1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHÓM từ, NGỮ nói về “ăn” TRONG TIẾNG VIỆT

115 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ ở Việt Nam Việc nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt, là một trong những lĩnh vực được khá

Trang 1

KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG

NHÓM TỪ, NGỮ NÓI VỀ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG

NHÓM TỪ, NGỮ NÓI VỀ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả khảo sát và nghiên cứu đã nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Khương Thị Lan Phương

Trang 4

và nghiên cứu tại trường

Hà nội, ngày 13 tháng 6 năm 2020

Tác giả luận văn

Khương Thị Lan Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11

1.1 Khái niệm từ và những khái niệm liên quan 11

1.2 Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa 14

1.3 Sự phát triển nghĩa của từ 20

1.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ 22

1.5 Từ đa nghĩa……….24

Chương 2 NGỮ NGHĨA CỦA TỪ “ĂN” VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NÓ TRONG TIẾNG VIỆT……… 26

2.1 Ngữ nghĩa của từ “ăn” trong tiếng Việt 29

2.2 Khả năng kết hợp của từ “ăn” trong tiếng Việt 33

Chương 3 NGỮ NGHĨA VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NHÓM TỪ ĐỒNG NGHĨA VỚI TỪ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT 59

3.1 Nhóm từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt 59

3.2 Khả năng kết của những từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt…… 60

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN……… 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quan niệm của người Việt Nam, gia đình là tế bào của xã hội,

và cuộc sống sinh hoạt luôn gắn liền với bữa cơm gia đình – nơi ẩn chứa nhiều đạo lý, thể hiện tình cảm, yêu thương gắn kết giữa các thành viên, là linh hồn của hạnh phúc, và cũng là nơi truyền đạt những tư tưởng, truyền thống, những đạo lý từ thế hệ này qua thế hệ khác Từ những phép cư xử

tưởng chừng đơn giản thông qua cách ăn uống: Ăn trông nồi, ngồi trông

hướng đến quan niệm về cái ăn, cái mặc: Ăn lấy chắc, mặc lấy bền; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp… ông bà ta muốn trao gửi đến thế

hệ con cháu những thông điệp đầy chất nhân văn, một trong những điều

đầu tiên, cơ bản nhất mà mỗi người đều cần phải học đó là “Học ăn, học

nói, học gói, học mở” Như vậy, “ăn” không còn đơn giản chỉ là câu

chuyện của việc duy trì sự sống, mà còn ẩn chứa trong đó những bài học về nhân cách, là quan niệm về nhân sinh, về cuộc sống và các đạo lý, các cách hành xử trong xã hội của con người

Có thể nói hoạt động ăn của con người không chỉ là hoạt động mang tính sinh học để duy trì sự sống mà còn mang tính văn hóa, gắn với mỗi cộng đồng với những thói quen, tập tục Thông qua thói quen ăn uống, chúng ta có thể hiểu được phần nào đặc điểm tâm lý dân tộc, tập quán cũng như cách ứng xử của con người với môi trường Bởi vậy, cùng với sự thay đổi và phát triển không ngừng của xã hội, thì vốn từ vựng trong tiếng Việt nói chung và vốn từ vựng liên quan đến từ “ăn” nói riêng cũng không ngừng tăng lên, hoạt động “ăn” của con người dần vượt lên những giá trị duy trì sự sống, vươn tới tầm nghệ thuật Điều đó được phản ánh khá sinh động trong ngôn ngữ

Trang 7

Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài : Nhóm từ, ngữ nói về

“ăn” trong tiếng Việt Với mong muốn thông qua sự nỗ lực tìm hiểu,

nghiên cứu sự phát triển của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” cùng với quá trình phát triển của dân tộc, cũng như sự phát triển của nhóm từ này trong các mặt khác nhau của cuộc sống dưới góc độ ngôn ngữ học Thông qua đó có thể góp một phần nhỏ vào nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nói chung, và của nhóm từ liên quan đến từ “ăn” nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ ở Việt Nam

Việc nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt, là một trong những lĩnh vực được khá nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Bởi từ vựng là một bộ phận được coi là không ổn định nhất trong hệ thống ngôn ngữ, kết cấu nghĩa của từ luôn luôn vận động và phát triển, sự biến đổi nghĩa là một sự thực hiển nhiên và không ngừng thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa học, được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu về từ vựng học, từ vựng - ngữ nghĩa

tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn Văn Tu, trong cuốn “Từ vựng học

tiếng Việt hiện đại” [40] đã đưa ra được nhiều quan điểm lý thuyết về sự

biến đổi nghĩa Ông đã trình bày về bản chất và nguyên nhân của biến đổi nghĩa, phân loại biến đổi nghĩa Còn tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng sự thay đổi nghĩa của từ trong tiếng Việt do nguyên nhân đơn giản là nhằm đáp ứng nhu cầu tạo thêm từ mới của xã hội.[4]

Bên cạnh đó, một số tác giả như Lê Quang Thiêm đã dành nhiều sự quan tâm đến biến đổi ý nghĩa của các yếu tố từ vựng Trong ấn bản chuyên khảo về lịch sử từ vựng (2003), tác giả đã dành một số trang để

Trang 8

khảo sát, nghiên cứu sự phát triển nghĩa qua con đường đa nghĩa hóa trong

tiếng Việt hiện đại (1858-1930) Đặc biệt, trong cuốn “Sự phát triển nghĩa

từ vựng tiếng Việt từ 1945 đến 2005” [35] Đây là công trình Việt ngữ học

nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc nhất về sự phát triển nghĩa của từ vựng tiếng Việt trên quan điểm đồng đại, vận dụng phương pháp lịch sử so sánh, phân tích cấu trúc – hệ thống… Trên cơ sở đó có thể xác lập được các tầng nghĩa, kiểu nghĩa để từ đó tìm hiểu sự biến đổi, phát triển nghĩa từ vựng qua các mốc thời gian gắn liền với các sự kiện lịch sử

và những thăng trầm của đất nước

Tác giả Nguyễn Đức Tồn trong “Đặc trưng văn hóa - dân tộc của

ngôn ngữ và tư duy” [38] đã trình bày về đặc điểm của quá trình chuyển

nghĩa của trường từ vựng chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Nga) Tác giả đã phân tích và thống kê lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩa từ đó rút ra những nhận định

về quá trình chuyển nghĩa của các trường từ vựng này

Tác giả Phạm Văn Lam (2007) trong “Bước đầu khảo sát sự phát

triển ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng trong tiếng Việt từ năm 1945 đến nay” [22] đã khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng

danh từ thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn từ năm 1945 đến nay Nghiên cứu cho thấy, sự mở rộng và phát triển nghĩa của các nhóm từ gắn liền với sự phát triển xã hội cũng như tiến trình lịch

sử của dân tộc qua quãng thời gian có nhiều biến động và phát triển quan trọng Trên cơ sở khảo sát sự phát triển nghĩa theo hướng trí tuệ hóa và biểu trưng hóa, từ đó tác giả chỉ ra các xu hướng, con đường phát triển nghĩa của tiếng Việt, phân tích và lý giải các con đường phát triển ấy

Theo hướng nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ

ngôn ngữ học tri nhận, Lý Toàn Thắng trong “Ngôn ngữ học tri nhận nhìn

Trang 9

từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [31] đã áp dụng những khái

niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn tiếng Việt, đưa ra những luận giải và các kết luận rất có giá trị đối với sự phát triển ngữ nghĩa

của từ trong tiếng Việt Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong bài viết “Ngữ

nghĩa của từ “Ra”, “Vào” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nghiệm thân”[17] đã dùng lí thuyết nghiệm thân để lí giải con đường chuyển nghĩa

của từ “ra”, “vào” trong tiếng Việt

Hay tác giả Nguyễn Thị Hiền (2018) trong “Sự phát triển ngữ nghĩa

của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận”

[15] đã dùng cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận để làm rõ hiện tượng phát triển ngữ nghĩa Đặc biệt là thông qua hai phương thức chuyển nghĩa

ẩn dụ và hoán dụ Tác giả đã nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa của từ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận để từ đó tìm ra các giá trị văn hóa và tư duy đặc thù của dân tộc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ

Thông qua các công trình của một số tác giả trên cho thấy, việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa trong tiếng Việt nói chung, trong thời gian gần đây đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Đặc biệt

là các công trình nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận với những cấu trúc ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ, đa dạng

về nghĩa cũng như cách sử dụng, đã tạo nên những nét mới trong nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt

2.2 Tình hình nghiên cứu sự phát triển nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, việc nghiên cứu về nhóm từ, ngữ nói về “ăn”, khởi

điểm là Hoàng Tuệ trong bài viết “Câu chuyện tiếp tục về nghĩa của những

từ đơn tiết” [43] Trong bài viết này, tác giả đã phân tích tính đa nghĩa của

Trang 10

từ “ăn”, đồng thời chỉ ra gần 40 nghĩa của từ này Trên cơ sở từ nghĩa gốc

của từ “ăn” đã làm nảy sinh bốn dòng nghĩa phái sinh như sau:

1 Dòng nghĩa tiếp thụ

2 Dòng nghĩa hưởng thụ

3 Dòng nghĩa hài hòa

4 Dòng nghĩa tiêu hao

Từ đó, tác giả đã đưa ra một số nhận xét hết sức thú vị và độc đáo về

sự phát triển nghĩa từ “ăn” trong văn hóa và trong đời sống của người Việt Theo tác giả, mỗi dòng nghĩa là một trật tự biện chứng đi từ cụ thể đến khái quát Các dòng nghĩa cũng tập hợp lại thành một trật tự cân đối và đẹp đẽ, đầy sức sống

Tiếp theo là đề tài nhiên cứu “Một số vấn đề văn hóa ăn, uống trong

xã hội cổ truyền người Việt” [20] do Nguyễn Hải Kế (2004) chủ trì đề tài

Tác giả cho rằng: từ “ăn” trong tiếng Việt đã mở rộng, phát triển nghĩa bao hàm nghĩa bóng sang tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… Qua từ “ăn” có thể nhìn thấy những nét cơ bản, phổ biến của xã hội Việt Nam ngày hôm qua

Cùng quan tâm đến vấn đề cái “ăn” trong văn hóa Việt, tác giả Vũ

Ngọc Khánh trong cuốn sách “Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi” [21]

khi viết về văn hóa ẩm thực Việt Nam đã dành một chương để nói về đề tài này Theo tác giả, trong ngôn ngữ Việt Nam, không có từ nào như từ “ăn” được ghép thành vô số những từ tố thông dụng trong tiếng nói con người

Có những từ phải suy nghĩ, phân tích mới thấy là ghép với từ “ăn” cũng là thích hợp Nhưng có những từ không dính dáng gì đến chuyện “ăn”, mà vẫn phải dùng chữ ăn để làm thành phần của từ tố, từ vị Chuyện ăn của người Việt quả là một bài học vô cùng đa dạng và tinh tế

Trang 11

Nguyễn Đức Dân trong bài viết “Ăn, một từ kỳ thú” [7] đã khẳng

định từ “ăn” có trong ngôn ngữ của mọi dân tộc bởi nó là một từ chỉ hoạt động cơ bản nhất của con người “Ăn” là hành động gắn liền với con người ngay từ buổi sơ khai, nghĩa của từ “ăn” được mở rộng dần theo cách lấy

khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ Và nó là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng, con đường phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” vô cùng

phong phú “Ăn” từ nghĩa đen đến nghĩa ẩn dụ, rồi các nghĩa chuyển, nghĩa phái sinh là thiên biến vạn hóa, nó diễn tả mọi nhận thức của con người về cuộc sống quanh mình và về vũ trụ một cách rất chân thực nhưng cũng vô cùng tinh tế

Cùng trong mạch luận bàn về cái ăn, về ẩm thực, luận án “Đặc điểm

trường ngữ nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt) của Ngô

Minh Nguyệt [23] là công trình chuyên sâu nghiên cứu về các từ ngữ ẩm thực ở Việt Nam Tác giả tập trung nghiên cứu các từ, ngữ liên quan đến ăn uống, chỉ ra đặc điểm cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa, từ đó nêu ra những hàm ý văn hóa của các từ ngữ ẩm thực: Đặc điểm con người, đặc trưng văn hóa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt Tác giả cho rằng, cùng với sự phát triển của xã hội, ăn uống dần vượt lên giá trị duy trì sự sống, điều này được phản ánh sinh động trong ngôn ngữ

Có thể nói trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều cho rằng con đường phát triển nghĩa của từ “ăn” là vô cùng phong phú, nó gắn liền với đặc trưng tư duy và văn hóa dân tộc

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ

“ăn” trong tiếng Việt kể trên, thì việc nghiên cứu các thành ngữ có chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt cũng dành được sự quan tâm đặc biệt của

một số tác giả Trong đó tác giả Nguyễn Hữu Đạt (2010) với bài viết “Con

đường tạo nghĩa của các thành ngữ liên quan đến ‘văn hóa ăn’ và ‘văn hóa

Trang 12

mặc’ trong tiếng Việt” [8] đã đi sâu vào phân tích quá trình tạo nên nghĩa

biểu trưng liên quan đến các thành ngữ biểu thị nội hàm “văn hóa ăn và văn hóa mặc” của người Việt, trên cơ sở đó để tìm ra mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa “văn hóa ăn và văn hóa mặc” trong tiếng Việt Đây được xem là một trong các cơ sở hình thành nên nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam

Tác giả Đào Thị Hồng Quyết trong luận văn thạc sĩ “Đặc điểm của

thành ngữ có chứa thành tố “Ăn” trong tiếng Việt” [29] cũng nghiên cứu

trên khối liệu thành ngữ chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt, làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt, trong đó, tư duy về văn hóa ăn được thể hiện qua thành ngữ như tính cộng đồng trong bữa ăn, tính phép tắc xã hội, miếng ăn thể hiện triết lý về đạo sống của người dân Việt Nam

Tiếp cận theo hướng tri nhận, Nguyễn Thị Bích Hợp trong “Ẩn dụ ý niệm

miền “đồ ăn” trong tiếng Việt” [17] đã nghiên cứu về miền ý niệm đồ ăn, với việc

xây dựng mô hình cấu trúc miền đồ ăn gồm 5 nhóm lớn, tương ứng với 5 điển mẫu Thông qua việc nghiên cứu các điển mẫu với 5 mô hình tỏa tia “cơm, ăn, mặn, bát, đói”, tác giả đã chứng minh rằng “ăn” là ý niệm có sự phát triển nghĩa mạnh nhất,

từ một nghĩa gốc phái sinh 04 chùm nghĩa, rồi phát triển lên tổng số thành tố là 16 nghĩa Các thành tố nghĩa mới có sự biến chuyển xa dần nghĩa trung tâm Thông qua mô hình tỏa tia, cho thấy xu hướng tư duy ẩn dụ, hoán dụ trong quá trình ý

niệm hóa tạo nên các nghĩa mới Nguyễn Thị Hương (2017) với đề tài “Ẩn dụ ý

niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) [18] đã

nghiên cứu sự chuyển nghĩa, tỏa tia nghĩa của những điển mẫu là những từ chỉ phạm trù ăn, uống, từ nghĩa gốc, nghĩa phái sinh đến các ẩn dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ

Trang 13

Thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trên, cho chúng ta thấy, việc nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, ngữ nói về “ăn” tiếng Việt là tương

đối phong phú Tuy nhiên, việc đi sâu lí giải cơ chế hình thành những nghĩa đó,

cũng như tìm hiểu các từ đồng nghĩa trong nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong Tiếng Việt, chưa dành được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của giới Việt ngữ Điều đó đã

gợi ý cho tôi thực hiện đề tài “Nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là tìm hiểu sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định khuynh hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Thông qua đó, để hiểu rõ hơn về quan niệm sống, nhân sinh quan của người Việt về văn hóa ăn, mà sâu sắc hơn là cách nhìn nhận, đánh giá con người được thể hiện qua hoạt động “ăn”

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Xây dựng khung lý thuyết về ngữ nghĩa của từ và hiện tượng

chuyển nghĩa của từ

- Khảo sát sự phát triển nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” được thể hiện trong ngữ cảnh, qua các kết hợp, thông qua đó, để có thể thấy được sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Trong phạm vi của luận văn này đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu các nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Trên cơ sở đó nghiên cứu ngữ nghĩa và cơ chế tạo nghĩa của từ, xuất phát từ nghĩa gốc của từ “ăn” trong

từ điển

- Luận văn xác định những từ, ngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động “ăn” trong tiếng Việt và các kết hợp của nhóm từ này trong ngữ cảnh sử dụng, cũng như giá trị ngữ dụng của chúng trong ngữ cảnh

- Luận văn xác định các nghĩa chuyển của từ “ăn” trong tiếng Việt theo hướng xa dần với nghĩa gốc và hoạt động của nhóm này trong hành chức cũng như

ý nghĩa ngữ dụng của chúng trong ngữ cảnh (khảo sát ngôn ngữ báo chí, trong văn chương và trong các thành ngữ)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát ngữ nghĩa của từ “ăn” và dãy đồng nghĩa của từ “ăn”

trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê [25], Từ điển đồng nghĩa tiếng Việt

của tác giả Nguyễn Văn Tu [42] Để xem xét các kết hợp của “ăn” trong hành chức, luận văn khảo sát hoạt động của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” (bao gồm cả các từ đồng nghĩa với từ “ăn”) trên ngôn ngữ báo chí (báo điện tử), trong một số tác phẩm văn học và trong thành ngữ

4.3 Tư liệu nghiên cứu

Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu của luận văn được lấy trong các cuốn Từ điển tiếng Việt, Từ điển thành ngữ Việt Nam, một số tác phẩm văn học Bên cạnh

đó luận văn còn khai thác tư liệu từ các trang Wed về thành ngữ tiếng Việt, một số bài viết, luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” đã xuất bản Ngoài ra, luận văn còn khảo sát ngữ liệu dựa chủ yếu trên các trang báo điện tử như: báo Thanh niên ( https://thanhnien.vn/), báo Tuổi trẻ (https://tuoitre.vn/), báo Dân trí (https://dantri.com.vn/)…), báo Vietnamnet

Trang 15

https://vietnamnet.vn/ và một số trang báo điện tử khác được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi sẽ chủ yếu áp dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm xác định các nội hàm các khái niệm từ, nghĩa của từ, và các từ đồng nghĩa

- Phương pháp phân tích nghĩa nghĩa: Phương pháp này được sử dụng để

phân tích nghĩa của từ để tìm ra nghĩa gốc, nghĩa phái sinh của từ

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lí luận: Việc nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ

nói về “ăn” trong tiếng Việt góp phần khẳng định khuynh hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ “ăn” trong giai đoạn thực tế hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng trong

giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và bản ngữ, cung cấp cơ sở giải thích nghĩa của từ “ăn” trong giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt cho người nước ngoài học tiếng Việt; thông qua đó, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa và tư duy

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, và Phụ lục, nội dung luận văn gồm có ba

chương:

Chương 1 Cơ sở lí thuyết

Chương 2 Ngữ nghĩa của từ “ăn” và khả năng kết hợp của nó trong tiếng Việt

Chương 3 Ngữ nghĩa và khả năng kết hợp của nhóm từ đồng nghĩa với từ

“ăn” trong tiếng Việt

Trang 16

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về từ, bởi ở mỗi loại hình ngôn ngữ khác nhau,

từ cũng có những đặc điểm riêng của mình Vấn đề “từ” trong tiếng Việt cũng vậy,

nó là vấn đề thuộc về lý luận cơ bản, vì toàn bộ hệ thống miêu tả ngôn ngữ phụ thuộc vào nó Từ không chỉ là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nói chung Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào lý tưởng về từ có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ, bởi mỗi ngôn ngữ có những nét riêng biệt

Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, định nghĩa phổ biến hiện

nay được nhiều nhà ngôn ngữ học cho là phù hợp về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất

của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [12, tr.61]

Đối với tiếng Việt, những tiếng như: hai, ba, ăn, ngủ, tôi nhà, tốt, đẹp,… và,

tuy, nhưng… đều được mọi người nhất trí coi là từ Từ là đơn vị cơ bản của tiếng

Việt và là đơn vị có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất:

- Chức năng cơ bản của từ là chức năng định đanh, nhưng trong dãy ngữ đoạn,

từ còn mang chức năng “phân biệt nghĩa” bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩ khác của những từ nhiều nghĩa

- Từ tham gia vào các mối liên hệ từ vựng trong ngữ đoạn Chính đặc điểm này đã biến từ trở thành một loại đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, nằm trên giao điểm của hai trục tọa độ cơ bản trong tổ chức cấu trúc của ngôn ngữ - trục đối vị (trục dọc) và trục nối tiếp (trục ngang)

Trang 17

- Cấu trúc ngữ nghĩa của từ rất phức tạp, trong đó có cả nhân tố từ vựng lẫn nhân tố ngữ pháp

So với từ của các ngôn ngữ Ấn Âu thì từ của tiếng Việt có những đặc điểm sau:

- Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Ví dụ: ăn là một từ có

nghĩa, nhưng nếu phân tích ra thành /ă/ /n/ thì đó chỉ là những âm hoàn toàn không có nghĩa

- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: trời và giời, trăng và

giăng…), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: Các ý nghĩa khác nhau của

từ ăn: ăn giải, xe ăn xăng, ăn ảnh, ăn nằm…) nhưng không có biến thể

hình thái học

- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở

trong từ tiếng Việt

Từ những đặc điểm trên của tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp

đã rút ra định nghĩa về từ của tiếng Việt như sau: “Từ của tiếng Việt là một

chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một

âm tiết, một khối viết liền” [13, tr.77]

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một

số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [4, tr.16]

Trong đó, các thành phần bên trong từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa) không độc lập với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một tập thể gọi là từ Và các thành phần ấy có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêng biệt

Trang 18

Chính nhờ tính đồng loạt của các thành phần mà khi gặp một hình thức ngữ âm nào đó, chúng ta mới có thể quyết định nó là từ nào và sử dụng nó theo cách nào

Ví dụ: Khi gặp hình thức ngữ âm “sơn”, dựa vào thành phần ngữ pháp và ý nghĩa chung với các từ tô, bôi, nhuộm…mà chúng ta quyết định

và sử dụng nó như một động từ

Theo chúng tôi, mỗi khái niệm đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của từ tiếng Việt Ví dụ như đơn vị cấu tạo từ, đặc điểm của từ… Tuy nhiên để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm về “từ” theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu

1.1.2 Khái niệm ngữ

Trong quá trình phát triển của dân tộc, một trong những thành tựu quan trọng nhất là sự mở rộng không ngừng những tư tưởng, những khái niệm mà con người có thể truyền đạt được Con người cần thông báo cho nhau không chỉ cảm xúc, tri thức…mà còn có vô hạn các sự kiện trong đời sống Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Từ đó phát sinh nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ

đã có sẵn Những đơn vị như thế được gọi là ngữ, có giá trị tương đương với từ

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp [13, tr 537]: “Ngữ là những cụm từ

sẵn có trong tiếng Việt, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ”:

- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ

- Về mặt cú pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, tức là có tính độc lập về cú pháp

Trang 19

- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực

tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người

Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ

1.2 Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa

1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ

Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Xét về mặt lý thuyết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Mỗi tín hiệu là một tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành Cái biểu hiện trong ngôn ngữ chính là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khái niệm (ý nghĩa) hay đối tượng được biểu thị Hai mặt này luôn gắn kết với nhau, không tách rời nhau, giống như “hai mặt của một tờ giấy vậy” Nghĩa của

từ cùng với hình thức ngữ âm được hình thành và ổn định dần dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc

“Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ

học Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này

Một số người cho rằng, nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị

Chẳng hạn, theo quan niệm này, nghĩa của từ cây là bản thân cái cây trong thực tế, nghĩa của các từ ăn, nói …từ tốt, xấu… là bản thân hành động, tính chất tương ứng

Trên thực tế, vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng là một hiện tượng phức tạp Ở Việt Nam, vận dụng những thành tựu nghiên cứu về nghĩa vào thực tế tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa

ra quan điểm của mình về khái niệm nghĩa của từ như sau:

Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp sau khi đã

trình bày các quan niệm khác nhau về nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới,

đã đưa ra nhận định của mình về nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là một đối

tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản như sau:“nghĩa sở chỉ”, “nghĩa

sở biểu”, “nghĩa sở dụng”, “nghĩa cấu trúc” [11, tr.126]

Trang 20

Theo tác giả Hoàng Phê, nghĩa của từ là “Một tập hợp những nét nghĩa có

quan hệ quy định lẫn nhau Mỗi nghĩa của từ là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa, gọi là các nét nghĩa”; “Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng cho từng từ, vừa

là cái chung cho những từ cùng loại Nắm được cái chung, cái riêng trong ý nghĩa thì mới thực sự hiểu từ, thực sự hiểu được những cái tinh tế trong từ và mới hiểu được những đặc sắc của từng ngôn ngữ ở những phương diện nội dung” [26]

Quan niệm của Hoàng Phê cho thấy, cấu trúc của nghĩa từ là một cấu trúc động, trong quá trình đi vào hoạt động, thường chỉ có một số nét nghĩa của từ có khả năng hiện thực hóa Khả năng hiện thực hóa ấy là tùy thuộc vào từng ngữ cảnh

mà chúng xuất hiện

Theo quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa

tiếng Việt [4, tr.103], ông cho rằng: Nghĩa của từ là có thể chia thành hai lớp nghĩa

là lớp nghĩa cấu trúc hóa và lớp nghĩa liên hội Trong lớp nghĩa cấu trúc bao gồm ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Nếu ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho hàng loạt các từ (ý nghĩa hoạt động của các từ: ăn, uống, ngủ, cười, khóc…ý nghĩa

sự vật của các từ: nhà, cây, sách, bút…) thì ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ Ý nghĩa từ vựng tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái

- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật

- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm

- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái

Ý nghĩa biểu vật của từ là sự phản ánh sự vật, hiện tượng…trong thực tế

khách quan vào ngôn ngữ, nên sự vật hiện tượng là cơ sở nguồn gốc của ý nghĩa

biểu vật Nó mang tính võ đoán, quy ước của xã hội, đó là những mẩu, những mảnh

trong những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế, có tính khái quát nên không gắn với hoạt động, tính chất cụ thể của sự vật

Trang 21

Ý nghĩa biểu niệm của từ là thành phần cơ bản của ý nghĩa từ vựng Sự vật,

hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật thì sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng được sắp xếp theo một tổ chức, một trật tự nhất định Các từ thuộc các từ loại khác nhau, có cách tổ chức các nét nghĩa khác nhau Còn các ý nghĩa biểu niệm của những từ trong một

từ loại lại có tổ chức giống nhau Giữa các nét nghĩa của chúng lại có quan hệ với

nhau Ví dụ, các nét nghĩa “đồ dùng” là dùng chung cho các từ bàn, ghế, giường,

tủ… nhưng trong mỗi từ này lại có những nét nghĩa riêng biệt

Ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh giá, biểu thị cảm xúc và thái

độ mà từ gợi ra cho người nói và người nghe Đây thực tế là sự phản ánh mối quan

hệ giữa từ và người sử dụng ngôn ngữ Ví dụ: Từ “ôm” trong câu “Bà mẹ ôm con

vào lòng” trung hòa về mặt biểu thái Nhưng câu nói “Cả ngày chỉ ôm lấy cái điện

thoại” thì từ “ôm” ở đây đã thể hiện thái độ chê trách Ba thành phần ý nghĩa trên

phản ánh việc xem xét, nhìn nhận từ ở các góc độ khác nhau Vì từ là một thể thống nhất, sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng

1.2.2 Hiện tượng đồng nghĩa

Hiện tượng đồng nghĩa là một vấn đề khá thú vị trong ngôn ngữ học Theo

Đại từ điển Bách Khoa Xô Viết, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện tượng đồng nghĩa

thuật ngữ tiếng Anh là Synonymy có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Synònymia có nghĩa là “cùng tên” chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng

nhất Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng, hoặc là với cùng một biểu vật (sự kiện, khách thể….), hoặc là cùng một biểu niệm (cái được biểu hiện thuộc tính ngôn ngữ) [dẫn theo 39, tr.66]

Trang 22

1.2.2.1 Phân biệt hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa

a Hiện tượng đồng nghĩa

Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, đồng nghĩa là một trong những khái niệm có tính chất nền tảng nhất của ngôn ngữ học Như chúng ta đã biết, trong ngôn ngữ học, chủ yếu các nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm Các biểu thức A và B được gọi là đồng nghĩa nếu cái biểu hiện của chúng không như nhau Nghĩa là: hình thức (A) ≠ hình thức (B), còn cái được biểu hiện của chúng là như nhau Nghĩa là: Nội dung (A) = (B) Người ta thường nói đến hiện tượng đồng nghĩa khi cái được biểu hiện tương ứng là khá gần gũi với các khái

niệm từ đồng nghĩa hay từ gần nghĩa Theo Nguyễn Đức Tồn, hiện tượng đồng nghĩa có nội dung rất rộng, nó có thể xảy ra giữa các hình vị (ví dụ: vô- phi- bất), đơn vị từ vựng đồng nghĩa (ví dụ: chết, tử, ngoẻo, toi), các kết hợp cú pháp (ví dụ:

Hương cao hơn Nam- Nam không cao bằng Hương)

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa có mặt trong hệ thống ngôn ngữ - những hiện tượng đồng nghĩa từ vựng và trong các văn bản - những hiện tượng đồng nghĩa lời nói Ở cả hai khu vực trên có thể có những từ và ngữ cố định đồng nghĩa, có những cụm từ và cụm từ (tự do) đồng nghĩa và cả những câu đồng nghĩa [4, tr.192]

b Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa

Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn, các đơn vị từ vựng đồng nghĩa gồm

các từ và các ngữ cố định có chức năng tương đương với từ như: hoa hồng, sân

bay, quần áo, ông bà, chậm như rùa, nghịch như quỷ sứ Do đó, hiện tượng đồng

nghĩa có thể xảy ra giữa các từ Ví dụ: nhìn - nhòm - dòm - ngó, mẹ - má- bầm- u,

xô- đẩy- ẩy, …hoặc giữa các ngữ cố định Ví dụ: Được voi đòi tiên - Được đằng chân lân đằng đầu; Đói cho sạch, rách cho thơm - Giấy rách giữ lấy lề

Trang 23

Ngoài ra, hiện tượng đồng nghĩa còn xảy ra giữa một từ và một ngữ cố định:

xấu- xấu như ma, đen- đen như củ súng,…

Từ đó, ta có thể thấy rằng từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong cái được gọi là đơn vị từ vựng đồng nghĩa phân việt với đơn vị ngữ pháp đồng nghĩa và tất cả đều nằm trong hiện tượng đồng nghĩa của ngôn ngữ [39, tr.70]

1.2.2.2 Quan niệm về từ đồng nghĩa

Cho đến nay, trong lịch sử ngôn ngữ học có rất nhiều các quan niệm khác nhau về từ đồng nghĩa Sự bất đồng trước tiên trong khi giải quyết các vấn đề từ đồng nghĩa là do kết cấu ngữ nghĩa đa dạng, phức tạp của từ gây nên Mỗi từ không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa Nhiều trường hợp một từ có nhiều nghĩa khác nhau Hiện tượng đa nghĩa này dẫn đến các quan niệm khác nhau về từ đồng nghĩa

Nguyễn Văn Tu trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là nhiều từ khác

nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh” [39, tr 153]

Đỗ Hữu Châu quan niệm về từ đồng nghĩa: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện

tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ có chung một nét nghĩa đồng nhất Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì các từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó [4,

tr.199]

Nguyễn Đức Tồn quan niệm rằng: Từ đồng nghĩa phải dựa trên cả hai

thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm: Hai đơn vị từ vựng/từ được gọi là đồng khi chúng có vỏ ngữ âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc các biểm niệm giống nhau:

Trang 24

a Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B’ và đảo lại “B là A” mà không cần phải chỉnh lý bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/ từ cùng nghĩa

Nếu như để chúng có thể xuất hiện được trong các kết cấu “A là B” và đảo ngược lại “B là A” cần có một sự chỉnh lý, thêm nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị thì từ đó là những đơn vị từ vựng/ từ gần nghĩa” [39, tr.97]

Từ định nghĩa trên của tác giả Nguyễn Đức Tồn cho thấy, các từ đồng nghĩa trước hết phải là những thuộc về cùng một từ loại (có như vậy chúng mới cùng xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất “A là B” và “B là A”) Trong ý nghĩa của chúng

có chứa những yếu tố đồng nhất Các yếu tố khác nhau của các ý nghĩa này bị trung hòa hóa trong những ngữ cảnh nhất định Một số từ cực kì gần gũi về ý nghĩa được gọi là những từ cùng nghĩa Đối với trường hợp đặc biệt của các từ cùng nghĩa là các từ đồng nghĩa tuyệt đối

Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu

và các nhà ngôn ngữ học đi trước, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã chia các từ đồng nghĩa ra thành ba tiểu loại như sau:

a Các từ đồng nghĩa ý niệm

Các từ đồng nghĩa ý niệm là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách và khác biệt nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ Chẳng hạn, các từ

đừng - chớ là những từ đồng nghĩa ý niệm, có ý nghĩa chung là đều biểu thị ý

“Khuyên ngăn không nên làm điều gì” Hoặc từ như: nhiệm vụ - nghĩa vụ - trách

nhiệm, ý đồ - ý định, cơ hội - thời cơ - dịp, địch - giặc - quân thù…

b Các từ đồng nghĩa phong cách

Các từ đồng nghĩa phong cách là những từ đồng nhất về ý nghĩa của chúng

và khác nhau về màu sắc phong cách

Chúng ta có thể xác định được một từ nào đó là từ đồng nghĩa phong cách khi đối chiếu nó với từ trung tính về phong cách tương ứng Vì vậy, có thể nói trong

Trang 25

mỗi cặp từ đồng nghĩa phong cách hoặc trong mỗi dãy đồng nghĩa phong cách chắc chắn sẽ có từ trung tính về phong cách Chẳng hạn như các từ đồng nghĩa phong

cách trong nhóm từ nói về “ăn” trong tiếng Việt: Ăn (trung tính), xơi, mời (sang trọng), hốc, đớp (thông tục)…

Các từ đồng nghĩa phong cách thường không thuần nhất Có thể tách chúng thành hai nhóm: Nhóm các từ cổ và nhóm các từ đồng nghĩa phong cách tiếng Việt hiện đại

c Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách

Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách là những từ và các đơn vị tương đồng của chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong cách mà còn khác nhau

cả về sắc thái của ý nghĩa chung ở mỗi từ Ví dụ:

- Trinh thám - do thám - thám thính, vẻ vang - quang vinh, hát- ca,…

Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong ba loại từ đồng nghĩa trên thì hai nhóm

từ đồng nghĩa ý niệm và từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách là những từ gần nghĩa Còn từ đồng nghĩa phong cách là những từ cùng nghĩa

1.3 Sự phát triển nghĩa của từ

Trong diễn tiến ngôn ngữ, kết cấu nghĩa của từ luôn luôn vận động phát triển,

sự biến đổi nghĩa là sự thực hiển nhiên trong nghĩa ngôn ngữ Có thể nói phát triển nghĩa, chính là một quá trình phát triển mở rộng các chức năng (định danh, biểu đạt…) của từ Đây chính là sự tăng lên về dung lượng nghĩa có trong một từ, tức là tăng thêm các biến thể từ vựng- ngữ nghĩa trong một vỏ bọc âm thanh của từ, là sự tăng lên về các nét nghĩa trong cấu trúc của một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, các nét nghĩa trong một biến thể từ vựng cho phép chủ thể ngôn ngữ có thể sử dụng từ

đó để gọi tên, biểu thị những đối tượng mà trước đây chưa được gọi tên, biểu thị Điều đó có nghĩa là phạm vi ứng dụng nghĩa của từ đã được mở rộng ra Phát triển nghĩa, vì thế, sẽ cho phép mặt được biểu hiện của từ có sự tăng lên về các ý niệm,

Trang 26

các phạm trù nhận thức, mà vẫn giữ được nguyên vẹn mặt biểu hiện Theo tác giả

Phạm Văn Lam cho rằng: Phát triển nghĩa của từ là quá trình phát triển, mở rộng

các chức năng của từ để từ đó có thể trỏ ra, gọi tên, biểu thị những đối tượng mà trước đây chưa được trỏ ra, gọi tên, biểu thị; sự phát triển, sự phát triển mở rộng chức năng của từ này phải được đa số các chủ thể sử dụng ngôn ngữ trong cộng đồng nói năng chấp nhận Đó chính là sự phát triển, mở rộng về phạm vi ứng dụng của từ [22, tr 9]

Ngữ nghĩa học truyền thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản mà ngữ nghĩa học ngày nay không thể bác bỏ được Đó là hai khuynh hướng biến đổi: mở rộng và thu hẹp ý nghĩa (phát triển nghĩa và mất nghĩa), chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ Theo tác giả Lê Văn Thiêm; Phạm vi rộng hẹp thể hiện ở số lượng và cả ở tính chất nét nghĩa Có nét thiên về cái chung, nét nghĩa phạm trù và nét nghĩa thiên về cụ thể, loại biệt, nét nghĩa khu biệt [4, tr.311]

Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung, từ cái

cụ thể đến trừu tượng Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình này gọi là nghĩa mở

rộng Ví dụ; Tính từ “đẹp”, ban đầu chỉ dùng ở khía cạnh hình thức, nhưng hiện nay dùng rộng rãi ở cả phạm vi tình cảm, tinh thần, quan hệ Chẳng hạn: tình cảm đẹp,

Tóm lại, mở rộng và thu hẹp ý nghĩa là quá trình chuyển từ khái niệm về loại sang khái niệm về chủng (mở rộng) hoặc chuyển từ khái niệm về chủng sang khái niệm về loại (thu hẹp) Quy luật tạo ra sự phát triển này là dựa vào các mối liên hệ

Trang 27

tương đồng và tiếp cận Thể hiện ở các mối liên hệ đó, theo hình thức ẩn dụ và hoán

dụ Đây là cơ sở để tạo ra các nghĩa bóng, các nghĩa phái sinh của từ Ví dụ:

- Răng người và vật – răng lược, răng bừa

- Mũi người và vật – mũi thuyền, mũi kim

Đây là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng thông qua hình thức ẩn dụ

Hay sự chuyển đổi tên gọi từ sự vật, hiện tượng này sang hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật, hiện tượng ấy qua hình thức hoán dụ

Ví dụ: Nhà tôi – vợ tôi

Sự phát triển nghĩa của từ luôn đi cùng với sự phát triển của xã hội Sự biến đổi không ngừng của nghĩa do sự biến đổi của cuộc sống và cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt, giàu hình ảnh của con người đã góp phần làm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn Sự phát triển ấy theo hai khuynh hướng cơ bản: mở rộng và thu hẹp ý nghĩa, chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ Những đơn vị từ vựng được lựa chọn để phát triển nghĩa thường là những đơn vị mang những giá trị văn hóa ước định của cộng đồng, được mọi người chấp nhận, sử dụng, dễ dàng nhập vào hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa như là một đơn vị khu biệt Nghĩa là nó được đánh giá thuận lợi cho công việc giao tiếp, được thẩm định về khả năng biểu đạt nghĩa và giá trị thẩm mỹ khi đi vào hành chức

1.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Trên thực tế, cấu trúc ý nghĩa của từ không nhất thành bất biến mà luôn

luôn vận động và phát triển Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ và từ

vựng học tiếng Việt [13, tr162], cho rằng: Có rất nhiều nguyên nhân làm cho một

từ phát triển thêm các biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, nhưng có thể quy vào các yếu tố cơ bản sau đây

- Do sự biến đổi, phát triển không ngừng của đời sống;

Trang 28

- Sự phát triển của nhận thức;

- Sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ;

- Tính quy ước của nghĩa

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển

biến ý nghĩa của từ Từ (đơn hoặc phức) lúc đầu mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa

biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi [4, tr.147]

Từ các nguyên nhân dẫn đến sự chuyển nghĩa của từ, ngữ nghĩa học truyền thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản mà ngữ nghĩa học hiện đại ngày nay không thể bác bỏ Theo các tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu, hiện tượng chuyển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức ẩn dụ

và hoán dụ

Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hiện

tượng được so sánh với nhau So sánh bộ phận được gọi là “đầu” của con người với

bộ phận trên của cái van xe đạp, chúng ta thấy có một điểm chung là “bộ phận trên, trước hết” Từ đó dẫn đến việc lấy tên gọi của bộ phận thân thể để biểu thị bộ phận của cái van Mặt khác, so sánh con vật với hàng người, đoàn người thấy cả hai đều

có bộ phận trước, bộ phận sau, do đó đã lấy tên bộ phận trước hết của vật chỉ bộ phận trước hết của đoàn người, hàng người… Cứ phân tích như vậy, sẽ thấy các

nghĩa phái sinh của từ “đầu” đều là kết quả của quá trình chuyển nghĩa ẩn dụ

Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên một mối quan hệ logic giữa các sự vật hiện tượng

ấy Căn cứ vào tính chất chất của các quan hệ mà có thể chia ra làm nhiều loại hoán

dụ khác nhau như: quan hệ giữa cái toàn thể và bộ phận, lấy không gian, địa điểm

thay cho những người sống ở đó Ví dụ: “Nhà có 5 miệng ăn” lẽ ra là “nhà có 5

người ăn” Đây là kiểu hoán dụ theo quan hệ lấy cái bộ phận thay cho toàn thể

Trang 29

Nhìn chung, ẩn dụ và hoán dụ thường liên hệ với các hiện tượng mở rộng và thu hẹp ý nghĩa Những ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng hay ẩn dụ căn cứ vào sự giống nhau về chức năng đồng thời cũng là một quá trình mở rộng ý nghĩa Hoán

dụ thường liên hệ với hiện tượng thu hẹp ý nghĩa Ẩn dụ, hoán dụ là phương thức

cơ bản tạo nên nghĩa mới cho từ

từ vựng - ngữ nghĩa của ngôn ngữ

Người ta nhận thấy rằng một từ lúc mới sinh ra chỉ có một nghĩa, theo dòng thời gian tồn tại và phát triển từ trở thành nhiều nghĩa Sự xuất hiện nghĩa mới của từ có quan hệ với sự phát triển một cách có quy luật và sự giàu

có, phong phú của thành phần từ vựng một ngôn ngữ Nó là kết quả của sự phát triển nghĩa của từ nói riêng và của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa nói chung, đồng thời cũng là biểu hiện, sản phẩm của sự phát triển ngôn ngữ văn hoá, sự giàu có, phong phú tư duy và kinh nghiệm của cộng đồng người nói một thứ tiếng nhất định Chính vì vậy, các ngôn ngữ gắn liền với nền văn minh tiên tiến thường phát triển với tỷ lệ cao những từ đa nghĩa Phát triển từ

đa nghĩa còn là một biện pháp, một phương thức làm giàu vốn từ ngữ dân tộc

Đa nghĩa là qui luật chung của ngôn ngữ nhân loại Việc tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt trong nội dung từ đa nghĩa của các dân tộc lại liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá của riêng của mỗi quốc gia Bởi vì đặc điểm đa

Trang 30

nghĩa của mỗi ngôn ngữ như là sản phẩm sáng tạo, là thành tựu được tập thể cộng đồng ngôn ngữ ấy xây dựng nên

Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về từ đa nghĩa từ vựng Chẳng hạn như tác giả O.C.Akhmanôva cho rằng: “đa nghĩa là sự tồn tại ở từ một số nghĩa vốn thường xuất hiện do việc sử dụng từ và sự phát triển các nghĩa bóng của từ” (Dẫn theo Lê Quang Thiêm) [34, tr.305]

Tác giả Vũ Đức Nghiệu cho rằng: “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại.”[6, tr.172]

Sau khi phân tích đánh giá một số cách hiểu tác giả Lê Quang Thiêm đã

đưa ra quan niệm của mình về từ đa nghĩa như sau: “Từ đa nghĩa là từ mà nội

dung bao gồm một số nghĩa khác nhau, các nghĩa này lập thành một hệ thống nằm trong các mối quan hệ liên kết với nhau, gồm một vài nét nghĩa chung và nhiều nét nghĩa loại biệt thường biểu thị các đối tượng khác nhau nhưng lại được đặt cơ sở trên một sự giống nhau về chức năng, hình thức hoặc thuộc tính nào đó của đối tượng” [34, tr.305]

+ Các kiểu nghĩa của từ đa nghĩa

Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức

và trật tự nhất định Việc phân loại các nghĩa khác nhau của từ đa nghĩa giúp chúng

ta tìm ra được mối quan hệ của chúng và từ đó có cơ sở hiểu rõ hơn ý nghĩa của từ

- Dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, vốn có đối với một từ nào đó Vì thế nghĩa gốc thường là nghĩa không giải thích được lí do và có thể nhận

ra một cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác Nghĩa phái sinh là nghĩa có sau được tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc cho nên chúng thường có lí do và được nhận

ra qua nghĩa gốc của từ Ví dụ, trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê [25] có định nghĩa từ chân như sau:

Trang 31

1 Bộ phận dưới cùng của cơ thể người và động vật, dùng để đi, đứng, thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người (Què chân; Vui chân đi quá xa; Nước đến chân mới nhảy)

2 Chân của con người, coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong hội đồng; thiếu một chân tổ tôm; chân sào)

Như vậy, trong hai nghĩa trên của từ chân thì nghĩa 1 là nghĩa gốc, nghĩa 2 là nghĩa phái sinh

- Dựa vào khả năng tồn tại độc lập của từ, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế Nghĩa tự do là nghĩa được bộc lộ trong mọi hoàn cảnh, không lệ thuộc vào hoàn cảnh bắt buộc nào Nghĩa hạn chế là nghĩa chỉ xuất hiện trong một hoàn cảnh nhất định

- Dựa vào mối quan hệ định danh giữa từ và đối tượng, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai loại: nghĩa trực tiếp và nghĩa gián tiếp Nếu một nghĩa trực tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp thì đó là nghĩa trực tiếp (nghĩa đen) Còn nếu một nghĩa gián tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách gián tiếp (thông qua hình tượng hoặc nét đặc thù) thì đó là nghĩa gián tiếp (nghĩa bóng)

- Nghĩa của từ đa nghĩa được chia thành nghĩa thường trực và nghĩa không thường trực dựa vào tiêu chí nghĩa đang xét đã nằm trong cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ hay chưa Một nghĩa được coi là nghĩa thường trực nếu nó đã đi vào cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ và được nhận thức một cách ổn định, như nhau trong các hoàn cảnh khác nhau Ngược lại, nếu có một nghĩa bất chợt nảy sinh trong một hoàn cảnh nào đó trong quá trình sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ, nó chưa hề đi vào cơ cấu ổn định, vững chắc của nghĩa đó là nghĩa không thường trực (nghĩa ngữ cảnh) Trên đây là cách phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thường gặp Mỗi tiêu chí khác nhau có hệ thống phân loại khác nhau Trong thực tế, từ đa nghĩa không chỉ có 2, 3

Trang 32

nghĩa mà có từ có rất nhiều nghĩa Nghĩa của từ đa nghĩa rất phong phú, đa dạng nên khi phân tích nghĩa theo thế lưỡng phân thường là sẽ có một số nghĩa không được gọi tên mà bị gộp chung với một nghĩa nào đó khái quát hơn

là sự thật thực hiển nhiên trong ngôn ngữ Theo quan niệm truyền thống, có hai khuynh hướng biến đổi: phát triển nghĩa và mất nghĩa Trên thực tế, bất

kỳ một nghĩa nào đó đã xuất hiện, một cách tiềm năng, đều có khả năng tái hiện ở những lần sau Vì thế nếu một nghĩa nào đó không may bị mất đi, thì

nó vẫn có khả năng được sử dụng trở lại, bởi cái nghĩa ban đầu bao giờ cũng là cái được con người dễ nhận diện nhất, được con người duy trì bảo

hộ nhiều nhất Vì thế, biến đổi nghĩa cũng là phát triển nghĩa

Trong ngữ nghĩa, hiện tượng đồng nghĩa thường xảy ra với hàng loạt các đơn vị từ vựng và tạo nên các sắc thái biểu cảm khác nhau về ngữ nghĩa Vì vậy, trong một dãy đồng nghĩa, giữa các nghĩa của từ đồng nghĩa

là giống nhau song chúng khác nhau về sắc thái biểu cảm

Hiện tượng chuyển nghĩa của từ tạo nên hiện tượng đa nghĩa từ vựng

Có hai con đường chuyển nghĩa cơ bản là mở rộng nghĩa hoặc thu hẹp nghĩa, thường được thực hiện thông qua ẩn dụ hoặc hoán dụ Trong từ đa nghĩa, giữa nghĩa gốc của từ với các nghĩa chuyển luôn có mối liên hệ nhất định về nghĩa, tuy nhiên, các nghĩa phái sinh thường vận động theo hướng

Trang 33

ngày càng xa rời nghĩa gốc và trong những trường hợp cụ thể, giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển còn xảy ra hiện tượng chuyển loại

Đây là những tiền đề lý luận cơ bản giúp chúng tôi triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trong chương 2 và chương 3 của luận văn

Trang 34

Chương 2 NGỮ NGHĨA CỦA TỪ “ĂN” VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP

CỦA NÓ TRONG TIẾNG VIỆT

2.1 Ngữ nghĩa của từ “ăn” trong tiếng Việt

Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống, mang những nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Đối với người Việt, ăn uống không chỉ đơn thuần là nét văn hóa về vật chất, một hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học của cơ thể mà còn phản ánh phương diện văn hóa về tinh thần, là tiếng nói của tâm hồn người Việt Thông qua hoạt động ăn uống người ta có thể hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giá con người, trình độ văn hóa với những đạo

lý, phép tắc, phong tục, tập quán và cả triết lý nhân sinh… của mỗi cá nhân và rộng hơn là cả một dân tộc Cái ăn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tâm thức mỗi người dân Việt Có thể nói, mọi hoạt động của người Việt đều lấy “ăn” đặt lên làm

đầu: ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn tiêu… Và do nhu cầu sử dụng thiên biến vạn

hóa về sắc thái, từ “ăn” cũng là một trong những từ có rất nhiều từ đồng nghĩa trong

tiếng Việt như: xơi, mời, nhậu, hốc, nốc, tọng, chén, đánh chén, đớp, dùng, làm…

sự phong phú trong lớp từ đồng nghĩa ấy đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng của tiếng Việt

Trong Từ điển Tiếng Việt (2010) của Hoàng Phê (chủ biên) đã khái quát từ

“ăn” (động từ) là một từ đa nghĩa gồm có 13 nghĩa (nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh) như sau: [25, tr.29-33]

1 Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống Ăn cơm Thức ăn Ăn có nhai, nói có

nghĩ (tng) Làm đủ ăn

2 Ăn uống nhân dịp gì Ăn cưới Ăn liên hoan Ăn tết

3 (Máy móc, phương tiện vận tải) tiếp nhận cái cần thiết cho sự hoạt động

Cho máy ăn dầu mỡ Xe ăn tốn xăng Tàu đang ăn hàng ở cảng

Trang 35

4 (Kết hợp hạn chế) Nhận lấy để hưởng Ăn hoa hồng Ăn thừa tự Ăn lương

tháng

5 (Kng) Phải nhận lấy, chịu lấy (cái không hay; hàm ý mỉa mai) Ăn đòn Ăn

đạn

6 Giành về phần mình phần hơn, phần thắng (trong cuộc thi đấu) Ăn con xe

Ăn giải Ăn cuộc

7 Hấp thu cho thấm vào, nhiễm vào trong bản thân Vải ăn màu Da ăn

nắng Cá không ăn muối cá ươn (tng)

8 Gắn, dính chặt vào nhau, khớp với nhau Hồ dán không ăn Gạch ăn vôi

vữa Phanh không ăn

9 (Kết hợp hạn chế) Hợp với nhau, tạo nên một cái gì hài hòa Hai màu rất

ăn với nhau Người ăn ảnh

10 Làm tiêu hao, hủy hại dần dần từng phần Sương muối ăn bạc trắng cả

lá Sơn ăn tùy mặt

11 Lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó (nói về khu vực hoặc phạm vi tác

động của cái gì) Rễ tre lan ra tới ruộng Sông ăn ra biển Phong trào ăn sâu,

lan rộng

12 (Kng) Là một phần ở ngoài phụ thuộc vào; thuộc về Đám đất này ăn về

xã bên Khoản này ăn vào ngân sách của tỉnh

13 (Đơn vị tiền tệ, đo lường) có thể đổi ngang giá Một dolla ăn mấy đồng

Việt Nam?

Cùng với sự phát triển của xã hội, trong quá trình sử dụng khi đi vào ngôn bản và trong từng hoàn cảnh cụ thể Nhóm từ nói về “ăn” được sử dụng khá linh hoạt cho phù hợp với từng hoàn cảnh nhằm mang lại giá trị biểu cảm riêng Các nét nghĩa được mở rộng và theo thời gian các nét nghĩa phái sinh mới được hình thành

và ngày càng phong phú, làm giàu cho hệ thống từ vựng của tiếng Việt Điều đó cho thấy, quá trình vận động và phát triển nghĩa của từ “ăn” khá mạnh mẽ Ngoài

Trang 36

những nghĩa gốc và nghĩa phái sinh được thống kê ở trên, trên thực tế chúng ta có thể thấy “ăn” còn trở thành một yếu tố (thành tố) đóng vai trò như một hình vị cấu tạo từ, có thể kết hợp với các hình vị khác để tạo ra các từ ghép khác nhau theo kiểu chính phụ hoặc đẳng lập có chứa yếu tố “ăn” Những đơn vị từ có chứa yếu tố “ăn” này có thể mang nghĩa chỉ hoạt động ăn theo nghĩa gốc, có thể không mang nghĩa chỉ hoạt động ăn mà bàn đến mọi phương diện đời sống của con người Các nghĩa của từ chứa yếu tố “ăn” này được người Việt chấp nhận và sử dụng trong cuộc sống

hàng ngày như: Ăn chơi, ăn nằm, ăn chặn… Đặc biệt có nhiều kết hợp với yếu tố

“ăn” mà trong đó không liên quan gì đến việc đưa thức ăn vào miệng và thực hiện động tác nhai, nuốt Mà từ “ăn” ở đây lại chỉ hành vi, lối sống, ta có thể hiểu như

một thứ nghề nghiệp, chẳng hạn như: Ăn sương, ăn trộm, ăn cắp…

Chúng ta có thể thấy, từ nghĩa gốc “ăn” để chỉ hoạt động “Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống” cùng với sự phát triển của thời gian, các nét nghĩa phái sinh đã hình thành và sự kết hợp của yếu tố “ăn” với các từ/ tổ hợp từ đã tạo ra rất nhiều nghĩa mới thay thế hàng loạt các khái niệm khác Theo sự khảo sát của Nguyễn Thị Bích Hợp [18] khi miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” theo mô hình tỏa tia, tác giả đã bổ sung thêm hai nghĩa phái sinh mới so với các nét nghĩa trong Từ điển

tiếng Việt của Hoàng Phê [25], đó là: “ăn” nghĩa là “thực hiện hành động”: ăn vạ,

ăn hiếp, ăn hỏi, ăn diện, ăn thề, ăn nói, ăn mặc, ăn học; và “ăn” nghĩa là “quan hệ

thân xác”: ăn nằm, ăn cơm trước kẻng, đã ăn cô ta, ăn bánh trả tiền…

Ăn uống được dân gian Việt nam xếp lên hàng đầu “tứ khoái” của con người Nhà văn Tản Đà đối với văn hóa ẩm thực, ông đã nâng thành “lý luận 04 chữ W trong ăn uống”

1-Ăn cái gì ( What)?

2-Ăn lúc nào (When)?

3- Ăn ở đâu (Where)?

Trang 37

4- Ăn với ai (With whom)? [23, Văn hóa ẩm thực Việt Nam - Hà Nội đôi ba vấn đề lý luận, tr.681]

Qua đó, để cho chúng ta thấy cái “ăn” đóng vai trò rất quan trọng đối với người dân Việt Chính vì vậy, đề tài về “ăn” đã được phản ánh rất đa dạng và phong phú qua thành ngữ, truyện dân gian Việt Nam và các tác phẩm văn học Bởi thế, không phải ngẫu nhiên mà số lượng câu thành ngữ chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt lại chiếm số lượng rất lớn Thông qua việc khảo sát trong các cuốn từ điển thành ngữ, các câu thành ngữ có chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt có tới 492 câu

Ẩn chứa trong mỗi câu thành ngữ là những kinh nghiệm trong cuộc sống, những giáo huấn về luân thường, đạo lý, cách ứng xử của con người với con người trong

xã hội Chúng ta vẫn thường nghe những câu thành ngữ nói về thói quen trong ăn

uống của ông cha ta: Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống,… hay lên án những kẻ vô ơn, bội nghĩa: ăn cháo đá bát… phê phán những thói hư tật xấu:

ăn xó mó niêu, ăn gian nói dối… Cho đến những kinh nghiệm đời thường trong

cuộc sống: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau…

“Ăn” cũng là một trong những nguồn cảm hứng chính của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 như: Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… đề tài về “miếng ăn” được tái hiện dưới ngòi bút của các nhà văn vô cùng chân thực Thông qua cái “ăn” các tác giả đã cởi hết cái lớp áo bao phủ bên ngoài của đời sống của người dân Việt Nam thời đó để phơi bày chuyện đời nhức nhối nhất, sự thiếu thốn,

sự đói khổ trở thành vấn nạn khủng khiếp chi phối mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám “Ăn” cũng là đề tài khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà văn hiện đại trong thể loại Tùy bút như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng, Băng Sơn, Mai Thục, Trần Đức Anh Sơn… đều là những tác giả đã rất thành công khi viết về đề tài liên quan đến cái “ăn”, một trong những nhu cầu tất yếu của cuộc sống nhưng thông qua ngòi bút của các nhà văn, cái “ăn” được nâng

Trang 38

lên thành một nghệ thuật, thành giá trị sống, một nét văn hóa tinh tế, rất riêng của người Việt

Có thể nói hoạt động “ăn” phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc vô cùng rõ nét Miếng ăn vừa thể hiện tính cộng đồng xã hội, vừa nói lên triết lý về đạo sống, đồng thời nó cũng phản chiếu phép tắc xã hội Văn hóa ăn trở thành một giá trị văn hóa của mỗi làng, mỗi vùng và rộng hơn là của cả dân tộc

2.2 Khả năng kết hợp của từ/yếu tố “ăn” trong tiếng Việt

Đối với người Việt, văn hóa ăn uống đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý của cuộc sống Điều

đó rất dễ hiểu khi chúng ta thấy người xưa có câu “dĩ thực vi thiên” (ăn là quan trọng nhất) Ý nghĩa của sự ăn là vô cùng đa dạng và sâu sắc Bởi “Có thực mới vực

được đạo”, “Thực túc binh cường” (ăn đầy đủ thì quân đội mới hùng mạnh) Song

đối với người Việt, nhiều khi người ta ăn không phải vì ăn, mà vì tình, vì nghĩa: Vị

tình, vị nghĩa, ai vị đĩa xôi đầy Hoặc đôi khi người ta ăn, chỉ cốt là để biết, để

thưởng thức, chứ không phải là thỏa mãn nhu cầu về vật chất thuần túy: Ăn lấy

thơm lấy tho, chứ ai ăn lấy no, lấy béo; ăn lấy vị, chứ ai lấy bị mà mang… Có thể

nói, đối với người Việt “Ăn” là cả một vấn đề ứng xử, vấn đề xã hội Chuyện ăn tưởng chừng quá quen thuộc hàng ngày đối với mọi người nhưng thực tế không đơn giản như vậy Trong dân gian từ xưa, người Việt rất coi trọng việc ăn uống: Từ việc nấu nướng đến việc chọn lọc miếng ăn và đặc biệt là việc giao tiếp ứng xử trong khi ăn uống Bởi vậy mà kinh nghiệm truyền dạy con trẻ của người Việt

được truyền từ đời này sang đời khác rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”

Trong đó “học ăn” được đặt lên hàng đầu Từ lâu người Việt đã ý thức được rằng:

Ăn cũng phải học, ăn là một khoa học Bởi vậy, khi nghiên cứu vấn đề “ăn” của người Việt theo góc độ ngôn ngữ và văn hóa là cả một vấn đề khoa học vô cùng phong phú và ý nhị

Trang 39

Người Việt có một số tiêu chuẩn đánh giá con người thông qua dung nhan,

dáng đi, giọng nói, tướng mạo như “Người khôn con mắt đen xì, người dại con

mắt nửa chì, nửa thau”,“trông mặt mà bắt hình dong”,…Tuy nhiên, việc đánh giá

nhận xét con người thông qua việc ăn uống vẫn là phổ biến, nhiều mặt hơn và sâu sắc hơn

“Khôn ăn cái, dại ăn nước”

“Người khôn ăn miếng thịt gà, Tuy rằng ăn ít nhưng mà no lâu, Người dại ăn trái bồ nâu

Ăn no bĩnh bầu chẳng biết mùi ngon.”

Hay: “Người khôn ăn nói nửa chừng

Để cho người dại nửa mừng nửa lo”

Hoạt động “ăn” là một nét văn hóa vô cùng độc đáo thể hiện bản sắc văn hóa cộng đồng và thế ứng xử của con người với con người trong xã hội Điều đó được phản ánh sinh động trong lớp từ vựng của ngôn ngữ Trong tiếng Việt, từ/yếu

tố “ăn” là một từ/yếu tố vô cùng đặc biệt, có khả năng kết hợp với rất nhiều từ loại

để làm chức năng vị ngữ trong câu Ta có thể mô hình hóa khả năng kết hợp của từ/yếu tố “ăn” như sau: Ăn + X Trong đó “X” là một kết cấu mở, có thể là những

từ loại như danh từ, tính từ, động từ hoặc tổ hợp từ kết hợp với từ/yếu tố “ăn” khá linh hoạt tạo ra tính đa chiều và đa hướng trong ngôn ngữ, nhằm thể hiện được lối

tư duy cũng như bản sắc văn hóa của người Việt thông qua cái “ăn” Khi đi vào hành chức, kết hợp với các từ/ tổ hợp từ, trong từng ngữ cảnh cụ thể, nghĩa của từ

“ăn” không còn giữ nguyên nghĩa gốc: “Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống” nữa

mà nó đã có sự chuyển nghĩa Sự phát triển nghĩa của “ăn” có thể quy thành một số nhóm dựa vào ý nghĩa khái quát của chúng như sau:

Trang 40

2.2.1 Ăn + mục đích

Sự kết hợp của “ăn” với các từ / tổ hợp từ đã tạo ra hàng loạt từ ghép biểu thị hoạt động các dịp ăn uống của người Việt Với kết cấu “Ăn + X”, trong đó tham tố

X ở đây là yếu tố mở, gắn liền với những từ “cụ thể” chỉ mục đích của việc ăn uống

như: Ăn hỏi, ăn mừng, ăn cưới, ăn liên hoan, ăn giỗ, ăn tết, ăn mày, ăn xin, ăn

kiêng, ăn hàng, ăn chay Trong các kết hợp này, “ăn” thường được sử dụng ở nghĩa

gốc, ít khi chuyển nghĩa Ví dụ:

- Xong đâu đấy thầy cõng Đật đi ăn giỗ, Ninh phải ở nhà coi mẹ [2, Từ ngày

mẹ chết, tr.161]

- Có cụ giáo Hiệu trưởng mẹ mời đến ăn tết thân mật với gia đình [ 23, Cái

bánh dẻo tròn, tr.192]

- Ăn cỗ mừng sinh nhật là một nét mới, trước kia chỉ có mừng thọ, thượng

thọ, lên lão và rất coi trọng nền nếp ngày giỗ [ 23 Giỗ tết, tr.239]

- Mặc dù mới hơn 10h sáng (ngày 14/2) nhưng nhiều cơ quan, ban ngành

tỉnh Hà Tĩnh đã đóng cửa, nhân viên, lãnh đạo đều vắng mặt Lý do là nghỉ sớm

để ăn rằm [2]

- Vì thế, nếu bé được ăn đầy tháng thì cháu đã thoát được hết hai phần ba

của những rủi ro trong năm tuổi đầu tiên của cuộc đời.[3]

Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh cụ thể, khi mừng những sự kiện quan

trọng, có thể không có việc tổ chức ăn uống nhưng vẫn được gắn với “ăn” như “ăn

mừng chiến thắng” của đội bóng đá chẳng hạn Trong trường hợp này, “ăn” không

được sử dụng với nghĩa gốc mà đã chuyển nghĩa chỉ hoạt động chúc mừng, mang tính chất tinh thần Ví dụ:

- Người Sài Gòn cuồng nhiệt ăn mừng chiến thắng lịch sử của U23

Việt Nam.[5]

Cùng trong mô hình kết hợp “Ăn + mục đích”, nhưng khi đi vào trong thành ngữ, sự hoạt động của kết hợp này trong thành ngữ đã tạo nên nhiều hướng nghĩa

Ngày đăng: 15/07/2020, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm