất nứt nẻ và uốn lượn như sóng biển Muông thú kinh hoàng bỏ chạy tán loạn khắp nơi… các con thú vắng bóng chỉ có mỗi hai con chó, một đực và một cái may mắn sống sót Hai con chó sống chung… khi con chó cái đưa đầu xuống uống những ngụm nước mát cũng là lúc nó trở dạ và trong chốc lát nó sinh ra được một atoal (quả bầu) dài Một nửa quả bầu trên cạn còn lại một nửa thì nằm dưới nước Mùa xuân đến, mọi thứ trong rừng đổi thay, quả bầu bỗng dưng cựa mình tan vỡ Từ trong quả bầu có rất nhiều người chui ra, vươn vai lớn dậy và biết chạy nhảy cười nói vui đùa Lúc đầu, số người trong nửa quả bầu trên ra trước và vì dãi nắng dầm sương cho nên nó đen và trở thành người Tà Ôi như ngày nay; còn số
Trang 37người trong nửa quả bầu dưới nước thì lại trắng trẻo và trở thành người Kinh ở đồng
bằng
D Thần hoặc bán thần sinh (tạo) người
Ở đây bao gồm thần sinh ra người hoặc là tạo ra người hai loại Truyện Nữ
Oa tạo người kể rằng: Sau khi đã mở ra trời đất, mặc dù đã có sông núi, có cây cối, chim thú nhưng chưa có nhân loại, thế giới vẫn cô đơn lạnh lẽo Nữ Oa thấy trên thế giới này vẫn thiếu một thứ gì, Nữ Oa đã dùng đất nặn ra con người, Nữ Oa nặn
ra con người liên tục, cuối cùng mệt quá mà vẫn thấy chưa đủ, nên Nữ Oa đã cho dây thừng chui vào đám bùn, xong lấy ra đập và bùn rơi xuống đều thành người Trong truyện của người H’mông kể rằng Ông Chày Bà Chày tạo trời tạo đất, đất quá rộng nên bà Chày đã nắn lại đất Đất thấy đau ran khắp mình mẩy Một chỗ đất
bị căng phồng lên, nứt ra Thế là đất trở dạ, sinh đôi được hai người con là gái Gầu
Á và trai Dầu Âu Cả hai lớn nhanh, họ giúp ông Chày bà Chày tu sửa bầu trời và mặt đất, rồi thành vợ thành chồng Gầu Á mang thai, nhưng đẻ con từ ngón tay cái Gấu Á cũng đẻ sinh đôi được hai người con: đứa lớn đặt tên là Chề Tù, đứa bé đặt tên Chề Blù
Trong truyện Ẳm ệt luông của người Thái kể rằng: “…ăn nằm với nhau như
bữa trưa, chiều, nàng Kè mới chửa, chửa sau lưng chửa người Xá, chửa đằng trước chửa người Thái, chửa ngón chân ngón tay chửa Sóc, chửa bên sườn chửa lợn, chửa hươu nai, chửa trong bụng chửa chúa, chửa trên đầu chửa vua…”
Trong truyện Sáng tạo ra loài người của người H’mông có nói nhân vật Chử
Làu (tức ông Trời) lấy đất nặn thân hình con người đầu tiên, hà hơi vào miệng, cho hồn vào bụng, cho tiếng vào cổ họng Con người đàn ông đầu tiên có mắt mũi, có tiếng nói và đi lại trên mặt đất Chử Làu lại nặn tiếp người đàn bà để cho họ lấy nhau, để sinh con đẻ cái đông đúc như ngày nay
Trong thần thoại Thế giới của Then của người Thái kể rằng: Ở vùng Mường
Thanh, Then thả xuống một quả bầu, trong quả bầu đủ muôn loài và muôn vật: ba trăm ba mươi giống Xá, ba trăm ba mươi giống Thái, ba trăm ba mươi giống người
Trang 38khác, cùng với ba trăm ba mươi giống lúa dưới ruộng, ba trăm ba mươi giống cá
dưới nước… Trong truyện Kây Mơxirí - Mó Beela kể rằng, trời tròn với đất bằng
Trời gây lụt hạn, ông bà Kây Mó phải tạo ra sông núi, trồng ngũ cốc nghiền nát rồi nhờ nàng Tiên Út con Trời trộm của cha “bầu máu quý” trộn vào nặn nên loài người được sống lâu Cũng có truyện thì kể rằng Bà Me Bảu chuyên nặn người cho xuống trần gian Bà đã nặn ra người khổng lồ là con cháu Ải Lậc Cậc, to bằng ba quả núi, tai bằng chiếc quạt lúa Họ xuống trần gian qua hai ngàn mùa lúa chín, họ đưa nhau
về trời, vào lúc Ải Lậc Cậc bị Chô Con Din bẻ giò chết Trần gian lại trở lại vắng tanh, Me Bảu lại đúc lớp người khác là giống người bây giờ
E Người đàn ông sinh ra người
Về sự ra đời thần kỳ của Vũ (禹), có bản kể là do người bố Cổn sinh ra từ
bụng Còn Truyện Đất mẹ Na Ma À Mé của dân tộc Hà Nhì kể rằng sau trận lũ lụt
hai anh em chui vào quả bầu sống sót lấy nhau Người chồng mọc u trên khắp thân mình, cả ngón chân, ngón tay cũng nổi lên những cục u; người vợ mọc thêm 7 cái
vú ở phía sau lưng Người chồng đi săn đánh rơi các u ra khắp rừng Mỗi lúc u lại
nở ra một người, người sinh ở chân tay, người sinh ở trên đầu, mỗi người là tổ tiên của một dân tộc và nói một thứ tiếng riêng Sinh ra từ ngón tay cái là người Kinh, người Hán… Sinh ra từ những ngón tay khác là người Thái, người Dao… Người La
Hủ sinh ra từ ngón út Người Hà Nhì sinh ra từ bụng người chồng nên được ở trung tâm Nà Ma À Mé…
F Người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường
Người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường là một mô típ phổ biến trên thế giới Theo Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo, Jesus là do người mẹ thánh mẫu Mary tiếp nhận ý chí của thượng đế mà sinh ra Trong thần thoại Hy Lạp, thần thống trị thế giới Folvkuiya Attis do thần nữ Nana ăn hạnh nhân sinh ra Thần Ares
do Hera ngửi mùi hoa thơm sinh ra Trong sử thi của Phần Lan “Kalevala” nói về chuyện tranh giành ba bảo vật: thần nghiền có thể tự sản xuất ra thóc lúa, thần nghiền có thể tự sản xuất ra muối, thần nghiền có thể tự sản xuất ra vàng Trong đó, anh hùng Vainamoinen là do mẹ cảm ứng gió và sóng sinh ra
Trang 39Ở Trung Quốc có truyện Khương Nguyên giẫm vào vết chân khổng lồ sinh ra Hậu Tắc, Giải Địch nuốt trứng yến mang thai sinh ra Khiết, An Đăng cảm ứng rồng sinh ra Thần Nông, Ác Đăng cảm ứng sao Vượt sinh ra Thuấn, Sa Di chạm vào khúc gỗ sinh ra tổ tiên của dân tộc Di… Trong truyện cổ Việt Nam thì có Âu Cơ sinh ra bọc trứng, nở ra trăm con, có mẹ Thánh Gióng dẫm vào vết chân khồng lồ thụ thai sinh con, mẹ Sọ Dừa uống nước dựng trong sọ dừa thụ thai sinh ra Sọ Dừa, Thạch Sanh là do Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai…
Tất cả các loại đã nói ở trên đều là sinh đẻ thần kỳ, song do hạn chế về thời gian, do tư liệu khá bề bộn nên luận án chỉ chọn nghĩa hẹp của sinh đẻ thần kỳ, tức
là người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường để nghiên cứu Mấy loại sinh
đẻ thần kỳ đã nói ở trên chủ yếu xuất hiện trong thần thoại về nguồn gốc loài người, trả lời câu hỏi con người từ đâu đến Còn người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường đã được mang nhiều dấu ấn văn hóa của nhân loại Ở đây, chủ thể sinh đẻ thần kỳ là người và là người phụ nữ
trên thế giới Trong Từ điển “Motif index of folk - literature (sách tra cứu mô
típ của văn học dân gian)” của Stith Thompson, Từ T500 đến T612, tác giả đã liệt
kê ra những mô típ sinh đẻ thần kỳ như T500 là do ăn mang thai, T522 do cảm ứng mưa mang thai, T524 do cảm ứng gió mang thai, T531 ngẫu nhiên tiếp xúc với người đàn ông mang thai
Nguyên nhân xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ có lẽ đầu tiên là do người nguyên thủy không biết nguyên nhân sinh đẻ, không biết người phụ nữ sinh con là
do sự kếp hợp giữa nam giới và nữ giới Người ta đã nỗ lực tìm một phương thức lí giải cho việc mình mang thai đẻ con Đó có thể là do ăn, uống phải một cái gì hoặc
do tiếp xúc với một thứ gì đó Người cổ đại quan niệm vạn vật hữu linh, do vậy mà
Trang 40mọi sự vật đều có thể gợi ý đến việc làm cho con người mang thai Từ thực vật, động vật, đến những hiện tượng tự nhiên, những vật dụng trong cuộc sống đều có linh hồn, đều có thể làm con người mang thai sinh con đẻ cái Ngoài tín ngưỡng vạn vật hữu linh, mô típ sinh đẻ thần kỳ còn thể hiện những tín ngưỡng dân gian như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng về nhật nguyệt tinh tú Thời nguyên thủy, một cộng đồng người chủ yếu chiếm thế thượng phong bằng dân số Hơn nữa, sinh đẻ là việc duy trì nòi giống, là một việc rất quan trọng đối với nhân loại Vì thế, những người đàn bà, với tư cách là mẹ - người duy nhất chắc chắn đã sinh ra thế hệ trẻ được tôn kính đặc biệt Đó là nguyên nhân quan trọng dẫn đến người phụ nữ có quyền tuyệt đối trong xã hội và từ đấy hình thành xã hội mẫu quyền
Mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam tương đương khái niệm thần thoại cảm sinh của Trung Quốc Khái niệm cảm sinh trong sinh đẻ thần kỳ là một khái niệm rộng, nó không đơn thuần chỉ một người phụ nữ cảm ứng thiên nhiên mang thai đẻ con Cảm ứng có thể từ động vật, thực vật hoặc những đồ vật trong đời sống Dựa vào phương thức cảm ứng chúng tôi chia mô típ sinh đẻ thần kỳ thành sáu loại như sau:
1 Ăn, uống phải dị vật