LỜI CAM ĐOAN Em xin khẳng định đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ” là
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt Người hướng dẫn khoa học:
THS LÊ BÁ MIÊN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận này Đặc biệt em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới thầy,
thạc sĩ: Lê Bá Miên đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo em trong việc nghiên cứu, để
em có thể hoàn thành bài khóa luận này
Do thời gian nghiên cứu và năng lực còn hạn chế Khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô
và các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Yến
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin khẳng định đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu khả năng xác
định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ” là của riêng em, không trùng lặp với bất kì đề tài nào
khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Yến
Trang 4MỤC LỤC
[
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Danh từ 9
1.1.1.1 Danh từ riêng 9
1.1.1.2 Danh từ chung 9
1.1.2 Động từ 11
1.1.2.1 Động từ không độc lập 11
1.1.2.2 Động từ độc lập 12
1.1.3 Tính từ 13
1.1.3.1 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ 13
1.1.3.2 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ 13
1.1.4 Hiện tượng chuyển di từ loại 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Sách giáo khoa và nội dung dạy học từ loại ở tiểu học 15
1.2.2 Việc dạy học từ loại cơ bản ở tiểu học 17
Chương 2 MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 19
Trang 52.1 Nhận diện phân định từ trong câu 19
2.1.1 Dựa vào cấu tạo từ 19
2.1.2 Dựa vào nghĩa của từ 20
2.1.3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nghỉ nhịp trong câu và trọng âm phân ranh giới từ 20
2.2 Nhận biết và phân loại từ loại cơ bản 22
2.2.1 Khả năng nhận biết danh từ 23
2.2.2 Khả năng nhận biết động từ 33
2.2.3 Khả năng nhận biết về tính từ 41
2.3 Nhận biết hiện tượng chuyển loại giữa các từ loại cơ bản 44
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 54
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quyết định số 295/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
chỉ rõ vai trò và tính chất của Giáo dục Tiểu học: “Tiểu học là cấp học nền
tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục Phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” Vì vậy, giáo dục Tiểu học cần được chuẩn bị tốt về
mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên
Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là môn chính, chiếm nhiều tiết học trong tuần Trong các giờ Tiếng Việt, nhà trường đã cung cấp cho hoc sinh những kiến thức về ngôn ngữ như: kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ học - phong cách học Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Trong Tiếng Việt, phân môn “ Luyện từ và câu” có nhiệm vụ cung cấp kiến thức tiếng Việt cho học sinh, trong đó có kiến thức về ngữ pháp học
Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, gắn liền với sự
ra đời và phát triển của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rất sớm Nó
là vấn đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống, ở tiếng Việt cũng như ở nhiều ngôn ngữ khác, từ loại được xem là một bộ phận không thể thiếu được trong cơ cấu ngữ pháp học Từ loại tiếng Việt hết sức phong phú, có thể xếp thành hai nhóm chính: nhóm thực từ và nhóm hư từ Trong thực từ, có danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, ; trong hư từ có quan hệ từ, tình thái
từ, trợ từ, Trong danh từ, động từ, tính từ lại bao gồm những loại nhỏ hơn
Vì vậy, việc tìm hiểu từ loại tiếng Việt là rất rộng
Xác định từ loại chính xác cho các từ trong văn bản tiếng Việt là vấn đề rất quan trọng Việc xác định này sẽ hỗ trợ cho việc phân tích cú pháp các văn bản góp phần giải quyết tính đa nghĩa của từ và trợ giúp các hệ thống rút trích thông tin đến ngữ nghĩa Hệ thống bài tập về từ loại có số lượng không nhiều
Trang 7song vấn đề từ loại tiếng Việt được đưa vào bài giảng dạy ngay từ cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và lên đại học Các bài tập trong sách giáo khoa là cơ bản, đa số học sinh đều làm được do đó phân khó phân loại học sinh và phát hiện học sinh khá, giỏi Trong khi đó, để dạy học đạt hiệu quả cao cần phân loại học sinh để các bài tập đưa ra tránh tạo sự nhàm chán hay khó quá đối với các em Qua điều tra thực tế xác định từ loại cơ bản của học sinh, chúng tôi nhận thấy còn những vấn đề tồn tại làm cho hiệu quả học từ loại tiếng Việt chưa cao Là giáo viên tiểu học tương lai, chúng tôi tự nhận thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học
sinh, chúng tôi mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài “Tìm hiểu khả năng xác
định từ loại cơ bản của học sinhlớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ” làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nói đến các công trình nghiên cứu về ngữ pháp trong đó có vấn đề từ
loại trước hết phải kể đến Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1948) của tác giả Lê
Văn Lý với hơn 200 trang, dành cho vấn đề từ loại Ở đây, tác giả đưa ra các tiêu chuẩn xếp loại bằng xem xét khả năng phối hợp của các từ ngữ
Năm 1960, trong cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại của
tác giả Nguyễn Tài Cẩn, đã khảo sát về một trong những từ loại quan trọng bậc nhất của tiếng Việt hiện đại: từ loại danh từ Tác giả nêu rõ đặc điểm của danh từ, xem xét đoản ngữ có danh từ làm trung tâm
Tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêu chí nội dung và hình thức (Hoàng Tuệ - 1962, Nguyễn Kim Thán 1963, UBKHXH 1983, Đinh Văn Đức 1986 )
Phân định từ loại tiếng Việt dựa vào đặc điểm ngữ pháp của từ mà đặc điểm dựa vào cú pháp hoặc khả năng kết hợp từ (Phan Khôi, Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong)
Trang 8Ngoài những công trình nghiên cứu trên, Luận văn thạc sĩ của giảng viên Lê Thị Lan Anh (Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 - 2006) cũng nghiên cứu về
từ loại qua đề tài Từ loại tiếng Việt và dạy từ loại cho học sinh tiểu học
Bên cạnh việc đề cập đến các đặc điểm của từ loại tiếng Việt luận văn còn đưa ra những biện pháp nhằm giải quyết một số vấn đề về phương pháp dạy học tiếng Việt
Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các
từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học (sinh viên
Nguyễn Thị Cẩm Vân, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) trình bày về một
số đặc điểm của ba từ loại cơ bản: danh từ, động từ, tính từ, đồng thời tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh tiểu học
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loại tiếng Việt đã trình bày hết sức chi tiết về đặc điểm của từ loại tiếng Việt Song những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà chưa được thực nghiệm ở trường Tiểu học, hai cuốn Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp lại nghiên cứu hai khái cạnh là phương pháp từ loại và khả năng nhận diện và phân biệt từ loại của học sinh tiểu học Bên cạnh việc kế thừa và phát huy kết quả nghiên cứu của các công trình đó, chúng tôi mạnh dạn tiến hành điều tra
thực nghiệm một khía cạnh khác Đó là “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ”
3 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:
Tìm hiểu thực tế khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh Trên cơ
sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh thuộc các lớp khác nhau
Trang 9Phân loại được từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh xác định đứng từ loại tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi thực hiện nhiệm vụ:
Tìm hiểu lý thuyết về từ loại cơ bản
Trên cơ sở lý luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế ở hai lớp với đối tượng học sinh như nhau
Miêu tả, phân loại và so sánh được kết quả điều tra
Đề xuất biện pháp dạy học hợp lý
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Thống kê, so sánh, phân tích từ loại
2 Điều tra thống kê tư liệu thực
3 Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu
Quá trình nghiêm cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:
1 Đọc lý thuyết có liên quan đến đề tài
2 Thống kê tư liệu điều tra được
3 Xử lý tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và
so sánh
5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường tiểu học Uy Nỗ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Như chúng tôi đã trình bày trước đó, tìm hiểu về từ loại là một đề tài
rộng Vì vậy, chúng tôi chỉ đề cập nghiên cứu một khía cạnh nhỏ là: “Tìm
hiểu việc xác định danh từ, động từ, tính từ”
Trang 106 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Miêu tả, phân loại khả năng xác định từ loại cơ bản củahọc sinh tiểu học
Trang 11Phân định từ loại tiếng Việt dựa vào đặc điểm ngữ pháp của từ hoặc khả năng kết hợp từ có các tác giả như Phan Khôi, Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong
Theo tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung thì “danh từ, động từ, tính từ, là ba loại từ cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đối đầy
đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại” (Ngữ pháp tiếng Việt- trang 77)
Năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (NXB Giáo dục), khi
nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu chuẩn để phân định từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp Ngoài ra khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp thực từ và hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu từ loại thuộc lớp
thực từ: danh từ, động từ, tính từ
Năm 2006, cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, tác giả Diệp
Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã dành ra một chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tậm là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt Theo tác giả, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm: Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
Trang 12Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tính từ)
Chúng tôi dựa vào cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của tác giả Diệp Quang
Ban và Hoàng Văn Thung để làm cơ sở nghiên cứu đề tài này Trước khi đi sâu vào các từ loại cơ bản, chúng tôi xin trình bày vài nét khái quát nhất về từ loại:
Khái niệm về từ loại
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo
ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với từ ngữ khác và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu (Đinh Văn Đức - Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại)
Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp, theo bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên - Từ loại tiếng Việt hiện đại)
Từ điển tiếng Việt - 2008 (trang 1327) định nghĩa “Từ loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ ”
Tiêu chí phân định từ loại
Trong tiếng Việt, người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây để phân chia các
từ thành từ loại:
Ý nghĩa khái quát
Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hóa cao: nó là kết quả của quá trình trừu tượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể: danh từ chỉ
Trang 13- Tính từ có khả năng kết hợp với hơi, rất, lắm, quá, Ví dụ: rất đẹp
Khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp
Khả năng giữ chức vụ cú pháp trong câu thường được sử dụng như một tiêu chuẩn hỗ trợ Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đương không phải một vài ba chức vụ cú pháp ở trong câu Trong số các chức vụ cú pháp đó thường có một hoặc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêu biểu cho lớp từ đó
- Danh từ thường làm chủ ngữ Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải kết
hợp với từ “là” (Ví dụ: Em là học sinh.)
- Động từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất
khả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, hãy, đừng, chớ,
- Tính từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ tính từ mất khả
năng kết hợp với đã, đang, cũng, vẫn, cứ, rất, lắm, quá,
Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: Tiếng Việt
cơ cấu theo một lối khắc hẳn so với ngôn ngữ phương Tây (không có sự biến đổi hình thái) do đó không tồn tại từ loại, mà tùy thuộc vào vị trí trong câu mà có tính chất nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác nhau
Thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại Tuy nhiên trong nhóm này
có những sự khác biệt trong việc phân định, phân loại:
Thuần túy ý nghĩa khái quát (Trần Trọng Kim)
Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): một từ có thể thuộc về nhiều từ loại khác nhau
Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cẩn)
Khả năng làm trung tâm của cụm từ ngữ
Khả năng làm thành tố phụ của từ ngữ
Trang 14 Kết quả phân loại
Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những từ loại sau đây:
1.1.1 Danh từ
Danh từ là thực từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ “vật” hiểu rộng), được dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với từ chỉ lượng (những, các, ), về phía sau với từ chỉ định (này, nọ, ) và thường làm chủ
ngữ hoặc bổ ngữ trong câu
Danh từ là một lớp từ lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kết hợp, nên được phân thành nhiều lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khác nhau, cụ thể:
1.1.1.1 Danh từ riêng
Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể
Danh từ chỉ tên người: Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi,
Danh từ chỉ sự vật: chó đốm, Tây Sơn, Trà Vinh,
1.1.1.2 Danh từ chung
Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cần thiết không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản thân lớp con này Những danh từ chung không mang đặc điểm ý nghĩa và ngữ pháp của danh từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi là danh từ không tổng hợp
Trang 15+ Danh từ tổng hợp chỉ chung nhiều sự vật đồng chất xét ở một phương
diện nào đó, như: cây cối, bạn bè, xe cộ,
+ Danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất, hoặc thông qua
từng cá thể sự vật như đại diện cho cả lớp, như: bụi cây, bạn tôi, xe máy,
a Danh từ tổng hợp
Danh từ đếm được
Danh từ đếm được là những danh từ chỉ “loại”, chỉ đơn vị tập hợp
Ví dụ: bọn, lũ, tốp, đám,
Danh từ không đếm được
Danh từ không đếm được là những danh từ chỉ khái niệm sự vật tổng hợp khái quát và trừu tượng
- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội, như: nước, tỉnh, xã,
đoàn, đội, nghề, môn,
- Danh từ chỉ không gian, như: nơi, chốn, xứ, vùng, miền, khoảng,
- Danh từ chỉ đơn vị thời gian, như: dạo, khi, hồi, lúc,
- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh, như: màu, mùi,tiếng,
- Danh từ chỉ chức vị, như: nhà văn, nhà giáo, bác sĩ
- Danh từ chỉ lần của sự việc, như: lần, lượt, phen, chuyến
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng hóa, như: tài năng, trí tuệ,
Danh từ không đếm được
Danh từ không đếm được là những danh từ chỉ sự vật - chất thể
Ví dụ: muối, đường, cát,
Trang 161.1.2 Động từ
Động từ là những thực từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình Động
từ thường kết hợp với các từ: hãy, đừng, chớ,
Ví dụ: Chị hãy bình tĩnh lại
Chức vụ cú pháp điển hình của động từ là vị ngữ khi làm chủ ngữ,
động từ mất khả năng kết hợp với các từ: hãy, đừng, chớ,
Động từ được phân chia thành hai lớp con: lớp động từ không độc lập và lớp động từ độc lập
1.1.2.1 Động từ không độc lập
Động từ không độc lập là những động từ về ý nghĩa, biểu thị quá trình chưa đầy đủ, chưa trọn vẹn; hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn với hành động hay trạng thái cụ thể Về khả năng kết hợp và đảm nhiệm chức năng cú pháp, do đặc điểm ý nghĩa, lớp động từ này khi làm thành phần câu
thường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ để khỏi “trống nghĩa”
Lớp động từ không độc lập bao gồm một số nhóm sau đây:
a Nhóm động từ tình thái
Động từ tình thái từ thường biểu thị các ý nghĩa tình thái từ (có tính chất quá trình) khác nhau, như:
- Từ chỉ sự vật cần thiết: cần, nên, phải,
- Từ chỉ ý chí - ý muốn: chực, dám, đang tâm, muốn, mong muốn,
- Từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chưa thể,
- Từ chỉ sự “chịu đựng” hoặc “tiếp nhân”:bị, được, mắc, phải,
b Nhóm động từ quan hệ
Động từ trong nhóm này biểu thị các ý nghĩa quan hệ (có tính chất quá trình) giữa các thực thể, quá trình hay đặc trưng, bao gồm:
- Quan hệ tồn tại: còn, có, biến, mất,
- Quan hệ biến hóa: thành, hóa ra, trở thành, hóa thành,
- Quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc,
- Quan hệ so sánh, đối chiếu trong không gian: gần, xa,
Trang 171.1.2.2 Động từ độc lập
Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động hoặc trạng thái) Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức được tương đối rõ, ngay cả trường hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa
Có thể phân chia động từ độc lập thành một số nhóm nhỏ:
a Các nhóm động từ độc lập phân loại theo phụ từ đi kèm, gồm:
Động từ chỉ hành động
Động từ chỉ hành động gồm những động từ kết hợp được với hãy,
đừng, chớ, và với lắm, quá; không kết hợp được với rất, hơi: viết, đánh, đi,
làm,
Động từ chỉ trạng thái
Động từ chỉ trạng thái, bao gồm:
- Những động từ kết hợp được với hãy, đừng, chớ, với lắm, và với rất,
hơi, khí: yêu, thương, ghét, giận,
- Những động từ không kết hợp được với xong: thấy,hiểu, mọi, biết,
b Các nhóm động từ phân loại theo thực từ đi kèm
Bao gồm:
- Động từ không đòi hỏi thực từ đi kèm: nói, cười, khóc, ngồi, đứng, bò, thường chỉ trạng thía tâm lý Những động từ này được gọi là động từ nội động
- Động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tượng tác động: đánh (giặc), trồng (cây), viết (báo), Những động từ này được gọi là động từ ngoại động
- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng nhận và đối tượng
được lợi hay bị thiệt hại do tác động của hành động nêu ở động từ: cho (em) (một món quà), gửi (bạn) (một bưc thư),
- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội
dung sai khiến: nhờ (bạn) (xách nước), bảo (con) (học),
Trang 18- Động từ có thực từ đi kèm chỉ hướng dời chuyển, hoặc chỉ đích dời
chuyển của hành động, hoặc nêu đối tượng bị tác động dời chuyển: lăn vào,
chạy ra, đi xuống, đẩy xe vào nhà,
1.1.3 Tính từ
Tính từ là lớp chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình)
Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa
cho tính từ); không có khả năng kết hợp được với: hãy, đừng, chớ
1.1.3.1 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng đồng thời biểu thị thang độ của đặc
trưng trong ý nghĩa tự thân, thường là mức tuyệt đối
Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ là tính từ có thể kết hợp với các
phó từ chỉ thang độ rất, hơi, khí, quá, về phía sau
- Chỉ đặc trưng mô phỏng : ào ào, lênh khênh, lè tè,
1.1.3.2 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ là tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân Chúng thường kết hợp với phụ từ chỉ
ý nghĩa thang độ: rất, hơi, khí, quá, lắm, cực kì,
Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ gồm:
- Những tính từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng,
- Những tính từ chỉ đặc trưng về lượng: nhiều, ít, râm, thưa,
- Những tính từ chỉ đặc trưng cường độ: mạnh, yếu, nóng, lạnh,
- Những tính từ chỉ đặc trưng hình thể: vuông, tròn, thẳng,
Trang 19- Những tính từ chỉ đặc trưng màu sắc: xanh, đỏ, vàng,
- Những tính từ chỉ đặc trưng âm thanh: ồn, im ,vắng,
- Những tính từ chỉ đặc trưng mùi, vị: thơm, thối, đắng,
1.1.4 Hiện tượng chuyển di từ loại
Chuyển di từ loại - chuyển loại - là hiện tượng một từ khi thì dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác
Chuyển di từ loại là hiện tượng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ
Ví dụ:
Tôi định nói với anh Nhâm những suy nghĩ (1) vừa rồi của tôi nhưng lại
thôi
Bắt chước anh Ánh, em cũng lim dim mắt suy nghĩ (2)
Suy nghĩ (1) là danh từ, suy nghĩ (2) là động từ
Từ chuyển loại có mấy điểm sau:
a) Từ chuyển loại có hình thức đồng âm Một từ thuộc từ loại này khi
chuyển thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ nguyên vỏ ngữ âm
b) Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng
c) Từ ban đầu có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp khác với từ
chuyển loại
Trong tiếng Việt thường gặp một số trường hợp chuyển loại sau:
- Chuyển loại nội bộ thực từ:
+ Chuyển loại động từ tính từ danh từ, thường gặp đối với lớp từ
đa tiết ghép gốc Hán Việt: quần chúng, ý thức, hòa bình,
cưa, bừa, chuyển loại thành tên gọi đồ vật tương ứng như (cái) cày, (cái ) bừa, từ chỉ hành động như: cuộn, bó, nắm, chuyển thành đơn vị tương
ứng: (một) bó, (một) cuộn, từ hành động đa tiết như: suy nghĩ, lo ngại, chuyển loại thành tên gọi khái niệm hay sự vật trừu tượng (những) suy nghĩ, (những) lo ngại,
Trang 20+ Chuyển loại giữa tính từ danh từ: từ chỉ tính chất đa tiết thường
chuyển thành danh từ chỉ sự vật trừu tượng: khó khăn, gian khổ, thành (mọi)
khó khăn, (mọi) gian khổ,
+ Chuyển loại nội bộ danh từ: danh từ chỉ đồ vật như: chén, bát, thuyền, xe, mâm, chuyển thành danh từu chỉ đơn vị như (một) chén (rượu),
(một) bát (cơm),
- Chuyển loại thực từ hư từ:
+ Chuyển loại danh từ kết từ: kết từ của trong tiếng Việt hiện nay có nguồn gốc danh từ; ngoài ra, một số danh từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong,
ngoài, chuyển thành kết từ: (ngồi) trên (ghế), (đi) dưới (mưa),
+ Chuyển loại động từ kết từ: một số kết từ có nguồn gốc động từ:
cho, bằng, vào, để,
+ Chuyển loại danh từ đại từ: nhiều danh từ chỉ người trong quan hệ
thân thuộc: ông, bà, cháu, chuyển thành đại từ xưng hô
+ Chuyển loại nội bộ hư từ: một số phụ từ có thể thực hiện chức năng liên kết của từ: còn, rồi, hoặc dùng phối hợp hai phụ từ để kiêm chức năng
liên kết: vừa vừa, đã lại hoặc dùng phối hợp với một kết từ với một phụ từ: vừa mới nên
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Sách giáo khoa và nội dung dạy học từ loại ở tiểu học
Tiếng Việt là môn học rất quan trọng ở trường tiểu học Nó là môn học chính, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậc học về sau Ở tiểu học, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ, từ loại, câu, qua đó giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về những kiến thức mới Trong đó, phần từ loại được trải đều trong từ lớp 2 đến lớp 5
Lớp 2: Các em có thể nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động
Lớp 3: Các em nhận biết được từ chỉ tính chất, nhận biết cách dùng một
số cặp nối
Trang 21Lớp 4: Hình thành khái niệm sơ giản về danh từ, động từ, tính từ
Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 vận dụng cả ba loại từ: danh từ, động từ, tính từ
• Danh từ là những từ chỉ sự vật
Để giúp học sinh hiểu rõ hơn khái niệm sự vật, sách giáo khoa đưa ra 5 nội hàm của khái niệm này Sự vật gồm:
- Người: ông, bà, cha, mẹ, công nhân, nông dân,
- Vật (đồ vật, con vật, cây cối, ): sông, núi, mèo, chó,
- Hiện tượng (cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người nhận thấy): mưa, sấm, sét…
- Khái niệm (chỉ các đối tượng có tính chất trừu tượng hoặc thuộc tư duy) cuộc sống, cái đẹp,
- Đơn vị: con, cái, cơn,
Sau khi đưa ra các khái niệm về danh từ, sách giáo khoa dành riêng một tiết đề cập đến vấn đề phân chia danh từ thành danh từ riêng và danh từ chung
Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật
Ví dụ: núi, sông, xe,
Danh từ riêng của một sự vật Hay nói cách khác, danh từ riêng là tên của từng người, từng vật, từng địa phương, Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa
Ví dụ: Hà Nội, Đà Nẵng,
• Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật
Ví dụ: lau nhà, rửa bát, ăn cơm,
• Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái
Ví dụ: đẹp, xấu, vui,
Trang 22Sách giáo khoa giới thiệu một số cách thể hiện mức độ tính từ như sau:
- Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy đã cho
Ví dụ: Xanh Xanh um, xanh biếc, xanh ngắt,
Xanh xao, xanh xanh,
- Thêm các từ rất, lắm, quá, vô cùng, cực kì, vào trước hoặc sau tính
từ
Ví dụ: giỏi, rất giỏi, giỏi quá, giỏi lắm,
- Tạo ra phép so sánh
- So sánh ngang bằng, ví dụ: Nước trong leo lẻo như mắt mèo
- So sánh hơn kém, ví dụ: Hoa ghen thua thắm, liễu hơn kém xanh
- So sánh tuyệt đối, ví dụ: Những búp bê xinh xinh, trắng nõn như ngón tay thiếu nữ
Lớp 5: Các em được hình thành khái niệm sơ giản về đại từ và quan hệ
từ
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 bao gồm: 31 bài Tập đọc ở tập 1 và 33 bài Tập đọc ở tập 2
1.2.2 Việc dạy học từ loại cơ bản ở tiểu học
Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp tiếng Việt là rất quan trọng đối với học sinh, bởi qua học tập về ngữ pháp học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nay được tiến hành một cách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống các bài tập trong sách giáo kháo, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình
Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thức của học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc là đoạn văn cho trước
Trang 23để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể Các bước này có thể chia thành hai hướng là dạy lý thuyết và dạy thực hành từ loại
Do ngữ pháp là một môn khó (hiện nay là Luyện từ và câu) cho nên giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đúng yêu cầu của chuyên môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt hiệu quả dạy học cao.Về phía học sinh ít hứng thú học môn này do đây là một môn khó và khô khan Những điểm khó của môn học muốn trở thành dễ đối với học sinh thì giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu của xã hội
Trang 24Chương 2 MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1 Nhận diện phân định từ trong câu
Việc học các từ loại danh từ, động từ, tính từ là vấn đề quan trọng nhất bởi đó là ba loại từ cơ bản không thể thiếu trong giao tiếp Ở tiểu học, học sinh được học ba loại từ cơ bản là danh từ, động từ, tính từ và kĩ năng xác định chúng được kiểm tra dưới dạng các từ được cho sẵn Trong khóa luận này, chúng tôi đưa ra yêu cầu xác định từ loại qua các bài Tập đọc mà học sinh được học tức là qua các văn bản Do trong tiếng Việt, đặc điểm từ có vỏ ngữ âm cố định nên học sinh sẽ rất dễ sai khi xác định từ đặc biệt là trong văn bản Vì thế học sinh muốn xác định được các từ loại cơ bản thì các em cần phải có kĩ năng để nhận diện, xác định từ trong văn bản
Để nhận diện một cách chính xác ranh giới từ chúng tôi dựa vào các kĩ năng sau:
2.1.1 Dựa vào cấu tạo từ
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập và tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu Trong đó, phân loại từ về cấu tạo ngữ pháp chia thành ba loại:
2.1.1.1 Từ đơn
Từ đơn hay còn gọi là từ đơn âm tiết, là các từ được cấu tạo bởi một tiếng duy nhất Ví dụ: tôi, bạn, nhà, hoa, vườn,
2.1.1.2 Từ ghép
Từ ghép là từ do phương thức ghép tạo ra Đây là cách ghép hai tiếng
có nghĩa thành một từ mới có ý nghĩa khác hẳn tiếng gốc Từ ghép chia thành hai kiểu là từ ghép đẳng lập (ăn nói, bơi lội, ) và từ ghép chính phụ (hoa hồng, đường sắt, )
Trang 252.1.1.3 Từ láy
Là do phương thức láy hình vị tạo ra Đây là phương thức lặp lại những yếu tố ngữ âm toàn bộ hay bộ phận của hình vị gốc Ví dụ: đo đỏ, man mát,
từ láy được chia thành hai kiểu là: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
2.1.2 Dựa vào nghĩa của từ
Nghĩa của từ là những liên hệ được xác định trong nhận thức của chúng
ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu) Hay nói khác đi mỗi một đơn vị ngữ âm gọi tên một sự vật hiện tượng nào đó trong thực thế khách quan, cứ một hoặc hai, ba đơn vị ngữ âm gọi tên được một âm tiết thì được gọi là từ Do học sinh tiểu học nhỏ tuổi nên các em khó xác định được từ Muốn các em xác định được ranh giới của từ, các em phải nắm được nghĩa của từ Khi đã hiểu được nghĩa của từ các em sẽ xác định được ranh giới của từ một cách nhanh chóng và chính xác
Ví dụ: Trái đất này là của chúng mình
Trước tiên ta đi giải nghĩa từ trong câu:
- Trái đất: tên gọi của 1 sự vật, một hành tinh
Trái đất/ này/ là/ của/ chúng mình
2.1.3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nghỉ nhịp trong câu và trọng âm phân ranh giới từ
Đối với học sinh tiểu học, khi đọc các bài văn xuôi chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới ngữ đoạn Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn Sự phân chia ranh giới từ được hình
Trang 26thức hóa bằng chỗ ngắt giọng Chỗ ngắt nhịp giọng ấy cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa của từ Vậy dựa vào ngữ điệu Vì vậy, giáo viên có thể cho học sinh luyện đọc diễn cảm để ngắt, nghỉ đúng nhịp của một bài Tập đọc trước khi cho các em xác định từ trong câu
Ví dụ: Sông La/ ơi Sông La
Trong veo/ như ánh mắt Trong quá trình phân định từ, chúng tôi thấy học sinh gặp rất nhiều khó khăn nên chúng tôi đã đưa ra một số bài tập xác định từ để học sinh rèn luyện
kĩ năng xác định từ
Với mỗi loại bài tập chúng tôi tiến hành điều tra trên học sinh ở các lớp khác nhau của khối 5 Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát ở hai lớp:
- Lớp 5A trường Tiểu học Uy Nỗ với tổng số là 45 học sinh
- Lớp 5B trường Tiểu học Uy Nỗ với tổng số là 40 học sinh
Để đi đến nhận xét và có những đề xuất về phương pháp dạy học phù hợp, chúng tôi đã khảo sát lần lượt từng loại bài, cụ thể:
Bài tập nhận diện từ trong văn bản
Trên cơ sở đã đưa ra các kĩ năng nhận định ranh giới từ, chúng tôi đưa
ra một số bài tập để yêu cầu học sinh xác định ranh giới từ
Bài 1 Dựa vào cấu tạo từ để xác định từ trong đoạn văn sau
“Ông Đỗ Đình Thiện là một nhà tư sản lớn ở Hà Nội, chủ của nhiều đồn điền, nhà máy và tiệm buôn nổi tiếng, trong đó có đồn điền Chi Nê ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”
(Phạm Khải - Nhà tài trợ đặc biệt của Cách mạng, Tiếng Việt lớp 5, tập 1)
Bài 2 Dựa vào nghĩa của từ để xác định ranh giới từ trong đoạn thơ sau
“Hai cha con bước đi trên cát Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh
Trang 27Bóng cha dài lênh khênh Bóng con tròn chắc nịch”
(Hoàng Trung Thông - Những cánh buồn, Tiếng Việt lớp 5, tập 2)
Bài 3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nhịp trong câu và trọng âm để phân loại
ranh giới từ
“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.”
(Nguyễn Đình Thi - Đất nước, Tiếng Việt lớp 5, tập 2)
Sau khi tiến hành điều tra và thu được kết quả, chúng tôi thấy các em
đã có kĩ năng để xác định ranh giới từ trong đoạn văn, đoạn thơ Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có các em xác định sai ranh giới từ, chủ yếu các em làm sai bài 3 ở cả hai lớp (lớp 5A và lớp 5B) Để giúp các em nắm chắc hơn, giáo viên nên cho học sinh làm thêm nhiều bài tập xác định ranh giới từ dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nhịp trong câu và trọng âm của từ
Tóm lại, muốn xác định được ranh giới từ trong văn bản, chúng ta dựa trên dựa trên cấu tạo từ phân loại ra các từ đơn, từ ghép, từ láy; nghĩa của từ
là tên của sự vật hiện tượng; ngắt nhịp, ngữ điệu trong câu và trọng âm của từ Trên thực tế để nhận diện được từ, chúng ta phải tổng hợp cả ba kĩ năng lại với nhau, không được tiến hành rời rạc thì mới phân định được từ dễ dàng và chính xác
2.2 Nhận biết và phân loại từ loại cơ bản
Trên cơ sở đã xác định từ trên văn bản, chúng tôi giúp học sinhnhận biết và phân biệt danh từ, động từ, tính từ qua các bài Tập đọc, từ đó hình thành cho các em các kĩ năng để nhận biết và phân biệt các từ loại cơ bản này
Trang 282.2.1 Khả năng nhận biết danh từ
2.2.1.1 Xác định danh từ trong đoạn văn cho trước
Mục đích của dạng bài tập này là đánh giá khả năng nhận biết danh từ trong một đoạn văn cụ thể
Câu hỏi đưa ra như sau:
Xác định danh từ có trong các câu, đoạn văn sau:
(Nguyễn Thị Cẩm Châu - Người gác rừng tí hon - Tiếng Việt lớp 5, tập 2)
Trang 30Những lỗi của học sinh có thể kể đến một số nguyên nhân sau:
Do chưa đọc kĩ đề từng câu trong đoạn văn để tìm ra danh từ