1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương

24 774 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 45,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương tuy không còn mới mẻnhưng luôn cần những khám phá mới, để giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn vềcon người và cá tính trong thơ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thơ trào phúng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã trình làng một phòngtranh chân dung đông đảo, cụ thể của những con người có nguyên mẫu từ đờithực, những nhân vật là sản phẩm riêng của xã hội Việt Nam giai đoạn này.Nghệ thuật thơ trào phúng ngày càng được các nhà thơ sử dụng một cách sángtạo trong các sáng tác Nhà nghiên cứu Trần Đình Hựu đã nhận xét rất tinh tếrằng thơ trào phúng đầu thế kỉ XX gặp gỡ vè dân gian Ông viết “Về nghệ thuật,văn chương trào phúng chỉ kế thừa được một di sản mỏng manh: Cái cười củanông dân, cái cười của nhà nho và cái cười Tú Xương lúc đó còn là mới mẻ Mỗinhà thơ, tùy hoàn cảnh sống, quan tâm đến những đề tài gần đời sống nông thônhay thành thị, gần những vấn đề có tính xã hội, phong tục hay những vấn đề thời

sự chính trị Một loại nhà thơ trào phúng đi theo con đường từ vè với cái cườinông dân, và một loại khác đi theo con đường mà Nguyễn Khuyến, Tú Xương

đã đi, với cái cười ít nhiều có tính chất nhà nho hay thị dân.” Đúng vậy mỗi nhàthơ theo những mảng đề tài riêng mà khai thác nghệ thuật trào phúng một cách

có hiệu quả nhất, nghệ thuật thơ trào phúng ngày càng phát triển và nó ngàycàng được hoàn thiện và đưa đến đỉnh cao của nghệ thuật khi đến với thơ HồXuân Hương

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ hiếm thấy nền văn học Việt Nam Thơ văncủa bà mang một cốt cách riêng, một khí khái riêng mà ẩn chứa trong đó là mộtsức sống mãnh liệt luôn chực chờ tuôn trào trong từng câu từng chữ Nghiên cứu

về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương tuy không còn mới mẻnhưng luôn cần những khám phá mới, để giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn vềcon người và cá tính trong thơ của bà, đồng thời hiểu được vì sao những tácphẩm của bà lại có giá trị to lớn đến thế đối với nền văn học nước nhà Vớinhững lí do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật trào phúng trong thơ

Hồ Xuân Hương” là thực sự cần thiết vì vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩathực tiễn rất quan trọng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về thơ trào phúng Hồ Xuân Hương có Bùi Quang Huy đãtừng nghiên cứu trong “Thơ ca trào phúng Việt Nam”, thơ Hồ Xuân Hương

Trang 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

b Nhiệm vụ nghiên cứu:

Làm rõ việc sử dụng tính chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương quacác bài thơ của bà, những nét đặc sắc trong lối sử dụng ngôn ngữ cũng như thủpháp nghệ thuật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận lấy đối tượng nghiên cứu là nghệ thuậttrào phúng trong thơ của Hồ Xuân Hương

- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu trong các tập thơ của Hồ Xuân Hương

5 Đóng góp của đề tài

Với những nghiên cứu đạt được sẽ góp phần bổ sung kiến thức, mở rộnghiểu biết về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương giúp được các bạnsinh viên nắm rõ hơn về nghệ thuật trào phúng trong thơ của Hồ Xuân Hương,cách sử dụng từ ngữ của bà cũng như thành công của bà trong nghệ thuật thơcủa mình và là tư liệu để phục vụ cho công tác giảng dạy thơ Hồ Xuân Hương

6 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phân tích, sosánh kết hợp chứng minh

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG

1.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương

1.1.1 Cuộc đời Hồ Xuân Hương

Cho đến nay, có rất nhiều ý kiến lý giải, xác định những vấn đề thuộccuộc đời và thơ văn của “Bà chúa thơ nôm” (chữ dùng của Xuân Diệu) Chưa ai

có thể khẳng định chính xác bà sinh vào năm nào, mất năm nào và sáng tác chủyếu vào thời kì nào Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ đượckhẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu tạm chấp nhận về tiểu

sử của bà

Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ, quê gốc ở làng Quỳnh Đôi, huyệnQuỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạtnhưng đến thời Hồ Phi Diễn, thân sinh của bà, thì dòng họ này đã suy tàn Theocác nhà nho nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến,Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn ( sinh 1704) Ông thi đậu tútài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái, nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông radạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc để kiếm sống Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh,

họ Hà làm vợ lẽ, Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của tình duyên đó

Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức 1772-1822 Do đó

bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng vàchứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến

Hồ Xuân Hương xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, songhoàn cảnh của cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúnglao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bứctrong xã hội Bà là một người phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành khôngđược nhiều lắm Bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ởlàng thơ văn, các nhà nho Nữ sĩ còn là người từng đi ngao du nhiều danh lamthắng cảnh của đất nước

Là người phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bấthạnh Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đềulàm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc Có thể thấy Hồ XuânHương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã cómột cuộc sống đầy sóng gió

Trang 4

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương nổi tiếng với những sáng tác thơ bằng chữ Nôm, tổngcộng chừng 50 bài Ngoài ra, theo nhiều nhà nghiên cứu, bà còn là tác giả củahai tập thơ: Lưu Hương Kí (gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài thơ chữ Nôm), XuânHương Thi tập gồm khoảng năm mươi bài đường luật

Lưu Hương Kí: Tác giả viết về tình cảm và tâm sự của mình đối vớinhững người bạn trai như các ông Tốn Phong Thị, ông Hiệp Trấn Sơn Namthượng họ Trần, ông Sơn Phủ, ông Trí Hiên … Tình cảm trong bài thơ này thắmthiết, táo bạo

Xuân Hương Thi Tập: Đó là lời nói của một người phụ nữ trực tiếp bênhvực cho phụ nữ, tố cáo những giả dối, bất công của xã hội phong kiến và bày tỏnỗi lòng tha thiết của mình đối với cuộc sống

Đánh giá về thơ Hồ Xuân Hương, sách Tổng tập Văn Học Việt Nam nhậnđịnh “Thơ Hồ Xuân Hương thường bộ lộ tài năng và trí tuệ của một phụ nữtrước những cơn sóng gió của cuộc đời và thời cuộc, lớn tiếng đòi hỏi giảiphóng phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc khắt khe phi lý của giáo điều phongkiến lạc hậu, bảo thủ; nói lên khát vọng được sống, được bình đẳng, mang ýnghĩa phản kháng mạnh mẽ Tiếp nhận và phát huy những tinh hoa của dòng vănhóa dân gian, lời thơ của Hồ Xuân Hương nhiều khi như lưỡi dao sắt ngọt đã xétoạc bộ mặt giả đạo đức của nhiều kẻ tự mạo nhận là “Quân tử”, “Anh hùng”,góp phần hạ bệ nhiều thần tượng chỉ có hư danh trong xã hội phong kiến”

1.2 Thơ Nôm Trào Phúng Hồ Xuân Hương

1.2.1 Khái niệm “ Trào Phúng”

Từ điển Thuật Ngữ Văn Học định nghĩa trào phúng là “Một loại đặc biệtcủa sáng tác văn học đồng thời là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật, trong đócác yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hàihước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêucực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội ”

“Trong lĩnh vực văn học trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học, cái hàivới cái cung bậc hài hước, châm biếm đó là khái niệm bao trùm lĩnh vực vănhọc tiếng cười” Những cung bậc những tiếng cười từ hài hước đến mỉa maichâm biếm, đả kích, bằng thủ pháp gây cười như phóng đại khoa trương … đượcvận dụng một cách phổ biến trong tác phẩm trào phúng Tóm lại hiểu một cáchđơn giản nhất trào phúng là nghệ thuật gây ra tiếng cười mang ý nghĩa phản ánh

Trang 5

xã hội để gây ra tiếng cười trào phúng, tiếng cười hài hước đây là tiếng cười mỉamai, châm biếm sâu cay.Lấy tiếng cười làm phương tiện để biểu hiện một đốitượng nhất định.

1.2.2 Đối tượng trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương

Có thể nói Hồ Xuân Hương là phần tử nữ giới đầu tiên đã làm thơ để giễuđời ở nước ta.Vốn đã mang hồn tính vững vàng của dân tộc để đứng cao mànhìn xuống, đứng ngoài mà ngó vào, lại được sống một thời loạn ly điên đảo,

Hồ Xuân Hương có đủ phương tiện và điều kiện để làm một nhà thơ trào phúngbận rộn Thêm nữa, cái thân thế long đong, duyên phận lỡ làng trong một cá tính

tự do, buất khuất càng làm cho cái cười của nữ sĩ sâu sắc, chân thành Cái cườicủa Hồ Xuân Hương, bắt đầu bằng đối tượng của nó Đối tượng trào phúng của

Hồ Xuân Hương rất rộng: Ðó là những hiền nhân, quân tử, anh hùng, vua chúa,nhà sư, quan thị, những gương mặt nam nhi không xứng mặt nam nhi

Đối với thân mình: đôi khi tác giả chế giễu mình song vẫn không quênbào chữa hay nói vớt lại, bà ưa kể lể và tự giải thích

Có khi bà phân phua:

Đây lũ thư sinh tồi tàn:

Khéo léo đi đâu lũ ngẩn ngơ,

Lại đây cho chị dạy làm thơ…

Dắt díu nhau lên tới cửa chiền,

Cũng đòi học nói, nói không nên…

Bọn tăng ni đạo đức giả:

Khi cảnh, khi tiêu, khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha…

Chày kình tiểu để suông không đấm, Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo.

Đây cảnh ngộ muôn đời của gái chửa hoang:

Trang 6

Cái tội trăm năm chàng chịu cả, Mảnh tình một mối kiếp xin mang.

Một xã hội phác họa như trên thì không có cái gì cá biệt của thời Hồ XuânHương cả Trái với Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương thì không bao giờ chịu ởtrong bức họa tổng quát, đại thể Với ông, xã hội còn và cốt yếu diễn ra bằngnhững nhân vật đích danh, những thói hư tật xấu rõ ràng

Nào ông Tri phủ hạt Xuân Trường Tri phủ Xuân Trường được bốn niên, Nhờ trời hạt ấy được bình yên.

Chữ “Y”, chữ “Chiểu” không phê đến, Ông chỉ phê ngay một chữ “ Tiền”.

Nào ông sư bị ở tù:

Quảng đại từ bi cũng phải tù Hay là sư cụ vụng đường tu?

Đối với tạo vật: đến với xã hội thì đối tượng trào phúng của Trần TếXương dừng lại, nhưng Hồ Xuân Hương thì không thế Ta đã nói rằng bà cườihết thảy và cũng là để gián tiếp giễu đời giễu mình

Làm tuyền tuyến cả phồn hoa lại,

Rõ khéo trời giè đến dở dom!

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc, Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.

Hiền nhân quân tử ai là chẳng, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo!

Tóm lại, đối tượng trào phúng của Hồ Xuân Hương rộng mà hóa hẹp vì

mơ hồ và đồng nhất, đối tượng trào phúng của Trần Tế Xương hẹp mà hóa rộng

vì rõ ràng và phức biệt

Trang 7

CHƯƠNG 2 NÉT ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

2.1 Đề tài phong phú đa dạng

Hồ Xuân Hương sáng tác ở các mảng đề tài rất phong phú và đa dạngnhư: về tình yêu đôi lứa, về cảnh thiên nhiên, về những thói hư tật xấu trong xãhội

2.1.1 Niềm đồng cảm với phụ nữ

Trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, HồXuân Hương là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, bởi vì thơ bà trước hết là tiếngnói tâm tình của người phụ nữ, niềm đồng cảm sâu sắc đối với phụ nữ Trong xãhội phong kiến, phụ nữ là người chịu nhiều thiệt thòi nhất Họ không chỉ chịu ápbức về mặt giai cấp cũng như làm lụng đầu tắt mặt tối, mà còn chịu áp bức vềmặt giới tính, đau đớn về mặt tinh thần còn đau khổ nhiều lần hơn đau khổ vềmặt vật chất Đã có rất nhiều nhà nhân đạo thể hiện niềm cảm thông xót xa vớithân phận người phụ nữ như Người cung nữ (Cung oán ngâm khúc), NgườiChinh Phụ (Chinh Phụ Ngâm Khúc)… đến Hồ Xuân Hương, người phụ nữtrong thơ bà không phải người phụ nữ lầu son, gác tía chinh phụ hay cung tần

mà là những người phụ nữ hết sức bình thường, những người phụ nữ lao độngchịu nhiều bất hạnh trong đời sống

Trong thơ của mình, Hồ Xuân Hương không nói đến toàn bộ nỗi khổ củangười phụ nữ, Xuân Hương hình như chỉ muốn nói đến nỗi khổ đau riêng cótính chất giới tính của mình Xuân Hương viết về nỗi khổ của người phụ nữ

“Lấy chồng chung”, hay nỗi khỗ của người phụ nữ “không chồng mà chửa”,…Xuân Hương nêu lên được một nét điển hình nổi bật của chế độ hôn nhân phongkiến:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!

Năm thì mười họa chăng hay chớ, Một tháng đôi lần có cũng không…

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, Cầm bằng làm mướn, mướn không công.

Thân này ví biết dường này nhỉ, Thà trước thôi đành ở vậy xong

(Lấy chồng chung - Theo bản khắc 1914)

Trang 8

Nhà thơ vạch ra làm lẽ chẳng chỉ là một thứ làm mướn, thậm chí còn tệhơn cả làm mướn nữa : đó là thứ làm mướn không công Xã hội phong kiến bắtngười phụ nữ phải chính chuyên một chồng trong khi cho phép đàn ông có nămthê bảy thiếp Thông thường trong xã hội phong kiến lấy lẽ để thỏa mãn cuộcsống dâm dật của bọn địa chủ, đồng thời để có thêm sức lao động Ý nghĩa phêphán sâu sắc trong bài thơ của Hồ Xuân Hương là ở đó Và nó được nhân lên rấtnhiều khi người phụ nữ luôn cố hết sức chịu đựng khi không chịu đựng nổi, bà

đã thét lên:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!

Hồ Xuân Hương nhận thức được cảnh bất công, ngang trái của việc lấychồng chung, nhà thơ lên tiếng chửi quyết liệt, nhưng vẫn không tìm được lốithoát Bài thơ kết thúc không mở ra một bước ngoặt nào cả, mà đóng lại bằngtiếng thở dài bất lực:

Thân này ví biết dường này nhỉ,

Thà trước thôi đành ở vậy xong!

Nhà thơ không thể vượt lên hoàn cảnh xã hội Bất mãn với thực tại, XuânHương nghĩ giá ngày trước đừng lấy chồng!

Hồ Xuân Hương luôn cảm nhận bằng một trái tim cháy bỏng với tất cả sựxúc động chân thành của mình Khi giận giữ thì thét lên mắng chửi; khi yêuthương thì đằm thắm, ngọt ngào Bà nhìn sự việc với thái độ khoan dung, độlượng đối với cảnh ngộ không may của họ qua bài “không chồng mà chửa”

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ chửa hoang là một tai họa tầyđình Họ cho rằng những người phụ nữ thông dâm là những ngườ mất hết “liêmsỉ”,nhưng đối với Xuân Hương thì đó không phải là việc làm tội lỗi mà đó chỉ làchuyện “cả nể” đối với người tình, và vì cả nể nên mới hóa dở dang như vậy:

Cả nể cho nên hóa dở dang,

Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.

Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương còn là những người giàu đức hysinh, sẵn sàng chấp nhận đương đầu với lễ giáo phong kiến khắc nghiệt:

Quản bao miệng thế lời chênh lệch,

Không có, nhưng mà có, mới ngoan!

Xuân Hương là một nhà thơ yêu con người, yêu cuộc sống Trong nhữngvần thơ của mình Xuân Hương luôn đem đến cho họ một nụ cười, giúp họ có

Trang 9

nghị lực để sống và chống chọi với cuộc sống Nhà thơ sẽ bảo một bà lang khócchồng:

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì,

Thương chồng nên nỡi khóc tỉ ti.

(Dỗ người đàn bà chồng chết)

Sẽ bảo cô gái chồng chết:

Nín đi em kẻo thẹn với non song,

Ai về nhắn nhủ đàn em bé!

Đối với phụ nữ Xuân Hương không chỉ có thông cảm và bênh vực, đặcbiệt nhà thơ hết sức đề cao và ca ngợi họ Qua một loạt hình tượng nói về sốphận bấp bênh, hẩm hiu của người phụ nữ như chiếc bánh trôi “ Bảy nổi ba chìmvới nước non”; con ốc nhồi “Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi”, hay quả mít “da nó

xù xì” Nhà thơ chú trọng nêu bật cái đẹp bên trong, cái đẹp tâm hồn của họ

Xuân Hương sống vào một thời kỳ chế độ phong kiến đã mục rỗi, thối nát

và bà là nạn nhân của cái chế độ ấy Là người phụ nữ xuất thân trong một giađình phong kiến suy tàn, cuộc sống đã đẩy bà xuống tầng lớp tận cùng của xãhội và cùng lăn lộn tiếp xúc với người phụ nữ cũng bị áp bức nên những vần thơcủa Xuân Hương luôn có một niềm đồng cảm với người phụ nữ, nói lên bằng cảtấm lòng con tim của mình

2.1.2 Phê phán, đả kích giai cấp thống trị

Hồ Xuân Hương là nhà thơ trào phúng, trước kia thường bị các giai cấpthống trị coi là người đàn bà lăng loài, đĩ thõa vì Hồ Xuân Hương dám nói lênnhững điều mà mọi người không dám nói, bà thẳng tay tát vào mặt cả bọn phongkiến từ trên xuống dưới, vạch trần bộ mặt giả dối trong xã hội

Trước hết Hồ Xuân Hương đánh vào giai cấp thống trị mà đại diện là vuachúa, quan lại, hiền nhân quân tử với vũ khí tiếng cười của bà, đã đánh vàobọn thống trị một cách đau đớn, có thể thấy đối tượng đả kích trong thơ bà rấtrộng Qua bài “Vịnh cái quạt” phần nào cho ta hiểu rõ hơn:

Mười bảy hay mười tám đây?

Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc,

Rộng hẹp dường nào, cắm một cay.

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,

Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.

Trang 10

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,

Chúa dấu vua yêu một cái này.

Mượn cớ tả cái quạt mà thật ra là để chỉ cái khác, nói đến thói mê hoa,hám sắc của bọn quan lại, vua chúa Vua chỉ yêu “cái này” thôi và không yêu cáikhác! Nói cái quạt để ám chỉ người con gái “mười bảy hay mười tám” số nanquạt giấy cũng đồng thời nói lên tuổi của thiếu nữ Đương thời chỉ có ca dao vớiTrạng Quỳnh mới dám đả kích như vậy Còn đối với bọn “ hiền nhân quân tử”:

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,

Thiếu nữ nằm chơi qua giấc nồng.

Lược trúc chải cài trên mái tóc,

Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm,

Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,

Đi thì củng dở, ở không xong.

“Hiền nhân quân tử” là mẫu hình lý tưởng của xã hội nhưng thực ra họcũng lắm khát khao phàm tục Thấy cô gái ngủ hớ hênh thì quân tử cũng “dùngdằng đi chẳng dứt” Nhà thơ vạch ra tính chất khôi hài của nội dung rất phàm tụclại được che đậy bằng một lớp vỏ đạo đức giả hoặc qua bài “Đèo ba dội” cũngvậy:

Một đèo, một đèo,lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.

Cửa son đỏ loét tumg hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.

Hiền nhân, quân tử ai là chẳng…

Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.

Trong những bài thơ quả mít, ốc nhồi, bà cũng đã vạch ra những việc xấu

xa ấy của bọn quân tử

Đó còn là đám sĩ nho quân tử con nhà quan dốt nát mà hênh hoang.Không tự lượng tài sức non nớt, hễ đến thăm chùa chiền nào là làm thơ đề vịnhngay lên vách đó là chuyện lố lăng, bà chừi thẳng mặt :

Khéo léo đi đâu lũ ngẩn ngơ?

Trang 11

Lại đây cho chị dạy làm thơ.

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

(Mắng học trò dốt I)

Hay:

Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,

Cũng đòi học nói, nói không nên.

Ai về hắn bảo phường lòi tói,

Muốn sống đem vôi quét trả đền.

(Mắng học trò dốt II)

Trong xã hội rối ren, nhà chùa không còn là nơi tu hành tôn nghiêm nữa.Nhiều kẻ lợi dụng chùa chiền để làm điều bậy bạ.Hồ Xuân Hương chỉ trích thậm

tệ sự sa đọa của các nhà sư, bà mỉa mai hạng tu hành không giữ vững được đạo

vì bị vật dụng ám ảnh nên phải hoàn tục :

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,

Vị gì một chút tẻo tèo teo.

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,

Trái gió cho nên phải lộn lèo.

( Kiếp tu hành)

Hay:

Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,

Đi đâu chẳng đội để ong châm.

Đầu sư há phải gì…bà cốt,

Bá ngọ con ong bé cái nhầm.

Hồ Xuân Hương còn vạch ra cho chúng ta thấy cảnh chướng tai gai mắtcủa hạng nhà sư chỉ có đạo đức ở bộ áo cà sa, còn lòng dạ thì vấn vương trần tục

“ miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”

Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà.

Oảng dâng trước mặt, dăm ba phẩm, Vải núp sau lưng, bảy tám bà.

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.

Tu lâu có lẽ nên sư cụ,

Trang 12

Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà!

(Sư hổ mang)

Qua những hình ảnh sinh động với lối thơ châm biếm, Hồ Xuân Hương vẽlên không phải là cảnh tôn nghiêm của nhà chùa mà là nơi một bọn đội lốt tuhành ngày đêm đú đởn, chè chén, hát hổng

Người quen cõi Phật chen chân xọc,

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.

Với bài “ Chùa sư quán”

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo,

Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?

Chày kinh, tiểu để suông không đấm,

Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.

Sáng banh không kẻ khua tang mít,

Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.

Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo.

Cho ta thấy cảnh sinh hoạt ở chùa Quán sứ lười biếng và vô nghĩa

Hồ Xuân Hương bằng lối thơ châm biếm của mình đã vạch trần bộ mặtxấu xa của xã hội một cách thẳng thắn và mạnh mẽ không hề câu nệ ai,bà phêphán một cách gay gắt đến tính chất giả dối, dốt nát của giai cấp thống trị Bêncạnh đó còn là những thủ đoạn bóc lột nông dân của chúng Hồ Xuân Hươngđứng trên lập trường người phụ nữ để nói đến cái xấu xa của chúng Có thể doảnh hưởng của cuộc đời riêng của mình nên Xuân Hương thường chú ý nhiềuđến mặt xã hội phong kiến

2.1.3 Bộc lộ tiếng lòng của mình

Thơ trào phúng Hồ Xuân Hương ngoài mục đích chĩa mũi nhọn vào chế

độ và lễ giáo phong kiến còn đề cập đến nỗi niềm riêng tư của nhà thơ Đó là sựthể hiện ước mơ, khát khao hạnh phúc lứa đôi Hồ Xuân Hương có ba bài thơ trữtình bộc lộ về mình của tác giả, đó là những bài thơ viết về duyên phận chìmnổi, lênh đênh của nhà thơ Ba chùm thơ Tự Tình I, Tự Tình II, Tự Tình III, thểhiện trong sâu thẳm tâm hồn Hồ Xuân Hương, bà là người phụ nữ tài hoa nhưnglại gặp phải cuộc đời nhân duyên dở dang, số phận long đong Qua bài Tự TìnhIII

Cảnh khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Ngày đăng: 15/07/2020, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w