1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của hóa xạ trị đồng thời trước mổ ung thư trực tràng giai đoạn II, III theo các nghiên cứu thực hành lâm sàng kinh điển và hướng dẫn của NCCN Version 2-2017

9 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 732,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều trị ung thư trực tràng là một trong những điều trị đa mô thức điển hình bao gồm vai trò của phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và liệu pháp nhắm trúng đích. Trong các mô thức điều trị trên vai trò của phẫu thuật luôn được đặt lên hàng đầu đặc biệt là các giai đoạn sớm (T1-2, N0, M0).

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều trị ung thư trực tràng là một

trong những điều trị đa mô thức điển

hình bao gồm vai trò của phẫu thuật,

hóa trị, xạ trị và liệu pháp nhắm trúng

đích Trong các mô thức điều trị trên

vai trò của phẫu thuật luôn được đặt

lên hàng đầu đặc biệt là các giai đoạn

sớm (T1-2, N0, M0) Bên cạnh đó vai

trò của hóa-xạ trị cũng ngày càng được

khẳng định đặc biệt là các giai đoạn

trung gian và muộn Đối với ung thư

trực tràng giai đoạn II, III (T3-4, N0

hoặc T bất kỳ, N1/N2, M0) từ lâu đã

thống nhất có vai trò của phẫu thuật, xạ trị và hóa trị Tuy nhiên thứ tự tiếp cận các mô thức điều trị trên không phải

là hoàn toàn đồng thuận giữa nhiều chuyên gia ung thư và nhà ngoại khoa tiêu hóa

Trên thế giới trước những năm

1995, hầu hết các nghiên cứu và các hội nghị đồng thuận đều đề cập đến vai trò của phẫu thuật trước và hóa xạ trị

bổ trợ sau đối với ung thư trực tràng giai đoạn II, III [1,2,3] Tuy nhiên, từ sau 1995 theo hội nghị đồng thuận các trường phái Châu Âu và năm 2000 theo hội ung thư Bắc Mỹ đều thống nhất

VAI TRÒ CỦA HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TRƯỚC MỔ UNG THƯ TRỰC TRÀNG GIAI ĐOẠN II, III THEO CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH LÂM SÀNG KINH ĐIỂN VÀ HƯỚNG DẪN

CỦA NCCN VERSION 2-2017

(Pre-operartive concurrent chemoradiation for stage II-III rectal cancer according classic clinical research and lastest NCCN guidelines updates)

Phạm Thành Luân 1 , Nguyễn Minh Tính 1 , Lê Thị Thanh 1

Nguyễn Đăng Huy 1 , Nguyễn Thị Kim Oanh 1 , Cao Văn Khánh 1

(1) Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): Phạm Thành Luân (dr.phamthanhluan@gmail.com)

Ngày nhận bài: 15/12/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 21/12/2016

Ngày bài báo được đăng: 30/12/2016

Trang 2

khuyến cáo nên hóa xạ đồng thời trước

mổ cho các trường hợp này Từ đó đến

nay sau nhiều đóng góp của các nghiên

cứu thực hành lâm sàng đã củng cố thêm

mức chứng cứ cho khuyến cáo này Bài

viết này trình bày kết quả của một số

nghiên cứu uy tín về vai trò của hóa xạ

trị đồng thời trước mổ và hướng dẫn

của NCCN (National Comprehensive

Cancer Network Version 2.2017) cho

điều trị ung thư trực tràng giai đoạn II,

III

TỔNG QUAN VỀ PHÂN GIAI

ĐOẠN VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU

TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG

Phân giai đoạn ung thư trực tràng

Theo AJCC 7 (American Joint

Committee on Cancer) ung thư trực

tràng được phân chia giai đoạn như

sau:

T (Khối u):

Tis: carcinoma in situ;

T1: carcinoma xâm lấn tới lớp dưới niêm mạc;

T2: carcinoma xâm lấn tới lớp cơ; T3: carcinoma xâm lấn qua lớp cơ nhưng chưa qua lớp thanh mạc (hay xâm lấn vào mô quanh trực tràng phần ngoài phúc mạc);

T4: carcinoma xâm lấn vào các tạng, cấu trúc lân cận hay thủng

N (Hạch):

N0: chưa di căn hạch vùng;

N1: di căn 1-3 hạch vùng;

N2: di căn 4 hạch vùng trở lên;

M (Di căn xa):

M0: chưa di căn xa;

M1: di căn xa

Trang 3

* Dukes: Phân loại theo Cuthbert

Dukes

** MAC: Cải biên của phân loại

theo Astler-Coller

Bảng 1: Phân chia giai đoạn ung

thư trực tràng

Các mô thức điều trị ung thư trực

tràng

Phẫu thuật:

Phẫu thuật từ lâu đã chứng tỏ vai

trò hàng đầu trong điều trị ung thư đại

trực tràng, dù cho hóa trị và xạ trị thậm

chí là liệu pháp trúng đích có phát triển

đến đâu thì cũng chỉ đóng góp vai trò

điều trị bổ trợ là chủ yếu (trước hoặc

sau phẫu thuật)

Phương pháp phẫu thuật ung thư

trực tràng phụ thuộc vào vị trí của

bướu so với hậu môn, có thể phẫu

thuật nội soi hoặc qua tầng sinh môn,

cắt trước thấp (LAR, TME) hoặc cắt

trước (AR) thậm chí là phẫu thuật

Miles (Abdominoperineal), phẫu thuật

Babcock - Bacon Việc lựa chọn cắt

nối 1 thì hay kì sau cũng phụ thuộc vào

kinh nghiệm của từng trung tâm, bên

cạnh đó vấn đề có bảo tồn cơ thắt trong

những trường hợp nào cũng còn tranh

luận và phụ thuộc vào những phương

pháp điều trị bổ trợ trước và sau đó

nhưng xu hướng thu hẹp chỉ định phẫu

thuật Miles ngày càng được chú trọng

Vấn đề bảo tồn cơ thắt có ý nghĩa quan

trọng vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến

chất lượng sống của bệnh nhân khi phải làm phẫu thuật Miles sẽ mang hậu môn nhân tạo suốt đời

Việc phẫu thuật với mục đích chính

là lấy bỏ khối u và mô mỡ xung quang đặc biệt là khoang mỡ trước xương cùng, mạc treo trực tràng (đoạn cao) và các nhóm hạch theo khuyến cáo, đặc biệt lưu ý đến việc lấy đủ số hạch quy định và đánh dấu lại các vị trí nghi ngờ diện cắt là rất quan trọng nếu là phẫu thuật trước

Tái phát tại chỗ sau khi điều trị ung thư trực tràng vẫn còn là một vấn đề khó khăn do đó các nhà ung thư đã và đang nỗ lực để cải thiện tỷ lệ kiểm soát tại chỗ, tập trung vào các phương pháp điều trị bổ trợ trước hoặc sau phẫu thuật

Hóa trị và liệu pháp nhắm trúng

đích

Vai trò của hóa trị với ung thư trực tràng phụ thuộc giai đoạn: với giai đoạn

I (T1-2, N0, M0) mà không có nguy cơ cao nào khác thì không cần điều trị hỗ trợ, giai đoạn II, III, IV đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu hóa trị làm tăng thời gian sống còn toàn bộ, giảm

tỷ lệ tái phát và di căn xa Điều trị hóa trị thường được áp dụng bổ trợ sau mổ hoặc giai đoạn muộn Với sự phát triển của các thuốc hóa chất và sự phối hợp của các phác đồ ngày càng gia tăng lợi ích và giảm các độc tính trên bệnh

Trang 4

nhân Các tác dụng phụ của hóa trị ung

thư trực tràng nói chung thường nhẹ so

với hóa trị độc tế bào các bệnh lý khác

Các phác đồ hóa trị thường dùng

cho ung thư trực tràng:

5FU +/- Leucovorin;

FOLFOX 4 hoặc FOLFOX 6:

Oxaliplatin + 5FU;

FOLFIRI : Irrinotecan + 5FU;

XELOX, XELIRI: thay 5FU bằng

Capecitabin;

Capecitabin đơn trị

Liệu pháp nhắm đích được áp dụng

cho ung thư trực tràng giai đoạn IV

hoặc tái phát giúp tăng thời gian sống

còn:

Liệu pháp kháng sinh mạch:

Bevacizumab (Avastin) là kháng thể

đơn dòng nhóm tác động lên VEGF

(vascular endothelial growth factor)

làm ức chế tăng sinh mạch khối u đã

chứng minh có thể tăng OS (Overall

survival - thời gian sống còn toàn bộ)

đáng kể ở bệnh nhân ung thư đại trực

tràng tái phát hoặc di căn xa đã được áp

dụng tương đối phổ biến trong điều trị

Cetuximab ức chế sự tăng sinh tế

bào bướu có biểu lộ EGFR (Epidermal

growth factor receptor) gây ra sự chết

tế bào theo lập trình Thuốc này cũng

ức chế sản xuất các yếu tố sinh mạch,

ức chế sự di cư các tế bào nội mô , làm

giảm sự thành lập các mạch máu mới

và di căn Đồng thời có tác dụng ưu thế

ở những bệnh nhân không có đột biến KRAS (KRAS wild type)

Liệu pháp kháng đa đích ức chế phân tử nhỏ Regorafenib (Stivaga) cũng đã chứng minh có hiệu quả về sống còn tuy vậy chi phí điều trị cao là yếu tố quan trọng chưa được sử dụng phổ biến

Xạ trị Giống như hóa trị, xạ trị cũng ngày càng chứng minh được hiệu quả của nó trong điều trị nhằm 2 mục đích chính: Mục đích điều trị hỗ trợ cùng phẫu thuật và hóa trị: thường được áp dụng cho giai đoạn II, III

Xạ trị sau mổ:

Xạ trị nền bướu và hạch chậu liều

xạ thường 45-50,4 Gy có thể boost nền bướu nếu có nghi ngờ tồn dư lên 54Gy, lợi thế của xạ sau mổ là xác định được chính xác giai đoạn bệnh nhưng trường chiếu xạ rộng do phải bao trùm tầng sinh môn và do sau mổ ruột non

bị xuống thấp hơn nằm trong trường chiếu xạ nên dễ gây biến chứng hơn khi

xạ (đau bụng, tiêu chảy, thủng ruột)

Xạ trị trước mổ:

Xạ vào bướu và hạch chậu Có hai phác đồ xạ được khuyến cáo là xạ phân liều chuẩn (45 đến 50,4 Gy phân liều 1,8-2 Gy) hoặc xạ trị giảm phân liều 25Gy/5 lần Xạ trị trước mổ có lợi thế

Trang 5

là giúp khối u, hạch giảm giai đoạn, dễ

cắt trọn hơn, trường chiếu xạ so với sau

mổ cũng hẹp hơn, ít tác dụng phụ hơn

do bệnh nhân có thể nằm sấp đưa bụng

vào hố của phương tiện cố định Belly

board làm cho ruột non ít nằm trong

hố chậu Bên cạnh đó xạ trị trước mổ

theo nguyên tắc sẽ nhạy xạ hơn do mô

bướu còn nhiều mạch máu nuôi so với

xạ sau mổ chỉ còn mô sẹo ít máu nuôi

Đặc biệt xạ trước mổ có nhiều ưu thế

về khả năng bảo tồn cơ thắt và giảm tỷ

lệ tái phát tại chỗ sẽ được chứng minh

bằng các nghiên cứu lâm sàng sẽ trình

bày ở phần sau

Với xạ phác đồ phân liều chuẩn nên

hóa xạ đồng thời, sau xạ trị khoảng 6-8

tuần bệnh nhân nên được phẫu thuật để

hồi phục các tác dụng phụ xạ và cũng

không để quá lâu gây xơ dính và dễ

chảy máu trong phẫu thuật Với phác

đồ xạ trị giảm phân liều bệnh nhân nên

phẫu thuật ngay vào tuần kế sau khi xạ

trị đủ 5 lần

Mục đích giảm triệu chứng: chủ

yếu là xạ trị tạm bợ giảm đau (do chèn

ép bướu hoặc di căn xương), cải thiện

tắc ruột, cầm máu…

Trong một vài trường hợp mà phẫu

thuật không thể đặt ra do các bệnh lý

kết hợp, thể trạng hoặc bệnh nhân từ

chối phẫu thuật thì xạ trị được coi như

biện pháp điều trị với hy vọng triệt để,

lúc này liều xạ có thể boost vào bướu

cao hơn 2-3 phân liều, biện pháp này đôi khi cũng đạt được hiệu quả hơn kỳ vọng ở một số bệnh nhân

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TRƯỚC

MỔ Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu

về vai trò của xạ trị với ung thư trực tràng như đã trình bày ở trên và thấy không có lợi ích của xạ trị với ung thư giai đoạn I, với ung thư giai đoạn II, III

có một số nghiên cứu uy tín quan trọng chỉ ra lợi ích của xạ trị và cách thức phối hợp

Nghiên cứu “Hóa xạ trị đồng thời trước mổ ung thư trực tràng: phân tích

kết quả lâm sàng qua 13 năm kinh nghiệm”của nhóm tác giả từ Trung

tâm Y tế Đại học Duke, Durham, North Carolina, Mỹ

Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu 141 bệnh nhân ung thư trực tràng được hóa

xạ đồng thời trước mổ Tiêu chí đánh giá chính gồm tỷ lệ giảm giai đoạn,

tỷ lệ bảo tồn cơ thắt, và tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mặt giải phẫu bệnh (đưa

về pT0 - tức sau hóa xạ chuyển mổ thì không còn bướu), tỷ lệ sống còn toàn

bộ sau 5 năm (OS) Kết quả:

Kết quả đáp ứng về bướu: Sau hóa xạ trị đồng thời có 61 bệnh nhân được đánh giá bằng siêu âm qua đường trực tràng và MRI thấy: 40% của khối

Trang 6

bướu T2, 55,6% của khối bướu T3 và

100% bệnh nhân khối bướu T4 được

giảm giai đoạn

Kết quả đáp ứng hạch: 75% của

hạch N1 và 75% bệnh nhân hạch N2

được giảm giai đoạn về N0

Nhìn chung, xem xét cả giai đoạn

T và N: có 57% được giảm giai đoạn bằng phác đồ hóa xạ trị đồng thời trước phẫu thuật

Trong số những bệnh nhân giai đoạn II có 26% sau mổ đạt được đáp ứng hoàn toàn về giải phẫu bệnh (tức pT0) bệnh nhân giai đoạn III 20% đáp ứng về pT0

Bảng 2: Kết quả giảm giai đoạn bướu hạch sau hóa xạ đồng thời trước mổ

Trang 7

Về tỷ lệ bảo tồn cơ thắt nhóm tác

giả ghi nhận tỷ lệ bảo tồn trước năm

1996 là 20% và sau năm 1996 là 76%

(vì từ năm 1996 tại trung tâm đã bắt

đầu triển khai phẫu thuật căt trước thấp

(LAR, TME)

Về OS sau 5 năm lần lượt là 74%

và 78 % không thấy có lợi ích sống còn

Nghiên cứu “ Hiệu quả kiểm

soát tái phát tại chỗ lâu dài của hóa

xạ đồng thời trước mổ ung thư trực

tràng giai đoạn T3” của nhóm tác giả

từ Trung tâm ung thư Anderson MD

Texas, Houston, Texas, Mỹ

Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu 431 bệnh nhân có chẩn

đoán ung thư trực tràng giai đoạn T3

được hóa xạ đồng thời phân liều chuẩn

trước mổ, trong số đó có 26 bệnh nhân

thực hiện phẫu thuật Miles và 405

bệnh nhân được phẫu thuật TME, mục

tiêu là đánh giá tái phát tại chỗ sau thời

gian theo dõi trung bình 46 tháng

Kết quả

Tái phát tại chỗ ở nhóm phẫu thuật

Miles là 6%, nhóm phẫu thuật TME là

8,5% sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Khi phân tích riêng các bệnh nhân có đáp ứng đầy đủ với hóa xạ đồng thời trước phẫu thuật ( T0) thì tỷ

lệ tái phát tại chỗ là 6%

Về sống còn toàn bộ sau 5 năm giữa nhóm phẫu thuật Miles và TME lần lượt là 85% và 81%, ở nhóm có đáp ứng đầy đủ với hóa xạ đồng thời trước

mổ là 85%

Nghiên cứu “ So sánh hiệu quả kiểm soát tại chỗ điều trị bổ trợ trước

mổ với sau mổ ung thư trực tràng : kết quả bước đầu từ những nghiên cứu của Đức” của Rofl Sauer , Đức

Thiết kế nghiên cứu:

Tổng 805 bệnh nhân ung thư trực tràng có khối u T3-T4 được phân ngẫu nhiên hóa xạ đồng thời trước (405) hoặc sau (400) phẫu thuật Khoảng cách giữa hóa xạ và phẫu thuật là 6-8 tuần Tiêu chí chính là đánh giá sống còn toàn bộ (OS), tái phát tại chỗ, tỷ

lệ bảo tồn cơ thắt, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô học sau hóa xạ đồng thời (HXĐT) trước mổ (pT0), theo dõi trung bình 43 tháng

Trang 8

Kết quả:

Bảng 3: Kết quả nghiên cứu CAO/CARO/AIO của Rolf Sauer.

CAO/CARO/

AIO

pT0N0 sau HXĐT

Tỷ lệ bảo tồn

cơ thắt Tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 5

năm

Sống còn 5 năm (OS)

HXĐT sau mổ

HXĐT trước

mổ

(405)

(p=0.04)

6%

(p=0.02)

78%

(p=0.38)

KHUYẾN CÁO MỚI NHẤT CỦA

NCCN VỀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TRỰC TRÀNG GIAI ĐOẠN II, III.

Từ những dữ liệu cập nhật và chúng

cứ từ các nghiên cứu lâm sàng tổ chức ung thư thế giới đưa ra hướng dẫn mới nhất cho ung thư trực tràng giai đoạn

II, III như sau

Trang 9

Theo bản cập nhật mới nhất này

với bướu giai đoạn II, III có 3 lựa chọn

chính:

Lựa chọn hàng đầu: Hóa xạ trị đồng

thời phân liều chuẩn với capecitabin

hoặc 5FU truyền liên tục (khuyến

cáo mức 1) hoặc với 5FU bolus +/-

Leucovorin trước , phẫu thuật sau

Lựa chọn thứ hai: Xạ trị giảm phân

liều (không khuyến cáo cho bướu T4),

phẫu thuật sau

Hóa trị: FOLFOX hoặc CAPEOX,

5FU hoặc Capecitabine: khuyến cáo

này cho các bướu lan rộng vùng chậu

mà khả năng phẫu thuật hay xạ trị là

khó khăn

*Bằng chứng khuyến cáo mức 2A

(ngoại trừ phần trích dẫn riêng mức 1)

KẾT LUẬN

Điều trị ung thư trực tràng giai

đoạn II, III cần phải phối hợp đa mô

thức trong đó vai trò của phẫu thuật

vẫn là chủ đạo tuy nhiên các bằng

chứng từ những nghiên cứu lâm sàng

và hướng dẫn của tổ chức ung thư thế

giới (NCCN) khuyến cáo mạnh cho

hóa xạ trị đồng thời trước mổ

Hóa xạ trị đồng thời trước mổ có

lợi ích trong giúp giảm giai đoạn bệnh,

dễ cắt trọn, bướu nhạy xạ hơn, trường

chiếu xạ hẹp hơn ít làm tổn thương cơ

quan lành hơn so với xạ trị sau mổ

Độc tính của điều trị hóa xạ đồng thời

thấp và tỷ lệ biến chứng phẫu thuật có thể chấp nhận được

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Mark Bonne,MD et al (2001)

Long-term results using local excision after preoperative chemoradiation among selected T3 rectal cancer patients Radiation Oncology Biology Phycics , November 15, 2004, volume

60 Issue 4 Pages 1098-1105

2 Mark W Onaitis, MD et al (2001) Neoadjuvant Chemoradiation for Rectal Cancer: Analysis of Clinical Outcomes From a 13-Year Institutional Experience Annals of Sugrey 2001 Jun; 233 (6): 778–785 PMCID: PMC1421320

3 Rolf Sauer, M.D Adjuvant versus Neoadjuvant Combined Modality Treatment for Locally Advanced Rectal Cancer: First Results of the German Rectal Cancer Study (CAO/ ARO/AIO-94) Radiation Oncology Biology Phycics , October 1, 2003, volume 57 Issue 2 Supplement, Pages S124-S125

4 National Comprihensive Cancer Netwrok, Guidelines for treatment version 2.2017 (https://www.nccn org/professionals/physician_gls/pdf/ rectal.pdf)

Ngày đăng: 15/07/2020, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w