TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Đề tài “Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng Litopenaeus vannamei Boone, 1931 tại Gò Quao, Kiên Giang và thực nghiệm nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn, tuần hoàn nư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DANH TƠ
HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei Boone, 1931) TẠI GÒ QUAO, KIÊN
GIANG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM THEO QUY TRÌNH HAI GIAI ĐOẠN, TUẦN HOÀN NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HOÀ - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài: “Hiện trạng nghề nuôi tôm chân
trăng (Liptopenaeus vannamei Boone, 1931) tại Gò Quao, Kiên Giang và thực
nghiệm nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn, tuần hoàn nước” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho đến thời điểm hiện này
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Danh Tơ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của quí phòng ban Trường Đại học Nha Trang, Phòng Đạo tạo sau Đại học, Viện Nuôi trồng Thuỷ sản – Trường Đại học Nha Trang và quí thầy cô giáo trong và ngoài trường đã giảng dạy và tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua Đặc biệt
là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo – TS Lục Minh Diệp, người đã định hướng và tận tình đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thống kê, Trạm Khuyến nông huyện Gò Quao, xã Thới Quản, Thủy Liễu, Vĩnh Phước A, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng và thị trấn Gò Quao đã tạo điều kiện giúp
đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, cập nhật thông tin điều tra khi thực hiện luận văn thạc sĩ
Cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã dành thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Hội đồng khoa học, thầy, cô
và các bạn
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Danh Tơ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC ĐỒ THỊ xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của tôm chân trắng 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm sinh học của tôm chân trắng 3
1.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Đối tượng điều tra: Các hộ nuôi tôm chân trắng 5 xã và 1 thị trấn thành phần khác có liên quan 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4 Điều tra thu thập số liệu 16
2.4.1 Thu nhập số liệu thứ cấp 16
2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp 16
2.5 Phương pháp nuôi tôm 2 giai đoạn, nước tuần hoàn 17
2.5.1 Hệ thống ao nuôi 17
2.5.2 Trang thiết bị, máy móc 18
2.5.3 Chuẩn bị ao 19
2.5.4 Lấy nước và xử lý nước 19
2.5.5 Chọn giống và thả giống 20
2.5.6 Chăm sóc và quản lý 20
2.5.7 Phương pháp tính toán và phân tích số liệu 24
2.5.8 Phương pháp phân tích số liệu 25
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Hiện trạng cơ cấu dân số, độ tuổi, trình độ chuyên môn 26
3.1.1 Độ tuổi chủ hộ và số năm nuôi tôm các hộ 26
3.1.2 Trình độ học vấn, chuyên môn và giới tính 26
3.2 Thực trạng kỹ thuật và diện tích nuôi tôm chân trắng 28
3.2.1 Hình thức nuôi 28
3.2.2 Diện tích ao nuôi tôm chân trắng 29
3.2.3 Các hình thức cải tạo ao nuôi tôm chân trắng 30
3.2.4 Hệ thống cống 31
3.2.5 Trang thiết bị sử dụng trong nuôi tôm 31
3.2.6 Nguồn giống, mật độ thả tôm chân trắng 32
3.2.8 Thức ăn cho tôm chân trắng 35
3.2.9 Tỷ lệ sống của tôm chân trắng 36
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi tôm chân trắng 36
3.3.1 Tình hình doanh thu 36
3.3.2 Chi phí nuôi tôm chân trắng của các hộ gia đình (triệu VND/hộ) 37
3.3.3 Lợi nhuận trung bình nuôi tôm chân trắng 39
3.4 Thực nghiệm nuôi tôm hai giai đoạn, tuần hoàn nước 40
3.4.1 Nguyên lý vận hành hệ thống tuần hoàn nước 40
3.4.2 Chăm sóc tôm trong ao nuôi giai đoạn hai 42
3.4.4 NH3 và NO2 44
3.4.5 Tăng trưởng của tôm 45
3.4.6 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) 47
3.4.7 Tỷ lệ sống 47
3.4.8 Hiệu quả kinh tế 48
3.5 Nhóm giải pháp phát triển nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao 49
3.5.1 Giải pháp về quy hoạch 49
3.5.2 Giải pháp về kỹ thuật 49
3.5.3 Về Khuyến nông 50
3.5.4 Giải pháp về quản lý nhà nước 50
3.5.5 Giải pháp về nguồn nhân lực 51
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53
Trang 64.1 Kết luận 53
4.1.1 Kết luận hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng 53
4.1.2 Kết luận thực nghiệm nuôi tôm hai giai đoạn, tuần hoàn nước 53
4.2 Đề xuất ý kiến 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 55
II Tài liệu Tiếng Anh 58
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
HPV Bệnh Parvovirus gan tuỵ tôm chân trắng
IHHNV Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu ở tôm chân trắng
TSV Hội chứng bệnh virus taura trên tôm chân trắng
FAO Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
GDP Thu nhập quốc nội bình quân
ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
GAP
Good Aquaculture Practise, Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt
GAqP Quy tắc thực hành nuôi trồng thủy sản tốt
RAA Code of conduct for responsible Aquaculture, Quy tắc ứng xử nghề FCR Hệ số chuyển đổi thức ăn
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hình dạng ngoài của tôm chân trắng 3 Hình 1.2: Vòng đời tôm chân trắng 5 Hình 1.3: Bản đồ huyện Gò Quao 12
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở huyện Gò Quao 2015-2018 13
Bảng 2.1: Số lượng mẫu điều tra phân bổ cho mỗi vùng nuôi 17
Bảng 3.1: Thống kê tuổi chủ hộ và số năm nuôi tôm các hộ gia đình 26
Bảng 3.2: Thống kê thông tin các đối tượng khảo sát 27
Bảng 3.3: Thống kê diện tích ao nuôi tôm chân trắng 29
Bảng 3.4: Các trang thiết bị nuôi tôm chân trắng 31
Bảng 3.5: Thống kê kích cỡ giống và mật độ thả giống 34
Bảng 3.6: Tình hình doanh thu tôm chân trắng của các hộ gia đình 36
Bảng 3.7: Chi phí nuôi tôm chân trắng của các hộ gia đình 37
Bảng 3.8: Lợi nhuận trung bình nuôi tôm chân trắng 39
Bảng 3.2.1: Biến động các yếu tố môi trường 43
Bảng 3.2.2: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) ở các giai đoạn 47
Bảng 3.2.3: Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm chân trắng 2 giai đoạn 48
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1: Tỷ lệ giới tính nam, nữ 27
Đồ thị 3.2: Tỷ lệ trình độ văn hóa 28
Đồ thị 3.3: Tỷ lệ trình độ chuyên môn 28
Đồ thị 3.4: Tỷ lệ hình thức nuôi tôm chân trắng 29
Đồ thị 3.5: Diện tích nuôi tôm chân trắng của các hộ gia đình 29
Đồ thị 3.6: Tỷ lệ các hình thức cải tạo ao nuôi tôm chân trắng 30
Đồ thị 3.7: Tỷ lệ hệ thống cống 31
Đồ thị 3.9: Tỷ lệ nguồn giống tôm chân trắng 32
Đồ thị 3.10: Tỷ lệ chất lượng nguồn giống tôm chân trắng 33
Đồ thị 3.11: Kích thước con giống được các hộ gia đình sử dụng 33
Đồ thị 3.12: Tỷ lệ bệnh của tôm chân trắng 34
Đồ thị 3.13: Loại thức ăn các hộ gia đình hiện nay áp dụng 35
Đồ thị 3.15: Hệ số thức ăn cho tôm chân trắng các hộ gia đình 36
Đồ thị 3.16: Tỷ lệ sống tôm chân trắng của các hộ gia đình 36
Đồ thị 3.17: Doanh thu trung bình tôm chân trắng 37
Đồ thị 3.18: Chi phí nuôi tôm chân trắng của các hộ gia đình 38
Đồ thị 3.19: Tỷ lệ các khoản chi phí nuôi tôm chân trắng 38
Đồ thị 3.20: Lợi nhuận trung bình nuôi tôm chân trắng 39
Đồ thị 3.2.1: Biến động H2S trong quá trình nuôi 44
Đồ thị 3.2.2: Biến động NH3 và NO2 trong quá trình nuôi 45
Đồ thị 3.2.3: Tăng trưởng về khối lượng tômtrong quá trình nuôi 46
Đồ thị 3.2.4: Tăng trưởng về chiều dài tôm trong quá trình nuôi 47
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài “Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) tại Gò Quao, Kiên Giang và thực nghiệm nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn, tuần hoàn nước” được thực hiện với các nội dung: (i) Hiện trạng nghề nuôi tôm chân
trắng tại Gò Quao; (ii) Thực hiện quy trình kỹ thuật nuôi tôm hai giai đoạn, tuần hoàn nước; (iii) Đề xuất các giải pháp phát triển nuôi tôm bền vững tại Gò Quao Mục tiêu của đề tài là cung cấp những dẫn liệu khoa học và thực tiễn về thực trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi tôm chân trắng theo hướng hiệu quả và bền vững Nghiên cứu được thực hiện tại các vùng nuôi tôm huyện Gò Quao Nghiên cứu được thực hiện thuộc 6 xã có nuôi trồng thủy sản Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết chủ
hộ nuôi là nam giới, độ tuổi từ 35 – 60 tuổi chiếm 90 %; các hộ chủ hộ nuôi có kinh nghiệm nuôi tôm từ 9 – 20 năm chiếm 70 %; trình độ văn hóa chủ yếu từ cấp 2 trở lên
và không có trình độ chuyên môn về nuôi trồng thủy sản đa phần các hộ thiếu vốn, hệ thống hạ tầng vùng nuôi chưa đồng bộ, chưa có mương cấp thoát nước riêng biệt, nguồn nước cấp chủ yếu sử dụng máy bơm; không có ao xử lý nước thải và khu chứa bùn thải; ao nuôi có thiết kế chủ yếu là hình vuông có diện tích các ao nuôi từ 0,5 – 1
ha, tôm chân trắng được nuôi từ 1 – 2 vụ/năm, mùa vụ thả giống chính từ tháng 1 đến tháng 7 hàng năm; nguồn giống chủ yếu nhập từ các tỉnh Miền Trung, Bạc Liêu Tôm chân trắng được nuôi theo hình thức bán thâm canh và thâm canh; thời gian nuôi TCT
từ 85 – 120 ngày/vụ Mật độ nuôi của các hộ dân trung bình 70 ± 15 con/m2, mật độ nuôi thấp nhất là 30 con/m2, mật độ nuôi cao nhất là 200 con/m2; năng suất trung bình đạt 4,5 ± 1,5 tấn/ha/vụ, thấp nhất 1,9 tấn/ha và cao nhất đạt 13,5 tấn/ha; lợi nhuận trung bình 255 ± 145 triệu đồng/ha/vụ, trong đó lãi cao nhất đạt 750 triệu đồng/ha/vụ
và thấp nhất là 85 triệu/đồng/vụ Tỷ suất lợi nhuận trung bình đạt 62,35 %
Thực nghiệm nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn, tuần hoàn nước thực hiện tại hộ ông Lê Văn Hải, xã Thủy Liễu, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang từ tháng 04/2018 đến 07/2018 Mô hình thực nghiệm được chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1: thời gian nuôi khoảng 25 – 30 ngày, ương tôm chân trắng cỡ từ PL12 với mật độ 2.500 – 3.000 con/m2 trong ao lót bạt, có mái che bằng lưới lan 100% Giai đoạn 2: nuôi thương phẩm tôm chân trắng với mật độ 250 con/m2 trong ao lót bạt, có mái che bằng lưới lan 50%, thời gian nuôi 60 – 75 ngày PL12 có chiều dài và khối lượng tôm ban
Trang 12đầu lần lượt là 1 – 1,2 cm và 0,03g Sau 90 ngày nuôi tôm đạt kích cỡ 41 con/kg các yếu tố môi trường đặc biệt nồng độ các khí độc, đều ổn định, nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm Năng suất bình quân đạt 6,5 tấn/ao/vụ Sau khi trừ chi phí đầu tư, lợi nhuận thu được đạt 81,5 triệu đồng/1.600m2/vụ
Các khó khăn thường gặp nhất trong nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao hiện nay
là vấn đề về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh con giống, thức ăn, hóa chất và thị trường tiêu thụ sản phẩm Để phát triển nghề nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao theo hướng hiệu quả, bền vững cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp liên quan đến quy hoạch, khoa học công nghệ, phát triển thị trường, cơ chế chính sách, quản lý môi trường và dịch bệnh, đào tạo và Khuyên nông
Từ khóa: Tôm chân trắng, Gò Quao, Kiên Giang, nuôi tôm hai giai đoạn, tuần
hoàn nước
Trang 13MỞ ĐẦU
Trong những năm của thập kỷ 90, nghề nuôi tôm biển đặc biệt là tôm sú thật sự
đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa có hiệu quả cao, động lực chủ yếu thúc đẩy sản xuất kinh doanh nuôi trồng thủy sản, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
Cùng với hiệu quả của nghề nuôi tôm sú, sự tiến bộ về khoa hoc - kỹ thuật đã đẩy nhanh công nghệ nuôi theo hướng thâm canh Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả kinh tế mang lại như tăng thu nhập, tạo việc làm, tận dụng mặt nước hoang hóa, việc nuôi tôm sú ở nước ta nói chung và huyện Gò Quao nói riêng đã gặp nhiều khó khăn liên quan đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, bùng phát dịch bệnh, tăng cao chi phí sản xuất
Một giải pháp được nhiều quốc gia sử dụng hiện nay là đa dạng hóa đối tượng nuôi, đi kèm với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra các đàn giống sạch bệnh và nâng cao chất lượng di truyền Trong đó tôm chân trắng là một trong những đối tượng được chọn đa dạng hóa đối tượng nuôi trong nuôi trồng thủy sản
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) đang nuôi ở nước ta là
đối tượng nhập nội, có nguồn gốc từ Châu Mỹ; tôm phát triển tốt, năng suất cao, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, tôm chân trắng có những nhược điểm cơ bản như thường mắc những bệnh của tôm sú, mang hội chứng Taura gây nên dịch bệnh lớn ở Nam Mỹ
Nghề nuôi tôm chân trắng trên địa bàn huyện Gò Quao thật sự phát triển khoảng 3 năm trở lại đây, chưa có vùng quy hoạch nuôi cụ thể, người dân chưa nắm rõ quy trình kỹ thuật, vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
Xuất phát từ những thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài “Hiện trạng nghề nuôi
tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) tại Gò Quao, Kiên Giang và thực nghiệm nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn, tuần hoàn nước” là hết sức cần
thiết
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của các
hình thức nuôi tôm chân trắng tại địa phương
Trang 14Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thực nghiệm nuôi tôm chân trắng
(Litopenaeus vannamei Boone, 1931) hai giai đoạn, tuần hoàn nước, tăng hiệu quả
kinh tế trên đơn vị diện tích
Nội dung của đề tài:
+ Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao
+ Thực hiện quy trình kỹ thuật nuôi tôm hai giai đoạn, tuần hoàn nước
+ Đề xuất các giải pháp phát triển nuôi tôm bền vững tại Gò Quao
Ý nghĩa của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dẫn liệu khoa học về hiện trạng nuôi tôm chân trắng tại Gò Quao và ứng dụng các quy trình nuôi tôm đạt hiệu quả cao
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học để định hướng phát triển và cải tiến kỹ thuật nghề nuôi tôm chân trắng trên địa bàn huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
Trang 15mặt đáy Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum (cơ quan sinh dục ngoài, nơi nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang)
Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi là chân bụng ( Pleopds hay Swimming legs) Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong Đốt ngoài chia làm hai nhánh: Nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực - là bộ phận sinh dục bên ngoài của tôm Màu sắc của tôm: tôm
có màu trắng đục [8]
1.1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm chân trắng là loài ăn tạp, thức ăn của chúng cần một tỷ lệ cân đối trong thành phần dinh dưỡng như protein, lipid, gluxit, vitamin, khoáng, dinh dưỡng thiếu hoặc không cân đối đều ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng và sức khỏe của tôm
Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm chân trăng là rất cao (FCR = 0,9 – 1,2;
so với tôm sú thường 1,2 – 1,5), chúng không cần đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein cao như tôm sú Thành phần protein 35% được coi là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm chân trắng trong khi đó với tôm sú cần 40% protein trong thức ăn, tôm he Nhật Bản cần 60% protein trong thức ăn [8]
1.1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Sau khi đẻ 14 – 16 giờ, trứng nở ra ấu trùng nauplius Ấu trùng trải qua các giai đoạn biến thái nauplius 6 giai đoạn, zoae 3 giai đoạn, mysis 3 giai đoạn và có xu hướng bắt đầu di chuyển vào vùng gần bờ nhờ sóng gió và thủy triều Đến giai đoạn postlarvae chúng chuyển sang sống đáy, ở các vùng cửa sông cạn, bãi triều nơi có nhiều thức ăn, nhiệt độ cao, độ mặn thấp Sau một vài tháng, tôm phát triển qua các giai đoạn ấu niên, thiếu niên và trưởng thành, chúng bắt đầu di cư ra các vùng biển sâu sinh sống, thành thục và sinh sản [10]
Tôm chân trắng là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là ở 2 tháng đầu mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g/con với mật độ 100 con/m2 Do đó, khi nuôi tôm chân trắng, chú ý giai đoạn đầu tăng cường lượng thức ăn cho tôm ăn ngay từ đầu để tận dụng hết khả năng lớn nhanh của tôm, rút ngắn thời gian nuôi Sau đó, khi đạt cỡ 20g/con, sinh trưởng của tôm chậm lại, đạt khoảng 1g/tuần Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực [17]
Trang 161.1.2.5 Môi trường sống
Tôm trưởng thành sống ở ven biển gần bờ, tôm còn ưa sống ở cửa sông nơi có nhiều thức ăn tự nhiên và có độ mặn thấp Ban ngày tôm thường vùi mình ẩn nấp dưới cát, ban đêm chúng bơi hoặc bò đi kiếm ăn Tôm chân trắng thích ghi tốt với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống
Độ mặn: Tôm chân trắng thích nghi với biên độ rộng muối từ 0 – 50 ‰, chúng
có thể sinh trưởng được trong cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn Khoảng độ mặn cho tôm phát triển là 10 – 30 ‰ [8]
Nhiệt độ: Tôm sống trong phạm vi từ 9 – 41 0C, tuy nhiên nhiệt độ tốt cho tôm phát triển là 25 – 32 0C, song chúng vẫn thích nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn Theo J.Wyban và ctv (1995), đối với cỡ tôm < 10g nhiệt độ thích hợp tốt nhất cho sự phát triển là ≤ 30 0C, trong khi đó cỡ tôm ≥ 15g thì không có sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng ở nhiệt độ 27 0C và 30 0C Do đó nên chọn mùa vụ nuôi lúc tôm nhỏ vào những tháng có nhiệt độ cao và tôm lớn vào những tháng có nhiệt độ thấp hơn
Oxy hòa tan: ngưỡng oxy thấp nhất là 1,2 mg/l, tôm càng lớn thì ngưỡng oxy càng cao (với cỡ tôm 2 – 4 cm là 2mg/l, cỡ tôm dưới 2 cm là 1,05 mg/l) [35]
1.1.2.6 Đặc điểm sinh sản
Mùa vụ sinh sản: Tại các khu vực tôm phân bố tự nhiên – vùng biển sâu, xa bờ, nơi có độ trong, độ mặn cao và ổn định, quanh năm điều bắt được tôm mang trứng Mùa sinh sản tôm chân trắng có thể chênh lệch theo vùng, tùy vĩ độ Ở ven biển bắc Ecuador, tôm đẻ xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8, mùa đẻ rộ chủ yếu vào tháng 4 và 5
Ở Peru, mùa tôm đẻ chủ yếu từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau
Hình 1.2: Vòng đời tôm chân trắng [10]
Giao vĩ: Tôm chân trắng thuộc nhóm thelycum hở, giao vĩ xảy ra chủ yếu vào đêm tôm đẻ trứng Tôm cái được gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ, hoặc có thể gắn trước đó vài ngày lột xác - thành thục - giao vĩ - đẻ Túi tinh chỉ được đính vào
Trang 17thelycum hở, không được bảo vệ chắc chắn nên dễ bị rơi rớt và tôm có thể giao vĩ trở lại Vì vậy, một tôm cái có thể giao vĩ nhiều lần trong một chu kỳ lột xác Trong quá trình kết cặp, nhiều con đực cùng đuổi theo con cái ở phía sau, con đực thường dùng chủy và râu đẩy nhẹ dưới đuôi con cái Khi tôm cái rời đáy bơi lên phía trên, tôm đực bơi theo và tiến đến phía dưới con cái Sau đó, tôm đực lật ngửa thân và ôm tôm cái theo hướng đầu đối đầu, đuôi đối đuôi và giao vĩ ở tư thế đầu đối đuôi Thời gian giao
vĩ xảy ra nhanh, từ khi rượt đuổi đến khi kết thúc dao động từ 3 – 7 phút; sự chuyển giao tinh nang xảy ra rất nhanh [8]
Sức sinh sản và hoạt động đẻ trứng: Tôm chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 – 45g/con, là có thể tham gia sinh sản Lượng trứng của mỗi lần đẻ phụ thuộc trọng lượng của tôm mẹ: nếu tôm mẹ có khối lượng 30 – 45 g/con thì lượng trứng từ 100.000 – 250.000 trứng, đường kính trứng 0,22mm Sau mỗi lần đẻ hết trứng buồng trứng lại phát triển tiếp Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau khoảng 2 – 3 ngày Con đẻ nhiều nhất có thể tới 10 lần/năm, thường thì sau 3 – 4 lần đẻ liên tục tôm lột xác [10]
1.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng thế giới
Nghề nuôi tôm ven biển phát triển mạnh từ những năm cuối của thập niên 80 và
sự thâm canh hóa từ đầu thập niên 90 ở các quốc gia Đông Nam Á, không những góp phần nâng cao sản lượng tôm cho toàn thế giới mà còn tạo việc làm và tăng nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều lao động địa phương ven biển Tôm chân trắng di nhập và được nuôi ở nhiều quốc gia và lục địa như Đài Loan, Philippines, Trung Quốc và Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Châu Á có vị trí hàng đầu trong ngành tôm thế giới, tôm nuôi của khu vực này chiếm phần lớn trong sản lượng toàn cầu Có thể chia sản lượng tôm nuôi châu Á theo 3 khu vực chính là Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ/Bangladesh [10]
Trung Quốc là nước có sản lượng tăng rất nhanh và vượt qua tất cả các nước khác để dẫn đầu thế giới về sản lượng nuôi tôm từ 1,5 triệu tấn 2010 lên trên 1,7 triệu tấn, từ năm 2012 do dịch bệnh AHPND nên sản lượng tôm nuôi của Trung Quốc giảm còn 1,3 triệu tấn và tiếp tục giảm trong còn 900 ngàn tấn trong năm 2013, tuy nhiên có dấu hiệu phục hồi trong năm 2014 là 1,02 triệu tấn [10]
Đông Nam Á tập trung nhiều nước có tiềm năng sản xuất tôm như Thái Lan,
Trang 18Việt Nam, Indonesia Trong đó, Thái Lan là nhà sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới, sau Trung Quốc và sản xuất cả ba loại tôm chân trắng, tôm sú và tôm càng xanh Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên, thuận lợi để phát triển nghề nuôi tôm, kế đến là Indonesia đứng thứ 4 thế giới về sản xuất tôm Năm 2006, sản lượng tôm nuôi của khu vực Đông Nam Á đạt 1,4 triệu tấn, khu vực này sản xuất gần 1,7 triệu tấn năm 2010 nhưng do dịch bệnh chủ yếu là hội chứng AHPND làm sản lượng tôm nuôi mạnh vào năm 2012 chỉ đạt khoảng 1,3 triệu tấn Từ năm 2013 sản lượng tôm nuôi có khuynh hướng tăng trở lại đạt sản lượng 1,84 triệu tấn năm 2013 và tiếp tục tăng trong năm 2014 đạt sản lượng 1,88 triệu tấn
Trong khu vực châu Á còn có Ấn Độ và Bangladesh là những nước nuôi tôm có quy mô lớn Trong giai đoạn 2006 – 2010, sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ và Bangladesh giảm với tốc độ trung bình hằng năm 6,0% do ảnh hưởng của sự biến động diện tích nuôi, mật độ thả giống, số vụ nuôi không hợp lý và dịch bệnh, chủ yếu là bệnh đốm trắng Vì thế, năm 2010, sản lượng tôm của 2 nước này chỉ còn khoảng 200 ngàn tấn Tuy nhiên, năm 2013 và năm 2014 sản lượng tôm của 2 nước này ổn định ở mức 405 ngàn tấn sản lượng tôm Ấn Độ chiếm 85% Hiện nay, Ấn Độ đang triển khai một số chính sách về kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm còn chính phủ Bangladesh vừa cho phép nuôi tôm chân trắng vì thế, sản lượng tôm chân trắng của 2 nước sẽ tăng trong thời gian tới [10][17]
Sản lượng tôm nuôi của châu Mỹ tập trung ở 6 nước là Ecuador, Mexico, Brazil, Colombia, Honduras và Nicaragoa Nuôi tôm ở khu vực này có tốc độ tăng trưởng ổn định 3% từ 2010 – 2014, tổng sản lượng xấp xỉ 400 – 500 ngàn tấn Ecuador
có sản lượng tôm nuôi lớn nhất khu vực 340 ngàn tấn năm 2014 Khu vực sản xuất tôm còn lại của thế giới là châu Phi chỉ chiếm tỷ lệ sản lượng rất nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng hằng năm khá ổn định, bằng 4,6% và 4,8% trong giai đoạn 2006 – 2010 và
2010 – 2014
Nguyên nhân gây ra sự giảm sụt này là do môi trường bị suy thoái, nước có chất lượng kém Trong thực tế nguồn nước thải đổ trực tiếp ra kênh rạch công cộng từ các trại nuôi tôm không qua xử lý ở nhiều nơi như Việt Nam, Indonesia và Philippines Bên cạnh đó các khu vực nuôi tôm thâm canh thường tập trung theo vùng và hệ thống thủy lợi hạn chế làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nước tạo nên sự tự ô nhiễm môi trường làm dịch bệnh bộc phát [18]
Trang 191.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á nhập giống tôm chân trắng, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này vào loại chậm trong khu vực Mặc dù, qua rất nhiều năm nuôi, tôm chân trắng đưa lại hiệu quả kinh tế, đặc biệt ở những vùng đất hoang hóa, đã khẳng định được tính ưu việt về mật độ nuôi, tốc độ tăng trưởng và năng suất nhưng đến năm 2008, Bộ NN&PTNT mới ra chỉ thị số 228/CT-BNN-NTTS ngày 25/1/2008 cho phép nuôi đối tượng này ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên phải tuân thủ theo một số điều kiện nhất định Phát triển nuôi tôm chân trắng được ghi nhận có những đột phá sau khi chỉ thị 228 ra đời, diện tích và sản lượng tăng nhanh qua các năm [1]
Đến năm 2013 diện tích nuôi tôm chân trắng đạt 63.719 ha và sản lượng đạt 243.000 tấn, chiếm 51,1% tổng sản lượng tôm nuôi cả nước, trong đó ĐBSCL chiếm trên 80% 52.181 ha/ 63.719 ha trên tổng diện tích Điều đó cho thấy, tôm chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi chủ lực xuất khẩu ở Việt Nam Đi cùng với việc mở rộng diện tích nuôi thì nhu cầu con giống cần để phục vụ nuôi thương phẩm khoảng dự báo cần
70 – 90 tỷ con/năm Tuy nhiên, con giống sạch bệnh, chất lượng tốt sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 30 – 40% không đáp ứng đủ nhu cầu nuôi thương phẩm Do nhu cầu con giống quá lớn nên nhiều trại sản xuất giống đã ương nuôi con giống không rõ nguồn gốc, nhập lậu từ Trung Quốc với giá thành rất rẻ Chất lượng con giống thấp đã gây thiệt hại lớn cho người dân nuôi tôm thương phẩm do dịch bệnh, chậm lớn, v.v Điển hình năm 2012, dịch bệnh đã gây thiệt hại cho nghề nuôi tôm ở Việt Nam Diện tích thiệt hại là 78.796 ha bằng 88,3% so với cùng kỳ 2011, trong đó diện tích nuôi tôm sú bị thiệt hại là 72.703 ha diện tích nuôi quảng canh cải tiến bị thiệt hại nhưng không bị mất 100% mà vẫn được thu hoạch một phần, diện tích tôm chân trắng bị thiệt hại là 6.093 ha Hiện tượng tôm bị chết sau khi thả 15 đến 40 ngày tuổi với biểu hiện gan tụy bị teo ngày càng lan chuyền trên diện rộng Vùng phân bố bệnh tập trung ở ĐBSCL và các tỉnh duyên hải miền Trung Một trong những nguyên nhân phát sinh dịch bệnh thường được cho là từ con giống kém chất lượng và nhiễm bệnh, nguồn gốc giống không rõ ràng [31]
Sự phát triển tôm chân trắng nhanh chóng gây áp lực lên môi trường và nguồn cung ứng con giống cả nước có 583 trại sản xuất giống tôm chân trắng với tổng số
Trang 20giống sản xuất được ước tính là 47,2 tỷ con, trong đó số lượng giống đảm bảo chất lượng chiếm khoảng 30% Nhu cầu giống để thả nuôi trên diện tích của năm 2014 khoảng 70 – 90 tỷ con Tính đến nay, nước ta vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tôm
bố mẹ nhập khẩu Tôm bố mẹ nhập khẩu vào Việt Nam đều được chứng nhận đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định sạch bệnh, có xuất xứ nguồn gốc, v.v Tuy nhiên, giá nhập khẩu cao, có sự chênh lệch lớn giữa các cơ sở cung cấp, dao động từ 26 – 65 USD/con
Do nguồn bố mẹ chưa chủ động được dẫn đến giá thành tôm giống cao Ngoài ra, việc nhập khẩu tôm bố mẹ không kiểm soát được chất lượng cùng với sự phát triển trại sản xuất giống không theo quy hoạch và không đạt chuẩn nên con giống kém chất lượng Con giống chưa qua kiểm dịch vẫn lưu thông khá phổ biến trên thị trường Hậu quả cuối cùng là người nông dân nuôi tôm gánh chịu do tôm chậm lớn, dịch bệnh [31]
Diện tích nuôi tôm năm 2014 của cả nước đạt 652.612 ha, bằng 99,2% cùng kỳ năm 2012; Trong đó, diện tích nuôi tôm chân trắng 63.719 ha Sản lượng thu hoạch là 475.854 tấn sản lượng tôm chân trắng là 243.000 tấn Các tỉnh từ Phú Yên đến Quảng Ninh có diện tích nuôi tôm nước lợ là 36.879 ha bằng 5,7% diện tích tôm cả nước, sản lượng đạt 76.071 tấn bằng 14,1% sản lượng tôm cả nước Các diện tích nuôi tôm có sản lượng lớn như: Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam, Phú Yên Giá trị xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,5 tỷ USD, tăng gần 33% so cùng kỳ 2012 và chiếm 44% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước[31]
Tính đến hết tháng 10/2016, giá trị xuất khẩu tôm đạt 2,58 tỷ USD, tăng 5,2%
so cùng kỳ năm 2015 Đây là con số ấn tượng nếu biết rằng nhiều quốc gia xuất khẩu tôm đang chìm vào khủng hoảng, như Ấn Độ, Indonesia… Mặc dù, dự báo về một ngành tôm khó khăn của thế giới trong năm 2016 đã được các chuyên gia đưa ra từ cuối năm 2015, song dường như chỉ ngành tôm Việt Nam là kịp ứng phó và nắm bắt được cơ hội của mình
Mặc dù tình hình ngập mặn và thời tiết bất lợi nhưng diện tích nuôi tôm vẫn tăng Ước tính diện tích nuôi tôm nước lợ 10 tháng đầu năm 2016 đạt 678.000 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ năm trước trong đó: tôm sú là 596.000 ha, tôm chân trắng 82.000 ha, sản lượng 433.000 tấn, tăng 1,7% Các tỉnh ĐBSCL, diện tích tôm sú ước 565.611 ha tăng 1,7%, tôm chân trắng ước đạt 65.297 ha tăng 11,8% Tính tới tháng 10 năm nay, giá trị xuất khẩu các sản phẩm tôm chân trắng tăng 11% so cùng kỳ năm ngoái Dự báo xuất khẩu tôm nước lợ cả nước năm 2016 vẫn tăng, tuy nhiên sự biến động của
Trang 21thời tiết và môi trường đang trên đà suy giảm là dấu hiệu đáng lo ngại cho ngành nuôi tôm trong những năm tới
Năm 2016 ghi nhận nhiều mô hình nuôi tôm mới đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả, chính nhờ vậy đã giữ vững được sản lượng và giảm thiểu thiệt hại do khí hậu
và dịch bệnh tác động Tính đến hết năm 2016, xuất khẩu tôm của Việt Nam cũng ghi nhận mức tăng trưởng dương tại các thị trường trọng điểm như Mỹ 7,9%, Nhật Bản 2,7%, EU 9,4%, Trung Quốc 24,3% Hàn Quốc 13,6% [31][32]
Những tháng đầu năm 2017 thời tiết tương đối thuận lợi hơn so với năm 2016, tuy nhiên người dân vẫn đang thả nuôi giống tôm với diện tích cầm chừng Tuy nhiên được sự quan tâm của Lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, Ngành và địa phương, tận dụng cơ hội về thị trường, ngành tôm đã nỗ lực phấn đấu đạt kết quả sản xuất rất tốt đóng góp vào sự tăng trưởng vượt bậc của Ngành Thủy sản Năm 2017, diện tích nuôi tôm sú ước tính đạt 478,8 nghìn ha, tăng 1,1% so với năm trước, sản lượng đạt 254,9 nghìn tấn, tăng 4,4%; diện tích nuôi tôm chân trắng đạt 105,1 nghìn ha, tăng 8,2%, sản lượng đạt 432,3 nghìn tấn, tăng 14,3% Xuất khẩu thủy sản của VN trong năm 2017 đạt trên 8,3 tỉ USD, tăng gần 19% so với năm 2016 Đây cũng là mức kỷ lục của ngành thủy sản từ trước tới nay Đóng góp lớn nhất vào xuất khẩu thủy sản vẫn là mặt hàng tôm với mức tăng trưởng trên 21% với giá trị xuất khẩu đạt 3,8 tỉ USD Với mức tăng 37% trong năm 2017 và giá trị nhập khẩu lên đến 420 triệu USD, Trung Quốc đang dẫn đầu các thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ 3 sau EU và Nhật Bản với giá trị 677 triệu USD, tăng trên 60% so với năm 2016 Năm 2017, con tôm thắng lớn tại thị trường EU tăng gần 22% Nguyên nhân khách quan là do tôm Ấn Độ đối thủ chính của Việt Nam bị dính kháng sinh và đối mặt với nguy cơ EU cấm nhập khẩu nên tôm Việt Nam được lựa chọn thay thế "Trong khi đó, tôm Việt Nam đã kiểm soát được kháng sinh tốt hơn trước đây [31]
Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 7,74 triệu tấn, tăng 7,2% so với năm 2017 Sản lượng nuôi trồng ước đạt 4,15 triệu tấn, tăng 8,3% tiếp tục có sự tăng trưởng tốt Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt khoảng 228.139,8 tỷ đồng, tăng 7,7% so với năm
2017 Cả nước có 2.457 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó có 1.855 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 602 cơ sở sản xuất giống tôm chân trắng Năm 2018, số lượng tôm chân trắng bố mẹ nhập khẩu khoảng 200.000 con; sản lượng tôm giống sản xuất là
120 triệu con tôm giống [32]
Trang 221.2.2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Kiên Giang
Kiên Giang là tỉnh ven biển thuộc ĐBSCL, tổng diện tích đất tự nhiên là 634.852,97 ha, diện tích đất nông nghiệp là 574.394,97 ha chiếm 90,48% diện tích tự nhiên, trong đó đất trồng lúa 381.484,57 ha Kiên Giang có hệ sinh thái đa dạng: đồng bằng, đồi núi, biển và hải đảo Với điều kiện tự nhiên đa dạng và thiên nhiên ưu đãi, Kiên Giang có đủ thế mạnh để phát triển nông – lâm – ngư nghiệp Một trong những thế mạnh của tỉnh là nuôi trồng thủy sản lợ mặn ở các khu vực ven biển: Hà Tiên, Kiên Lương, An Minh, Vĩnh Thuận, Gò Quao… với sản phẩm chủ lực là tôm sú và tôm chân trắng Hình thức nuôi tôm ở đây cũng rất đa dạng: Quảng canh (QC), quảng canh cải tiến (QCCT), bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC) và các hệ thống nuôi tôm kết hợp: Tôm – rừng, tôm – lúa, tôm – cua – nhuyễn thể… cho hiệu quả kinh tế rất cao, tận dụng được tốt các nguồn lực, điều kiện tự nhiên sẵn có, hạn chế rủi ro và hướng đến phát triển ổn định và bền vững Trong đó tôm sú là đối tượng nuôi có diện tích lớn nhất và được quy hoạch nuôi với nhiều hình thức, nhiều quy mô khác nhau [27]
Kiên Giang cũng là tỉnh có diện tích nuôi tôm sú luân canh với trồng lúa lớn trong cả nước Theo số liệu từ Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Kiên Giang, từ năm
2015 đến nay diện tích tôm không ngừng tăng lên qua các năm: Năm 2015 là 100.885
ha, năm 2016 là 106.610 ha, năm 2017 là 119.488 ha, năm 2018 là 121.314 ha lên 71.500 ha, trung bình mỗi năm tăng 2 - 3% diện tích so với cùng kỳ Năng suất và sản lượng cũng tăng lên hàng năm: Năm 2015 năng suất đạt 517 kg/ha, sản lượng 52.210 tấn và đến năm 2017 năng suất tăng lên 545 kg/ha, sản lượng tăng lên 65.190 tấn Đây
là hình thức nuôi được các nhà khoa học, nhà quản lý đánh giá là mang lại hiệu quả về kinh tế, có tính bền vững về môi trường và lợi ích về mặt xã hội, bởi nó tận dụng tốt những lợi thế về mặt tài nguyên, phát huy nguồn lực tại chổ, hỗ trợ nhau phát triển và giảm chi phí sản xuất cho người nông dân [27][28]
Hình thức nuôi tôm luân canh với lúa đã xuất hiện cách đây 50 – 60 năm Đây
là hình thức canh tác đặc thù ở những vùng nhiễm mặn theo mùa Ở đây, nông dân tự phát tận dụng nguồn nước mặn vào mùa khô để nuôi tôm, đến mùa mưa thì sạ lúa Chính người nông dân đã “phát minh ra” mô hình sản xuất tôm – lúa Xuất phát từ hiệu quả mà nó mang lại, ngày 15/06/2000 Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vậy nuôi Theo đó xác định: Với loại đất lúa kém hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có giá trị
Trang 23nhỏ nối liền với con sông Cái Lớn; phần lớn diện tích tự nhiên chịu ảnh hưởng của chế
độ nhật triều không điều của Biển Tây và một phần nhỏ diện tích chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Biển Đông Nuôi trồng thuỷ sản huyện Gò Quao thời gian qua đã được quan tâm đầu tư phát triển và đạt được hiểu quả khá tốt Đặc biệt là phát triển nuôi tôm, hiện tại diện tích nuôi tôm của huyện Gò Quao có khoảng 4.000 ha, bao gồm nuôi tôm thâm canh, cảng canh cải tiến, tôm – lúa, khóm – tôm nuôi kết hợp Huyện
Gò Quao bắt đầu nuôi tôm chân trắng từ năm 2012 với diện tích 5 ha, năng suất bình quân 0,4 – 0,5 tấn/ha và đến cuối năm 2015 diện tích nuôi tôm chân trắng trên địa bàn
huyện tăng lên 150 ha, năng suất bình quân 0,5 – 0,6 tấn/ha
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở huyện Gò Quao 2015-2018
(Nguồn: Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Quao năm 2018)
Từ khi được chính thức đưa vào nuôi tôm thương phẩm năm 2015, tôm chân trắng đã cho thấy hoàn toàn thích ghi và là đối tượng nuôi có nhiều ưu điểm vượt trội
so với tôm sú Diện tích thả nuôi, năng suất, sản lượng tôm nuôi hàng năm tăng lên đáng kể Nhìn chung từ khi có chủ trương chuyển đổi sang nuôi thẻ chân trắng cho đến nay mặc dù vẫn còn có những khó khăn nhất định như dịch bệnh, giá tôm thương phẩm không ổn định, chi phí sản xuất ngày càng tăng v.v nhưng phần lớn các hộ nuôi tôm chân trắng trong huyện đều có lãi vài trăm triệu đến trên 1 tỷ đồng/năm Ngoài ra, nghề nuôi tôm được khôi phục và phát triển còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thu nhập cho một số ngành nghề có liên quan khác
Tuy nhiên, bênh cạnh những thành công đã đạt được trong thời gian qua thì hiện nay nghề nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại huyện Gò Quao vẫn còn một số tồn tại hạn chế như sau:
Môi trường ở các vùng nuôi tập trung ngày càng bị ô nhiễm do việc xã thải trực tiếp của các cơ sở nuôi Đây là một trong những nguyên nhân làm cho bệnh dịch ngày càng có xu hướng phát triển và gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất
Trang 24Ý thức của người nuôi ở một số nơi chưa thật sự tốt Một số chủ trương, quy định của tỉnh, ngành vẫn chưa được chấp hành nghiêm chỉnh và triệt để như: Tình trạng phát triển diện tích nuôi tự phát không theo quy hoạch; xã thải không chưa qua
xử lý ra môi trường; không tuân thủ theo lịch thời vụ của ngành chuyên môn khuyến cáo; nuôi với mật độ cao,.v.v vẫn còn diễn ra phổ biến làm cho dịch bệnh có điều kiện lây lan và ảnh hưởng đến các diện tích nuôi khác
Cơ sở hạ tầng ở một số vùng nuôi chưa đảm bảo, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi
và điện phục vụ cho sản xuất
Trang 25CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tháng 1/2018 đến tháng 12/2018
- Địa điểm: Huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
- Đối tượng nghiên cứu: Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931)
2.2 Đối tượng điều tra: Các hộ nuôi tôm chân trắng 5 xã và 1 thị trấn thành
phần khác có liên quan
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Hình 1.4 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu đề tài
kỹ thuật nghề nuôi tôm chân trăng thương phẩm
Hiệu quả kinh tế nuôi tôm chân trăng thương phẩm
Diện tích ao nuôi, hệ thống
xử lý nước trang thiết bị
Thả giống:
kích thước, mật độ, mùa vụ
Thức
ăn và quản
lý cho
ăn
Đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi tôm chân trắng theo hướng bề vững
Thu hoạch hiệu quả kinh
tế
Quản
lý dịch bệnh
Kết luận và đề xuất ý kiến
Trang 262.4 Điều tra thu thập số liệu
2.4.1 Thu nhập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu nhập thông qua các cơ quan, ban, ngành của địa phương như: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên – Môi trường, Chi Cục thống kê, Ủy ban nhân dân các xã Thới Quản, Thủy Liễu, Vĩnh Phước
A, Vĩnh Thắng, Vĩnh Tuy và thị trấn Các thông tin được thu nhập bao gồm:
Số liệu thu thập:
- Số liệu về điều kiện tự nhiên của địa phương: Vị trí địa lý, thời tiết – khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng, sông ngòi và kênh lạch, đặc điểm thủy lợi, tài nguyên sinh thái,…
- Số liệu về điều kiện kinh tế – xã hội địa phương: Dân số, lao động, trình độ, học vấn, lực lượng lao động, số hộ và số người lao động tham gia nuôi nuôi tôm chân trắng
- Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng của địa phương: Diện tích nuôi, năng suất, sản lượng, các hình thức nuôi, tổng số hộ nuôi, hiện trạng quản lý môi trường và tình dịch bệnh, thị trường tiêu thụ
- Những thuật lợi khó khăn kiến nghị của người nuôi và hướng phát triển của nghề nuôi tôm chân trắng tại huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Trong nghiên cứu này, phương pháp điều tra qua phiếu được sử dụng nhằm thu thập thông tin
Những thông tin chính được thu thập gồm: các thông tin về người nuôi, hiện trạng kỹ thuật, chuẩn bị ao, thả giống, diện tích nuôi, biện pháp kỹ thuật quản lý thức
ăn và môi trường, biện pháp phòng tri bệnh, hiệu quả kinh tế, thị trường tiêu thụ và các khó khăn thường gặp, kiến nghị hộ nuôi Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để phát triển nghề nuôi tôm chân trắng của huyện theo hướng bền vững
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 209 trong tổng số 325 hộ nuôi tôm chân trắng
Số lượng mẫu điều tra ở mỗi xã được xác định bằng cách sử dụng công thức tính cỡ mẫu của Yamane (1967) Số mẫu phân bổ cho mỗi vùng điều tra được tính theo công thức:
n=N/(1+Ne2) + (5-10% dự phòng)
Trang 27Trong đó:
- n là số lượng mẫu được chọn;
- N là tổng số hộ nuôi tôm trong toàn xã;
- e là xác suất phạm sai làm lần II (thường là 10 %);
- Số hộ dự phòng thu thêm 10 %
Tuy nhiên, do tổng số hộ nuôi ở mỗi xã thường không đều nhau nên đối với những xã có ít hơn 50 hộ nuôi thì tiến hành điều tra toàn bộ số hộ nuôi (100%) Đối với những xã có trên 50 hộ nuôi, tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên thông qua sử dụng hàm phân bố ngẫu nhiên Rand trong Microsoft Excel 2003 Sau khi tính toán, số phiếu điều tra được phân bổ về các địa phương được thông kê ở Bảng 2.1
Bảng 2.1: Số lượng mẫu điều tra phân bổ cho mỗi vùng nuôi
điều tra
Tỷ lệ (%)
có 6 ao tổng diện tích ao nuôi 6.800 m2 chiến 9,8 % hệ thống ao nuôi
- Ao chứa nước có tổng diện tích 24.000 m2 chiếm 34,5 % diện tích hệ thống nuôi ao nuôi, chia làm 3 ao, mỗi ao có diện tích 8.000 m2 dùng để dự trữ nước để cấp cho hệ thống ao xử lý
- Ao xử lý có diện tích 16.000 m2 chiếm 23 % diện tích hệ thống ao nuôi, chia làm 2 ao mỗi ao 8.000 m2
Trang 28- Ao sẵn sàng có diện tích 20.000 m2 chiếm 28,7 % diện tích chia làm 2 ao mỗi
ao có diện tích 10.000 m2 Ao này chỉ lót bạt bờ, dùng để dự trữ nước đã qua xử lý sẵn sàng cấp cho hệ thống ương, nuôi
- Ao nuôi giai đoạn 1 diện tích ao nuôi 400 m2 chiếm 0,6 % diện tích đất của trại, chia làm 2 ao mỗi ao 200 m2 Độ sâu khoảng 0,7 – 1m, giữ được mức nước cao nhất khoảng 1,0 m; hệ thống được thiết kế lót bạt đáy và bảo vệ trong nhà che lưới lan 100% nhằm hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ và ánh sáng cao, hạn chế địch hại, các ký chủ trung gian có thể mang mầm bệnh lây lan qua tôm nuôi
- Ao nuôi giai đoạn 2 diện tích ao nuôi 6.400 m2 chiếm 9,2% diện tích đất của trại, chia làm 4 ao nuôi, mỗi ao nuôi có diện tích 1.600 m2 Độ sâu khoảng 1,4 m, giữ được mức nước cao nhất khoảng 1,6 m; được lót bạt đáy và che lưới lan 50% nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động nhiệt độ và ánh sáng
- Hệ thống ao nuôi cá 2.000 m2 chiếm 2,8% diện tích hệ thống, ao này không lót bạt, dùng để lấy nước trực tiếp từ ao nuôi, được nuôi cá trê và cá rô phi mật đô 15 –
20 con/m2 dùng để võ tôm và xác tôm chết, bảo đảm hạn chế tối đa các mầm bệnh và
ô nhiễm môi trường
2.5.2 Trang thiết bị, máy móc
- Hệ thống máy bơm nước gồm:
+ 1 máy bơm 20 HP cấp nước đầu vào hệ thống nuôi
+ 1 máy bơm 7 HP chuyển nước từ ao chứa sang ao xử lý
+ 1 máy bơm 5HP cấp nước từ ao xử lý sang ao sẵn sàng
+ 1 máy bơm nước 5HP từ ao sẵn sàng cấp cho ao nuôi giai đoạn 1 và ao nuôi giai đoạn 2
+ 1 máy bơm 5HP từ ao nuôi thay nước khi cần thiết
+ 2 máy bơm lưu 200W để rút nước đáy của các ao lót bạt đáy
+ 2 máy bơm chìm loại 1HP dùng để xịt rửa bạt đáy trước khi nuôi và rửa ao sẵn sàng khi cần thiết
- Hệ thống máy bơm nước: gồm 01 máy bơm cấp nước đầu vào hệ thống nuôi;
01 máy bơm chuyển nước từ ao chứa sang ao xử lý; 01 máy bơm cấp nước từ ao xử lý sang ao sẵn sàng; 01 máy bơm nước từ ao sẵn sàng cấp cho ao nuôi giai đoạn 1 và ao nuôi giai đoạn 2; 01 máy bơm từ ao nuôi thay nước khi cần thiết và 02 máy bơm lưu
Trang 29để rút nước đáy của các ao lót bạt đáy; 02 máy bơm chìm loại 1HP dùng để xịt rửa bạt đáy trước khi nuôi và rửa ao sẵn sàng khi cần thiết
- Hệ thống máy bơm xi phông: Mỗi ao gồm 01 máy bơm xi phông để xi phông trong ao nuôi giai đoạn 1 và giai đoạn 2
- Hệ thống quạt nước tạo dòng chảy và oxy: Mỗi giàn 8 – 10 cánh quạt tại ao xử
lý và ao sẵn sàng 02 giàn/ao; 02 giàn/ao nuôi giai đoạn 1 mỗi giàn 10 cánh quạt; 04 giàn/ao nuôi giai đoạn 2 mỗi giàn từ 15 – 18 cánh
- Hệ thống sục khí đáy tạo oxy: thiết kế gồm 02 máy nén khí; hệ thống ống dẫn;
đá bọt; ống eurotyp Được thiết kế như sau: hệ thống ống dẫn khí đáy khoảng cách 2 – 3m/ống; bố trí đá bọt trên ống dẫn 1 – 2m/viên ao nuôi giai đoạn 1 bố trí 360m ống dẫn khí và 250 viên đá bọt; ao nuôi giai đoạn 2 bố trí 650 m ống dẫn khí và 400 viên
đá bọt và bố trí thêm 60 ống eurotyp đường kính vòng tròn 0,3m bố trí đều trong ao Hai máy phát điện dự phòng 3 pha công suất 12kW
- Hệ thống quạt nước: được đặt cách bờ ao từ 1,5 – 2,0 m; khoảng cách giữa 02
bộ cánh quạt từ 50 – 60 cm, lá quạt giữa các bộ cánh quạt được lắp so le Số lượng
quạt phụ thuộc vào mật độ nuôi
2.5.3 Chuẩn bị ao
- Hệ thống ao lắng, chứa bằng máy hút bùn Hệ thống ao xử lý, sẵn sàng cải tạo theo phương pháp cải tạo khô bằng xe cơ giới Sau ủi ao gia cố bờ tiến hành bón vôi đáy liều lượng 300 kg/1.000m3, cho nước vào rửa đáy ao 2 lần rồi bơm cạn phơi cho mặt đất đáy ao vừa ráo (nứt chân chim) sau đó tiến hành cấp nước vào hệ thống ao xử
lý nước
- Tiến hành lót bạt toàn bộ hệ thống ao nuôi, làm nhà lưới lan 100% cho ao nuôi giai đoạn 1 và căng lưới lan 50% cho ao nuôi giai đoạn 2
2.5.4 Lấy nước và xử lý nước
- Cấp nước vào ao xử lý từ ao lắng qua túi lọc bằng vải xo, độ sâu mực nước 1,5 m Sau khi lấy nước sẽ chạy quạt trong 3 ngày (sáng: 9giờ – 10 giờ; trưa: 2 giờ – 3 giờ) kích thích cho trứng cá tạp và giáp xác nở…
- Ngày thứ 4 tiến hành xử lý TCCA 90% với lượng 20 ppm
- Ngày thứ 6 nâng pH khoảng 7,8 – 8,0 và độ kiềm 100 – 120 ppm thích hợp bằng vôi bung và dolomite
- Ngày thứ 8: Tiến hành cấp nước qua ao sẵn sàng
Trang 30Cấp nước qua ao nuôi trước khi thả giống 2 ngày, sau khi cấp đủ nước thì gây màu nước bằng men vi sinh (1lít men EM với 1kg bột mì, 2kg rỉ mật đường, 50 lít nước ngọt sạch, khuấy đều đậy kín ủ sau 48h giờ) với liều lượng 1lít men EM đã ủ/1.000 m3 Sau 2 ngày bổ sung thêm men vi sinh liều lượng 0,5 lít men EM đã ủ /1.000 m3
- Trước khi thả giống 3 ngày kiểm tra các yếu tố môi trường đạt yêu cầu thì tiến hành thả giống
2.5.5 Chọn giống và thả giống
- Giống nuôi chọn tại trại sản xuất giống thuỷ sản uy tín, tôm giống khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, đường ruột đầy thức ăn, tuổi post là 12, chiều dài
và khối lượng tôm ban đầu lần lượt là 1 – 1,2 cm và 0,03g
- Trước khi thả giống được thuần tôm trong bể nhựa thời gian thuần 30 – 45 phút
để cân bằng nhiệt độ và các yếu tố môi trường khác nếu có chênh lệch Mật độ thả giống, giai đoạn 1 là 3.000 con/m2
2.5.6 Chăm sóc và quản lý
Cho ăn và quản lý thức ăn
- Tôm giống được cho ăn với thức ăn công nghiệp 6 lần/ngày (6giờ, 9giờ, 12giờ,
15 giờ, 18 giờ, 21giờ) Lượng thức ăn theo % trọng lượng thân ở các kích cỡ tôm khác nhau cùng với quan sát lượng thức ăn hàng ngày để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp ở 2 tuần đầu là 0,5 g/ngày Các tuần còn lại, tôm được cho ăn 5 lần/ngày (6 giờ, 10 giờ, 15 giờ, 18 giờ, 21giờ) Khối lượng thức ăn được tính toán dựa trên mỗi lần thu mẫu khối lượng tôm, quan sát ruột tôm, thức ăn dư thừa Kết thúc giai đoạn 1, hệ
số thức ăn (FCR): 0,8
- Từ ngày tuổi 30 trở lên có thể cho ăn và điều chỉnh lượng thức ăn, tần suất cho
ăn theo khả năng bắt mồi của tôm dựa vào việc thăm sàn và thức ăn thừa khi xi phông
- Sàng ăn (nhá) thường có diện tích 0,4 – 0,5 m2 đối với sàng hình tròn (đường kính 70 – 80 cm) và 0,64 m2 đối với sàng hình vuông (cạnh 80 x 80 cm), thành cao không quá 5cm Sàn ăn được đặt ở sát đáy ao, nơi sạch sẽ, cách chân bờ ao 1 – 2 m Số lượng sàn ăn khoảng 1 sàn/2.000 m2
- Khi chuyển đổi mã số thức ăn nên trộn chung cả 2 loại thức ăn đã sử dụng ít nhất 4 ngày Việc cho ăn sẽ được thực hiện bằng cách tính toán lượng thức ăn trong ngày dựa vào bảng sau
Trang 31Trọng lượng tôm (g) Lượng thức ăn trên % trọng thân
Hệ số thức ăn (FCR) cả 2 giai đoạn dự kiến là: 1,4
* Thời gian chạy quạt và oxy đáy
Trong quá trình nuôi 2 giai đoạn, việc chạy oxy đáy đảm bảo liên tục 24/24 giờ Thời gian chạy quạt thể như sau:
- Giai đoạn 1: Sử dụng 02 giàn quạt, tắt quạt trước khi cho ăn 15 phút và mở quạt sau khi cho ăn từ 1 – 2 giờ tùy theo từng giai đoạn, thời tiết… Tắt quạt trong quá trình xi phông và mở quạt lại ngay khi xi phông xong
- Giai đoạn 2: Mở 04 giàn chạy quạt liên tục, chỉ tắt 01 đến 02 giàn quạt (tùy vào giai đoạn, thời tiết) trong thời gian xi phông và vệ sinh đáy ao
* Quản lý sức khoẻ tôm nuôi
- Hằng ngày tiến hành xi phông loại bỏ chất thải và thức ăn dư thừa tập trung ở giữa đáy ao và xác tôm chết 1 lần/ngày thời điểm (sáng 8 giờ và chiều 4 giờ)
- Khi thời tiết thay đổi, môi trường nước trong ao biến động thì trộn thêm Vitamin tổng hợp, Vitamin C với liều lượng 5g/kg thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho tôm
- Thường xuyên bổ sung khoáng, men tiêu hóa cho tôm bằng cách trộn vào thức
ăn, dùng vôi bung, dolomite, khoáng tạt xử lý trực tiếp vào ao nuôi nhằm giúp tôm mau cứng vỏ, lột xác đồng loạt, tăng kiềm, ổn định pH
- Khi kết thúc giai đoạn 1, trước khi sang tôm giai đoạn 2, kiểm tra sức khỏe cũng như mầm bệnh trên tôm, khi đảm bảo các yêu cầu về sức khỏe và mầm bệnh thì tiến hành sang ao nuôi thương phẩm
- Sử dụng Vitamin C tạt trực tiếp xuống ao nuôi giai đoạn ương và ao nuôi thương phẩm nhằm giảm sốc khi tiến hành sang ao
- Giai đoạn 1: Sử dụng xen kẻ xử lý men vi sinh BZT 4 ngày/lần, xử lý 0,5 lít men EM1 đã ủ 48 giờ 3 ngày/ lần
Trang 32- Giai đoạn 2: Định kỳ 5 ngày xử lý 1 gói men BZT và sau 2 ngày thì sử dụng 1 lít men EM1 đã ủ 48 giờ
- Dolomite: Có thể dùng trong ao nuôi và ao xử lý khi độ kiềm thấp hơn 100mg CaCO3/lít và những khi trời mưa to thì sử dụng bón vào ao liều lượng 25kg/1000 m3
- Vôi CaCO3: dùng để nâng pH và độ kiềm ở ao xử lý
* Thay, cấp thêm nước
Phương pháp theo dõi chỉ tiêu môi trường
Phương pháp lấy mẫu phân tích
Cân khối lượng (g) 7 ngày/lần Cân 02 số lẻ
* Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
+ Tăng trưởng theo ngày về khối lượng (Daily Weight Gain-DWG) (g/ngày)
Trang 33DWG = (W2 – W1) / T + Tăng trưởng theo ngày về chiều dài (Daily Weight Gain - DLG) (cm/ngày)
DLG = (L2– L1)/T (Trong đó: W1: khối lượng tôm lúc đầu (g); W2: khối lượng tôm lúc thu mẫu (g); L1: chiều dài tôm lúc đầu (cm); L2: chiều dài tôm lúc thu mẫu (cm) và T: Số ngày nuôi)
- Sau 20 ngày kể từ khi thả giống, dùng sàng ăn, sau 30 ngày kết hợp giữa sàng
ăn và chài tôm để xác định tỷ lệ sống và lấy mẫu để xác định khối lượng và chiều dài
Định kỳ 7 ngày lấy mẫu kiểm tra tăng trưởng và chiều dài một lần
- Cách thu mẫu tôm nuôi: Thu mẫu bằng sàng sau đó dùng vợt vớt tôm lên cho vào trong xô hoặc thau có chứa nước trong ao nuôi, sau đó tiến hành cân tôm
- Cách cân và ghi nhận về tăng trưởng khối lượng của tôm: chọn ngẫu nhiên 30 con/sàng trong tổng số mẫu thu Dùng cân cân các mẫu tôm sau đó tính khối lượng trung bình của mỗi con tôm
- Cách đo chiều dài và ghi nhận về tăng trưởng chiều dài của tôm: chọn ngẫu nhiên 30 con/sàng trong tổng số mẫu thu Dùng thước có chia vạch (mm) đo chiều dài
từ chủy đầu đến telson của tôm để tính chiều dài trung bình của đàn tôm
* Hệ số chuyển hoá thức ăn (Feed conversion ratio, FCR)
FCR = KL thức ăn tôm sử dụng/KL tôm kết thúc thực nghiệm
Lượng thức ăn tôm sử dụng = KL lượng cho ăn – KL lượng thừa
KL tôm kết thúc thực nghiệm = (KL tôm thu – KL tôm ban đầu) + KL tôm chết Ghi chú: Khối lượng thức ăn thừa được xác định bằng cách đếm số viên thức ăn
dư sau mỗi lần cho ăn (30 phút) để qui đổi ra khối lượng khô từ đó xác định được thức
ăn tôm đã dùng trong ngày theo công thức
* Tỷ lệ sống (%) (survival rate-SR)
Tỷ lệ sống = (số cá thể cuối / số cá thể ban đầu) x 100
Xác định tỷ lệ sống dựa vào sàng ăn và số tôm thu được trong mỗi lần chài tôm Theo dõi số tôm chết hàng ngày
Thu hoạch tôm, kiểm tra số lượng tôm sau khi thu hoạch và số lượng tôm bố trí lúc đầu
Có thể dự đoán tỉ lệ sống của tôm theo công thức:
Tỷ lệ sống = Số tôm trung bình / chài x diện tích ao (m
2)
x 100 Diện tích chài (m2) x số tôm ban đầu