1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu hiệu quả của kỹ thuật sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán các bệnh lý hô hấp

7 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 308,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số tổn thương trong lồng ngực.

Trang 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của

kỹ thuật sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số tổn thương trong lồng ngực

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết bị sinh thiết cắt với cỡ nòng kim

dẫn đường từ 17-19G và cỡ nòng kim cắt 18-20G được sử dụng trong nghiên cứu (Ste-ricut, TSK-Nhật Bản) Từ tháng 01/2013 đến 05/2014, sinh thiết 51 trường hợp có tổn thương phổi và trung thất tại Bệnh viện 175 Kích thước tổn thương từ 1 – 15cm (trung bình 4,6 ± 2,9cm)

Kết quả: Số lần sinh thiết trung bình là 1,1 lần/bệnh nhân Tất cả các mảnh sinh

thiết đều đáp ứng đủ điều kiện để chẩn đoán mô bệnh, thành công của kỹ thuật là 100% 36/51 trường hợp được chẩn đoán xác định (70,6%), ung thư gặp 26 ca (58,9%) Tràn khí màng phổi gặp 27,5%, tự hấp thu không cần dẫn lưu màng phổi Kết luận: Sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính là kỹ thuật hiệu quả và an toàn trong chẩn đoán các tổn thương trong lồng ngực

Từ khóa: Sinh thiết xuyên thành ngực, tổn thương trong lồng ngực

STUDY ON EFFICIENCY OF CT-GUIDED TRANSTHORACIC BIOPSY

FOR DIAGNOSIS OF RESPIRATORY DISEASES ABSTRACT:

Background: The purpose of this study was to evaluate the effectiveness and safety

of CT-guided transthoracic biopsy in diagnosis of intrathoracic lesions.

Methods: A cutting needle with a 17 – 19 gauge outer needle and a 18 – 20 gauge

inner was used in all patients (Stericut, TSK-Japan) From January 2013 to May 2014,

we performed 51 cases of CT-guided transthoracic biopsy for patients with

intratho-NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT SINH THIẾT XUYÊN THÀNH NGỰC DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA CẮT LỚP VI TÍNH TRONG

CHẨN ĐOÁN CÁC BỆNH LÝ HÔ HẤP

Nguyễn Hải Công 1 , Hoàng Thanh Toàn 1 , Nguyễn Thùy Minh 1

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Hải Công (nguyen_med@ymail.com)

Ngày gửi bài: 02/4/2015; Ngày phản biện đánh giá: 10/4/2015

Trang 2

racic lesions in Hospital 175 Lesions varied in size from 1cm to 15cm (mean size 4,6 ± 2,9cm)

Results: Average number of biopsies was 1,1/ patient All yielded specimens

ad-equate for histopathologic evaluation, consistent with the successful rate of 100% 36

of 51 cases were with definite diagnosis (70,6%), malignancy was 26 cases (58,9%) Pneumothorax was 27,5%, without requiring thoracostomy tube placement.

Conclusion: The CT-guided transthoracic biopsy is an effective and safe technique

for evaluation of undetermined intrathoracic lesions.

Key words: CT-guided transthoracic biopsy, intrathoracic lesion.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổn thương dạng đông đặc trong lồng

ngực phổ biến trong nhiều bệnh lý hô hấp

khác nhau Chiếm tỷ lệ cao nhất là các

khối u phổi ở ngoại vi, gặp khoảng 40 –

50 % các trường hợp ung thư phổi Bên

cạnh đó các tổn thương đông đặc do viêm,

các u phổi lành tính, các khối u trung thất

cũng gặp nhiều khó khăn trong chẩn đoán

nguyên nhân Với các bệnh nhân có tổn

thương phổi ở vùng ngoại vi, việc lấy bệnh

phẩm từ tổ chức tổn thương phục vụ chẩn

đoán gặp nhiều khó khăn, kể cả nội soi phế

quản cũng khó tiếp cận được Việc tiếp cận

tổn thương trực tiếp qua thành ngực đã

được đề cập và áp dụng trên lâm sàng từ

lâu Mẫu bệnh phẩm có thể được lấy bằng

các kỹ thuật khác nhau như chọc hút tế bào

kim nhỏ hay cắt tổn thương bằng kim sinh

thiết, bệnh phẩm sẽ được xét nghiệm mô

bệnh, tế bào và vi sinh để chẩn đoán Các

kỹ thuật này có thể thực hiện dưới hướng

dẫn của các phương tiện chẩn đoán hình

ảnh như siêu âm, màn hình tăng sáng, cắt

lớp vi tính Sinh thiết xuyên thành ngực

dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính là

phương pháp an toàn, dễ thực hiện, có độ

chính xác cao, tiếp cận được với hầu hết

các tổn thương ở vị trí khác nhau của phổi,

trung thất và lồng ngực Nghiên cứu này

được thực hiện nhằm mục tiêu: Đánh giá

hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán một số bệnh lý hô hấp.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

51 bệnh nhân có tổn thương dạng khối

u trong lồng ngực hoặc đông đặc nhu mô phổi chưa rõ bản chất điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Quân y 175 – Bộ quốc phòng trong thời gian từ tháng 01/2013 – 06/2014

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, can

thiệp lâm sàng có đối chứng

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Bệnh nhân có khối u > 1cm trong lồng ngực, đông đặc nhu mô phổi ≥ 2cm chưa rõ bản chất

- Các xét nghiệm thông thường, bao gồm cả nội soi phế quản âm tính

- Đồng ý thực hiện kỹ thuật

Tiêu chuẩn loại trừ: Có khí phế thủng bong bóng; Nghi ngờ u mạch máu; Đe dọa suy hô hấp; Có rối loạn đông máu; Không

đồng ý thực hiện kỹ thuật sinh thiết

Trang 3

Đánh giá kết quả:

- Thành công kỹ thuật: Mẫu sinh thiết

lấy được đủ tiêu chuẩn xét nghiệm mô bệnh

- Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết

xuyên thành: Mô bệnh có tổn thương đặc

hiệu, xét nghiệm PCR lao dương tính, nuôi

cấy xác định được chủng vi sinh

- Chẩn đoán xác định bệnh: Kết quả mô

bệnh sau phẫu thuật được sử dụng làm tiêu

chuẩn để so sánh với kết quả chẩn đoán của

sinh thiết

Thu thập và xử lý số liệu: Tất cả các

bệnh nhân nghiên cứu được thu thập số liệu

theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống

nhất Số liệu được nhập và xử lý bằng phần

mềm thống kê SPSS 17.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm bệnh nhân và tổn

thương:

Tuổi và giới : Bệnh nhân phân bố đều

theo các lứa tuổi Bệnh nhân dưới 40 tuổi

chiếm 21,6%, bệnh nhân trên 60 tuổi gặp

với 37,3% Tuổi trung bình của đối tượng

nghiên cứu là 53,7 ± 17,3 Tuổi trẻ nhất là

19, tuổi cao nhất là 88

Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới

Tỷ lệ nam/nữ là 1,8

Vị trí tổn thương: Tổn thương phổi

chiếm đa số, trong đó phổi phải gặp với

tỷ lệ cao hơn (55%) Tổn thương ở thùy trên gặp 24 trường hợp, sinh thiết ở các bệnh nhân này thường khó khăn hơn do thành ngực phía trước có cơ ngực lớn dày

và phía sau có sự che lấp của xương bả vai

Tổn thương 2 phổi gặp 5,9%, trung thất gặp 7,8%, màng phổi 2%

Khi sinh thiết các tổn thương ở vị trí thùy giữa, dưới thường thuận lợi hơn vì thành ngực mỏng hơn, vì vậy độ chính xác khi sinh thiết sẽ cao hơn vì khoảng cách từ thành ngực vào đến tổn thương ngắn

Hình thái tổn thương trên XQ ngực:

Tổn thương dạng u tròn chiếm đa số 80,4% Các dạng tổn thương khác gồm viêm phổi,

xẹp phổi, u trung thất ít Chúng tôi thực

hiện sinh thiết ở những bệnh nhân có hình ảnh tổn thương u nghi ngờ ác tính hoặc đông đặc diện rộng, có kết quả nội soi phế quản và xét nghiệm thông thường không định hướng chẩn đoán Các trường hợp đông đặc nhu mô rải rác hoặc tổn thương

kẽ lan tỏa chưa đưa vào nghiên cứu

Bảng 1 Kích thước tổn thương

Gặp nhiều nhất là các tổn thương có

kích thước từ 2 – 7cm Chúng tôi đã thực

hiện sinh thiết thành công 10 bệnh nhân

có tổn thương kích thước dưới 2cm, đây là

các trường hợp khó, trước đây thường phải

chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh sau phẫu thuật Các tác giả trước đây khuyến cáo nên chỉ định sinh thiết cho các tổn thương

có kích thước trên 2cm và độ sâu nhu mô phổi lành dưới 4cm để đảm bảo an toàn

Trang 4

khi sinh thiết.

Theo y văn kích thước khối u có giá trị

gợi bản chất, các khối u trên 3cm thường

là ác tính, tuy nhiên bằng chứng mô bệnh

vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán Trong nghiên cứu,chúng tôi gặp 1 trường hợp khối u 7cm, nhưng khi sinh thiết kết quả mô bệnh là u lao và sau điều trị kháng lao ổn định

Bảng 2 Độ sâu từ thành ngực vào tới tổn thương

Độ sâu từ thành ngực vào tới tổn

thương <5cm gặp 51%, từ 5 – 10cm chiếm

47%, chỉ có 1 bệnh nhân có độ sâu tổn

thương trên 10cm và việc sinh thiết cũng

rất khó khăn, có tai biến tràn khí xảy ra

sau sinh thiết Với các bệnh nhân có độ sâu

trên 5cm và nhu mô phổi lành trên 2cm,

chúng tôi sử dụng kim sinh thiết cỡ 20G

để hạn chế tai biến

Sean E.M và cộng sự (2012), thực

hiện sinh thiết 75 lần ở 72 bệnh nhân u

phổi, độ sâu tổn thương trung bình 6,9cm

(2,8 – 12cm) nhận thấy độ sâu tổn thương

là yếu tố làm giảm tính chính xác khi thực

hiện sinh thiết và làm tăng nguy cơ tràn

khí màng phổi

2 Hiệu quả của kỹ thuật

Kích cỡ kim sinh thiết: Chúng tôi sử

dụng kim sinh thiết bán tự động Stericut

cho tất cả các bệnh nhân 76,5% bệnh nhân

được sinh thiết bằng kim cỡ 20G và 23,5% sinh thiết bằng kim 18G Theo Cheung YC, Chang JW (2010), hiệu quả chẩn đoán của các mẫu sinh thiết bằng kim 20G không kém hơn kim 18G một cách có ý nghĩa Đều đáp ứng được về mặt kích thước để phục vụ chẩn đoán mô bệnh và xác định đột biến EGFR ở các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ

Số lần sinh thiết trung bình: Số lần

thực hiện sinh thiết trung bình là 1,1 lần/ bệnh nhân: 46 bệnh nhân sinh thiết 1 lần

và 5 bệnh nhân sinh thiết 2 lần Các tác giả khuyến cáo có thể thực hiện sinh thiết trung bình 3 lần cho mỗi bệnh nhân nếu chưa xác định được chẩn đoán Theo Sean E.M và cộng sự (2012), việc lấy được các mẫu bệnh phẩm ở nhiều vị trí khác nhau trong cùng 1 tổn thương sẽ giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán

Trang 5

Bảng 3 Kết quả chẩn đoán sau sinh thiết

Mẫu bệnh phẩm của sinh thiết phổi

cắt giúp chẩn đoán xác định 36/51 trường

hợp, đạt hiệu quả 70,6% Có 15 trường

hợp kết quả chẩn đoán mô bệnh là viêm

không đặc hiệu, loại trừ ác tính và được

coi như là cơ sở định hướng chẩn đoán

Ung thư phế quản chiếm tỷ lệ cao nhất là

51% Tổn thương mô bệnh học dạng viêm

gặp 29,5%, đây là các trường hợp có chỉ

định sinh thiết lần 2

Đa số bệnh nhân nghiên cứu là các

trường hợp có tổn thương dạng u, giải

thích cho tỷ lệ chẩn đoán ác tính cao hơn

so với các bệnh lý khác Đối với các tổn

thương lành tính ở phổi, các nghiên cứu đều ghi nhận tỷ lệ thấp có hình ảnh mô bệnh học sinh thiết điển hình Đồng thời khi mô bệnh, tế bào không thấy hình ảnh

ác tính cũng không nên xem là cơ sở chẩn đoán lành tính Trong nghiên cứu này, bên cạnh xét nghiệm mô bệnh học, chúng tôi

đã thực hiện nuôi cấy định danh vi khuẩn

và xét nghiệm PCR lao từ mẫu sinh thiết lấy được để chẩn đoán Trong 2 trường hợp u lao được chẩn đoán xác định bằng sinh thiết, có 01 trường hợp được chẩn đoán dựa vào PCR lao mẫu bệnh phẩm sinh thiết dương tính

Bảng 4 Độ nhạy, độ đặc hiệu của kỹ thuật trong chẩn đoán ung thư

Chẩn

đoán sinh

thiết

Chẩn đoán

(%)

Độ đặc hiệu (%)

Tiên đoán dương (%)

Tiên đoán âm (%)

Ác tính Lành tính

Chúng tôi sử dụng kết quả chẩn đoán

giải phẫu bệnh sau phẫu thuật làm tiêu

chuẩn so sánh với kết quả chẩn đoán của

kỹ thuật sinh thiết Có 15 bệnh nhân được phẫu thuật sau khi có chẩn đoán sinh thiết phổi cắt dưới hướng dẫn CLVT Độ nhạy

Trang 6

của kỹ thuật trong nghiên cứu là 91%, có

01 trường hợp sinh thiết có kết quả mô

bệnh là viêm không đặc hiệu nhưng sau

phẫu thuật có kết quả mô bệnh là ung thư

biểu mô tuyến Độ đặc hiệu và giá trị tiên

đoán dương đạt 100%, giá trị tiên đoán âm

đạt 75%

Các nghiên cứu đã công bố có độ nhạy

chẩn đoán từ 70 – 90% và độ đặc hiệu đạt

90 – 100%

Tai biến của kỹ thuật: Đau tại chỗ

gặp hầu hết ở các bệnh nhân sinh thiết

(90,2%), chủ yếu là đau nhẹ không cần xử

trí hoặc chỉ cần giảm đau thông thường

Tràn khí màng phổi gặp 27,5%, tất cả đều

ở mức độ ít tự hấp thu không cần can thiệp

hút hay dẫn lưu 01 trường hợp ho ra máu

nào sau sinh thiết Một số nghiên cứu đánh

giá về tai biến của kỹ thuật nhận thấy tràn

khí màng phổi gặp 17 – 54% và chảy máu

các mức độ gặp 2 – 10% là những tai biến

nặng hay gặp Trong nghiên cứu, chúng

tôi chỉ thực hiện gây tê tại chỗ bằng

Li-docain 2%, có thể việc sử dụng kết hợp thuốc giảm đau và an thần trước sinh thiết

sẽ giúp giảm cảm giác đau tại chỗ khi sinh thiết Các trường hợp tràn khí gặp ở những bệnh nhân có khoảng cách nhu mô phổi lành sâu (từ màng phổi thành đến bờ ngoài tổn thương), việc cho bệnh nhân thở ra và nhịn thở khi chọc kim sẽ giúp hạn chế tai biến tràn khí nặng

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật

Qua nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí, kích thước, độ sâu tổn thương và kích cỡ kim sinh thiết sử dụng, chúng tôi mới chỉ ghi nhận yếu tố độ sâu tổn thương có gây ảnh hưởng đến hiệu quả của kỹ thuật sinh thiết

Độ sâu tổn thương và số lần sinh thiết: 100% bệnh nhân có độ sâu trên

10cm phải sinh thiết lần 2 và không có trường hợp nào độ sâu từ 5 – 10cm cần phải sinh thiết lại lần 2 (p < 0,05)

Bảng 5 Độ sâu tổn thương và tai biến gặp phải

Độ sâu tổn

thương

Có tràn khí màng

64,3% bệnh nhân có độ sâu tổn thương

5 - 10cm và % bệnh nhân có độ sâu từ 5

– 10cm có tai tràn khí màng phổi Theo

chúng tôi, với các tổn thương sâu trên

10cm, nên thận trọng khi tiến hành sinh

thiết Có thể thực hiện kỹ thuật chọc hút

kim nhỏ xuyên thành ngực để chẩn đoán

trước, sinh thiết chỉ nên thực hiện sau khi chọc hút thất bại và cũng chỉ lựa chọn kim sinh thiết nhỏ, kích cỡ 20 – 22G

Theo Rizzo S, Preda L (2011), độ sâu tổn thương và kích thước tổn thương nhỏ

là các yếu tố gây tăng nguy cơ tràn khí màng phổi khi sinh thiết

Trang 7

Kee-Min Yeow (2004), kích thước tổ

thương < 2cm là yếu tố liên quan đến tỷ

lệ tràn khí và ho máu cao sau sinh thiết

Đồng thời , độ sâu nhu mô phổi lành 0,1

- 2cm gây nguy cơ tràn khí cao hơn 7 lần

so với các tổn thương nằm sát màng phổi

thành

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu rút ra một số kết luận

sau:

- Số lần thực hiện sinh thiết trung bình

là 1,1 lần/bệnh nhân: 46 bệnh nhân sinh

thiết 1 lần và 5 bệnh nhân sinh thiết 2 lần

- Hiệu quả chẩn đoán xác định của

kỹ thuật đạt 70,6% Ung thư chiếm tỷ lệ

58,9%, các bệnh lý khác gặp với tỷ lệ thấp

- Trong chẩn đoán ung thư phổi: Độ

nhạy của kỹ thuật trong là 91% Độ đặc

hiệu đạt 100% Giá trị dự báo dương

100%, dự báo âm tính 75%

- Tai biến : Đau tại chỗ gặp hầu hết ở

các bệnh nhân sinh thiết Tràn khí màng

phổi gặp 27,5%, đều ở mức độ ít tự hấp

thu Tổn thương ở sâu trên 5cm là yếu

tố ảnh hưởng đến nguy cơ tràn khí màng

phổi

- Sinh thiết xuyên thành ngực dưới

hướng dẫn của CTscaner là kỹ thuật an

toàn và hiệu quả vượt trội trong chẩn đoán

các tổn thương dạng đông đặc trong lồng

ngực Thực hiện sinh thiết lấy mẫu xét

nghiệm mô bệnh, tế bào và vi sinh cũng

có giá trị cao trong chẩn đoán các bệnh lý

lành tính ở phổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anderson JM, Murchison J, Patel

D (2003), “CT-guided lung biopsy: factors

influencing diagnostic yield and complication rate” Clin Radiol; 58: 791-7

2 Geraghty PR, Kee ST, McFarlane

G, et al (2003), “CT-guided transthoracic

needle aspiration biopsy of pulmonary nodules: needle size and pneumothorax rate” Radiology; 229: 475-81

4 Kee-Min Yeow, MD; I-Hao Su, MD; Kuang-Tse Pan,et al (2004), “Risk

factors of pneumothorax and bleeding: Multivariate analysis of 660 CT-Guided

coaxial cutting needle lung biopsies”

CHEST; 126:748 –754

5 Laurent F, Latrabe V, Vergier B, et

al (2000), “CT-guided transthoracic needle

biopsy of pulmonary nodules smaller than 20 mm: results with an automated 20-gauge coaxial cutting needle” Clin Radiol; 55: 281-7

7 Priola AM, Priola SM, Cataldi

A (2007), “Accuracy of CT-guided

transthoracic needle biopsy of lung lesions: factors affecting diagnostic yield” Radiol Med; 112: 1142-59

8 Sean E.M, Kevin N.O, et al (2012),

“Evaluation of the Efficacy and Safety of

Percutaneous Biopsy of Lung” The Open

Respiratory Medicine Journal, 2012, 6, 82-88

9 Yamagami T, Yoshimatsu R, et

al (2012), “Diagnostic performance of

percutaneous lung biopsy using automated biopsy needles under CT-fluoroscopic

guidance for ground-glass opacity lesions”

Br J Radiol 2013;86:20120447

Ngày đăng: 16/07/2020, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w