TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN --- ĐỖ THỊ QUỲNH NGA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH LÙNG CỦA NHẤT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
ĐỖ THỊ QUỲNH NGA
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
LẠNH LÙNG CỦA NHẤT LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
ĐỖ THỊ QUỲNH NGA
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
LẠNH LÙNG CỦA NHẤT LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS THÀNH DỨC BẢO THẮNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành nhất tới TS GVC Thành
Đức Bảo Thắng Thầy đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất
về mọi mặt để tôi hoàn thiện khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy (Cô) trong tổ Văn học Việt Nam đã tận tâm dạy bảo và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn khích lệ, cổ vũ, trợ giúp tôi trong thời gian qua
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Đỗ Thị Quỳnh Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo tài liệu, trang web, ấn phẩm có liên quan đến nội dung nghiên cứu
từ những người đi trước dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn trọng của TS GVC
Thành Đức Bảo Thắng
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Đỗ Thị Quỳnh Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Cấu trúc khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 8
1.1 Tác giả Nhất Linh 8
1.1.1 Thân thế 8
1.1.2 Cuộc đời 9
1.2 Vị trí của tiểu thuyết Lạnh lùng trong sự nghiệp sáng tác của Nhất Linh11 1.3 Thời gian nghệ thuật 13
1.3.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 13
1.3.2 Các dạng thức của thời gian nghệ thuật 14
1.4 Không gian nghệ thuật 17
1.4.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 17
1.4.2 Các dạng thức của không gian nghệ thuật 18
* Tiểu kết 22
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH LÙNG 23
2.1 Biểu hiện thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng 23
2.1.1 Thời gian hiện thực 23
2.1.2 Thời gian tâm lí 29
Trang 62.2 Biểu hiện không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng 31
2.2.1 Không gian thiên nhiên 31
2.1.2 Không gian tâm lí 35
KẾT LUẬN 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm ba mươi của thế kỉ XX, bạn đọc Việt Nam biết tới cái tên
Tự lực văn đoàn - một nhóm văn chương tiến bộ Văn chương của họ đã thể
hiện tư tưởng mới mẻ, dám nghĩ, dám làm mà không phải thời đại hay nhà văn nào cũng có thể làm được Điểm mấu chốt trong văn chương của họ là phản đối những định kiến lạc hậu của Nho giáo, đòi quyền lợi cho tự do, khát
vọng và hạnh phúc của cái tôi cá nhân… Tự lực văn đoàn ra đời đã tìm được
những cây bút thực sự tài năng gồm có tám người, được gọi là “bát tú” - tám ngôi sao: Nhất Linh - tinh tế, mực thước; Hoàng Đạo - mưu lược linh hồn; Thạch Lam - tài hoa, gần gũi, bình dân; Khái Hưng - cậu ấm làm văn chương; Thế Lữ “đa sự”; Tú Mỡ - cười nửa miệng; Trần Tiêu - thuần hậu nét quê và Xuân Diệu - sao hôm, sao mai Trong đó Nhất Linh được coi là cha đẻ sản
sinh ra nhóm Tự lực văn đoàn, có công đưa văn xuôi Việt Nam chuyển mình sang giai đoạn mới- văn học hiện đại Những tác phẩm của Tự lực văn đoàn
đã trải qua những biến động mạnh mẽ của thời gian nhưng vẫn “lóng lánh như những hạt ngọc” trên diễn đàn văn học Việt Nam
Trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã có những định hướng đổi mới tiến
bộ phù hợp với tư tưởng văn học và văn hóa Tiểu thuyết ra đời nhằm mục đích truyền bá tư tưởng chống đối nho phong hủ bại mà trực tiếp là chống lại chế độ Nho giáo của Khổng Tử đã thống trị suốt hàng ngàn năm qua Đặc biệt
trong sáng tác của Nhất Linh, cùng với Đoạn tuyệt, Lạnh lùng là tác phẩm
hướng tới tố cáo, phủ định quyết liệt, mạnh mẽ, không khoan nhượng vào khuôn phép, gia phong của Nho giáo Sự thành công của tác phẩm ở cả giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật, với ngòi bút điêu luyện nhằm hướng tới cuộc đời, số phận của người phụ nữ trẻ tuổi Đi nghiên cứu “Thời gian và thời
không nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng” chính là làm sáng tỏ đóng góp
về phương diện nghệ thuật và tài năng của ông
Trang 8Là sinh viên khoa Ngữ văn - một nhà giáo tương lai, thực hiện đề tài
“Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất
Linh” có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu sau này
Với những lí do như trên, chúng tôi chọn đề tài “Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”
Trước đây, khi đề cập đến vai trò cách tân của Tự lực văn đoàn trong
địa hạt tiểu thuyết, một số nhà nghiên cứu thường chỉ đi sâu phân tích khai
thác những đóng góp của Tự lực văn đoàn vào hiện đại hóa nền tiểu thuyết Việt Nam chủ yếu ở phương diện ngôn ngữ Với tiểu thuyết Lạnh lùng, các
nhà nghiên cứu đi sâu khai thác trên phương diện tác giả, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật hoặc hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm chứ chưa nghiên cứu cụ thể về thời gian và không gian nghệ thuật Ở bài nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra đưa ra những đánh giá nổi bật về thời gian và không gian nghệ thật trong tiểu thuyết của Nhất Linh
Trang 9Năm 1939, cuốn sách Dưới mắt tôi ra đời, Trương Chính đã dùng ngòi
bút của mình chuyên chú nghiên cứu các tác phẩm mới, tiến bộ, thể hiện cách nhìn mới mẻ của các nhà văn về cuộc đời và con người Khi bàn về tác phẩm
Lạnh lùng ông cho rằng đó là “mũi tên độc thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào
Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn nhân của chế độ cũ đáng thương như Loan, Nhung một người đàn bà trẻ tuổi, góa bụa, nhưng không đi lấy chồng, hay không thể, không dám đi lấy chồng vì Luân lí, vì Đạo đức, vì Danh dự” [2; tr,630] Hơn nữa, ông cũng khẳng định khi đánh giá về nội dung của tiểu thuyết
Lạnh lùng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ nặng nề, eo
hẹp, trong đó Nhung mà có lẽ cả ta nữa đương rãy rụa, đang ngấp ngoải… Đến trang cuối cùng, ta có một cảm giác rùng rợn, khủng khiếp Cảm giác ấy là cảm giác của Nhung khi nàng nghĩ đến tương lai hắc ám, ghê sợ” [2; tr,633]
Những công trình nghiên cứu, đánh giá của Chương Trính trong cuốn
Dưới mắt tôi, ông đã tìm hiểu kĩ giá trị hiện thực trong sáng tác của nhà văn
Nhất Linh: phê phán sự thối nát của chế độ đại gia đình mục ruỗng Đồng thời ông còn ghi nhận sự tiến bộ trong sáng tác của Nhất Linh khi phơi bày sự áp bức, bóc lột, giả dối đang ẩn sau những luân lí, danh dự, đạo đức
Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đưa đánh giá của riêng mình đã xếp Nhất Linh vào Tiểu thuyết luận đề Đặc biệt ông chủ yếu
nghiên cứu những ảnh hưởng của khuôn phép, lễ giáo hà khắc: “Ông là một tiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu trong gia đình và trong xã hội, mà bất kì ở giai cấp nào chứ không phải hạng thợ thuyền và dân quê, ông là một nhà văn viết về những phong tục xấu của người Việt Nam và có cái tư tưởng khuyến người ta sửa đổi” [21; tr,300]
Thời kì này giới nghiên cứu đề cao sáng tác của Nhất Linh Các công trình nghiên cứu, chủ yếu đề cập đến nội dung chống hủ tục lạc hậu, đòi quyền tự do cá nhân Vì vậy tiểu thuyết của ông được coi là sự tiến bộ của tư tưởng mới, về đổi mới ở ngôn từ, lời văn
Trang 102.2 Sau năm 1945
Có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn tới tiểu thuyết của Nhất Linh
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Lược thảo lịch sử của văn học Việt
Nam tập 3 (từ giữa thế kỉ XX đến năm 1945, 1957) (Lê Quý Đôn), Bình giảng
về Tự lực văn đoàn (1958) (Nguyễn Văn Xung), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3 (1960) (Phạm Thế Ngũ), Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi Việt Nam hiện đại (1997) (Trịnh Hồ Khoa) đã đánh giá
một cách khái quát về những đóng góp mới của tiểu thuyết Nhất Linh cho văn
xuôi nước nhà Tiểu thuyết Lạnh lùng chủ yếu được nhiều nhà nghiên cứu
phân tích, đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau
- Ở miền Nam
Trong cuốn Bình giảng về Tự lực văn đoàn, chú ý tới nghệ thuật miêu
tả nhân vật của Nhất Linh, Nguyễn Văn Xung cho rằng: “Nhất Linh không phải tả cảnh như Khái Hưng nhưng là để móc vào đấy những biến đổi uyển chuyển trong tình cảm của nhân vật.” [31; tr,65] Bên cạnh đó, Phạm Thế Ngũ
đã rất chính xác và tinh tế khi khẳng định tài năng miêu tả tâm lí qua nhân vật trung tâm của tác phẩm - Nhung: “tâm lý ái tình được ghi nhận và được diễn đạt một cách khá vi diệu (…) Người ta thấy ảnh hưởng của Prust và Frend nữa trong cái bút pháp của tác giả mô tả ái tình, dục tình, trỗi dậy trong lòng Nhung” [20; tr,463] Chú ý khám phá và diễn tả đời sống nội tâm phức tạp của con người trở thành đích vươn tới của nhà văn và đây cũng là bước chuyển đánh dấu sự đổi mới tư duy trong cách viết, cách nhìn về nhân vật
- Ở Miền Bắc
Lạnh lùng của Nhất Linh cũng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến,
dường như có sự gặp gỡ khi chú ý tới yếu tố tâm lí nhân vật của cây bút này Phải kể đến nhận xét xác đáng của nhóm Lê Quý Đôn: “Nhất Linh thành công
ở cách bố trí truyện và cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi bật tâm
Trang 11lí nhân vật” [5; tr,331] Càng về sau, yếu tố này được nhấn mạnh và coi đó là thế mạnh, tạo nên sức hấp dẫn trong ngòi bút Nhất Linh Trên tinh thần ấy,
tác giả của giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại đã khẳng định: “Nhất Linh
ngó sâu vào mâu thuẫn trong tâm hồn; tấn bi kịch âm ỉ, đôi lúc bùng ra, luôn luôn có sức hấp dẫn” [22; tr,107] Điều đó không thể phủ nhận khi một lần
nữa, Nhất Linh lại thành công trong tiểu thuyết Bướm trắng khi miêu tả thành
công thế giới tâm lí dao động, khó nắm bắt qua nhân vật của mình
Bước vào giai đoạn sau Đại hội VI (1986), trong xu thế đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, một số hiện tượng văn học được nhìn nhận một cách khoa học và toàn diện hơn, trong đó có Nhất Linh Những công trình
nghiên cứu về tiểu thuyết Nhất Linh thời kì này có: Phan Cự Đệ (Tự lực văn
đoàn - con người và văn chương), Trương Chính (Vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn), Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh (Về Tự lực văn đoàn), Vũ Gia (Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học)… đã chỉ ra những đóng góp tiêu
biểu của Nhất Linh trong tư tưởng và nghệ thuật - đặc biệt là nghệ thuật miêu
tả tâm lí nhân vật Đồng thời cũng khách quan chỉ ra những hạn chế của ông trong từng chặng đường văn học Tiêu biểu Vũ Thị Khánh Dần cho rằng
“Tiểu thuyết của Nhất Linh còn một số hạn chế mang tính lịch sử, một số nhân vật thiếu sức sống lâu bền, do tính cách chưa sắc cạnh, tâm lý nhân vật còn đơn giản” [3; tr,11] Hay Dương Thị Hương cũng chỉ ra một số điểm hạn chế trong nghệ thuật xây dựng nhân vật “Nhân vật được miêu tả trong thế giới
cô lập, khép kín, vì vậy quá trình tâm lí hoặc các trạng thái tâm lí của nó được nhìn nhận bởi cái nhìn chủ quan của tác giả và nhân vật nhiều hơn bởi sự tác động của hoàn cảnh” [10; tr,14]
Hơn nửa thế kỉ qua, việc đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh là một quá trình phức tạp, nhưng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu mới đi dần đến sự xứng đáng hơn với đóng góp của ông Đó là cái nhìn nhận đúng những thành
Trang 12công về nghệ thuật tiểu thuyết cho nền văn học Việt Nam hiện đại Với tác
phẩm Lạnh lùng, Nhất Linh đã rất thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật, nhân vật bộc lộ tâm trạng của mình bằng ngôn từ trong sáng, giản
dị, giàu chất thơ Ở những bài phê bình ở thời kì trước, các nhà nghiên cứu phần nào chỉ ra một số đặc điểm thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nhất Linh Kế thừa thành tựu nghiên cứu từ thời kì trước, chúng tôi tiếp tục bổ sung, tiếp tục đi sâu nghiên cứu cụ thể vào thời gian và không
gian nghệ thuật trong Lạnh lùng
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới tìm hiểu và phân tích “Thời gian và không gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là “Thời gian và không gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu “Thời gian và không gian nghệ thuật trong
tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh” Để làm rõ các yếu tố nghệ thuật trên,
chúng tôi có tham khảo các tác phẩm khác của ông và một số cây bút cùng thời
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi linh hoạt vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp so sánh Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê Các thao tác giải thích, chứng minh, bác bỏ, bình luận cũng được sử dụng làm thao tác hỗ trợ
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận nghiên cứu sâu về thời gian và không gian nghệ thuật trong
tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh Trên cơ sở đó khẳng định thành tựu và
tài năng của Nhất Linh trong nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật
Trang 13Khóa luận có thể làm nguồn tài liệu hỗ trợ đắc lực cho người nghiên cứu khi tìm hiểu về Nhất Linh
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Thư mục và Tài liệu tham khảo; khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Biểu hiện thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết Lạnh lùng
Trang 14NỘI DUNG Chương 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Tác giả Nhất Linh
1.1.1 Thân thế
Nhất Linh tên khai sinh là Nguyễn Tường Tam, ông cất tiếng khóc chào đời vào ngày 27 tháng 5 năm 1906 tại phố huyện nghèo Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, nơi giao thoa giữa hai vùng văn hóa: quan họ Kinh Bắc và khoa cử xứ Đông Ông nội Nguyễn Tường Trấp (hay còn gọi là Tiếp), trưởng nam và làm tri huyện tại Cẩm Giàng và được người dân ở đây thường gọi bằng sự kính nể là: Huyện Giám Ông Huyện Giám Nguyễn Tường Tiếp có ba người vợ và có bốn người con, trong đó có Nguyễn Tường Chiếu, tục gọi là Nhu sinh năm
1881 làm tới chức Thông phán tòa sứ, nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu Ông Nhu kết hôn với bà Lê Thị Sâm, con gái cả viên quan võ Lê Quang Thuật Thành quả của cuộc hôn nhân này là sự ra đời của 7 người con, sáu trai một gái, ai cũng tài giỏi Nhất Linh là con thứ ba của gia đình ông bà Nhu Ông Thông Nhu mất bên Lào vào năm 1918, gia đình lâm vào cảnh túng quẫn, nghèo khổ Đây là thời điểm đánh dấu những ngày tháng thống khổ và
có ý nghĩa to lớn trong cuộc đời họ Bà Nhu khi ấy 37 tuổi, đó là độ tuổi hồi xuân của đời người vậy mà bà phải tần tảo khuya sớm nuôi bảy người con, trong hoàn cảnh các con mới đang ở độ tuổi thơ ấu và niên thiếu
Gia đình ông sống ở phố huyện Cẩm Giàng nghèo đói, chịu sự càn quét của bọn Tây Để nuôi được các con ăn học bà Nhu đã can đảm vượt qua thử thách, kiếm sống bằng các nghề như: buôn gạo, nấu thuốc phiện… Bà Nguyễn Thị Thế kể lại trong hồi ức: “Gia đình mẹ tôi xưa nghèo, và trở thành khốn quẫn sau khi ông (tức ông Nhu - TG chú thích) mất bên Lào Bà buôn bán tảo tần nuôi bảy người con ở cái phố huyện buồn thiu… Các anh em trai đi học, mẹ tôi là con gái độc nhất ở nhà thay mẹ lo việc nội trợ…” [32; tr,261] Cuộc sống
Trang 15nghèo khổ mà ông đã từng chứng kiến được ăn vào nếp nghĩ, tiềm thức và hằn sâu trong tâm hồn các con (đặc biệt là Nhất Linh và Thạch Lam), để sau này những sự kiện, biến cố được nếm trải ấy lại được kí thác thành những nhân vật văn học trong các sáng tác của họ
1.1.2 Cuộc đời
Lúc nhỏ ông được cha mẹ cho theo học tiểu học ở Cẩm Giàng - Hải Dương, sau đó ông chuyển trường và học trung học tại trường Bưởi - Hà Nội Năm 1922,
nhà văn làm thơ và được đăng trên báo Trung Bắc Tân Văn, hai năm sau (1924)
có bài Bình luận văn chương về Truyện Kiều trên Nam Phong Tạp chí, một ấn
phẩm vào loại sang thời ấy Dường như, đây là tác phẩm đầu tiên song chưa thật
sự nổi bật, tuy nhiên tác phẩm này cũng dự báo tương lai tươi sáng và đầy hi vọng cho sự nghiệp văn chương của nhà văn, nhà chính trị sau này
Năm 17 tuổi ông đỗ bằng Cao tiểu, nhưng chưa đủ tuổi vào trường Cao đẳng, nên ông xin làm ở Sở Tài chính Hà Nội, nhờ sự quen thân với Tú Mỡ cùng viết cho tờ Nam Phong Cũng vào năm đó nhà báo quyết định kết hôn với bà Phạm Thị Nguyên
Năm 18 tuổi ông tiếp tục học ngành Y Năm 19 tuổi trường Cao đẳng
Mỹ Thuật được thành lập dưới sự bảo hộ của nhà nước, ông quyết định thi và
đỗ đầu bảng Năm 1924, ông cho ra đời tập truyện Nho phong (1924) Những
năm 1925-1926 phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi cộng với bức tranh cuộc sống thôn quê mà ông được thị giác thấy qua những đợt đi trải nghiệm, tập vẽ phong cảnh thực tế với họa sĩ “Tạc” đã cổ vũ lòng nhiệt huyết đối với đất nước Năm 20 tuổi, ông vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ Đình Di vì hai ông này cùng có chí hướng làm báo Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh nên hai người này bị bắt, nhà văn bị liên lụy phải trốn sang Lào, tự kiếm tiền để lo trang trải cuộc sống bằng nghề vẽ thuê phông rạp và tìm đường sang Pháp du học
Trang 16Năm 21 tuổi, giấc mơ sang Pháp du học của ông đã trở thành hiện thực
Ở đó ông trau dồi kiến thức, nghiên cứu sâu về báo chí xuất bản Năm 24 tuổi, ông đậu bằng Cử nhân Khoa học và cùng thời gian đó ông trở lại Việt Nam
Năm 1930, ông trở về nước làm giáo sư tại trường tư thục Thăng Long
- Hà Nội, kết bạn với Khái Hưng cùng dạy ở đây Tại mảnh đất Hà Thành ông cùng hai em ruột của mình là Hoàng Đạo và Thạch Lam xin ra tờ báo trào
phúng Tiếng cười, nhưng không có đủ để xuất bản thì giấy phép hoạt động hết
hạn, bị tước bỏ
Năm 1932, ông cùng với một số người khác mua lại tờ báo Phong Hóa
Nội dung của báo có tư tưởng tân tiến, mới mẻ là “duy tân cấp tiến, đả phá hủ tục”, khích lệ vươn tới cái tươi sáng, văn minh Ngày 22-9-1932, số báo
Phong Hóa đầu tiên ra đời do Nhất Linh làm chủ bút với mục đích là ủng hộ
cho phong trào thơ mới: “Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”
Năm 1933, ông đi đầu và làm chủ soái thành lập nhóm Tự lực văn đoàn
Thời kì này bên cạnh việc bao quát tòa soạn, cầm bút sáng tác cho văn đoàn, Nhất Linh cũng đã dành rất nhiều thời gian, nhiệt huyết cho việc sáng tác và thúc đẩy hoạt động của văn đoàn tiến lên một bước mới Đến năm 1934, ông
đã sáng tác được Anh phải sống (viết với Khái Hưng, 1932-1933), Gánh hàng
hoa (viết với Khái Hưng, 1934), Đời mưa gió (viết với Khái Hưng, 1934), Nắng thu (1934)
Ngày 30-1-1935, ra tờ Ngày Nay số 1 bán giá 10 xu Vì phải nuôi hai tờ báo cùng một lúc, không có đủ tiền trang trải nên tờ báo Ngày nay ra được 13
số bị phá sản chỉ còn tờ Phong Hóa Chỉ sau một năm khi có hàng loạt bài báo đích danh chĩa thẳng vào nhà cầm quyền, tờ Phong Hóa chính thức bị đóng cửa sau ba năm hoạt động Giai đoạn này Nhất Linh cũng đã sáng tác được Lạnh
lùng (1935-1936), Đôi bạn (1936-1937), Bướm trắng (1938-1939), Đi Tây
(1935), Hai buổi chiều vàng (1934-1937), Thế rồi một buổi chiều (1934-1937)
Trang 17Năm 1939 Nhất Linh từ một nhà văn, nhà báo đã chuyển sang lĩnh vực chính trị Ông thành lập Đảng Hưng Việt rồi làm Tổng thư kí Đảng Đại việt
dân chính Vì có ý thức chống Pháp nên một số thành viên của Tự lực văn
đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo… bị bắt và đi đày ở Sơn La Nhất Linh
sang Hồng Công với ý định dựa vào Nhật để chống Pháp Ông từng bị bắt giam bốn tháng ở nhà tù Liễu Châu năm 1942 Sau nhờ có Nguyễn Hải Thần, Nghiêm Kế Tổ bảo lãnh, nên ông được tự do, nhưng không trở về nước mà sống cuộc đời lưu vong lần thứ nhất tại Trung Quốc Cuối năm 1945 đầu năm
1946, ông về Hà Nội và tham gia đại biểu Quốc hội khóa I Ông được cử trong phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp) nhưng không đi,
mà bỏ sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946
Năm 1950, ông trở về nước, tuyên bố không hoạt động chính trị, kết thúc 11 năm cống hiến cho Đảng Năm 1951, Nhất Linh cùng người anh cả là Nguyễn Tường Thụy vào Nam Thời kì này, ông tiếp tục sáng tác, đồng thời cho in ấn lại các tác phẩm cũ Năm 1955, ông quyết định ở Đà Lạt với niềm yêu thích cây cảnh và khiếu vẽ tranh Sau đó, ông cho ra đời các tác phẩm:
Dòng sông Thanh Thủy (1960-1961), Ba người bộ hành, Chi bộ hai người, Vong quốc, dịch phẩm: Đỉnh gió hú của Emily Bronte (đăng báo 1960, xuất
bản 1974), Thương chồng (1961), khảo luận: Viết và đọc tiểu thuyết
(1952-1961) Tháng 7 năm 1963, Nhất Linh quyên sinh để chống lại việc phán sử của Tòa án quân sự khi bị kết tội: “xâm phạm an ninh Quốc gia”
Là người đam mê chính trị, say mê văn học nghệ thuật, trong cuộc đời của mình, Nhất Linh đã nhận thấy thất bại khi làm chính trị và chỉ còn ở ông- một nhà văn với khát vọng đổi mới
1.2 Vị trí của tiểu thuyết Lạnh lùng trong sự nghiệp sáng tác của Nhất Linh
Ngay từ khi ra đời, Tự lực văn đoàn đã có những hướng đi đúng đắn,
góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới tiểu thuyết ở Việt Nam nửa đầu
Trang 18thế kỉ XX, đó là mở ra cho tiểu thuyết hướng đi sâu vào khai thác tâm lí nhân
vật Những nhân vật từ Nhung (Lạnh lùng), Tuyết (Đời mưa gió), đến Lan, Ngọc (Hồn bướm mơ tiên), Dũng (Đôi bạn), Trương (Bướm trắng) phần lớn
là những nhân vật tâm lí Nhất Linh đã thành công khám phá ra con người tâm lí, nội tâm của nhân vật cũng đã chi phối kết cấu cũng như mạch vận động của truyện Không gian nghệ thuật thu gọn lại trong những “vòng tròn tâm lý hướng tâm” Việc từ bỏ lối kết cấu chương hồi, chuyển sang lối kết cấu
tâm lí, tiểu thuyết của Nhất Linh đặc biệt là tiểu thuyết Lạnh lùng đã làm đảo
lộn toàn bộ thi pháp tiểu thuyết của các nhà văn lớp trước, chi phối trong các khâu sáng tạo nghệ thuật, từ việc lựa chọn tình huống, miêu tả tâm trạng nhân vật đến bố cục tác phẩm cũng như cách tổ chức không gian, thời gian Để phù hợp với việc miêu tả nội tâm nhân vật không gian và thời gian nghệ thuật thu hẹp dần từ hướng ngoại sang hướng nội Trong tiểu thuyết Nhất Linh chủ yếu
là không - thời gian thiên về những cảm xúc nội tâm, không gian thi vị, diễm
lệ phù hợp với cái nhìn chủ quan, duy cảm
Giữa Đoạn tuyệt và Bướm trắng thì Lạnh lùng nằm ở trung gian Với
Đoạn tuyệt ông chủ trương miêu tả tâm lí của Loan, nhưng là tâm lí đơn lập,
một chiều, dù trong đau buồn hay vui vẻ Loan cũng hành động một cách tích
cực Bước sang Lạnh lùng, Nhất Linh bắt đầu len lỏi vào diễn biến tâm lí phức
tạp, hỗn loạn của con người, cuộc đấu tranh giằng xé trong cuộc sống - đặc biệt
là Nhung Lạnh lùng là dấu mốc quan trọng trong nghệ thuật của Nhất Linh
vừa phê phán xã hội vừa thể hiện tâm lí nhân vật Không phải tâm lí một chiều
như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng miêu tả trạng thái phức tạp, dao động, tâm lí ấy bị
chi phối nhiều hoàn cảnh, có ý thức đi sâu vào khám phá đời sống tâm lí
Những năm 30 của thế kỉ XX, vị chủ súy trong cuốn Viết và đọc tiểu thuyết cho
rằng: “Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài Diễn tả được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc
Trang 19đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh tế nhị của tâm hồn” Quan niệm tiểu thuyết phải đi sâu vào miêu tả thế giới bên trong tâm hồn con người đã chi phối quan niệm sáng tác của nhà văn Với tư tưởng mới
mẻ, cách lựa chọn thời gian và không gian nghệ thuật hợp lí, ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu vì thế đã tạo nên sự say mê, lôi cuốn, sự “say sưa thấm vào tận
đáy lòng”, làm cho tất cả những gì mà “cơn bão” Tố Tâm gây ra trước đó đi vào quên lãng Chính vì vậy mà ở Lạnh lùng tác giả đã rất thành công trong
việc nghiên cứu những trạng thái tâm lí phức tạp, khó nắm bắt của người phụ
nữ trẻ tuổi, tiêu biểu là Nhung - nhân vật trung tâm của tác phẩm
“Thời gian và không gian nghệ thuật trong Lạnh lùng” được xem là
nguyên tố không thể thiếu tạo nên giá trị tác phẩm và khẳng định tài năng sáng tạo của nhà văn
1.3 Thời gian nghệ thuật
1.3.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật
Đ.X Likhachép trong cuốn Thi pháp văn học Nga cổ cho rằng: “Thời
gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả - là sự ý thức và cảm giác về sự vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian xuyên suốt toàn bộ văn học” [15; tr,209- 210] GS Trần Đình Sử trong cuốn
giáo trình Dẫn luận thi pháp học cho rằng: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà
ta có thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của
nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều dài thời gian hiện tại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật do được sáng tạo ra nên mang tính chủ quan, gắn với thời gian tâm lí Nó có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian thực tế Nó có thể đảo ngược hay vượt tới tương lai Nó có thể dừng lại Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhận được: hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá khứ” [25; tr,23]
Trang 20Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội
tại của hình tượng nghệ thuật có tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thế giới Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [8; tr,322]
Hay trong cuốn giáo trình Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại của Gs
Trần Đình Sử viết rằng: “Cũng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới thực tại chỉ tồn tại trong không gian và thời gian, thì cũng như thế, thế giới nghệ thuật chỉ tồn tại trong không gian và thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được cảm nhận bằng tâm lí, qua chuỗi liên tục các biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm
mỹ xảy ra trong thế giới nghệ thuật Là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí
và mang ý nghĩa thẩm mỹ nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan đo bằng lịch và đồng hồ, nó có thể đảo ngược, từ hiện tại hồi tưởng lại quá khứ.” [25; tr,62] Thời gian nghệ thuật được nghiên cứu dưới góc độ thi pháp học, được coi là phạm trù yếu điểm nhất, bởi vì nó kích thích triệt để được sự say mê, sáng tạo của tác giả Nhà văn có thể chọn kể ngắn trong vài phút hay kể dài hơi hơn trong một năm, hai năm, có thể tự do lựa chọn độ dài một chi tiết, hình ảnh hay một sự kiện nổi bật Thời gian thể hiện cái nhìn mới
mẻ, tinh tế về quan niệm nghệ thuật của nhà văn Tìm hiểu thời gian nghệ thuật sẽ giúp người đọc chiếm lĩnh được nội dung và hình thức của tác phẩm
1.3.2 Các dạng thức của thời gian nghệ thuật
Nếu trong ngôn ngữ học, người ta chia ra làm hai dạng: cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì trong văn học cũng vậy, người ta phân thời gian ra làm hai loại: thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật
Trang 211.3.2.1 Thời gian trần thuật
“Thời gian trần thuật là thời gian của người kể, của sự kể… Nó có thể sắp xếp lại trật tự thời gian của sự việc vào trật tự trước sau của nó Nó có thể đem cái xảy ra sau kể trước và ngược lại, đem cái xảy ra trước kể sau” [21; tr,65]
Thời gian trần thuật được xem là thời gian chuyển động đơn tuyến, một chiều, tác giả có thể kể lại một đời người hay miêu tả một gia phả dòng họ… của tác phẩm văn học Có người nói rằng: “văn học là nghệ thuật thời gian bởi
vì văn học diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo trật tự của thời gian của lời nói liên tục từ câu đầu cho đến câu cuối cùng không thể đảo ngược” Trong tiểu
thuyết Lịch sử Tôm Giôn của Anh PhinĐinh, người con rơi nhắc nhở độc giả:
“Nếu trong sách này bạn đọc tìm thấy những chương chỉ viết có một ngày, lại
có những chương viết về hàng năm, lại có lúc câu chuyện chúng tôi dừng lại,
có lúc lại vượt lên phía trước, thì xin các bạn chớ có lấy làm lạ”
Thời gian thực tại hiếm khi trùng khớp với thời gian nghệ thuật trong văn học, điều này có nghĩa rằng thời gian nghệ thuật được sáng tạo theo cái nhìn chủ quan của tác giả Thời gian nghệ thuật là sự góp nhặt từ các quan hệ, các sự kiện, các đoạn thời gian của sự kiện mà còn được tạo bởi thời gian miêu tả
“Thời gian trần thuật là một hiện tượng nghệ thuật, chỉ có trong sáng tác nghệ thuật, bởi nó nhằm tạo ra cảm giác thời gian và dòng thời gian trong tâm hồn người đọc” Đây là vấn đề liên quan đến nghệ thuật kể chuyện của nhà văn, thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ
1.3.1.2 Thời gian được trần thuật
“Thời gian được trần thuật là thời gian của sự kiện được nói tới” [21; tr,66] Bao gồm: thời gian sự kiện và thời gian nhân vật
Thời gian được trần thuật là thời gian diễn ra các sự kiện được miêu tả trong tác phẩm Chắc hẳn cũng có những bạn đã và đang là phan cuồng của
Trang 22những tập truyện, những cuốn tiểu thuyết đã biết ít nhiều về thời gian nghệ thuật Tuy nhiên, lúc đó ta chỉ biết có thời gian đang diễn ra trong truyện, mà tạm quên đi thời gian thực tại (vật lý) như: đang nấu ăn để thức ăn cháy, đang chăn trâu để trâu ăn lúa, quên hẳn thời gian đang diễn ra trong hiện tại, không biết sáng hay tối…
Người ta cảm nhận được thời gian từ những đổi thay, biến cố trong tự nhiên: theo mùa (xuân, hạ, thu đông), đời người (lọt lòng, thời thơ ấu, niên thiếu, trưởng thành, già và chết), theo buổi (sáng, trưa, tối), trong phong tục
xã hội (các ngày lễ hội, các phiên chợ), trong đời sống chính trị (đời vua nào, trước cách mạng, sau giải phóng…) Mọi cảm nhận về biến đổi gợi cảm giác thời gian:
“Ôi sáng, xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về Im lặng Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”
(Theo chân Bác - Tố Hữu)
Thời gian không chỉ được đo đếm bằng thời gian vật lý mà còn đo được bằng cảm nhận từ cảm xúc của nhân vật, thông qua các sự kiện biến đổi liên tục có ý nghĩa xảy ra trong tác phẩm Là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí
và mang ý nghĩa thẩm mỹ nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian thực tại
đo bằng lịch sử và đồng hồ Vì nó được cảm nhận bằng tình cảm, cảm xúc của con tim, bằng lăng kính chủ quan của chủ thể, đối tượng tiếp nhận
Có không ít những nhà thơ, nhà văn của chúng ta rất sợ thời gian chảy trôi qua mà chưa được tận hưởng trọn vẹn vị ngọt cuộc đời Phải kể đến ông hoàng thơ tình Xuân Diệu luôn cuống cuồng, sửng sốt trước cảm giác có hạn của thời gian Chính vì vậy, trong rất nhiều bài thơ, Xuân Diệu luôn khao khát được yêu, được đắm mình trong tình yêu Thời gian nghệ thuật trong thơ
Trang 23Xuân Diệu là thời gian đời tư, thời gian tâm trạng, thời gian của quỹ đạo cá nhân Nó thường được đo bằng những đơn vị nhỏ nhất như một phút, một giây, hay một chớp, một thoáng hoặc một chút:
“Không có cánh nhưng vẫn thêm bay bổng;
Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời:
Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi;
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ…”
(Cảm xúc - Xuân Diệu)
Trong văn học, các nhà nghiên cứu đã tìm ra các hình thức thời gian nghệ thuật khác nhau Tùy vào mục đích sử dụng và cá tính sáng tạo, mỗi nhà văn chọn lựa một hình thức phù hợp cho riêng mình
1.4 Không gian nghệ thuật
1.4.1 Khái niệm không gian nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là “hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu
tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn
ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí” [8; tr,162]
Không gian nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc hình thành những sợi dây liên kết các yếu tố thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti, trật tự Không gian nghệ thuật còn cho thấy cảm quan nghệ thuật về thế giới và những khám phá, nhận thức mới mẻ của tác giả hay của một giai đoạn văn
Trang 24học Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng cho rằng: “quan trọng nhất là xem xét không gian nghệ thuật như một quan niệm về thế giới và con người như một phương thức chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mĩ” [21; tr,166] Và đó cũng chính là một trong những mục đích của chúng tôi khi tìm hiểu vấn đề này
1.4.2 Các dạng thức của không gian nghệ thuật
1.4.2.1 Không gian bối cảnh
Văn bản ngôn từ nào cũng có không gian bối cảnh, tuy nhiên đặt vào mỗi tác phẩm những bối cảnh khác nhau lại sẽ thu được không gian bối cảnh khác nhau Nó có thể là bối cảnh thiên nhiên hay bối cảnh xã hội, là động hay tĩnh, mở hay khép
GS Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện
cho rằng: “Không gian bối cảnh là môi trường hoạt động của nhân vật, một địa điểm có tên riêng hay không có tên riêng, trong đó có đủ cả thiên nhiên,
xã hội, con người Nó là điều kiện cần thiết cho mọi sự kiện, mọi hoạt động, mọi phạm vi thế giới không thể thiếu… Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống của những tầng lớp người và cá nhân này với cá nhân khác Có khi đó là những tập quán, phong tục, luật lệ ở một địa phương, có khi là những quan hệ
có vấn đề giữa cá nhân này với cá nhân khác hoặc được biểu hiện cụ thể, hoặc được che giấu kín đáo” [32; tr,88]
Không gian bối cảnh thiên nhiên là không gian thuần túy của thiên nhiên không bị tác động bởi những quy định ngặt nghèo của văn học cổ
Nó có thể là gió, mây, cây, cỏ, núi, sông… thiên nhiên gần gũi bình dị và thuận theo quy luật tự nhiên, nhưng có sự trợ giúp đắc lực từ bàn tay con người tạo ra như cánh đồng, làng xóm… Không gian là một yếu tố hội tụ đầy đủ cả giá trị nội dung và giá trị nghệ, qua đó thể hiện dụng ý của tác giả Chẳng hạn, bối cảnh thiên nhiên trong thơ trữ tình thường rất đẹp, rất