1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tập dịch cân kinh hỗ trợ điều trị viêm quanh khớp vai

8 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 4,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khớp vai là khớp linh hoạt nhất của cơ thể. Nó có nhiều động tác, động tác của cánh tay (ra trước, ra sau, lên trên, vào trong, ra ngoài, xoay tròn) và động tác của riêng vai (lên trên, ra trước, ra sau) . Khớp vai có vận động linh hoạt nhưng bao khớp mỏng, lỏng lẻo, dây chằng không đủ chắc nên nó cũng dễ bị tổn thương nhất.

Trang 1

Khớp vai là khớp linh hoạt nhất của

cơ thể Nó có nhiều động tác, động tác

của cánh tay (ra trước, ra sau, lên trên,

vào trong, ra ngoài, xoay tròn) và động

tác của riêng vai (lên trên, ra trước, ra

sau) Khớp vai có vận động linh hoạt

nhưng bao khớp mỏng, lỏng lẻo, dây

chằng không đủ chắc nên nó cũng dễ bị

tổn thương nhất Trong đó bệnh lý viêm

quanh khớp vai (VQKV) là tổn thương

rất hay gặp VQKV là tên gọi của các

trường hợp đau và hạn chế vận động

khớp vai mà tổn thương ở phần mềm

quanh khớp vai chủ yếu là gân, cơ, dây

chằng, bao khớp

Điều trị VQKV có nhiều phương

pháp như điều trị bằng thuốc, điều trị

bằng y học cổ truyền, điều trị phẫu thuật

với thể đứt rách dây chằng chóp xoay

Đặc biệt điều trị bằng các tác nhân vật

lý kết hợp tập vận động là phương pháp

được lựa chọn tối ưu nhất với cả thầy

thuốc và bệnh nhân được điều trị Với

những bệnh nhân đến điều trị tại khoa Vật Lý Trị Liệu – Phục Hồi Chức Năng (VLTL-PHCN) Bệnh viện Quân Y 175 sau khi được hướng dẫn tập bài tập Dịch cân kinh kết hợp, tập hàng ngày, tại nhà

đã đem lại kết quả điều trị rất khả quan

và nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía người bệnh, không chỉ riêng bệnh

lý khớp vai mà tình trạng sức khỏe cũng các như bệnh lý khác cải thiện rõ

Dịch Cân Kinh hay Đạt Ma Dịch Cân Kinh hay Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh do Đạt Ma Sư tổ, sư trụ trì đầu tiên chùa Thiếu Lâm truyền đạt Năm Đinh Sửu (theo công lịch là năm 917) nhà sư Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp, truyền giáo rồi ở lại Trung Sơn, Hà Nam (của Trung Hoa) xây dựng Thiếu Lâm Tự (Chùa Thiếu Lâm) Việc truyền tụng một tín ngưỡng mới, khác với niềm tin cũ của người bản

xứ, thường dễ sảy ra mâu thuẫn, xung đột nên các đệ tử của Ông vừa lo tu

TẬP DỊCH CÂN KINH HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ

VIÊM QUANH KHỚP VAI

(Yijin Jing exercises in Periarthritis humeroscapularis treatment)

Trần Quang Khang 1 , Vũ Đăng Quyền 1

Nguyễn Ngọc Phương Trang 1 , Phan Thế Anh 1

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Trần Quang Khang (quangkhang76@gmail.com )

Ngày nhận bài: 09/10/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/10/2016

Ngày bài báo được đăng: 30/12/2016

Trang 2

dưỡng, học Phật pháp, vừa phải ra công

luyện tập võ nghệ để tự vệ Từ đó môn

võ Thiếu Lâm ra đời và tồn tại mãi đến

ngày nay

Nhiều người xin nhập môn nhưng

thể chất kém không thể luyện võ được

Sư Tổ Đạt Ma bèn dạy cho một cách tập

luyện để nâng cao thể lực gọi là Dịch

Cân Kinh

“Dịch – thay đổi, Cân – gân cốt,

Kinh – sách quí”

Cách tập này rất đơn giản, chỉ cần

kiên trì tập vẩy tay đúng phương pháp

là sẽ đạt hiệu quả rất lớn: ăn ngon,

ngủ tốt, gân cốt thư thái sức khỏe tăng

cường và đặc biệt là trừ được bệnh tật

như: suy nhược thần kinh, cao huyết áp,

hen xuyễn, các bệnh tim mạch, các bệnh

dạ dày, đường ruột, thận, gan, ống mật,

trĩ nội … rồi bán thân bất toại, đột quỵ,

méo mồm lệch mắt, … đều tiến triển

rất tốt Nhất là các loại bệnh mãn tính

của người cao tuổi hay gặp là thoái hóa

cột sống, thoái hóa xương khớp Trong

đó có bệnh lý Viêm quanh khớp vai rất

thường gặp ở cả người cao tuổi cũng

như người trẻ tuổi do những nguyên

nhân khác nhau

Phương pháp tập luyện:

Trước khi tập, chọn nơi thoáng mát,

yên tĩnh càng tốt, đứng bình tĩnh cho

tâm được thoải mái, đầu óc được thư

thái để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý

Có thể làm những động tác khởi động

nhẹ nhàng thoải mái Phải đi chân trần

và đứng trên một tấm thảm lót chân

hoặc bất cứ miếng đệm lót nào, nhằm

ngăn cách sự tiếp xúc của bàn chân với

mặt đất, nếu không luồng điện sinh học trong quá trình tập luyện sẽ bị thất thoát làm bài tập hiệu quả không cao

Đứng thẳng người ưỡn ngực ra để cột sống được tự nhiên, hai bàn chân song song với nhau dạng ra, ngang với tầm vai của mình Co các đầu ngón chân lại, bám chặt vào mặt thảm như vậy bắp chân và đùi sẽ săn chắc Thót hậu môn _ niệu đạo lại, giống như động tác nín

đi cầu và nín đi tiểu, như vậy tầng sinh môn, mông và vùng tiểu khung cũng sẽ săn chắc, đồng thời thả lỏng cơ thể từ vùng thắt lưng trở lên Suốt buổi tập hai chân như trồng cây xuống đất, từ thắt lưng trở xuống luôn luôn cứng chắc, không suy chuyển Tóm lại đó là tư thế đứng tấn của người luyện võ, cả buổi tập phải làm đúng như thế, nếu không công phu luyện tập sẽ mất gần hết không mang lại kết quả mong muốn

Đầu như dây treo để cổ được thẳng, mặt hướng về phía trước, mắt nhìn một điểm cao hơn mình một tý để cổ không chùng xuống Miệng ngậm tự nhiên, hai hàm răng chạm nhau, lưỡi chạm vùng lợi giữa hai chân răng hàm trên,

để luồng điện được lưu thông Hơi thở bình thường, tư tưởng tập trung trên đỉnh đầu

Ở mỗi bàn tay, năm ngón tay luôn dính vào nhau, thả lỏng tự nhiên chứ không xòe ra Khi đánh tay, lòng bàn tay hướng về phía sau( tức mu tay hướng ra trước) Động tác duy nhất là đánh hai tay từ phía sau Khi đưa hai tay

ra phía trước, hai cánh tay sẽ hợp với thân người một góc 30 độ, Khi đánh tay

Trang 3

ra phía sau một góc 60 độ Tóm lại, khi

đánh hết tay thì đưa tay ra phía trước chỉ

là một cái trớn, không dùng sức, chỉ do

quán tính của việc đánh tay từ phía sau

còn lại mà thôi, do đó chỉ có 30 độ Mỗi

lần đánh tay từ phía trước ra phía sau thì

tính một cái đánh tay (thời gian 1 giây)

Trên phải không, dưới nên có

(thượng hư hạ thực) Đầu nên lơ lửng,

miệng không hoạt động, bụng phải

mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm

dẻo, cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng

và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại

phía sau, ngón tay khép tự nhiên Khi

vẫy, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót

chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân

phải cứng, ngón chân bấm chặt đất như

trên đất trơn Đây là những quy định cụ

thể của các yếu lĩnh khi luyện “Vẩy tay

Đạt Ma Dịch Cân Kinh’ Dựa trên yêu

cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành

trở lên, phải giữ cho được trống không,

buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ

ngợi lung tung, chỉ chú ý tập chung vào

tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có

cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ

tự nhiên (không mím môi), ngực nên

buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên,

cánh tay buông tự nhiên, giống như hai

mái trèo gắn vào vai Từ cơ hoành trở

xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng,

bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên,

mười ngón chân bấm chặt vào mặt đất,

giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái

căng thẳng, xương mông thẳng như cây

gỗ

Khi vẩy tay cần nhớ “lên không,

xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về

phía sau, khi tay trở lại phía trước là do

quán tính, không dùng sức đưa ra phía trước

“Trên ba, dưới bảy” là phần trên để lỏng chỉ độ 3 phần khí lực, phần dưới lấy gắng sức tới bảy phần thể lực, vấn

đề này phải thấu hiểu đầy đủ thì hiệu quả mới tốt

Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi có thể nhẩm đếm lần vẫy tay

MỘT SỐ ĐIỂM CẨN CHÚ Ý Tập đúng: Tập phải tuân theo yếu

lĩnh như trên

Tập đủ: Thời gian tập phải đủ 30

phút, 30 phút mới là đạt yêu cầu cho một lần tập Tương ứng với số lần vẩy tay không nên ít: từ 600 lần đến 1.800 lần cho một bài tập Tập được đến khoảng

20 phút mà thấy trung tiện nhiều chứng

tỏ hiệu quả tập rất tốt

Tập đều: Khi đã tập thì tập thường

xuyên, tập hàng ngày kể cả các ngày lễ, tết Bài tập thường sẽ có hiệu quả sau 3 đến 6 tháng tập liên tục Nếu tập gián đoạn vì một lý do nào đó thì hiệu quả không cao, dẫn đến mất niềm tin vào bài tập Vì vậy cần phải kiên trì duy trì bài tập hàng ngày ít nhất vào buổi sáng sớm sau khi thức dậy hoặc buổi tối trước khi

đi ngủ

Bệnh nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng vẫn phải nhớ thót đít và bấm 10 ngón chân

Số buổi tập: Có thể tập càng nhiều càng tốt Ngưỡng cửa của sự chuyển biến bệnh là 1.800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy 3.000 tới 6.000 Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện

Trang 4

điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ

con số ta tập là thích hợp

Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc

thì nên chậm, chứ không nên nhanh

Bình thường vẫy 1.800 cái hết 30 phút

Vẫy tay tới lúc nửa trừng thường nhanh

hơn lúc ban đầu một chút, đây là lục

động của khí Khi mới vẫy rộng vòng

và chậm một chút Khi đã thuần thì hẹp

vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh

và dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì

nên vẫy chậm và hẹp vòng

Vẫy tay nhanh quá làm cho nhịp tim

đập nhanh, mà vẫy chậm quá thì không

đạt tới mục đích luyện tập là cần cho

mạch máu lưu thông

Vẫy tay nên dùng sức nhiều hay ít,

nặng hay nhẹ ? Vẫy tay là môn thể dục

chữa bệnh chứ không phải môn thể thao

đặc biệt Đây là môn thể dục mền dẻo,

đặc biệt là không dùng sức Nhưng nếu

vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp

vai không được lắc mạnh thì lưng và

ngực, cũng không được

Tóm lại đây là bài tập kinh điển,

tổng hợp động tác của nhiều bài tập

hiện đại như bài tập Kegel điều trị bệnh

lý vùng tiểu khung, bài tập William và

bài tập McKENZIE điều trị bệnh lý

cột sống, và bài tập khí công cổ truyền

(luyện vòng TIỂU CHU SINH), và bài

tập quăng tay hỗ trợ điều trị các bệnh về

gân _ cơ _ khớp trong đó rất hiệu quả với điều trị các bệnh liên quan đến khớp vai nói chung và viêm quanh khớp vai nói riêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Thu Hiền (2005), Đánh giá hiệu quả phương pháp xoa bóp bấm huyệt ĐT VQKV thể đơn thần tại khoa Y học cổ truyền bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội Luận văn Bác sỹ chuyên khoa cấp II, trường Đại học Y Hà Nội

2 10 Lê Thị Kiều Hoa (2006),

“Tập theo tầm vận động khớp”, Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng, NXB Quân đội, tr 181-185

3 Thái Bình Minh & Cộng sự (2009) “Bước đầu đánh giá hiệu quả

ĐT VQKV tại khoa đông y bệnh viện II Lâm Đồng”

4 Liez P, Hoffmann P, Fellêiter P, Horauf K (1998), Interscalene plexus block for mobilizing chronic shoulder stiffness, Wien klin wochenschr Nov 13; 110(21), pp 766-769

5 Sabeti.Aschraf et al (2005): The American journal of Sports medicine Vol 33

Trang 5

Định nghĩa

Pemphigus là thuật ngữ chỉ một nhóm bệnh, có đặc điểm là mất sự kết dính giữa các tế bào thượng bì, biểu hiện trên lâm sàng là bóng nước và trên mô học

là hiện tượng tiêu gai.

Define

Pemphigus is a term for a group of disorders, is characterized by a loss of cohesion between epidermal cells, clinical manifestations are boils on and on histological criteria phenomenon spikes.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Pemphigus là bệnh da bóng nước

hiếm gặp, diễn tiến mạn tính và có

những cơn bộc phát liên tục

Phân loại:

1 Pemphigus tự miễn:

- Pemphigus sâu: sự tách xảy ra sàn

trên màng đáy

+ Pemphigus thông thường

(Pemphigus vulgaris)

+ Pemphigus sùi (Pemphigus

vegetans)

- Pemphigus nông: sự tách xảy ra ở

nông, dưới lớp sừng, ở lớp hạt + Pemphigus lá ( Pemphigus foliaceus)

+ Pemphigus bã (Pemphigus seborrheicus)

- Dạng đặc biệt: Pemphigus do thuốc

2 Pemphigus không do tự miễn:

Cận tăng sinh

Pemphigus do thuốc có thể phát triển qua nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng sau khi sử dụng thuốc

+ Thuốc có thể là nguồn nguyên nhân hoặc kích ứng bùng phát

Nhân một trường hợp điều trị tại khoa A8 Bệnh viện Quân y 175:

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ BỆNH PEMPHIGUS DO THUỐC

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Đình Tổng (nguyenmanhha773@gmail.com)

Ngày nhận bài: 16/10/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 21/10/2016

Ngày bài báo được đăng: 30/12/2016

Trang 6

pemphigus Các bệnh lý tự miễn dịch

khác như lupus, bóng nước dạng

pemphigus, nhược cơ năng thì thuốc

là nguồn gây kích ứng Tuy nhiên phát

triển pemphigus do thuốc được xác

định một phần bởi yếu tố di truyền

+ Pemphigus do thuốc biến mất tự

nhiên trong vòng vài tháng trong đa số

các trường hợp sau khi ngưng thuốc và

dưới điều trị bằng corticoide

+ Pemphigus do thuốc: có lâm sàng

giống như pemphigus thông thường và

pemphigus lá Tổn thương là các bóng

nước nông, vở ra nhanh chóng, lột từng

lớp chảy nước và đóng mài, bóng nước

vỡ ra tạo thành vết lở đau rát, ngứa

không là triệu chứng thường gặp Niêm

mạc miệng có thể bị ảnh hưởng Khàn

tiếng, khó nuốt, mất vị giác ở miệng

Dấu Nikolsky (+)

+ Nhóm Thiol của thuốc thường

gây Pemphigus do thuốc, các thuốc

đó là rifampicine, amoxicillin,

ampicillin, captopril, cephalosporins,

penicillamine, penicilline, piritinol

TÓM TẮT BỆNH ÁN

- Bệnh nhân: Nguyễn Đăng D,

Nam, Sinh 1994

- Địa chỉ: xã thuận an, huyện phú

vang, Thừa Thiên Huế

- Vào viện: ngày 30/09/2016 Số

BA: 16.37486

Bệnh sử: Phát hiện lao phổi khoảng

3 năm điều trị không cơ bản Cách nhập viện hơn 1 tháng, xuất hiện sốt nhẹ, ho nhiều, có đàm xanh khám tại

BV Phạm Ngọc Thạch được chẩn đoán: lao phổi AFB (+) có dùng thuốc Sumakin 750mg và duy trì AKuriT4 (Rifampin, Isoniazid, Pyrazinamide và Ethambutol), sau uống thuốc khoảng 1 tuần thì nổi nụm nước ở da vùng cổ và miệng lan ra mặt, thân mình kèm ngứa

ít Trước nhập viện 10 ngày khám tại BV175 được chẩn đoán: thủy đậu, có dùng Aciclovir + Doxycycline, sau 1-2 ngày bệnh tiến triển rầm rộ xuất hiện thêm nhiều bóng nước to cùng tính chất như trên vùng vai và tay 2 bên kèm sốt cao, ho nhiều Nhập khoa Da Liễu BV175

Khám: Tổng trạng gày yếu, mệt mỏi, sốt cao Đau bụng vùng thượng vị,

đi cầu phân lỏng 4-5 lần/ngày

Tổn thương cơ bản: Bóng nước không căng, dễ vỡ trên nền hồng ban, kích thước 1 - 5cm, vỡ ra nhanh đóng mài, bóng nước vỡ ra tạo thành vết loét đau rát, bóng nước chứa dịch vàng trong, nằm rải rác khắp cơ thể, tập trung chủ yếu ở vai và tay 2 bên, tổn thương

ở niêm mạc miệng là những vết loét mặt trong hai má Dấu Nikolsky (+)

Ho nhiều, đàm trắng dính số lượng vừa có lẫn ít dịch hồng, rì rào phế nang

2 phổi rõ, không có ran

Trang 7

Các xét nghiệm:

- Công thức máu BC 4,1K/uL (N: 46,1%) ; HC: 3,96M/uL ; TC:146K/Ul

- Sinh hóa máu Ure: 4,19mmol/L ; Creatinin: 79,6umol/L ; AST: 102,4U/L

; ALT: 44,3U/L ; Na: 124mmol/L ; Ca: 1,79mmol/L ; Albumin: 24,9g/L

- Miễn dịch Procalcitonin: 2,4ng/ml

- Vi sinh AFB (+)

- X-Quang tim

phổi thẳng Tổn thương thâm nhiễm phá hủy phổi phải

- Giải phẫu bệnh Bọng nước ở thượng bì, trong lớp sừng Lòng chứa dịch phù

xen lẫn tế bào viêm gồm tương bào, bạch cầu đa nhân xâm nhiễm viêm rải rác ở lớp bì nông

 Nghĩ tới: bệnh Pemphigus, nghĩ do dị ứng thuốc

Chẩn đoán sơ bộ: Pemphigus / lao

phổi AFB (+)

Chẩn đoán phân biệt: Dị ứng thuốc

Biện luận chẩn đoán:

- Không nghĩ tới dị ứng thuốc vì:

+ Thời gian đã dùng thuốc hơn 1 tháng

+ Không tổn thương niêm mạc + Kang thương đơn dạng chỉ có bóng nước

+ Cận lâm sang: sinh thiết có hình

Hình minh họa

Trang 8

ảnh của Pemphigus.

- Nghĩ tới Pemphigus do thuốc lao vì:

+ Sau dùng thuốc lao

+ Có vết tích bóng nước trong họng

+ Bóng nước đơn dạng Tính

chất bóng nước: Tổn thương ở niêm

mạc miệng là các vết loét.Ở da bóng

nước căng, trên nền hồng ban, dễ vỡ,

Nikolsky (+)

+ Cận lâm sàng:

X-Quang tim phổi thẳng: tổn

thương thâm nhiễm phổi phải, AFB (+)

Giải phẫu bệnh: Bọng nước ở

thượng bì, trong lớp sừng Lòng chứa

dịch phù xen lẫn tế bào viêm gồm tương

bào, bạch cầu đa nhân xâm nhiễm viêm

rải rác ở lớp bì nông

Chẩn đoán xác định: Pemphigus nghĩ

nhiều do thuốc lao/ lao phổi AFB (+)

Đã điều trị:

1 Ngưng thuốc chống lao đang

dùng

2 Corticoide, kháng sinh, kháng

histamin H1, xanh Methylen chấm tại

chỗ tổn thương, tắm thuốc tím

3 Bù dịch điện giải, bù đạm, sinh

tố, nuôi dưỡng

Bênh ổn định ra viện ngày

BÀN LUẬN

Pemphigus do thuốc là bệnh da do

bóng nước tự miễn có tỷ lệ tử vong cao,

tiến triển nhanh và nặng

Trên bệnh nhân này nghĩ nhiều

Pemphigus nguyên nhân do thuốc lao,

chưa xác định được cụ thể thuốc điều

trị lao nhóm nào gây dị ứng vì bệnh

nhân uống viên phối hợp

Khi điều trị đã quyết định dừng thuốc chống lao, dùng Methylprednisolon liều trung bình 1,5mg/kg/ngày, bệnh đáp ứng rất tốt trong thời gian ngắn (các mụn nước xẹp, đóng mài, tổn thương

da khô dần và bệnh nhân hết sốt)

Khi tình trạng bệnh nhân tạm

ổn định, đã nhanh chóng giảm liều corticotide và cắt để tránh tình trạng

lệ thuộc, hạn chế tác dụng phụ của corticotide và hạn chế nguy cơ lao phổi bùng phát nặng

Kết hợp với chuyên khoa lao - bệnh phổi để dùng thăm dò từng nhóm thuốc lao riêng lẻ và tầm soát nhóm thuốc lao gây bệnh

KẾT LUẬN

Pemphigus có tỷ lệ tử vong cao Tuy nhiên, Pemphigus do thuốc thường giảm sau khi loại bỏ tác nhân gây bệnh Trong một số bệnh nhân, các tổn thương

có thể diễn tiến lâu dài, ở trường hợp này thuốc giống như là nguồn kích thích bùng phát Pemphigus

Khi xác định điều trị Pemphigus

do thuốc chống lao khi BN đang điều trị phác đồ chống lao, phải phối hợp với chuyên khoa Lao đánh giá tình trạng tổ thương phổi do lao, đáp ứng điều trị lao, để có chỉ định điều trị hợp

lý tránh làm giảm hiệu quả điều trị lao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Habif (2010), Fitzpatrick 2008

2 Nguyễn Văn Út (1990), Bệnh Pemphigus Da liễu thực hành

Ngày đăng: 15/07/2020, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w