VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN CHINH NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CHINH
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
HÀ NỘI, 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CHINH
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHẠM VĂN TỈNH
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN VĂN CHINH
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 10
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 10
1.1.1 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 10 1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 11
1.2 Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 12
1.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm 14 1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm 19
1.3 Cơ chế tác động của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 20 1.4 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và phòng ngừa loại tội phạm này 22
1.4.1 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 22 1.4.2 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 23
Trang 51.4.3 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 24
Chương 2: Thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giai đoạn 2014 -2018 26
2.1 Thực trạng nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 26
2.1.1 Thực trạng nhận thức thông qua văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và văn bản triển khai thực hiện của chính quyền thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 26 2.1.2 Thực trạng nhận thức nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giai đoạn 2014-2018 thông qua các thông số của tình hình tội phạm 33
2.2 Thực trạng các nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giai đoạn 2014 -2018 42
2.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm 42 2.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm 50
2.3 Trực trạng làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm thông qua chủ thể phòng, chống tội phạm 52
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và những vấn đề đặt ra đối với phòng ngừa hiện tượng tiêu cực này57
Trang 63.1 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và vấn
đề dự báo tình hình tội phạm này 57
3.1.1 Cơ sở dự báo 57
3.2 Tăng cường nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm trong phòng ngừa tình hình tội phạm này 60
3.2.1 Đối với các cơ quan chuyên trách 60 3.2.2 Đối với các cơ quan, tổ chức không chuyên trách và Công dân 61
3.3 Giải quyết nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và phòng ngừa tình tội phạm này 62
3.3.1 Những giải pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm 62 3.3.2 Những giải pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm 73
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT : An ninh trật tự BLHS : Bộ luật hình sự CAND : Công an nhân dân MTTQ : Mặt trận tổ quốc TAND : Tòa án nhân dân THTP : Tình hình tội phạm TNXH : Tệ nạn xã hội TTATXH : Trật tự an toàn xã hội VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phan Rang – Tháp Chàm là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Thuận, diện tích tự nhiên 79,17 km² [6, tr.19], phía Bắc giáp huyện Bác Ái và huyện Ninh Hải, phía Tây giáp huyện Ninh Sơn, phía Nam giáp huyện Ninh Phước, phía Đông giáp biển Đông Thành phố có 15 phường (Bảo An, Đài Sơn, Đạo Long, Đô Vinh, Đông Hải, Kinh Dinh, Mỹ Bình, Mỹ Đông, Mỹ Hải, Mỹ Hương, Phủ Hà, Phước Mỹ, Tấn Tài, Thanh Sơn, Văn Hải) và 01 xã (Thành Hải) Thành phố có lịch sử lâu đời, từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Champa cổ, sau nhiều lần tách, nhập thì ngày nay Phan Rang – Tháp Chàm là trung tâm văn hóa, kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận Về dân
cư, theo Niên giám thống kê của tỉnh Ninh Thuận năm 2018, thành phố có 176.865 người Trong đó có 89.303 nam và 87.562 nữ; với mật độ dân số 2.233 người/km2, số dân thành thị là 167.270 nguuời, nông thôn là 9.595 người, số người trong độ tuổi từ 15-
59 tuổi khoảng 107.268 người chiếm 60,65% dân số Tỷ lệ hộ nghèo còn cao với 1.371
hộ, chiếm 2,76%, hộ cận nghèo còn 2.401 hộ chiếm 4,84%; Thành phố có nhiều dân tộc anh em chung sống, trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là người Kinh và người Chăm Trình
độ dân trí ở một số địa bàn còn thấp, nhất là các phường ven biển
Phan Rang -Tháp Chàm nằm ở vị trí đầu mối giao thông quan trọng trong phát triển, có trục quốc lộ 1A nối quốc lộ 27 đi Đà Lạt; tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam đi qua ga Tháp Chàm; cách cảng biển và cảng hàng không Quốc tế Cam Ranh 60km và cách thành phố Nha Trang 110 km về phía Bắc; cách thành phố Hồ Chí Minh
350 km về phía Nam; cách thành phố Đà Lạt 110 km về phía Tây Với vị trí thuận lợi
về giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, thành phố đóng vai trò là đầu mối giao thông liên vùng, trung tâm giao lưu kinh tế kết nối với vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải Nam Trung bộ và khu kinh tế trọng điểm phía Nam Đây là tiềm năng, lợi thế so sánh, tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên – xã hội nói trên cũng là
Trang 92
điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm hoạt động Qua nghiên cứu cho thấy, không nằm ngoài xu hướng chung của cả nước, THTP trên địa bàn thành phố có diễn biến phức tạp với nhiều loại tội khác nhau như giết người, cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, mua bán trái phép chất ma túy, gây rối trật tự công cộng đặc biệt, thời gian gần đây còn xảy ra một số loại tội phạm phi truyền thống như tội phạm lợi dụng công nghệ cao Trong đó, nổi lên là tình hình tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”
Theo thống kê của TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, từ năm 2014 đến tháng 2018, TAND thành phố đã xét xử 665 vụ án hình sự, 945 bị cáo; trong đó có 119
vụ án cố ý gây thương tích (chiếm tỷ lệ 17,89% tổng số vụ án khởi tố), với tổng số 178
bị cáo, chiếm tỷ lệ 18,84% tổng số bị cáo
Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà nhiều vụ cho thấy đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao, chuyên cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê Việc gia tăng tội phạm “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” không chỉ tăng về số lượng đối tượng, vụ án, mà số đối tượng trong cùng một vụ án cũng có xu hướng tăng, tỷ lệ tái phạm tăng, cùng với đó là tuổi đời phạm tội của các đối tượng ngày càng trẻ hoá Đây thực sự là một vấn đề rất đáng báo động
Trước tình hình nêu trên, Thành ủy, UBND thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng triển khai quyết liệt đồng bộ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của địa phương về công tác phòng, chống tội phạm nói chung và THTP cố ý gây thương tích và gây tổn hại sức khỏe cho người khác nói riêng như Nghị quyết 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 về “Tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự
Trang 103
lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới”… đồng thời, Thành ủy đã cụ thể hóa bằng các văn bản như Công văn số 557-CV/TU ngày 08/11/2011 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường chỉ đạo phòng, chống tội phạm, lập lại THTP trên địa bàn thành phố; Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 06/01/2012 của Ban Thường vụ Thành ủy về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ ANTT đến năm 2015”, Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 13/5/2014 của Ban Thường vụ Thành
ủy về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm và TNXH trên địa bàn thành phố”… Tuy vậy, THTP vẫn diễn ra phức tạp và nghiêm trọng Vì thế cần phải được nghiên cứu cơ bản và chuyên sâu, tức là việc nghiên cứu phải được thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của khoa học pháp lý hình sự chuyên ngành - tội phạm học
Bên cạnh bề dày lịch sử của các khoa học pháp lý hình sự về Chống tội phạm, Tội
phạm học với tính cách là khoa học pháp lý hình sự về Phòng ngừa tội phạm cũng đã hiện hữu ở nước ta hàng chục năm nay và đang được áp dụng để nghiên cứu tội phạm các loại vì mục đích phòng ngừa Theo đó, việc phòng ngừa tội phạm phải được thiết lập trên cơ sở xác định được quy luật vận động của tội phạm, trong đó, việc xác định nguyên nhân và điều kiện của THTP là vấn đề cơ bản Nói cách khác, phải đặt phòng ngừa tội phạm trên nền tảng của kết quả nghiên cứu hai vấn đề cơ bản của nó là THTP
và vấn đề nguyên nhân, điều kiện của hiện tượng tiêu cực này, trong đó phải xem THTP là Quả để xác định Nhân Đây là hướng nghiên cứu hứa hẹn mang lại hiệu quả cao cho công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trên phạm vi quốc tế và quốc gia Vì thế nó cần được áp dụng cho từng địa phương, trong đó có thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và việc áp dụng này đối với những tội danh vốn đã xảy ra trên thực
tế hàng năm tại địa phương là rất cần thiết và khả thi
Chính vì các lý do như vậy, đề tài “Nguyên nhân, điều kiện tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận” đã được lựa chọn để nghiên cứu
Trang 114
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài, các công trình khoa học sau đây đã được nghiên cứu:
- GS.TS Đào Trí Úc (chủ biên) (1994), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia;
- PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Cơ chế hành vi phạm tội - cơ sở để xác định nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm, Tạp chí kiểm sát Số 1 và số 3/1996
- PGS.TS Trần Văn Luyện (2000), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự và nhân phẩm của con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- TS Phạm Văn Tỉnh (2007), “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam”, Nxb Tư pháp;
- Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình “Tội phạm học”, Nxb CAND, Hà Nội;
- GS.TS Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình “Tội phạm học”, Nxb CAND, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh (2013), Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam, Học viện Cảnh sát nhân dân
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguyên nhân của THTP nói chung gồm khái niệm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, phân biệt khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội phạm với một số khái niệm khác có liên quan Đây là những vấn đề lý luận hết sức cơ bản và quan trọng, làm nền tảng để tác giả nghiên cứu sâu hơn về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
Ngoài ra, đề cập đến vấn đề nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm cụ thể, cũng đã có nhiều công trình khoa học được thực hiện trong thời gian qua, trong đó có những công trình sau đây đã được đề tài tham khảo:
- Nguyễn Hữu Cầu (2002), Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, Luận án tiến sĩ, Học viện Cảnh sát nhân dân;
Trang 125
- Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2002), Đấu tranh phòng, chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế,
Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Thái Hoàng Minh (2013), “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng chống”, Luận văn thạc sĩ, Học Viện khoa học xã hội;
- Nguyễn Quốc Khánh (2015), “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Tiền Giang: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội;
- Bùi Như Lạc (2015), “Tội cố ý gây thương tích hoặc gãy tôn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội;
- Tống Bảo Toàn (2018), “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cổ ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn lý luận nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, rất thiết thực và giá trị cho việc thực hiện đề tài đang nói ở đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đề xuất được những giải pháp phòng
ngừa một cách có lý luận và thực tế, tức là, phòng ngừa phải trên cơ sở nghiên cứu, phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
Trang 136
hại sức khỏe cho người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (2014 đến năm 2018)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần phải đi sâu giải
quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
Nghiên cứu lý luận tội phạm học về vấn đề nguyên nhân và điều kiện của THTP, cũng như về vấn đề phòng ngừa tội phạm;
Làm rõ các yếu tố tác động đến tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố;
Đánh giá thực trạng THTP cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thực trạng công tác phòng ngừa của các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, có so sánh với địa bàn thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để tìm ra tính quy luật riêng;
- Dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong những năm tới;
- Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm góp phần phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các mối quan hệ giữa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm với các hiện tượng, quá trình, cũng như các yếu tố tâm-sinh lý-xã hội đặc
trưng của thành phố
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm;
Trang 147
Về tội danh, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Về không gian, luận văn được thực hiện trên địa bàn Thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận và sử dụng 119 bản án, hồ sơ vụ án;
Về thời gian, luận văn nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận từ năm 2014 - 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận xuyên suốt đề tài là dựa trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước về các vấn đề cơ bản của tội phạm học, áp dụng đối với tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp phân tích, tổng hợp: nghiên cứu lý luận, nghiên cứu tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa được sử dụng để làm rõ những vấn đề lý luận chung về tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và thực trạng phòng ngừa của các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic, quy nạp, diễn dịch được sử dụng nhằm đưa ra kiến nghị việc hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố
Để nghiên cứu sâu các đặc điểm riêng của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu 119 bản án, hồ sơ vụ án với 178 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
Trang 158
hại cho sức khỏe của người khác giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 đã được TAND thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xét xử cũng như các số liệu thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng ở thành phố Phan Rang – Tháp Chàm để phân tích
Phương pháp so sánh: đối chiếu lý luận nhận thức với thực nguyên nhân, điều kiện tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố để tìm ra những đặc điểm riêng, những hạn chế, thiếu sót của các
cơ quan chức năng tạo ra nguyên nhân, điều kiện đó, so sánh với tình hình cố ý gây thương tích ở địa bàn lân cận từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa phù hợp, hiệu quả
Phương pháp lịch sử: thể hiện sự kế thừa của luận văn, phát huy sáng tạo có chọn lọc
Phương pháp tọa đàm, lấy ý kiến chuyên gia: tọa đàm, lấy ý kiến một số chuyên gia về tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và giải pháp phòng ngừa
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và đặc biệt là phương pháp hệ thống
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về lý luận: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn
nữa lý luận của tội phạm học nói chung và lý luận về phòng, chống tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng;
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được vận dụng vào thực tiễn
công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm nói
riêng Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là những tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên trong các cơ sở đào tạo
7 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, kết cấu của Luận văn gồm có 3 chương
Trang 169
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
Chương 2: Thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm giai đoạn 2014-2018
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và những vấn đề đặt ra đối với phòng ngừa hiện tượng tiêu cực này
Trang 1710
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
“Nguyên nhân của tình hình tội phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực ở trong mối liên hệ tương tác hai mức độ sinh ra và tái sản xuất ra tình hình tội phạm như là hậu quả tất yếu của mình Điều kiện của tình hình tội phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực, tự mình không sinh ra tình hình tội phạm và các tội phạm, mà là hỗ trợ, làm dễ dàng và tăng cường cho sự hình thành và hoạt động của các nguyên nhân” [44, Tr.87]
Quan điểm trên thể hiện bản chất nguyên nhân và điều kiện của THTP nói chung định hướng cho việc tìm hiểu, làm rõ khái niệm nguyên nhân và điều kiện tình hình tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“Tội phạm học Việt Nam cũng như các khoa học pháp lý hình sự khác, không có
lý luận riêng về quan hệ nhân - quả, mà chỉ cụ thể hóa nội dung cặp phạm trù nhân - quả của triết học Mác-xít vào lĩnh vực nghiên cứu của mình” [32] Như vậy, nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được xem xét trên cơ sở tiếp cận phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong triết học Mác - Lênin Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động qua lại giữa
Trang 1811
các mặt của một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau tạo ra một
sự biến đổi nhất định gọi là kết quả trong khi đó điều kiện, tuy không trực tiếp sinh ra kết quả, song nó tạo thuận lợi, hỗ trợ, thúc đẩy làm phát sinh kết quả
Tóm lại, chúng ta có thể đưa ra khái niệm như sau: “ Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là
sự tác động qua lại giữa các yêu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm - sinh lý tiêu cực thuộc cá nhân người phạm tội, trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định dẫn tới việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định đó là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ”
Trên cơ sở này, học viên đi sâu nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.2.1 Ý nghĩa lý luận của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Thứ nhất: Việc nghiên cứu làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác góp phần nhận thức sâu sắc và rõ nét hơn về tình hình tội tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, góp phần hoàn thiện lý luận về nguyên nhân và điều kiện của THTP Thông qua việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm sẽ góp phần làm rõ thực trạng, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và xu hướng THTP trong thời gian tới, đồng thời hiểu rõ về nhân thân người phạm tội để xem xét, nhìn
Trang 1912
nhận những yếu tố này trong sự tác động qua lại với các yếu tố khác thuộc môi trường sống và hoàn cảnh làm phát sinh THTP
Thứ hai: nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật nói chung và chính sách hình sự nói riêng
Thứ ba: nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác góp phần cung cấp thông tin cho các ngành khoa học pháp lý khác
1.1.2.2 Ý nghĩa thực tế của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Thứ nhất: nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hỗ trợ đắc lực trong công tác điều tra, phát hiện và truy tố loại tội phạm này đồng thời cung cấp cung cấp thông tin hữu ích cho công tác quản lý, giáo dục người phạm tội nói chung, phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng trở thành người có ích cho xã hội
Thứ hai: Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phục vụ cho nghiên cứu đề ra các dự báo chính xác THTP và là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng ngừa một cách khoa học đạt hiệu quả cao
1.2 Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“Trong tội phạm học, tùy thuộc vào nhiệm vụ của việc nghiên cứu người ta sử dụng việc phân chia các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm theo các cách khác nhau” [44, tr.93] Việc phân loại các nguyên nhân và điều kiện của THTP
được tiến hành theo các tiêu chí về cơ chế, mức độ tác động, nội dung tác động và bản chất của sự tồn tại
Trang 20Một là: hệ thống các yếu tố làm phát sinh tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xây dựng theo quy luật cơ bản của sự phạm tội với cơ chế vận hành S-X-R, trong mối quan hệ nhân - quả (nguyên nhân - điều kiện
- kết quả): thì S là những yếu tố môi trường bên ngoài (Kích thích khách thể); X là những yếu tố làm phát sinh THTP thuộc chủ thể hành vi phạm tội, xét trên góc độ hẹp hơn là con người với những đặc điểm nhân thân đặc trưng (Kích thích phương tiện); R
là sự trả lời các kích thích, gồm các quá trình động cơ hoá hành vi phạm tội, kế hoạch hoá và hiện thực hoá hành vi
Hai là: Cơ chế hành vi phạm tội gồm có hai quá trình đó là quá tình tương tác
nhập tâm và quá trình tương tác xuất tâm Hai quá trình này phụ thuộc và tác động qua lại với nhau
Ba là: Quá trình tương tác nhập tâm được hiểu là quá trình con người nhận thức
sự vật, hiện tượng từ môi trường sống tiếp nhận vào bản thân mình để tạo thành tâm lý,
ý thức, quan điểm và nhân cách của bản thân, quá trình này diễn ra từ khi con người nhận thức được thế giới xung quanh cho đến khi bộc lộ ra bên ngoài thông qua quá trình tương tác xuất tâm
Quá trình tương tác xuất tâm được hiểu là quá trình bộc lộ tâm lý, ý thức tích tụ trong quá trình tương tác nhập tâm ra bên ngoài thông qua hoạt động kế hoạch hóa và thực hiện hóa hành vi phạm tội
Trang 2114
Như vậy, trên cơ sở lý luận được trình bày thì nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dựa trên cơ
chế hành vi phạm tội được phân loại như sau:
1.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm
1.2.1.1 Những nguyên nhân và điều kiện khách quan
a Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường gia đình
Gia đình có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Trong gia đình đứa trẻ bắt đầu bắt chước hành vi, ứng xử, biểu cảm của mỗi thành viên trong gia đình Càng lớn, hoạt động sống của trẻ mở rộng, đa dạng hơn, phạm vi bắt chước ngày càng rộng hơn không còn dừng lại ở các thành viên trong gia đình nữa Như vậy nếu sống trong môi trường gia đình tốt thì trẻ sẽ phát triển phẩm chất cá nhân tích cực và ngược lại nếu sống trong môi trường gia đình không tốt (gia đình khuyết thiếu, gia đình không hạnh phúc, gia đình có người vi phạm pháp luật ) thì trẻ sẽ dần hình thành nhân cách tiêu cực
Gia đình không hạnh phúc, có người vi phạm pháp luật: Trong gia đình vẫn tồn
tại bạo lực giữa các thành viên bố mẹ bất hòa hay đánh chửi nhau, những trẻ phải chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình từ khi còn nhỏ thì khi lớn lên người ấy dễ mang tính bạo lực và sẽ dẫn đến có những hành vi lệch chuẩn Trong giao tiếp hàng ngày việc bố mẹ hay người lớn trong gia đình ứng xử kém văn hóa, dùng từ ngữ tục tĩu, lối sống vô đạo đức thậm chí có cả những hành vi phạm tội như: đánh bạc, nghiện rượu, nghiện ma túy, buôn lậu, trộm cắp, tham ô các em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các thói hư tật xấu và dễ bị lôi kéo rồi dẫn tới đồng lõa với hành vi phạm pháp Cha mẹ bận rộn với công việc kinh doanh buôn bán, mải mê vào công việc kiếm tiền không có thời gian dành cho con cái, từ đó khoảng các giữa cha mẹ và con cái dần
có khoảng cách, những đứa trẻ ấy không được chăm sóc và dạy dỗ chu đáo sẽ có tâm
lý lệch lạc, tự do ngang bướng, thậm chí bất cần Chúng dễ dành bị rủ rê, lối kéo
Trang 2215
Gia đình khuyết thiếu: những trẻ sinh ra và lớn lên trong những gia đình ba mẹ li
hôn hoặc gia đình không đầy đủ ba mẹ (ba hoặc mẹ mất) cũng là một yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách Trẻ thiếu thốn tình cảm của bố hoặc mẹ, ít được quan tâm chia sẻ cũng dễ dẫn đến thiếu hụt trong đời sống tình cảm, dễ này sinh những cảm xúc tiêu cực như buồn khổ, tự ti, chán nản chúng sẽ tìm sự cân bằng ở những người khác có thể họ hàng, láng giềng nhưng cũng có thể là nhóm bạn cùng cảnh ngộ để quên đi những thiếu hụt đấy dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật
b Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường nhà trường
Trường học chính là nơi rèn luyện tri thức, nền tảng đạo đức, giúp uốn nắn nhân cách của mỗi con người Do đó, nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ em, tuy nhiên công tác giáo dục đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật và quản lý học sinh trong nhà trường còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa chặt chẽ, thường xuyên trong việc quản lý, giáo dục, phát hiện, ngăn chặn, xử
lý các em có biểu hiện vị phạm pháp luật…
Thứ nhất: Công tác giảng dạy từ phía giảng viên: ảnh hưởng bởi cơ chế thị trường
nên đã mất dần tình thương yêu giữa thầy cô đối với học trò và sự tôn kính của trò đối với thầy cô cũng chỉ ở một giới hạn nhất định, tình trạng thầy cô thiếu gương mẫu trong giảng dạy, trong lối sống, đạo đức trong hành xử với học sinh Các thầy cô quá chú trọng vào dạy chữ, chứ chưa chú trọng dạy các em về kỹ năng sống, kỹ năng làm người Chất lượng giảng dạy thấp ở nhiều trường, tình trạng chạy đua thành tích, giáo dục tách rời với giảng dạy, học không đi đôi với hành, thiếu phương pháp giảng dạy với những học sinh yếu kém, cá biệt dẫn tới các em chán nản không có hứng thú học hành, bỏ học, chương trình đào tạo còn nặng nề chưa phù hợp với lứa tuổi học sinh và chưa phân hóa được năng lực học tập của học sinh
Thứ hai: Công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường được triển khai rộng khắp
nhưng phần lớn mang tính hình thức, nên hiệu quả mang lại không cao, các em học sinh không nhận thức được nhiều về pháp luật Việc xử lý học sinh vi phạm nội quy
Trang 23Thứ ba: Công tác phối hợp giữa gia đình nhà trường còn chưa cao, công tác phối
hợp đấu tranh, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của nhà trường và các cơ quan chức năng, ban ngành, đoàn thể vẫn chưa chặt chẽ, chưa hiệu quả, mới chỉ chú trọng
xử lý các vụ việc đã xảy ra mà chưa coi trọng công tác phòng ngừa
c Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường bạn bè
Những người bạn luôn có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển tính cách của một người, đặc biệt là những đứa trẻ chưa trưởng thành Bạn bè đồng trang lứa sẽ có những điểm tương đồng nhau về mặt suy nghĩ, quan điểm, thái độ sống vì vậy khi kết bạn với những bạn tốt thì sẽ hình thành nhận thức tích cực ngược lại nếu kết bạn với những người nhiều thói hư tật xấu như lười học, nói tục chửi bậy, thiếu lễ phép, thích hưởng thụ sẽ khiến trẻ dễ bị nhiễm những thói xấu đó và thực hiện hành vi vi phạm pháp luật,
ví dụ: đám bạn thường xuyên tụ tập ăn chơi, đánh nhau gây thương tích cho người khác
d Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế: Sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, hội nhập
kinh tế quốc tế bên cạnh những yếu tố tích cực còn phát sinh những vấn đề tiêu cực đã tác động đáng kể đến mọi mặt của đời sống xã hội Đây là nguồn gốc phát sinh hoặc tạo điều kiện cho tội phạm phát triển, trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích Đồng thời làm phát sinh mâu thuẫn giữa con người và con người trong cạnh tranh làm ăn, trong sinh hoạt đời thường dẫn đến xãy ra xung đột, bạo lực
Môi trường xã hội: Trong những thời kỳ mà xã hội có nhiều thay đổi thì định
hướng giá trị sống của con người cũng có những đổi thay Từ chỗ thiên về coi trọng giá trị tinh thần, nay chuyển sang giá trị vật chất; từ chỗ những giá trị xã hội được đề cao, nay chuyển sang giá trị cá nhân được coi trọng Với một xã hội còn tồn tại nhiều hiện
Trang 2417
tượng tiêu cực như nạn tham nhũng, tham ô khi mà ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân chưa được đề cao cũng như chưa cảm nhận được những triển vọng tích cực trong các phong trào xã hội đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực thì những giá trị vật chất, vì lợi ích cá nhân rất dễ thắng thế những giá trị vì lợi ích xã hội, lợi ích của những người chung quanh và những giá trị tinh thần như tình người, tình ruột thịt, lòng hiếu thảo Trong đó, các mối quan hệ thiếu bền vững do sự liên kết giữa các cá nhân trong xã hội không được gắn bó nên hành vi của cá nhân không kiểm soát một cách mạnh mẽ, dễ bị rạn nứt và nảy sinh những hành vi sai lệch Mặt khác, do ảnh hưởng ngày càng nhiều tình trạng phim, ảnh có tính chất bạo lực xuất hiện trên những phương tiện thông tin đại chúng, nhất là game bạo lực đã ảnh hưởng trực tiếp đến thanh thiếu niên, từ đó các
em dễ sử dụng bạo lực, dao kiếm để giải quyết mâu thuẫn cá nhân
Ngoài ra về quản lý xã hội còn lỏng lẻo, chưa triệt để như: việc tuần tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng chưa được thường xuyên, để ngăn chặn giải quyết các vụ xung đột, ẩu đả, đánh nhau bên cạnh đó Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan Nhà nước chưa thật sự hiệu quả, chưa đi sâu vào từng người dân, từng bộ phận Nhân dân, từ đó chưa nâng cao được ý thức chấp hành pháp luật của người dân
Công tác hòa giải cấp cơ sở chưa thật sự được chú trọng, quan tâm đúng mức, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ Nhân dân chưa được phát hiện kịp thời, giải quyết một cách triệt để, dứt điểm, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến các hành vi cố ý gây thương tích
e Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức
Giá trị văn hóa là sản phẩm của con người, của sự phát triển xã hội và văn hóa mỗi thời đại Khi được hình thành, giá trị ấy định hướng mục tiêu, phương thức, hành động của con người và tham gia điều tiết sự phát triển xã hội Giá trị ấy quy định tập quán, thói quen, dư luận xã hội và tiến tới quy định cả giá trị luật pháp Từ ngàn xưa, người Việt Nam luôn đặt các giá trị về văn hóa, tư tưởng, đạo đức lên hàng đầu, mọi
xử sự giữa người với người phải dựa trên quy chuẩn, nguyên tắc đó Tuy nhiên, hiện
Trang 2518
nay môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, TNXH và tội phạm có chiều hướng gia tăng Các trào lưu văn hóa nước ngoài du nhập và phát triển nhanh chóng, băng đĩa bạo lực, sách, truyện có nội dung có nội dung đánh đấm, kiếm hiệp đã tác động mạnh đến tư tưởng bạo lực và mâu thuẫn xảy ra đều giải quyết bằng bạo lực, đạo đức con người xuống cấp, vì cái lợi trước mắt mà người ta sẵn sàng gây tội ác, xã hội thiếu đi cái tình, khác hẳn thời bao cấp, tuy nghèo nhưng mọi người sống với nhau tình cảm, nhân ái, chia sẻ, yêu thương
1.2.1.2 Những nguyên nhân và điều kiện chủ quan
Nguyên nhân và điều kiện chủ quan từ phía người phạm tội được hiểu là tất cả những yếu tố thuộc về cá nhân người phạm tội bao gồm những tiêu cực trong suy nghĩ
và những biểu hiện tiêu cực ra bên ngoài lối sống
Nghiên cứu quá trình này sẽ giúp chúng ta thấy được dấu hiệu nào của người phạm tội là dấu hiệu đặc trưng có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện tội và làm rõ động lực thúc đẩy con người thực hiện hành vi phạm tội đồng thời giải thích vì sao trong cùng một hoàn cảnh, một tình huống giống nhau thì người này lại thực hiện hành vi phạm tội còn người khác thì không, có sự khác nhau như vậy bởi lẽ các tác động từ trạng thái tâm lý như: tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, tâm lý pháp luật
Quá trình hình thành động cơ hóa hành vi phạm tội diễn ra trong suy nghĩ người phạm tội, còn những động lực của hành vi như nhu cầu, sở thích, thói quen… là những yếu tố không phải lúc nào cũng tồn tại trong con người, mà chúng thường do môi trường sống bên ngoài quy định Điều đó có nghĩa là, động cơ hóa hành vi đó là một quá trình tâm - sinh lý - xã hội, quá trình này có cơ sở khách quan do điều kiện xã hội, hoàn cảnh cảnh sống cụ thể của mỗi ngươi mang lại [40, tr.33]
Các đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thường do bột phát không làm chủ được bản thân, nóng giận không kiềm chế, bị lệch lạc về nhân cách, khiếm khuyết về gia đình, thiếu hiểu biết, hiếu thắng, uy hiếp mọi người nên dù mâu thuẫn nhỏ xảy ra cũng xuất hiện tranh chấp xô xát Ngoài
Trang 2619
ra còn do nhu cầu của mỗi con người là khác nhau và nhu cầu sẽ trở thành động cơ nếu nhu cầu bị thôi thúc bức thiết dẫn đến việc con người ta phải hành động để thỏa mãn nhu cầu, giả sử mâu thuẫn giữa con người và con người trong cạnh tranh làm ăn, trong sinh hoạt đời thường dẫn đến xảy ra xung đột, bạo lực và gây thương tích cho người khác Ngày càng nhiều đối tượng bị ảnh hưởng tình trạng phim, ảnh có tính chất bạo lực xuất hiện trên những phương tiện thông tin đại chúng, nhất là game bạo lực đã ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý dẫn đến sử dụng bạo lực, dao kiếm để giải quyết mâu thuẫn
cá nhân
1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm
Quá trình tương tác xuất tâm bao gồm hai bộ phận cấu thành là khâu kế hoạch hóa hành vi và khâu hiện thực hóa hành vi phạm tội Trong quá trình này, đầu tiên là kế hoạch hóa hành vi, để chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm chủ thể xác định mục đích, đối tượng, phương tiện, địa điểm, thời gian, phương thức khi thực hiện hành vi và xác định phương thức giải quyết hậu quả sau khi thực hiện hành vi phạm tội, như vậy sau khi chuẩn bị đủ mọi điều kiện về vật chất và tinh thần, chủ thể tiến hành thực hiện hóa hành vi bằng hành động cụ thể ra bên ngoài như sau:
1.2.2.1 Những nguyên nhân và điều kiện khách quan
Thứ nhất: việc tuần tra, kiểm soát của lực lượng an ninh, trật tự công cộng trên địa bàn thành phố hoạt động chưa thực sự hiệu quả, công tác tiếp nhận xử lý chưa mang tính cấp bách để giải quyết kịp thời các vụ xung đột, đánh nhau xảy ra cũng như kịp thời ngăn chặn tội phạm
Thứ hai: sự thờ ơ, vô cảm từ con người trong môi trường xã hội là những người chứng kiến xung quanh vụ việc, là lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với cộng đồng trước sự nguy kịch về tính mạng của người khác Có những xử sự như vậy là do hai nguyên nhân, bên ngoài do lối sống của thời đại số lối sống nhanh - gấp của không ít người ngày nay, nhiều giá trị ồ ạt du nhập mà chưa được gạn lọc, mạng xã hội tràn lan những chuyện tiêu cực khiến nhiều người vẫn còn suy nghĩ "sợ vạ lây", nhiều giá trị
Trang 27Thứ tư: yếu tố từ phía nạn nhân cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, trong nhiều vụ án cố ý gây thương tích mà nguyên nhân chủ yếu là từ phía nạn nhân rất
đa dạng như: đã có thái độ “nhìn đểu”, “thọc gậy bánh xe”, xem thường hay thói quen,
sở thích ích kỷ không thể kiềm chế nhu cầu mà tác động đến người phạm tội gây ra những vụ án thương tâm
1.2.2.2 Những nguyên nhân và điều kiện chủ quan
Đó chính là những nguyên xuất phát từ chính bản thân người thực hiện hành vi phạm tội Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống - kích thích khách thể tồn tại khách quan và thường xuyên tác động đến người sống trong môi trường ấy, làm diễn ra quá trình tương tác nhập tâm Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gồm: Suy nghĩ, tư tưởng, sai lệch về sở thích, sai lệch về nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu, sai lệch trong ý thức pháp luật, người phạm tội thiếu tri thức cả về pháp luật và đạo đức, thiếu hiểu biết
về pháp luật Bên cạnh đó sự coi thường pháp luật, thích giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực để thỏa mãn nhu cầu, tâm lý hiếu thắng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội
1.3 Cơ chế tác động của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 2821
Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực trong sự tương tác lẫn nhau làm phát sinh tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Những hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực có trong môi trường sống và nhân thân người phạm tội và tác động qua lại là cơ sở cho việc xác định
hệ thống các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môi trường xã hội bên ngoài và các yếu tố tâm, sinh lý tiêu cực bên trong cá nhân người phạm tội và diễn ra theo một cơ chế nhất định gọi là cơ chế hình thành hành vi phạm tội Và cơ chế đó được vận hành theo công thức S - X - R, trong đó S là các yếu tố thuộc môi trường sống (kích thích khách thể), X là các yếu tố tâm - sinh lý - xã hội của chủ thể hành vi (kích thích phương tiện), R là hành động đáp trả các kích thích đó (hành vi phạm tội)
Môi trường sống có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách con người Môi trường sống có thể là môi trường gia đình, nhà trường, xã hội là bộ phận quan trọng trong cơ chế tác động nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh THTP Tuy nhiên, yếu tố môi trường chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm phát sinh hành vi phạm tội mà cần phải có sự tác động qua lại với các yếu tố tâm, sinh lý tiêu cực của mỗi cá nhân thông qua những hành động cụ thể từ đó mới hình thành hành vi phạm tội Như vậy không có nghĩa là bất cứ ai sống trong môi trường tiêu cực đều phạm tội bởi vì khi các yếu tố tiêu cực từ môi trường sống tác động đến cá nhân thì bản thân cá nhân cũng
có sự tác động ngược trở lại với môi trường để hình thành đặc điểm nhân cách cá nhân Điều này giải thích cho việc có nhiều người cùng sống trong môi trường sống có những yếu tố tiêu cực như nhau nhưng có người thực hiện hành vi phạm tội, còn người khác thì không Như vậy, khi tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của tội phạm thì phải tìm
Trang 291.4 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và phòng ngừa loại tội phạm này
1.4.1 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Có thể thấy, mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, xét về bản chất là mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong đó nguyên nhân và điều kiện luôn là cái có trước, thúc đẩy quá trình sinh ra kết quả (hành vi hoặc hiện tượng), còn kết quả có sau và chỉ xuất hiện khi nguyên nhân và điều kiện đã xuất hiện Được hiểu
là, tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong đơn vị không gian, thời gian nhất định, biểu hiện qua mức độ, diễn biến, cơ cấu
và tính chất của nó còn nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cái sinh ra kết quả (ở đây kết quả là
Trang 3023
tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) Chính vì thế mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau thể hiện ở nội dung sau: Tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
là cơ sở để nhận thức nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Khi phân tích về THTP sẽ làm rõ được những đặc điểm về lượng (thực trạng và diễn biến của THTP) và đặc điểm về chất (cơ cấu và tính chât của THTP) từ đó có cơ sở để nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của THTP và ngược lại
1.4.2 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“Việc phân tích các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm đã chỉ ra rằng không thể nhận thức, hiểu biết được các nguyên nhân và điều kiện đó nếu thiếu việc cân nhắc nhân thân người phạm tội, bản chất, các đặc điểm và quá trình hình thành nó” [39, tr.126]
Đặc điểm nhân thân của người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu là những đặc điểm mang tính đặc trưng, phổ biến điển hình và có vai trò quan trọng trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể, như: Đặc điểm sinh học tuổi tác, giới tính, đặc điểm xã hội trình độ học vấn, nơi cư trú, nghề nghiệp, đặc điểm tâm lý phản ánh nhận thức xã hội tiêu cực của người phạm tội, đặc điểm nhân thân mang tính pháp lý hình sự Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hòan cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội của người đó
“Nhân thân người phạm tội là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hành vi phạm tội, còn các hoàn cảnh của sự hình thành các đặc điểm tâm lí
Trang 31từ đó biết được động cơ, mục đích cũng như hoàn cảnh bên ngoài tác động để thực hiện hành vi phạm tội
1.4.3 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Xuất phát từ nhận thức con người sinh ra vốn có bản chất hướng thiện và đều có khả năng trở thành công dân có ích, việc họ có hành vi vi phạm pháp luật là xuất phát
từ những nguyên nhân và điều kiện xã hội nhất định, vì vậy nếu loại trừ những nguyên nhân và điều kiện này thì con người sẽ không bị sa đà dẫn tới phạm tội
“Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội
và tính nhà nước nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [9, tr.276]
Như vậy, phòng ngừa THTP nói chung đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ nguyên nhân
và điều kiện THTP để khắc phục, làm giảm bớt hoặc tiến tới loại trừ THTP ra khỏi đời sống xã hội Có thể thấy rằng việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là bước đầu và là
cơ sở để đề ra các biện pháp phòng ngừa THTP này có hiệu quả
Trang 3225
Từ phân tích trên có thể thấy rằng giữa nguyên nhân và điều kiện THTP nói chung và tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại với phòng ngừa THTP này
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã phân tích, lý giải những vấn đề lý luận chung về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, trong mối quan hệ với THTP, nhân thân người phạm tội và phòng ngừa THTP này Tác giả đã làm rõ khái niệm, ý nghĩa, phân loại, cơ chế tác động đến các nguyên nhân và điều kiện và mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác với nhân thân người phạm tội và phòng ngừa THTP này Từ việc phân tích lý luận chung, chương 1, tác giả rút ra một số kết luận:
Thứ nhất, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là sự tương tác giữa hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực làm phát sinh THTP này
Thứ hai, việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác một cách khoa học và hiệu quả nhất phải dựa trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của THTP này
Thứ ba, khi tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải nghiên cứu cả nguyên nhân, điều kiện bắt nguồn từ phía xã hội và nguyên nhân, điều kiện xuất phát từ phía người phạm tội
Cơ sở lý luận đã nghiên cứu ở chương 1 chính là tiền đề để tác giả nghiên cứu, phân tích thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm trong chương 2 của luận văn
Trang 3326
Chương 2: THỰC TRẠNG NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHAN RANG –
THÁP CHÀM GIAI ĐOẠN 2014 -2018 2.1 Thực trạng nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
2.1.1 Thực trạng nhận thức thông qua văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và văn bản triển khai thực hiện của chính quyền thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
2.1.1.1 Thực trạng nhận thức thông qua văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân đã được huy động và phát huy hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh, kiềm chế gia tăng THTP nói chung và THTP Cố
ý gây thương tích nói riêng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự xã hội, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trong thời gian vừa qua thì THTP nói chung và hình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác vẫn còn diễn biến phức tạp Do
đó, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định phòng ngừa THTP nói chung và tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nói riêng là một công tác trọng tâm, do đó, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thường xuyên có những văn bản chỉ đạo thể hiện qua công tác xây dựng, ban hành các văn bản phòng, chống tội phạm của Ban chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cụ thể: Nghị quyết 09/1998/NQ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Nội dung cơ bản của Nghị quyết nêu ra, THTP vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, đối tượng phạm tội chủ yếu là người lao động, thanh thiếu niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao Đặc biệt THTP
có tổ chức, tham nhũng, buôn lậu, xâm phạm trẻ em gây ra hậu quả hết sức nghiêm
Trang 3427
trọng Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cùng với những yếu kém trong việc quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của cơ quan Nhà nước, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, sự phối hợp hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa chặt chẽ, một số cán bộ bị tha hóa, công tác phòng ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư chưa được quan tâm đúng mức Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong hoạt động phòng, chống tội phạm [7]
Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm Nội dung trọng tâm là: phát động quần chúng nhân dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hóa, giáo dục người phạm tội tại cộng đồng dân cư, vận động người phạm tội ra tự thú
và truy bắt tội phạm có lệnh truy nã, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tội phạm, tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật và trách nhiệm công dân về bảo
vệ ANTT Đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự nguy hiểm và tội phạm có tính quốc tế, đấu tranh phòng, chống các loại tội xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên [22]
Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010, nhận định, THTP vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, ngoài các tội phạm truyền thống thì phát sinh nhiều tội mới như khủng bố, rửa tiền, mua bán người, tội phạm sử dụng công nghệ cao… một trong những nguyên nhân xảy ra tình hình này là do cấp ủy đảng, chính quyền ở một số nơi chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nên chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tội phạm, lực lượng trực tiếp chống tội phạm ở nhiều nơi còn yếu, công tác quản lý xã hội, công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, về đạo đức, lối sống và vận động nhân dân tham gia phòng, chống tội phạm còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, Chỉ thị đưa ra yêu cầu trong tình hình hiện nay cần tiến hành như sau: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
Trang 3528
tội phạm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa công tác phòng, chống tội phạm với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội khác, công tác phòng, chống tội phạm phải được thực hiện trong tiến trình cải cách tư pháp, phải tôn trọng quyền dân chủ, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân và phải lấy chủ động phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ với tích cực tấn công trấn áp tội phạm” Trên cơ sở đó, Thủ tướng chính phủ cụ thể hóa bằng Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 24 tháng 2 năm 2011 về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, tổ chức quán triệt sâu rộng trong các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương nội dung Chỉ thị để thống nhất nhận thức và hành động, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về ANTT, kịp thời khắc phục những thiếu sót, sơ hở không để tội phạm lợi dụng hoạt động [23]
Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”; Chỉ thị 09-CT/TU ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ trong tình hình mới”
Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKSND, của TAND và công tác thi hành án năm 2013 Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy
mô và tính chất Quốc hội đề ra yêu cầu đối với Chính phủ, VKSND tối cao, TAND tối cao cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, chủ động khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong việc hoạch định và thực thi chính sách, phát luật để kiềm chế sự gia tăng vi phạm phạm pháp luật và tội phạm [13]
Trang 3629
Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKSND, của TAND và công tác thi hành án năm 2016 và các năm tiếp theo Trong thời gian qua, hiệu quả một số mặt công tác tư pháp vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp, tội phạm về ma túy, sử dụng công nghệ cao để phạm tội, trộm cắp, cờ bạc… gây lo lắng cho xã hội Quốc hội giao Chính phủ, VKSND tối cao, TAND tối cao xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, đề ra các giải pháp phòng, chống tội phạm và thực hiện tốt công tác phòng ngừa xã hội, phát hiện đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm [19]
Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025
và định hướng đến năm 2030 Xem phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách và xuyên suốt các giai đoạn phát triển của đất nước Với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn dân kết hợp sử dụng tổng hợp các biện pháp, chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh ngăn chặn tội phạm, trong đó lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội với phòng ngừa nghiệp vụ, kịp thời khắc phục những hạn chế, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm [25]
Kết luận số 05-KL/TW ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW đã đạt được những kết quả quan trọng, nhận thức của mỗi người đối với công tác phòng, chống tội phạm và các TNXH được nâng lên Bên cạnh đó, THTP còn diễn biến phức tạp, một số tội như giết người, ma túy, trộm cắp, cướp giật có xu thế hướng gia tăng nhất là ở các thành phố lớn THTP do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong
đó trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên trách nhiều nơi
Trang 37Trên đây là những văn bản mang tính chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Từ những quan điểm chỉ đạo này, tác giả kế thừa để nghiên cứu quan điểm, chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
2.1.1.2 Thực trạng nhận thức thông qua văn bản triển khai thực hiện của chính quyền thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
Xác định tầm quan trọng của công tác đảm bảo an ninh, trật tự đối với nhiệm vụ phát trển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, trong những năm qua Thành ủy Phan Rang - Tháp Chàm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng triển khai quyết liệt đồng bộ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của địa phương về nhiệm vụ bảo
vệ an ninh, trật tự Bên cạnh việc tổ chức triển khai, Thành ủy đã xây dựng Chương trình hành động, kế hoạch để tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, Chính phủ như: Chương trình hành động số 74-CT/TU ngày 10/3/2000 và kế hoạch số 75-KH/TU ngày 10/3/2000 để triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về
Trang 3831
“Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới”; Kế hoạch số 86-KH/TU ngày 10/3/2009 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”; Kế hoạch số 12-KH/TU ngày 24/01/2011 về thực hiện Chỉ thị số 48 - CT/TW của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 10/5/2012
về thực hiện Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về ‘Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”
Căn cứ vào tình hình đặc điểm, nhiệm vụ chính trị trong từng thời điểm, Thành
ủy đã ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, Kế hoạch theo từng chuyên đề để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo ANTT như: Công văn số 557-CV/TU ngày 08/11/2011 của Ban thường vụ Thành ủy về tăng cường chỉ đạo phòng, chống tội phạm lập lại THTP trên địa bàn thành phố; Nghị quyết số 04-NQ/TV ngày 06/01/2012 của Ban thường vụ Thành ủy về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ bảo
vệ ANTT đến năm 2015”, Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 13/5/2014 của Ban thường vụ Thành ủy về ‘Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm và TNXH trên địa bàn thành phố”… Mặt khác, hàng năm Thành ủy ban hành các Nghị quyết chuyên đề về công tác đảm bảo ANTT, chỉ đạo chính quyền, Ủy ban MTTQ, cấp ủy các Tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác bảo đảm ANTT gắn với việc tập trung phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Quan tâm chỉ đạo công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhất là công tác phòng ngừa, hạn chế tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, đã triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên giai đoạn 2011-2015”; Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới”; Chỉ thị 21–CT/TU, ngày 29/7/2011 của Tỉnh ủy Ninh Thuận về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
Trang 3932
công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2011 – 2015” và gần đây nhất là tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch số 3182/KH-UBND, ngày 26/7/2018 của UBND tỉnh Ninh Thuận về triển khai thực hiện Dự án “Đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phòng, chống bạo lực gia đình, mua bán người”
Từ những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy các cấp ủy, tổ chức Đảng và chính quyền thành phố Phan Rang – Tháp Chàm nhận thức THTP vẫn còn diễn ra phức tạp,
do đó, lãnh đạo Đảng và Chính quyền của thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đã chú trọng quan tâm đến công tác phòng ngừa THTP nói chung và tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nói riêng Điều này được thể hiện qua việc triển khai, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; bên cạnh đó, lãnh đạo Đảng và Chính quyền thành phố còn quan tâm xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, các phong trào quần chúng phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn thành phố trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng Tuy nhiên, cũng thông qua các văn bản chỉ đạo nói trên, có thể thấy, tinh thần các văn bản chỉ đạo cũng chỉ tập trung vào việc phòng ngừa THTP nói chung chứ chưa có văn bản nào chỉ đạo chuyên sâu việc phòng ngừa THTP cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trên địa bàn thành phố Đặc biệt là công tác phòng ngừa dựa trên việc loại trừ các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh THTP đó Bên cạnh đó, nhận thức của các chủ thể phòng ngừa THTP nói chung
và THTP cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nói riêng còn chưa thực sự sâu sắc, chưa có hệ thống, chưa có văn bản chỉ đạo nào thực sự thể hiện rõ nét nguyên nhân và điều kiện của THTP nói trên, vì vậy, việc phòng ngừa THTP nói chung và THTP cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nói riêng còn nhiều hạn chế
Trang 4033
2.1.2 Thực trạng nhận thức nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giai đoạn 2014-2018 thông qua các thông số của tình hình tội phạm
Để nghiên cứu tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm từ năm 2014 -2018, học viên nghiên cứu toàn bộ 119 bản án về tội cố ý gây thương tích của TAND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm để phản ánh chính xác mức độ, diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình hình tội cố ý gây thương tích
2.1.2.1 Mức độ của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
Mức độ của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, giai đoạn từ năm 2014 -
2018 có thể nhận biết được thông qua số liệu thống kê về tổng số tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã xảy ra trên thực tế cùng với số người đã thực hiện hành vi phạm tội đó trên địa bàn và trong khoản thời gian này Đánh giá mức độ của tình hình tội cố ý gây thương tích thông qua số lượng vụ án cố ý gây thương tích và số bị cáo đã bị kết tội bằng bản án của Tòa án (tội phạm rõ) và số
vụ án cố ý gây thương tích đã xảy ra mà chưa bị phát hiện và xử lý (tội phạm ẩn) Trong phạm vi nghiên cứu học viên chỉ xem xét, đánh giá số liệu thống kê tội phạm của TAND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tập trung làm rõ ở mức độ tổng quan tương đối và mức độ tổng quan tuyệt đối
Mức độ tổng quan tuyệt đối
Bảng 2.1 phần Phụ lục Theo số liệu thống kê của TAND thành phố Phan Rang -
Tháp Chàm từ năm 2014- 2018, tổng số vụ án xét xử hình sự là: 665 vụ án với 945 bị cáo, trong đó có 119 vụ án với 178 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong đó số vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn