Một trong những yếu tố đem lại sự thu hút, lôi cuốn cho Lều chõng chính là thế giới nhân vật - những con người với cá tính đặc trưng, riêng biệt đã được Ngô Tất Tố khắc họa bằng tất cả
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, khoa Ngữ Văn, tổ Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện trong suốt thời gian em học tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt em xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - TS Thành Đức Bảo Thắng, người đã
hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lương Thảo Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
Khóa luận “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô
Tất Tố” là kết quả nghiên cứu của riêng em,có sự tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS Thành Đức Bảo Thắng.
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào
Hà Nội ngày 1 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lương Thảo Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong văn học 7
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 7
1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật 11
1.2 Vai trò, vị trí của nhân vật trong tiểu thuyết 12
1.3 Giới thiệu tiểu thuyết Lều chõng 13
1.3.1 Ngô Tất Tố - Một ngòi bút xuất sắc của Văn học Việt Nam(1930-1945) 13
1.3.1.1 Cuộc đời 13
1.3.1.2 Sự nghiệp 14
1.3.2 Tiểu thuyết Lều chõng 16
Chương 2 BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ 21
2.1 Nhân vật đại diện cho tư tưởng tiến bộ 21
2.2 Nhân vật đại diện cho tư tưởng bảo thủ 25
2.2.1 Nhân vật tuân thủ khuôn mẫu lỗi thời 25
2.2.2 Nhân vật mất chí hướng, sĩ khí 26
Trang 62.2.3 Nhân vật với danh vọng mù quáng 31
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ 35
3.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống trong hoàn cảnh điển hình 35
3.1.1 Không gian 35
3.1.2 Thời gian 36
3.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 37
3.2.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình, hành động 37
3.2.1.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 37
3.2.1.2 Nghệ thuật miêu tả hành động ……… 39
3.2.2 Miêu tả tâm lí nhân vật 44
3.2.2.1 Miêu tả tâm lí nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nửa trực tiếp 45
3.2.2.2 Miêu tả tâm lí nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại 48
3.2.3 Miêu tả qua ngôn ngữ 50
3.2.3.1 Ngôn ngữ đối thoại thân mật, suồng sã 50
3.2.3.2 Ngôn ngữ cung kính, trang nghiêm, lễ độ 51
KẾT LUẬN 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7mà chúng ta cần khám phá, đặc biệt là ở mảng tiểu thuyết
1.2 Lều chõng là một trong những cuốn tiểu thuyết nổi bật của Ngô Tất
và chứa nhiều giá trị độc đáo Một mặt, tác phẩm thể hiện khả năng miêu tả tinh tế, tỉ mỉ, sắc sảo, hàm chứa bao suy tư, trăn trở của Ngô Tất Tố Mặt khác, thông qua tác phẩm của mình, nhà văn giúp người đọc đời sau biết và hiểu về chế độ khoa cử một thời, với nhiều tâm trạng khác nhau Một trong
những yếu tố đem lại sự thu hút, lôi cuốn cho Lều chõng chính là thế giới
nhân vật - những con người với cá tính đặc trưng, riêng biệt đã được Ngô Tất
Tố khắc họa bằng tất cả cảm nhận và sự sáng tạo của cá nhân Qua thế giới
ấy, người đọc không chỉ thấy bóng dáng của nhà nho đậm chất lãng tử, tài hoa, phóng túng Ngô Tất Tố mà còn cảm nhận được những trăn trở, suy tư cũng như thái độ của ông về chế độ khoa cử trong thời kì suy tàn, mạt vận của chế độ phong kiến
Trang 82
1.3 Tìm hiểu về tiểu thuyết Lều chõng là một việc làm có nghĩa thiết
thực và vô cùng cần thiết đối với một người nghiên cứu văn học nói chung và với một người sinh viên Sư phạm Ngữ văn nói riêng Đây là hoạt động học tập quan trọng, vừa giúp người học trang bị thêm kiến thức cho bản thân, vừa giúp họ quen dần với các hoạt động nghiên cứu khoa học
Với những lí do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố
2 Lịch sử vấn đề
Ngô Tất Tố là một trong những nhà văn lớn, đã đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam nói chung và dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng một khối lượng tác phẩm đồ sộ, đa dạng với nhiều thể loại Sự nghiệp sáng tác văn học của Ngô Tất Tố kéo dài gần ba thập kỉ, được đánh dấu bằng việc
dịch tác phẩm Cẩm hương đình (1923) và kết thúc là vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi thị Phác (1951) Song thời kì văn chương của ông thực sự bùng nổ và sáng
chói nhất là những năm 1930 – 1945 Các tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất
là: Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng, Tập án cái đình đều được nhà văn thai
nghén và cho ra đời trong khoảng thời gian từ năm 1936 đến 1940
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng khởi đầu của việc khai thác, đánh giá về con người cũng như sự nghiệp văn chương Ngô Tất Tố là bài viết
của Vũ Trọng Phụng với tựa đề Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng trên báo thời
vụ, số 100, ra ngày 31/01/1939 Ở bài viết này, Vũ Trọng Phụng đã lên tiếng
khẳng định và nhấn mạnh giá trị to lớn về mọi mặt của Tắt đèn Ông trách cứ
cái sự ít ỏi, thiếu vắng của những tác phẩm viết về đề tài làng quê trong khi nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời Và ngay chính lúc ấy, Ngô Tất Tố xuất hiện, giống như một luồng sinh khí dồi dào thổi vào nền văn học nước nhà, làm cho nền văn học ấy càng thêm phần sống động và mãnh liệt
Vũ Trọng phụng đã nhiệt liệt giới thiệu ông đến với toàn bộ công chúng
Trang 93
Ngô Tất tố, từ một nhà báo xuất chúng chuyển sang viết tiểu thuyết và thật bất ngờ khi những tác phẩm mới ra đã gây được tiếng vang rất lớn như
Lều chõng và Việc làng Những tác phẩm này ra đời đã củng thêm chỗ đứng
vững chắc cho Ngô Tất Tố trên thi đàn văn học
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét Ngô Tất tố là
nhà văn của làng quê Việt Nam, am hiểu sâu sắc cuộc sống, con người và phong tục nơi thôn quê
Sau khi Ngô Tất Tố mất, sự nghiên cứu và tìm hiểu về ông cũng không
vì thế mà dừng lại, vẫn còn rất nhiều bài viết về nhà văn tài năng này như :
Ngô Tất Tố như tôi đã biết của Nguyễn Đức Bính (Tạp chí văn nghệ số 61, tháng 6, năm 1962), Đọc lại Việc làng của Bùi Huy Phồn ( tạp chí văn nghệ
số 8, tháng 1, năm 1958), Ngô Tất Tố của Nguyên Hồng (Tạp chí văn nghệ số
54, tháng 8, năm 1954),…chứng tỏ hút mạnh mẽ của một con người tài năng
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều các bài nghiên cứu về Ngô Tất Tố cũng như các tác phẩm nổi bật của ông và được nói đến nhiều hơn hết là tác
phẩm Tắt đèn Từ khi Lều chõng của Ngô Tất Tố ra đời, những bài viết về
riêng tác phẩm này vẫn còn khá thưa thớt và lẻ tẻ, có thể chỉ được đề cập đến một khía cạnh nào đó qua một công trình nghiên cứu chung về các tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố như: Luận văn thạc sĩ của Bế Hùng Hậu (Đại học
Thái Nguyên) đi sâu nghiên cứu Ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố, trong
luận văn, tác giả có tìm hiểu, trích dẫn ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm khác nhau của Ngô Tất Tố và có lấy những dẫn chứng ngôn ngữ được
sử dụng trong Lều chõng
Lều chõng cũng được nói đến trong một số bài báo Trên báo An ninh thế giới, số ra 04/05/2009, bài viết của tác giả Cao Đắc Điểm có nói về Lều chõng để giúp người đọc thấy rõ những nét suy vi của nền Hán học đương
thời, từ việc tổ chức thi đến đi học, đi thi
Trang 104
Trên tạp chí Tia sáng, số ra ngày 19/04/2011cũng có một bài viết với tựa đề Tản mạn về Lều chõng với nội dung chính cũng là nói đến việc thi cử
và liên hệ từ chuyện ngày xưa ra chuyện ngày nay
Qua đó, ta có thể khẳng định còn thiếu vắng các công trình chuyên biệt
nghiên cứu về tác phẩm Lều chõng Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên
cứu về thế giới nhân vật trong tác phẩm một cách hệ thống Chính vì vậy, trên
cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi
đã tiến hành đi tìm hiểu về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lều chõng của
Ngô Tất Tố với mong muốn góp phần làm sâu sắc hơn cái nhìn, quan niệm nghệ thuật về con người cũng như giá trị của tác phẩm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô
Tất Tố, chúng tôi muốn đi sâu phân tích thế giới nhân vật (Ngoại hình, hành
động, tâm lí) để nắm bắt thấu đáo tư tưởng của nhà văn Qua đó, hiểu sâu sắc hơn quan niệm nghệ thuật về con người của một nhà Nho viết văn theo lối Tây học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu:
- Khái niệm nhân vật; vai trò, vị trí của nhân vật trong tiểu thuyết
- Các loại hình nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố
- Phân tích, đánh giá hiệu quả và sự đóng góp của việc xây dựng hệ
thống các nhân vật trong Lều chõng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố
Trang 115
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi tìm hiểu tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố
Để so sánh, chúng tôi tham khảo các tiểu thuyết trong cùng giai đoạn, của nhiều trào lưu
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt sáng tác của Ngô Tất Tố trong hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ để hiểu rõ hơn về giá trị của tác phẩm
- Phương pháp thống kê: thống kê và phân loại các nhân vật trong tiểu thuyết để dễ dàng phân tích, nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ những phân tích cụ thể trong
tiểu thuyết Lều chõng để đưa ra những kết luận phù hợp với định hướng
nghiên cứu
6 Đóng góp của khóa luận
Tìm hiểu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lều chõng, chúng tôi muốn
làm nổi bật những nét độc đáo và khẳng định đóng góp tích cực, sáng tạo của Ngô Tất Tố Qua đó, hiểu thấu đáo hơn về tư tưởng và tài năng của nhà văn Kết quả của nghiên cứu sẽ là tài liệu học tập, nghiên cứu hữu ích cho việc tìm hiểu về sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được tổ chức thành ba chương
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ
Trang 126 CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ
Trang 137
NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong văn học
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Nhân vật là đối tượng không thể thiếu của văn học Nhằm mô phỏng hiện thực một cách sinh động, hình tượng thì nhà văn đã xây dựng và sử dụng các nhân vật của mình như một phương tiện cơ bản để thực hiện điều đó Nhân vật với những nét tính cách khác nhau, hành động, diện mạo khác nhau được nhà văn sáng tạo nên trong tác phẩm của mình đã thể hiện nhận thức của tác giả về một cá nhân, một loại người hay một vấn đề nổi bật nào đó trong xã hội
Đã có nhiều quan điểm, nhận định, cách định nghĩa khác nhau về nhân vật đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trước đó, như:
- Theo Từ điển văn học: “nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm
văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật
do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học”[9, tr.86] Định nghĩa này nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nhân vật với tác phẩm và từ mối quan hệ của nó tới các yếu tố hình thức tác phẩm
- Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân lại cho rằng: “Nhân vật
văn học là một trong những khái niệm trọng tâm để xem xét sáng tác của nhà văn, một khuynh hướng trường phái hay dòng phong cách Nhân vật văn học
là một hiện tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người,
Trang 148
nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người”[1, tr.24]
Đây là khái niệm mà nhân vật được xem xét trong mối tương quan với
cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn và trường phái văn học Nhân vật văn học góp phần bộc lộ phong cách sáng tạo, cá tính riêng của mỗi nhà văn và thể hiện những màu sắc khác nhau, mang những dấu ấn riêng biệt của các trường phái văn học
- Trong Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm về nhân vật của các tác
giả có phần thu hẹp hơn: “con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha ) ( )
có khi sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào cả Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người” [7, Tr.235]
- Nhân vật lại được định nghĩa theo một cách khác trong cuốn Lý luận văn học, GS Hà Minh Đức chủ biên: “Nhân vật văn học là một hiện tượng
nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, đặc điểm tính cách và cần lưu ý thêm một điều, thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng tính cách con người” [6, Tr.102]
Trong văn học, phân loại nhân vật theo loại hình, gồm:
- Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ:
Trang 159
+ Nhân vật chính: là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức
và triển khai tác phẩm Nhân vật chính thường được nhà văn miêu tả một cách
tỉ mỉ, chi tiết từ ngoại hình, dáng điệu, lời nói, hành động và đời sống nội tâm phong phú qua đó làm bật lên nét tính cách, phẩm chất đặc trưng của các nhân vật Nhân vật chính là nhân vật được nhắc đến nhiều trong tác phẩm, có mặt trong các mối mâu thuẫn, xung đột cơ bản của tác phẩm và là những nhân vật phản ánh tư tưởng, tâm tư, tình cảm mà người viết muốn truyền tải Số lượng nhân vật chính phụ thuộc vào dung lượng hiện thực, diễn biến và những vấn
đề đặt ra trong tác phẩm mà có ít hay nhiều nhân vật
+ Nhân vật trung tâm: Nằm trong những nhân vật chính, là nơi tập
trung tất cả mối mâu thuẫn tác phẩm, thể hiện tập trung nhất tư tưởng, chủ đề tác phẩm Nhân vật trung tâm được tác giả xây dựng một cách chi tiết, tỉ mỉ, góp phần làm nổi bật đề tài, chủ đề tác phẩm và nhân vật đó phải nằm trong xung đột tác phẩm, ở về một phe xung đột, bị ảnh hưởng, tác động khi xung đột giải quyết
+ Nhân vật phụ: Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu trong toàn bộ
tác phẩm Là những nhân vật được nói đến ít, không được miêu tả tập trung từ đầu đến cuối tác phẩm, mà chỉ được điểm qua ở một giai đoạn hay diễn biến nào đó Nhân vật phụ chỉ góp phần hỗ trợ, bổ sung nhằm làm nổi bật nhân vật chính chứ không được làm cho nhân vật chính bị lu mờ Số lượng nhân vật phụ thường nhiều hơn nhân vật chính và nhân vật trung tâm Tuy chỉ là phụ nhưng cũng có nhiều nhân vật vẫn được các nhà văn miêu tả một cách kĩ lưỡng, có cuộc đời, số phận và tính cách riêng Họ cũng chính là những mảng màu không thể thiếu để tạo nên một bức tranh đời sống hoàn chỉnh và đa sắc
- Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện
+ Nhân vật chính diện: là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa
trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ Nhân vật chính diện được xây dựng
Trang 1610
với những phẩm chất hoàn hảo, là nhân vật tiêu biểu, hội tụ những tinh hoa, đại diện cho một lớp người, hạng người Họ mang trong mình những suy nghĩ tích cực, họ đẹp cả về diện mạo lẫn bản chất con người
+ Nhân vật phản diện: là những con người chống lại lý tưởng, quan điểm đạo đức tốt đẹp của thời đại, xã hội
Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác
nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau:
Cổ đại và trung đại: Cái xấu được tô đậm, phóng đại để phê phán kịch
liệt (VD: nhân vật phản diện trong truyện cổ tích là 100% ác)
Thời hiện đại: Trong văn học hiện thực, nhiều khi không phải do vi
phạm đạo đức, làm điều xấu, mà là do thiếu tính người, thiếu ý thức người
Qua những nhận định, khái niệm trên, ta có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra những quan niệm cụ thể về nhân vật văn học Những nhận định đó không thống nhất hoàn toàn mà vẫn có những sự khác biệt nhất định vì đó là những ý kiến, cách đánh giá mang tính chủ quan dựa trên sự nghiên cứu những nét đặc trưng của nhân vật Song, tuy có sự khác nhau trong cách khám phá, nhìn nhận nhân vật nhưng các ý kiến vẫn tựu lại ở một điểm chung, khẳng định : nhân vật văn học là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống, thể hiện tài năng của bản thân qua việc quan sát, miêu tả, tạo dựng nhân vật một cách độc đáo, sáng tạo Nhân vật chính là minh chứng sống động của một thời kì lịch sử nhất định, dẫn dắt người đọc vào cái thế giới riêng mà nhà văn tạo ra, làm cho người đọc như được sống trong chính cái thời điểm đó, hòa mình cùng những diễn biến của tác phẩm Nghiên cứu về tác phẩm văn chương, bên cạnh việc khai thác nội dung thì cần phải tiếp cận nhân vật để tìm ra cái mới, cái lạ, cái hay trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng, phong cách riêng của nhà văn đó
Trang 1711
Những quan điểm về nhân vật văn học như trên là những chỉ dẫn cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật văn học nói chung và nhân vật
trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố nói riêng
1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật
Trong nghiên cứu văn học, khái niệm thế giới nhân vật là một phạm trù rất rộng Thế giới nhân vật là chỉ tất cả những nhân vật xuất hiện trong một tác phẩm, những con người đó được vẽ lên bằng sự sáng tạo của nhà văn
và được họ gửi gắm tư tưởng của chính mình vào những đứa con tinh thần ấy Thế giới ấy là một thế giới độc lập và mang tính chỉnh thể, nó có sức sống, màu sắc và hương vị riêng tùy thuộc vào khả năng tạo dựng, tái hiện của nhà văn Thế giới nhân vật cũng là một phạm trù thuộc về thế giới nghệ thuật; cũng là đứa con tinh thần được hun đúc, sản sinh và nuôi nấng từ trí tưởng tượng của người nghệ sĩ và nó chỉ xuất hiện trong những sáng tác văn học hay những sáng tác nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, được sáng tạo theo những quy luật nhất định, có hình hài, tính cách, phẩm chất riêng được đặt trong không gian, thời gian đa dạng và có những việc làm, hành động cụ thể, thể hiện một quan điểm nghệ thuật nhất định nào đó của tác giả Thế giới nhân vật trong một tác phẩm cụ thể được tạo nên bằng chính là
sự cảm nhận sâu sắc, tinh tế, tỉ mỉ, kĩ lưỡng của người sáng tạo Những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm ấy đều được giới thiệu chi tiết qua một số khía cạnh nào đó như các mối quan hệ của nhân vật, môi trường sống và hoạt động, diện mạo, tâm tư, tình cảm, thái độ, hành động, cách ứng xử của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội như thế nào? Qua đó mà bạn đọc có thể hình thành những suy nghĩ, sự hình dung của cá nhân về nhân vật và cho ra những cách đánh giá khác nhau Chính vì những lẽ đó mà thế giới nhân vật mang một độ bao phủ, mức khái quát rộng hơn so với hình tượng nhân vật Những con người trong văn học vì thế mà cũng trở nên gần gũi, giản dị, chân
Trang 1812
thật, giống với những con người ngoài đời thực hơn tuy vẫn mang trong mình
ý nghĩa khái quát, tượng trưng
Trong thế giới nhân vật, người ta có thể nhóm hợp các nhân vật có sự tương đồng vào những kiểu loại nhỏ hơn dựa vào những căn cứ nhất định Trong lịch sử văn học, mỗi tác giả có thể xây dựng cho mình những thế giới nhân vật riêng tùy thuộc vào tài năng của mỗi người, mỗi thể loại văn học cũng có những thế giới nhân vật riêng phù hợp với quy luật của từng thể loại
1.2 Vai trò, vị trí của nhân vật trong tiểu thuyết
Nhân vật là một trong những thành phần quan trọng và không thể thiếu
để tạo nên sức hấp dẫn, sự lôi cuốn cũng như nét đặc sắc cho tiểu thuyết Nói đến tiểu thuyết là nói đến việc xây dựng nhân vật Trong tiểu thuyết thì nhân vật có vai trò, vị trí như thế nào?
Điều quan trọng trong tiểu thuyết, với cách nghĩ của Trần Thanh Hiệp:
"phải là vấn đề nhân vật Người ta sẽ tìm thấy bộ mặt con người trong các nhân vật của tiểu thuyết (…) Trong tiểu thuyết, ngoài nhân vật còn có gì khác nữa, thời nhân vật cũng vừa là cá thể, vừa là linh hồn”[8, tr.93-94]
Trong Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh lại quan niệm rằng: “Viết tiểu
thuyết là tả cuộc đời mà trong đó hầu hết là tả con người”[11, tr.52] và con người trong tiểu thuyết chính là những nhân vật của tiểu thuyết đó
Doãn Quốc Sỹ trong Văn học và tiểu thuyết đã đưa ra lĩ lẽ của riêng
mình: “Đối tượng của kịch cũng như tiểu thuyết là những nhân vật hành động”[14, tr.156]
Còn theo Võ Phiến: “Người làm thơ có thể không cần biết tới ai ngoài mình, không cần nói tới ai ngoài mình (…) còn lại các nhà viết kịch, các họa
sĩ và các người viết tiểu thuyết, những người này thì phải đẻ ra nhân vật”[13, tr.78]
Trang 1913
Các ý kiến, quan điểm trên tuy có đôi chỗ khác nhau nhưng tựu lại vẫn
là khẳng định vai trò, vị trí to lớn của nhân vật trong tiểu thuyết: nhân vật là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong một tác phẩm văn học, đặc biệt đối với tiểu thuyết thì vấn đề nhân vật càng có vai trò to lớn và thiết thực, góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm Nhân vật là linh hồn, là mảng màu
sống động của bức tranh tiểu thuyết, ở nhân vật có thể tìm thấy “bộ mặt con người” Có thể nói, nhân vật chính là sợi dây kết nối “cuộc đời thực” với
“cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết Qua thế giới nhân vật, bạn đọc có thể
rút ra được những bài học, quan niệm triết lí mà nhà văn muốn gửi gắm, đồng thời có được những sự nhận thức đúng đắn và được trang bị thêm vốn hiểu biết về nhiều mặt của từng hoàn cảnh xã hội khác nhau
Trong tiểu thuyết, nhân vật tuy không phải là nơi duy nhất nhưng lại là nơi thể hiện một cách tập trung nhất, sâu đậm nhất quan niệm về con người của tác giả Nhân vật chính là sức sống của mỗi cuốn tiểu thuyết
Tư tưởng của tác phẩm và ý đồ sáng tạo của nhà văn đều được thể hiện
rõ qua các nhân vật mà họ dựng nên trong tác phẩm của mình Những nhân
vật như: Santiago trong Ông già và biển cả của Ernest Hemingway; Meggie, Ralph, Luke O'Neill,… trong Tiếng chim hót trong bụi mận gai của Colleen McCullough; José Arcadio Buendía, Úrsula Iguarán,… trong Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez là những linh hồn của tác phẩm, làm nên sức
sống của mỗi cuốn tiểu thuyết
1.3 Giới thiệu tiểu thuyết Lều Chõng
1.3.1 Ngô Tất Tố - Một ngòi bút xuất sắc của Văn học Việt Nam(1930-1945)
1.3.1.1 Cuộc đời
Ngô Tất Tố sinh năm 1894 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội) Từ nhỏ,
Trang 2014
Ngô Tất Tố theo học chữ Nho Năm 1912, ông bắt đầu dự thi Năm 1915 ông
đỗ đầu kì sát hạch, nên được gọi là Đầu xứ Tố
Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo rồi cùng với Tản Đà vào Sài Gòn Sau gần ba năm ở Sài Gòn không thành công, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội vẫn với hai bàn tay trắng
Ông sinh sống bằng cách viết bài cho các báo: Phổ thông, Tương lai, Công dân, Đông Pháp, Thời vụ,…với nhiều bút danh khác nhau như: Thục
Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phõ Chi…[2, tr.5]
Trong những năm 1935 - 1941, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm chỉ trích quan lại phong kiến, lột trần những hủ tục lạc hậu ở nông thôn, lên án,
tố cáo bọn lang băm, lang lâu lừa bịp Tiêu biểu là các tác phẩm: Dao cầu thuyền tán (1935), Tắt đèn (1936), Lều chõng (1939), Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940)…
Năm 1945, Ngô Tất Tố tham gia vào Ủy ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông Năm 1946, ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp Những trang văn của ông nóng
bỏng hiện thực đời sống kháng chiến như: Qùa tết bộ đội, Buổi chợ Trung du,
Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác… Vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác là tác phẩm
cuối cùng của Ngô Tất Tố
Ngày 1/5/1948, Ngô Tất Tố được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương Ngô Tất Tố đã cống hiến cho xã hội, cho nhân dân 30 năm làm báo, viết văn, khảo cứu, dịch thuật miệt mài và say mê Ông đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp với những cống hiến lớn lao
1.3.1.2 Sự nghiệp
Ngô Tất Tố là một nhà văn có tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết, gắn bó sâu nặng với nông thôn và nông dân Ở bất kỳ lĩnh vực nào, thể loại văn chương nào, Ngô Tất Tố cũng đạt được những thành tựu rực rỡ
Trang 2115
Ngô Tất Tố có viết nhiều công trình nghiên cứu như: Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1938), Mặc Tử (1942), Kinh dịch (1944)…trong
đó ông phê phán những tư tưởng tiêu cực của Nho học
Trong cuốn tiểu thuyết Lều chõng, ông mô tả cảnh thi cử dưới chế độ
xã hội phong kiến xưa, nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vọng
Tắt đèn là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố hướng tới phản
ánh cảnh sống cơ khổ, cùng cực của giai cấp nông dân Việt Nam dưới sự bóc lột cay nghiệt của địa chủ phong kiến
Trong lĩnh vực dịch thuật, ông là tác giả của cuốn Đường Thi, Cẩm Hương Đình
Về thơ sáng tác ông còn để lại 33 bài đăng rải rác trên các tạp chí[2, tr.5,6]
Về sáng tác văn học, Ngô Tất Tố đã đạt được những thành tựu xuất sắc
Ở thể loại tiểu thuyết, Ngô Tất Tố đã đạt được những thành tựu đáng kể
về nội dung và nghệ thuật, với các tác phẩm tiêu biểu: Tắt đèn, Lều chõng
Ở thể loại phóng sự, báo chí, nhà văn Ngô Tất Tố tỏ ra đặc biệt sắc sảo
khi viết các thiên phóng sự như: Dao cầu thuyền tán, Tập án cái đình, Việc làng Dao cầu thuyền tán là tập phóng sự lên án, tố cáo bọn lang băm, lang vườn chuyên lừa bịp nhân dân Việc làng là thiên phóng sự xuất sắc, một bằng chứng chân thực và xác thực về làng quê Việt Nam Cùng với Tập án cái đình, Việc làng là một phóng sự có giá trị nhiều mặt: xã hội học, sử học, văn học
Ngô Tất Tố không chỉ là một nhà văn tài năng mà ở rất nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác ông cũng thể được sự xuất sắc trong ngòi bút của mình Ông mang trong mình nhiều danh xưng: một cây bút tiểu thuyết, phóng sự xuất sắc; một nhà báo “cự phách, có biệt tài”; một nhà khảo cứu, dịch thuật giàu
Trang 2216
tâm huyết và bao trùm là tư cách một nhà văn hoá lớn Đó chính là cơ sở chắc chắn để khẳng định vị trí vững vàng của ông trong nền văn học dân tộc
1.3.2 Tiểu thuyết Lều chõng
Lều chõng được đăng tải lần đầu tiên trên báo Thời vụ từ số 112 (21/03/1939) và sau đó được xuất bản thành sách năm 1941 Lều chõng ra đời
trong thời kì xã hội trong và ngoài nước có nhiều biến động: chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp lại đang dấy lên phong trào phục cổ nhằm lôi kéo thanh niên, trí thức văn nghệ sĩ vào con đường thoát ly thực tế đấu tranh cách mạng Chủ nghĩa phục cổ kêu gọi trở lại với nền văn hoá giáo dục cũ với những giá trị tinh thần và tôn ti trật tự của giáo lý Khổng Mạnh, với những hủ tục ở chốn hương thôn, với quan trường và đại gia đình phong kiến Giữa cái không khí phục cổ đầy vẻ thành kính trang nghiêm, cùng mùi hương trầm đốt lên trong các triều đình lăng tẩm, màu trắng vàng son rực rỡ
của hoành phi câu đối, của võng lọng, cân đai, cờ biển thì Lều chõng ném ra
một bức tranh màu xám với những đường nét tối sẫm Tác phẩm của Ngô Tất
Tố như một lời cải chính, hơn thế, nó còn là một bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu,
có khi là tiếng cười ra nước mắt
Lều chõng là một cuốn tiểu thuyết phóng sự, phản ánh chế độ giáo dục
và khoa cử phong kiến trong những ngày cuối cùng, dưới triều Nguyễn, không chỉ có vậy nó còn thể hiện rõ nét tấn bi kịch của những nhà nho có tài trong xã hội phong kiến và được coi là lời chỉ trích sâu sắc những tồn tại của nền văn hóa cũ
Bằng kinh nghiệm của cuộc đời mình, Ngô Tất Tố đã miêu tả một cách
tỉ mỉ việc giảng dạy, học tập và chế độ thi cử thối nát, lạc hậu đương thời
- Giảng dạy: Tác giả đã miêu tả rất cặn kẽ những thứ lớp của thời đại
phong kiến từ lớp sơ học đến lớp đại học, mỗi lớp sẽ phải dạy những gì, học
Trang 2317
những gì Trong lúc vận mệnh đất nước đang nghiêng ngả mà cụ bảng Tiên
Kiều thì vẫn say sưa giảng Kinh dịch, Trung Dung, Tống Sử mà đâu có ngờ
rằng cái việc học kinh viện, giáo điều mà cụ truyền bá lại là cái học đưa đến
sự mất nước
- Học tập: Thiếu niên thời bấy giờ đã phải nhai đi nhai lại những câu
chữ Hán rút ra từ thần thoại Trung Quốc:
“Hỗn mang chi sơ
Vị phân thiên địa
Bàn Cổ chủ xuất
Thủy phân âm dương
…
Thiên tử trọng hiền hào
Văn chương giáo nhĩ tào”[3, tr.53,54]
Khiến Vân Hạc không khỏi xót xa mà nghĩ thầm: “Không hiểu vì sao người ta lại cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái gở? Những đứa độ tám chín tuổi, mới vỡ lòng được bốn tháng còn chưa biết đời “hỗn mang” là cái gì, kẻ “hiền hào” là người như thế nào mà chúng nó cứ phải học thuộc lòng, thật là một sự khổ cho con trẻ ”[3, tr.55,56]
Lên đến trung học và đại học thì phải học kinh, truyện, sử - Bắc sử( tức
sử Trung Quốc) còn văn bài thì phải làm thơ, phú, văn sách, kinh nghĩa, biểu…những loại văn thời nhà Trần cách đó 600 năm về trước Việc học tập chủ yếu là học thuộc lòng, chuộng hình thức, lấy cố nhân làm gương mẫu nên hình thức văn chương rất sáo còn nội dung tư tưởng thì rất giáo điều Hậu quả của cách học khuôn sáo, thoát li thực tế ấy đã làm cho nghè Long được bổ làm tri phủ nhưng ít lâu sau có chiếu chỉ sai anh ta đi dẹp giặc thì anh ta bị thất bại
Trang 2418
-Thi cử: Nếu như các nhà văn cùng thời khác thi vị hóa chế độ khoa cử
lúc bấy giờ thì Lều chõng đã lột trần lối khoa cử mục nát, lỗi thời, phức tạp
của xã hội phong kiến bằng ngòi bút miêu tả hết sức chi tiết, kĩ càng từ những cảnh thi Hương, thi Hội cho tới thi Đình Khi làm bài thi, các thí sinh không chỉ kiêng tên húy của nhà vua mà còn phải kiêng tên những cung điện, lăng tẩm trong kinh cũng không được dùng đến, tên vua chúa viết liền phạm húy
đã đành, ở đây hai chữ tách nhau dòng trên dòng dưới nhưng ở cuối câu này
và đầu câu sau ghép vào cũng coi như bài hỏng Các bài thi không được phạm khiếm đài, khiếm tỵ, khiếm trang, bất túc, bạch tự…nếu mắc phải những lỗi này, nhẹ thì bị đánh hỏng bài, nặng thì phải chịu tù tội
Ngồi làm bài trong trường thi, thí sinh không chỉ lo ngay ngáy việc phạm húy mà còn phải chịu đựng trăm cực hình khác: có năm mưa to gió lớn ngập cả trường thi khiến các sĩ tử phải làm bài trong tình trạng run rẩy vì rét
và bẩn Thêm vào đó là sự gian lận trong khi thi, kẻ học dốt có thể thuê người làm gà cho mình, như Đức Chinh một cậu ấm con quan lớn dốt đặc, đi thi chỉ
để đỡ mang tiếng, đi thi mà chỉ mong trượt, cậu ta đã thuê Đốc Cung và Vân Hạc làm gà nên cũng được vào Tam trường Thậm chí có những sĩ tử còn cố giấu những sách in bản nhỏ li ti để đem vào trường thi chép Không chỉ vậy, còn có cả sự đố kị ở chốn quan trường và triều đình cho nên Vân Hạc tuy có tài nhưng không được lấy đỗ vì các ngài cho rằng anh còn trẻ, cho đỗ sớm lại kiêu ngạo nên lưu lại khoa sau
Thấp thoáng sau mỗi trang văn của mình là những nụ cười đầy ẩn ý, có khi là nụ cười chế giễu nhưng có lúc lại là nụ cười đau xót, cười ra nước mắt
Lều chõng đã vẽ nên một tấn bi kịch vô cùng đau đớn của những lớp
nhà nho trí thức dưới chế độ phong kiến Một ông già khóc nức nở trong nhà thập đạo vì đi thi đã mười khoa, bán hết tài sản để dồn cho việc thi cử mà nay bài thi lại không được nhận do chậm chân nộp bài muộn Hay một ông cụ
Trang 2519
khác, đã thi sáu kì thi Hương, ốm yếu không vác nổi lều chõng mà vẫn cố lết đến vào trường thi để rồi chết gục trong đó Nhiều người thi không qua, uống rượu say xỉn, chửi bới, ném gạch vào trường…Các sĩ tử đi thi không cốt đem tài năng của mình ra phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân mà trước hết là để kiếm chức tước cho bản, gia đình, làm cho vợ con nở mày nở mặt chính cái
tư tưởng cá nhân tầm thường đó khiến họ cũng trở nên tầm thường Ngòi bút Ngô Tất Tố đã thẳng thắn lên án chế độ khoa cử thời xưa, nó giống như một cái máy mài dũa làm con người ta mất hết góc cạnh, trở nên tròn trĩnh và cuối cùng chỉ biết cúi đầu phục tùng; những con người được những quy tắc nghiệt ngã đó tạo nên được coi như là mẫu mực nhưng thực chất chỉ là những kẻ bất tài vô dụng
Rõ ràng chế độ khoa cử nói riêng và chế độ phong kiến nói chung đã không mang lại hạnh phúc thật sự cho một người nào cả mà ngược lại nó còn hủy hoại, kìm nén sự phát triển của tài năng con người
Trong lời giới thiệu Lều chõng (Nhà xuất bản Văn học, 2002), có đoạn:
“Tác phẩm của Ngô tất Tố như một lời cải chính, hơn thế, một bản tố cáo chế
độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ
cười chế giễu, có khi là tiếng cười ra nước mắt” Tuy nhiên, Lều chõng không
chỉ mang ý nghĩa phê phán mà còn cho thấy tâm trạng nuối tiếc quá khứ của
chính Ngô Tất Tố Vương Trí Nhàn, trong bài Ngô Tất Tố và một cách thích ứng trước thời cuộc, đã nhận xét: “Mặc dù sự khuôn phép trong thi cử được
miêu tả trong Lều chõng như một cái gì cực kỳ vô lý, song trong cái khung tưởng rất chật hẹp đó, nhân vật Đào Vân Hạc… vẫn thanh thoát tự do trong cách sống”[12] Hơn thế, đó không chỉ là sự tiếc thương xoàng xĩnh, nó cho thấy “sự cắt đứt của Ngô Tất Tố, mà cũng là của nhiều người đương thời, với quá khứ, sự thích ứng với hoàn cảnh mới, nền văn hoá mới, là quyết liệt, song cũng là có tình có lý đến như thế nào” [12]
Trang 2620
Ngoài những giá trị về nội dung, Lều chõng còn cho chúng ta thấy được
những nét đặc sắc trong phong tục, tập quán sinh hoạt nơi làng xã, thôn quê Bắc Bộ như:
- Phong tục khoa cử: Ngô Tất Tố đã miêu tả một cách tỉ mỉ phong tục
khoa cử của chúng ta ngày xưa từ việc soát người vào thi, cách tổ chức thi, phát bài, ra bài, làm bài…
- Tục ăn trầu: tục ăn trầu cũng được nói đến nhiều trong tác phẩm, như trong đám rước vinh quy ông Nghè Long về làng: ” Xin mời bà con ăn trầu”[3, tr.26] hay trong đám cưới của Đào Vân Hạc, miếng trầu cũng xuất hiện nhiều “ Người ta bắt hai cô con gái mang hai quả trầu ra tận ngã ba đón
họ nhà trai”[3, tr.109]
- Hút thuốc lào: mỗi nhà đều có một bình điếu, những cụ già trong làng
đi đâu cũng không quên cái điếu, thậm chí những sĩ tử vào trường thi cũng kè
kè cái điếu bên mình để thi thoảng lôi ra hút trong lúc thi
- Nhà “trò”: ở đó được xem đánh cờ, đánh tổ tôm, đánh kiệu…
- Tục tổ chức tế tự tang ma, cưới xin, việc rước quan…
* Tiểu kết:
Nhân vật có vai trò vô cùng quan trọng trong một tác phẩm văn học Trong tiểu thuyết, yếu tố nhân vật lại càng cần thiết hơn bao giờ hết Nhân vật vừa là cầu nối giữa nhà văn và bạn đọc, làm cho tác phẩm đến gần với đọc giả hơn, gần gũi, chân thực và sinh động hơn Đồng thời nó còn là tấm gương phản ánh tư tưởng, tâm tư, tình cảm của nhà văn
Ngô Tất Tố là nhà văn hội tụ đầy đủ điều kiện, phẩm chất để tái hiện xuất sắc cuộc sống của những trí thức xưa bằng quan điểm tiến bộ, hiện đại (xuất thân từ nhà Nho, hiểu sâu sắc về cuộc sống và con đường tiến thân đầy chông gai…của nhà Nho xưa, đặc biệt vào thời kì phong kiến suy tàn) Tiểu
thuyết Lều chõng với thế giới nhân vật đa dạng, phong phú chính là minh
chứng rõ nhất cho tài năng của ông
Trang 2721
Chương 2 BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ
2.1 Nhân vật đại diện cho tư tưởng tiến bộ
Ngô Tất Tố là người chứng kiến và trực tiếp tham gia vào những kì thi tuyển chọn nhân tài Chính những điều bất cập, vô lí trong cách dạy, cách thi của triều đình bấy giờ được ông lấy làm đề tài chính mà viết nên Lều chõng
Vì viết về chuyện thi cử nên hầu hết nhân vật được nói đến trong tác phẩm phần nhiều là những nho sĩ, những người có học Song thế giới đó cũng đông đảo, đa dạng và phức tap với đủ loại người: có người học rộng, biết nhiều; có người học kém văn chương sáo rỗng; có người học một cách máy móc, rập khuôn, thiếu sự ứng dụng thực tế; có những người cũng học, cũng thi nhưng thực chất chả biết gì: học cho cha mẹ, học để đỡ mang tiếng chứ không phải cho bản thân,…
Nói đến nhân vật đại diện cho tư tưởng tiến bộ trong Lều chõng thì ta
phải kể đến những nho sĩ có tài, có sự phóng khoáng trong cách nghĩ ta, tiêu biểu là Vân Hạc và Đốc Cung
Cái tài văn chương của Vân Hạc là điều mà ai cũng rõ Chàng là người
học trò xuất sắc nhất của cụ Bảng Tiên Kiều và được cụ hết mực yêu mến
Vân Hạc là một nho sĩ tài năng, ham học, chàng cảm thấy việc dạy học ngày xưa thật khuôn phép và sáo rỗng “ không hiểu sao người ta cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái gở”[3, tr.55], chàng vốn ghét thứ văn chương bóng bẩy vô nghĩa lí “ Nhưng tôi không thích kiểu đó Nếu anh còn chơi với tôi, thì phải chừa lối văn sáo bã ấy đi”[3, tr.61], chàng ưa lối văn đa nghĩa, phải đọc
kĩ ngẫm kĩ văn chàng viết thì mới thấy hay, trong cách hành văn của chàng có một sự ngông, luôn muốn vượt ra ngoài những phép tắc đã định Những quyển văn của chàng luôn được chọn để đọc cho học sinh trong trường cùng
Trang 2822
nghe, cụ Nghè Quỳnh Lâm khen Vân Hạc “- Văn cậu khá lắm Đỗ đến nơi rồi Cậu phải cố đi, khoa Hương này hãy lấy cho bác cái Thủ khoa, rồi Hội sau thì lấy cho bác cái Đình nguyên nữa Tiền trình của cậu có cơ viễn đại, bác lấy làm mừng!”[3, tr.92,93] Không chỉ văn hay mà chữ Vân Hạc cũng rất đẹp, Khắc Mẫn còn phải tấm tắc khen khi nhìn thấy những cái phóng mà Vân Hạc viết cho học trò của mình “Chữ anh tốt thật, sắc nét như cắt và tươi như hoa”[3, tr.58] Cái tài của chàng cũng đã từng được nhắc tới qua dòng suy nghĩ của cô Ngọc “ Cô biết văn chàng không ưu thì bình, không bao giờ phải xuống bình thứ Có biết ba bốn trăm học trò cụ Bảng Tiên Kiều, chàng là người thứ nhất không ai đè nổi Cô biết các ông bạn của cụ Bảng tiên Kiều đều phục chàng có tài thám, bảng, sức học hơn hẳn Nghè Long”[3, tr.103] Là một người có tài cho nên những đề thi trong những kì thi mà chàng tham gia không thể làm khó Vân Hạc: Trong kì đệ nhất của cuộc thi Hương, chàng phân vân không biết có nên làm hết các bài hay không, chàng có khả năng làm được hết nhưng chỉ sợ không kịp thời gian và trong thời gian thi thì Vân Hạc cũng hoàn thành các bài viết của mình khá là nhanh chóng Trong bất kì vòng thi nào thì Vân Hạc cũng hoàn toàn tự tin và bình tĩnh để hoàn thành bài làm một cách tốt nhất Là một người có tài như thế song việc thi cử của chàng không hề suôn sẻ bởi cái tính phóng khoáng, ngông cuồng trong cách hành văn, cái cá tính chán ghét sự sáo bã, rập khuôn trong cách học bấy giờ của những nho sĩ cùng thời và đó cũng chính là điều làm nên sự khác biệt của Vân Hạc Cái cá tính ấy của chàng đã được nói đến qua lời của Khắc Mẫn “Văn hay chữ tốt như anh, thế mà thi cử cứ hỏng mãi Nếu anh chừa được cái láo, tôi chắc sẽ đỗ ngay”[3, tr.58]; hay qua lời của cụ Bảng Tiên kiều khi nói với các cụ bạn trong ngày đọc văn được tổ chức tại trường học của cụ “Vả lại hắn còn ít tuổi, cần phải mài giũa cá tính hiếu thắng Nếu như kì nào cũng “ưu”, e rằng hắn sẽ coi mình là thánh trạng, không chịu học hành, ấy là có hại cho
Trang 2923
hắn.”[3, tr.91]; cụ còn nhận xét văn của chàng trước đám học trò “Văn chương anh ta tuy cũng khá đấy, nhưng phải cái tật rất lớn là có nhiều đoạn rắc rối bướng bỉnh, không chịu theo đúng khuôn phép Đó là một điều tối kỵ trong các lối văn cử nghiệp, nhất là thể văn tứ lục.”[3, tr.94] Chàng nhận thức được khả năng của bản thân và hết sức tự tin vào văn chương của mình trong những kì thi “Nếu tao mà hỏng , thì quan trường tất nhiên là những thằng mù.”[3, tr.172] Sau nhiều lần thi thố lận đận thì cuối cùng chàng cũng may mắn đỗ thủ khoa ở thi Hương, đỗ Hội nguyên và vào kinh thi Đình Không chỉ trong văn chương mà qua cách nói chuyện hay bông đùa, chọc ghẹo của Vân Hạc với những người bạn, với những người thân trong gia đình cũng thấy được rằng chàng là một người vô cùng phóng khoáng: chàng nói chuyện hết sức thoải mái thậm chí có phần bỗ bã, không cần giữ ý tứ với những người bạn thân của mình, thoải mái xưng hô tao mày; chàng còn hay bông đùa bà Cống – mẹ chàng, khi nghe mẹ căn dặn mang đồ ra đình và vào nhà thờ đại tôn làm lễ trước khi lên đường đi thi chàng vẫn còn nói trêu mẹ “ Vân Hạc tủm tỉm cười nụ: - Vâng! Con đã nhớ Nhưng không biết con chỉ lễ đủ phận con hay phải lễ thay cả hai anh đấy.”[3, tr.126] Chàng cũng thường xuyên có nhưng lời bông đùa với cô Ngọc - vợ mình Qua những minh chứng cụ thể đó,
ta thấy Ngô Tất Tố đã rất thành công trong việc xây dựng một nhân vật nho sĩ vừa có tài lại vừa phóng khoáng, mang trong mình tư tưởng tiến bộ, chán ghét lối thi cử đương thời
Đốc cung - bạn thân của Vân Hạc, cũng là một đại diện tiêu biểu của kiểu nhân vật này trong tác phẩm Chàng luôn có mặt cùng Vân Hạc trong các
kì thi, các cuộc chơi Chàng cũng là một trong số những học trò xuất sắc của
cụ Bảng Tiên Kiều Cái tài văn chương của chàng đã được nhắc đến nhiều qua lời các nhân vật khác trong tác phẩm như: khi xem các bản giáp của Đốc Cung trong kì đệ tam “Ai nấy đều tấm tắc khen”, Tiêm Hồng còn nói: “ Văn
Trang 3024
bác quyết phải bốn “ưu””[3, tr.261], hay khi nghe tin tên Đốc Cung bị nêu lên
ở bảng con vì tội khiếm tỵ (viết tên các cung điện, lăng tẩm) Hải Âu - anh trai
cả của Vân Hạc và là người bạn chí cốt của Đốc cung cũng tỏ rõ sự tiếc nuối “
Sự đắc táng của cuộc đời, chẳng qua như một giấc mộng, đỗ hay hỏng kể ra cũng chẳng quan hệ cho lắm Có điều tài học anh ta nên đỗ là phải Thế mà bị nêu bảng con, thì cũng khi oan.”[3, tr.303] cũng giống như Vân Hạc, sau nhiều lần không gặp may với chuyện thi cử thì chàng cũng đỗ cử nhân ở kì thi Hương và được vào thi Hội Đây cũng là một nhân vật nho sĩ tài năng, bên cạnh cái tài thì chàng cũng là một con người có cá tính mạnh, ưa sự phóng khoáng, chính cách giao tiếp và hành động của chàng đã cho thấy rõ điều đó Chàng là con người hay trêu đùa, vui vẻ, gần gũi với bạn bè như: khi biết việc riêng của bạn ( Biết việc Vân Hạc được cụ Bảng Tiên Kiều hỏi cưới cô Ngọc cho) thì chàng đã có hành động “ đủng đỉnh đến trước mặt Vân Hạc nhìn chàng bằng con mắt ranh mãnh và tủm tỉm cười…Mai kia tao sẽ làm cho mày một bài thơ”[3, tr.88] Một việc làm khác cũng thể hiện sự vui đùa của chàng
là sau khi xem kết quả kì đệ nhất, chàng đã hùa cùng Vân Hạc trêu Khắc Mẫn
là bài của anh ta bị hỏng Hay như khi biết bài thi của Đốc cung bị hỏng do phạm qui, trước sự trêu ghẹo của người bạn Vân Hạc, Đốc Cung cũng đáp lại bằng một giọng đùa vui, tếu táo “ Vậy còn anh nữa? Không biết năm nay học lực của anh đã bằng người ta chưa?”[3, tr.270] Sự phóng khoáng của con người này còn được thể hiện qua việc chàng thường ghé đến phố hàng Lờ để giải khuây, ăn uống và nghe đàn hát cùng mấy cô đào trong khoảng thời gian chờ xem kết quả thi…Tất cả những điều đã cho thấy tài năng và nét tính cách phóng túng, hoạt bát của một nho sĩ trẻ tuổi
Một nhân vật chính diện khác, cũng là nhân vật điển hình mang tư tưởng tiến bộ mà ta có thể kể đến là Hải Âu - anh trai cả của Vân Hạc Trong tác phẩm, Hải Âu được khắc họa với ảnh một người anh trai tâm lí, mặc dù là