1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Viêm niêm mạc miệng trong hóa xạ trị đồng thời ung thư vùng đầu cổ tại Bệnh viện Quân y 175

8 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 333,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát đặc điểm viêm niêm mạc miệng cấp tính ở các bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ được điều trị bằng hóa-xạ trị đồng thời tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Quân y 175.

Trang 1

Tóm tắt:

Mục đích: Khảo sát đặc điểm viêm niêm mạc miệng cấp tính ở các bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ được điều trị bằng hóa-xạ trị đồng thời tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Quân y 175.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 75 bệnh nhân ung vùng đầu cổ được điều trị bằng hóa xạ đồng thời phác đồ cisplatin liều thấp mỗi tuần phối hợp xạ trị ngoài vào bướu nguyên phát/nền bướu và hạch cổ.

Kết quả: Viêm niêm mạc miệng độ 1 - 2 là 82,6% và độ 3 chiếm 17,4 %, không có trường hợp nào độ 4 và tử vong, 96 % xuất hiện trong 10 lần đầu của xạ trị, 4% xuất hiện vào ngày thứ 11-15 của xạ trị Thời gian hồi phục đều trong vòng 21 ngày sau xạ Tất cả các bệnh nhân đều hoàn thành phác đồ điều trị.

Kết luận: Mức độ độc tính trên niêm mạc miệng có thể chấp nhận được khi điều trị các bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ bằng hóa-xạ trị đồng thời với cisplatin liều thấp mỗi tuần.

Từ khóa: ung thư vòm hầu, ung thư thanh quản, hóa-xạ trị đồng thời, Cisplatin, oral mucositis, toxicity.

ORAL MUCOSITIS IN CONCURRENT CHEMORADIOTHERAPY FOR

PATIENTS WITH HEAD AND NECK CANCER

Abstract:

Purpose: To carry out a survey of acute oral mucositis in Head and Neck Cancer

VIÊM NIÊM MẠC MIỆNG TRONG HÓA-XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI UNG

THƯ VÙNG ĐẦU CỔ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Phạm Thành Luân * , Trần Song Hiếu * Nguyễn Đăng Huy * , Nguyễn Thị Thanh Thúy *

(*) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Phạm Thành Luân (Email: dr.phamthanhluan@gmail.com) Ngày nhận bài: 10/3/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 26/4/2016

Ngày bài báo được đăng: 30/6/2016

Trang 2

patients with concurrent chemoradiotherapy at Oncology center, 175 Hospital.

Objectives and methods: The study was conducted over 75 patients having Head and Neck Cancer with low dose of Cisplatin every week combined teletherapy at primary tumor or tumor base and regional lymph nodes

Results: Oral mucositis of grade 1-2 is 82,6%, grade 3 is 17,4% and none of grade

4 and/or death The result show that 96,0% appeared in the first 10 beam, 4% in 11-15 beam Recovery time estimated in average 21 days after the last external beam radiation had finished

Conclusion: The severity of oral mucositis is acceptable when using weekly low dose cisplatin concurrent chemoradiotherapy in patients with NPC.

Key words: Nasopharyngeal carcinomas, chemoradiotherapy, cisplatin, oral mucositis, toxicity.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hóa-xạ trị đồng thời là phương pháp

điều trị gần như tiêu chuẩn với nhiều loại

ung thư vùng đầu cổ hiện nay [1,3,4,11]

Song song với các lợi ích về tăng tỷ lệ đáp

ứng cũng như tỷ lệ sống còn, hóa-xạ trị

đồng thời cũng làm tăng mức độ nhiều độc

tính cấp và muộn Viêm niêm mạc miệng

là độc tính cấp rất thường gặp trong xạ trị

các bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ Hầu

hết các nghiên cứu cho thấy 100% bệnh

nhân được xạ trị vào vùng đầu cổ đều bị

viêm niêm mạc miệng ở nhiều mức độ

khác nhau(1,2,3), từ đó ít nhiều ảnh hưởng

đến chất lượng điều trị cũng như chất lượng

sống của bệnh nhân Mục tiêu nghiên cứu

này nhằm đánh giá mức độ viêm niêm mạc

miệng của các bệnh nhân ung thư vùng đầu

cổ được điều trị theo phương thức hóa-xạ

trị đồng thời tại Bệnh viện Quân y 175,

từ đó xác định các yếu tố nguy cơ nhằm

có biện pháp dự báo, phòng ngừa và chăm sóc tích cực độc tính cấp này

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng bệnh nhân

Hồi cứu và tiến cứu 75 bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ ( gồm ung thư họng, thanh quản – xoang lê, lưỡi, sàn miệng, nướu răng, amiđan) có chỉ định hóa xạ đồng thời với cisplatin liều thấp mỗi tuần tại Bệnh viện Quân y 175

Bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh: mô học được xác định là carcinôm, tuổi từ 14 đến

75, tổng trạng (PS) 0-2, không suy chức năng tủy, gan, thận (bạch cầu ≥ 4000/mm3,

Hb ≥ 10g/dl, tiểu cầu ≥ 100.000/mm3, bilirubin toàn phần ≤ 1,5 mg/dl, AST/ALT

≤ 2 lần giới hạn trên bình thường, creatinin huyết thanh ≤ 1,5 mg/dl, các trường chiếu

Trang 3

xạ trị có đi qua vùng khoang miệng.

Tiêu chuẩn loại trừ có xạ trị hoặc hóa

trị trước đó, có thai hoặc cho con bú, hoặc

có các bệnh lý nặng đi kèm, các bệnh nhân

không có trường chiếu xạ qua khoang

miệng

2 Xạ trị

Xạ trị với máy gia tốc, hầu hết 4 trường

chiếu, mức năng lượng 6MV hoặc 15MV

(các trường chiếu qua vùng miệng 6MV,

trường hạch cổ 6MV hoặc 15MV theo 3

hay 4 trường chiếu)

Bệnh nhân được xạ trị bằng kỹ thuật

xạ phân liều chuẩn 2Gy/ ngày, 5 phân liều

mỗi tuần Tư thế điều trị nằm ngửa, dùng

hai trường chiếu đối song song vào vòm

hầu và hạch cảnh cao, và 1-2 trường chiếu

trước/ trước sau vào hạch cổ giữa, thấp và

trên đòn 2 bên, có che chì bảo vệ tủy sống

từ đầu hoặc sau 40-44 Gy (tùy vào giai

đoạn hạch) Sau 40Gy sử dụng hai trường

chiếu thu nhỏ đối song song tập trung vào

bướu nguyên phát Hạch nhóm sau (nhóm

V) được sử dụng bằng chùm electron với mức năng lượng thích hợp Tổng liều 70

Gy đối với bướu nguyên phát và hạch di căn, 60 Gy đối với hạch nhóm nguy cơ cao, 50-54 Gy với hạch thuộc nhóm nguy

cơ thấp (xác định nguy cơ theo giai đoạn hạch theo hướng dẫn)[10,11]

3 Hóa trị

Cisplatin mỗi đầu tuần với 6 chu kỳ liên tiếp trong suốt quá trình xạ trị Liều cisplatin là 30mg/m2 da [6,10,11] Bệnh nhân được truyền dịch tổng cộng khoảng 1500- 2000ml NaCl và glucose 5% Xạ trị được tiến hành 2-3 giờ sau khi bắt đầu truyền cisplatin Phòng ngừa nôn ói bằng thuốc chống nôn thông thường hoặc kháng thụ thể 5-HT3

4 Đánh giá độc tính

Đánh giá độc tính cấp dựa trên Tiêu chuẩn đánh giá độc tính chung của Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ (CTCAE) phiên bản 2.1

Đỏ niêm mạc Loét loang lỗ, nhỏ

hoặc có giả mạc

Loét lớn hoặc có giả mạc, chảy máu với sang chấn nhẹ

Hoại tử, chảy máu

tự nhiên, đe dọa tính mạng

Trang 4

KẾT QUẢ

1 Đặc điểm bệnh nhân

Có tổng cộng 75 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu Tuổi trung vị là 51 Đặc điểm bệnh nhân được mô tả qua bảng 1

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

PS

Giai đoạn

III 46 (61,3) IVA 20 (26,7)

Mô học

Type 1 16 (21,3) Type 2 24 (32,0) Type 3 35 (46,7)

2 Thời điểm xuất hiện viêm niêm mạc miệng

Bảng 2: Thời điểm xuất hiện viêm niêm mạc tính theo số lần xạ

Thời điểm Từ 1-5 Từ 5 - 10 Từ 11- 20

Thời điểm xuất hiện viêm chủ yếu xuất hiện ở ngày thứ 5- 10 (86,7%), có 7 ca xuất hiện sớm hơn ngày thứ 5 đều rơi vào các bệnh nhân tre dưới 28 tuổi, có 3 ca xuất hiện sau ngày 10 đều là các bệnh nhân > 60 tuổi

3 Thời điểm xuất hiện viêm mức độ nặng nhất

Bảng 3: Thời điểm xuất hiện viêm nặng nhất tính theo số lần xạ

Thời điểm Từ 20-25 Từ 26- 30 Từ 30 -35

Trang 5

Thời điểm xuất hiện viêm nặng nhất chủ yếu rơi vào ngày thứ 20 đến 30 của xạ trị (97,4%)

4 Mức độ viêm niêm mạc miệng

Bảng 4: Mức độ viêm niêm mạc cao nhất của người bệnh.

Mức độ viêm Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4

Trong nghiên cứu của chúng tôi

viêm niêm mạc miệng độ 1 chiếm 6,6%,

độ 2 chiếm 76,0% , độ 3 là 17,4%

Như vậy có thể thấy 100% bệnh

nhân trong nghiên cứu này có viêm niêm

mạc miệng, trong đó chiếm đa số là mức

độ 2,3 Có 1 trường hợp bị gián đoạn xạ trị

do viêm niêm mạc độ 3 xảy ra ở chu kỳ thứ

6 của hóa trị, bệnh nhân phải ngưng xạ trị

5 ngày Có 1 trường hợp viêm niêm mạc

độ 3 xảy ra sau chu kỳ hóa trị thứ 5 phải ngừng xạ 4 ngày Không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị hoàn toàn Không có trường hợp nào bị viêm niêm mạc độ 4 trong suốt liệu trình trong và sau điều trị

5 Vị trí viêm niêm mạc miệng

Bảng 5: Thống kê các vị trí viêm niêm mạc trong khoang miệng

STT Vị trí viêm Số ca Tỷ lệ

1 Khẩu cái mềm 75 100%

4 Niêm mạc má 75 100%

5 Niêm mạc môi 45 60,0%

7 Nhiễm nấm miệng 60 80,0%

Trong nghiên cứu này cũng giống các

nghiên cứu của tác giả khác 100% đều

viêm tại nhiều vị trí trong đó đều gặp tại

lưỡi gà, màn hầu và khẩu cái mềm [1,2,3].

bỗi nhiễm nấm gây đau, khó ăn, khó nuốt

vì vậy ảnh ưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân

BÀN LUẬN

Trang 6

những độc tính cấp nghiêm trọng nhất

thường gặp trong xạ trị các ung thư vùng

đầu cổ Niêm mạc miệng được phủ bởi

một lớp biểu mô mỏng manh bị tổn thương

sớm, nhưng đồng thời cũng dễ lành vết

thương hơn do có tốc độ phân bào nhanh

miệng chưa được biết rõ một cách đầy đủ,

người ta cho rằng có 02 cơ chế: Viêm niêm

mạc trực tiếp và gián tiếp gây ra bởi xạ trị

hoặc hóa trị Viêm trực tiếp do tổn thương

gây chết tế bào niêm mạc miệng bởi tia

bức xạ hay hóa chất Do đặc tính phân

bào nhanh cùng với máu nuôi phong phú

nên tế bào niêm mạc miệng rất nhạy với

các tác nhân này Lớp tế bào biểu mô của

niêm mạc miệng thường có tốc độ tái tạo

nhanh, mỗi 7 - 14 ngày, điều này làm tăng

độ nhạy tổn thương của niêm mạc miệng

với tia bức xạ hoặc các tác nhân hóa chất

diệt bào Viêm gián tiếp là kết quả của sự

xâm nhập của các vi khuẩn Gram âm và

các vi nấm do nhiễm trùng cơ hội, đặc biệt

dễ xảy ra ở những bệnh nhân có tình trạng

giảm bạch cầu Sự tổn thương của niêm

mạc miệng do các tác nhân bức xạ hoặc

hóa chất thường xảy ra rất sớm Phù nề

niêm mạc miệng xảy ra tuần lễ đầu tiên

của xạ trị, viêm trợt đóng giả mạc vào tuần

lễ thứ 4 - 5, và loét có giả mạc có thể xảy ra

vào tuần lễ 6 - 7 của xạ trị [1,3,4,7] Trong

nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết bệnh

nhân có biểu hiện viêm niêm mạc miệng

vào 2 tuần lễ đầu tiên của xạ trị, biểu hiện

bằng cảm giác nóng bỏng, khám thấy niêm

mạc miệng bóng, ửng đỏ, qua tuần lễ thứ

nhai hoặc nuốt, thường lúc này niêm mạc miệng phù nề rõ, tăng tiết nước bọt

Về vị trí niêm mạc miệng bị tổn thương, các ghi nhận lâm sàng trong nghiên cứu này phù hợp với nhận định của rất nhiều nghiên cứu khác [1,2,5,7,8,9] Vùng vòm khẩu cái mềm và lưỡi gà là những vùng

đễ bị tổn hai nhất do tia bức xạ hoặc các chất diệt bào Đây là những vị trí tập trung nhiều thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì nên rất dễ bị tổn thương [7]

Về mức độ viêm niêm mạc miệng, các nghiên cứu sử dụng cisplatin liều cao mỗi 3 tuần một chu kỳ trong quá trình xạ trị, cho thấy tỉ lệ viêm niêm mạc độ 3 - 4 gia tăng, thay đổi từ 37 đến 62% Trong nghiên cứu của Chan [8,9] về hóa xạ trị đồng thời với liều 40 mg/m2 mỗi tuần, tỉ lệ viêm niêm mạc độ 3 - 4 là 49% Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số 76,0% viêm độ 2, có 17,4% trường hợp viêm niêm mạc miệng

độ 3 thấp hơn so với tác giả Chan So sánh với số liệu trong y văn, tỉ lệ viêm niêm mạc miệng trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối thấp hơn nhóm sử dụng cisplatin liều thấp 40 mg/m2 [10,11]

Mối liên quan giữa viêm niêm mạc miệng và các yếu tố điều trị: Thể tích chiếu

xạ vào vùng hốc miệng càng lớn thì nguy

cơ viêm niêm mạc miệng càng cao Vì vậy trong xạ trị việc che chắn bảo vệ niêm mạc miệng là những vùng không cần thiết xạ trị phải luôn luôn được đảm bảo nghiêm túc Khi phối hợp hóa-xạ trị đồng thời

sẽ làm tăng mức độ trầm trọng của viêm

Trang 7

diệt bào đều tác động trên quá trình phân

bào làm giảm sự tái phục hồi niêm mạc

Tác động hiệp đồng của xạ trị và hóa trị

bên cạnh việc làm tăng khả năng tiêu diệt

các tế bào ung thư đồng thời cũng làm mất

cơ hội cho các tế bào lành của niêm mạc

miệng có thời gian cần thiết để tái tạo lớp

tế bào biểu mô, giúp làm lành vết thương

Kiểu cách phối hợp hóa-xạ trị cũng ảnh

hưởng rất nhiều đến độc tính cấp trên niêm

mạc miệng Nếu hóa trị đa chất sẽ làm tăng

mức độ độc tính độ 3 lên 20 - 35% so với

sử dụng đơn chất [12]

Mối liên quan giữa một số yếu tố của

bệnh nhân và viêm niêm mạc miệng: Mức

độ viêm niêm mạc miệng sẽ thay đổi khác

nhau tùy theo sự dung nạp của riêng từng

bệnh nhân Tuy nhiên các yếu tố nguy cơ

liên quan làm tăng độc tính cấp trên niêm

mạc miệng bao gồm tình trạng vệ sinh

răng miệng xấu và tuổi trẻ Viêm nướu

răng, bệnh lý viêm nha chu, vôi răng sẽ

làm tăng nguy cơ trầm trọng viêm niêm

mạc miệng vì đây là những ổ vi trùng sẵn

sàng gây nhiễm trùng cơ hội nếu lớp tế bào

biểu mô niêm mạc miệng bị tổn thương do

tia xạ hoặc hóa trị gây ra Mức độ viêm

niêm mạc miệng ở người trẻ và trẻ em cao

gấp 03 lần so với người lớn do niêm mạc

miệng ở những người này mỏng, có tốc

độ phân bào nhanh, dễ nhạy đối với các

tổn thương do hóa trị hoặc xạ trị gây ra

[8,9,12]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi

nhận tuổi trẻ là các yếu tố làm tăng mức độ

trầm trọng của viêm niêm mạc miệng Bên

cạnh đó việc vệ sinh răng miệng tích cực trước, trong và sau xạ là vô cùng cần thiết

để hạn chế độc tính này

Cũng trong nghiên cứa này chúng tôi thấy có 10 bệnh nhân được điều trị oxy cao

áp sau xạ trị tại khoa oxy cao áp Bệnh viện quân y 175, kết quả ở những ca này thời gian hồi phục tốn thương 5-8 ngày, ngắn hơn so với trung bình các bệnh nhân khác, tuy chưa thể khẳng định vì số bênh nhân chưa đủ nhiều để so sánh nhưng cũng phù hợp với nhiều khuyến cáo về tác dụng của oxy cao áp với điều trị tác dụng phụ của

xạ trị

KẾT LUẬN

Viêm da và niêm mạc miệng trên bệnh nhân ung thư vòm hầu được điều trị bằng hóa-xạ trị đồng thời với cisplatin liều thấp mỗi tuần xảy ra ở những mức độ chấp nhận được Chăm sóc răng miệng tích cực, dinh dưỡng đầy đủ, kỹ thuật xạ trị tỉ mỉ, cẩn thận chính xác là những yếu tố quan trọng góp phần làm giảm mức độ độc tính trên niêm mạc miệng, giúp đảm bảo chất lượng sống của người bệnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Huy Quốc Thịnh (2011)” Hóa-xạ trị đồng thời carcinôm vòm hầu giai đoạn tiến xa tại chỗ-tại vùng” Luận văn Tiến sĩ y học

2 Đặng Huy Quốc Thịnh , “Viêm niêm mạc miệng trong hóa xạ đồng thời ung thư vòm hầu, trong tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh , 2010, tập 14, số 4”

3 Lê Chính Đại (2004), “Kết quả

Trang 8

bước đầu của việc sử dụng hóa trị liều thấp

phối hợp đồng thời với xạ trị bệnh ung thư

vòm mũi họng giai đoạn III-IV tại BV K

(2002-2003), trong Y học thực hành, Bộ y

tế xuất bản, tr.56-62

4 Phạm Chí Kiên (2003), “Điều trị

ung thư vòm hầu”, Luận án chuyên khoa

cấp II- Ung thư học, Trường Đại học Y

dược TP Hồ Chí Minh

5 Nguyễn Thị Bích Thủy (2003), “

Hóa trị ung thư vòm hầu di căn tại Bệnh

Viện Ung Bướu TP HCM 1995-1999”, Y

học TP Hồ Chí Minh, phụ bản chuyên đề

ung bướu học, 7(4), tr 100-103

6 Vũ Văn Vũ (2004), “Đại cương hoá

trị ung thư đầu – cổ”, trong: Nguyễn Chấn

Hùng, chủ biên, Ung bướu học nội khoa,

Nhà xuất bản Y học, TP HCM, xuất bản

lần 1, tr 207 – 223

7 Nguyễn Sào Trung (1992), “ Bướu

của đường hô hấp tiêu hóa trên”, trong:

Nguyễn Sào Trung, Nguyễn Chấn Hùng,

chủ biên, Bệnh học ung bướu cơ bản,

Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y

tế TP HCM, tr 29-44

8 Chan AT, Leung SF (2005) “Overall surival after concurrent cisplatin- radiotherapy compared with radiotherapy

alone in locoregionally advanced NPC”, J

Natl Cancer Inst 97, pp 536-539.

9 Chan AT, Teo pM, Ngan RK (2002)

“Concurrent chemotherapy-radiotherapy compared with radiotherapy alone in locoregionally advanced head and neck cancer : progression free survival analysis

of a phase III randomized trial”, J Clin

Oncol 20, pp 2038-2044

10 Failed LS (2000), “Tree dimensional Conformal Radiation Therapy”, in: Gunderson LL and Tepper

EJ, editors, Clinical Radiation Oncology,

1st edition, Churchill Livingstone, New York, pp 236 – 243

11 Al-Sarraf M, Pajak TF, Cooper

JS, et al (1990) “Chemoradiotherapy in patients with locally advanced head and neck carcinoma: a Radiation Therapy

Oncology Group study”, J Clin Oncol 8

(8): 1342 – 1351

Ngày đăng: 16/07/2020, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w