Việc dạy từ ngữ ở Tiểu học sẽ tạo cho học sinh có năng lực từ ngữ, giúp cho học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn diện Nghĩa của từ rất quan trọng, t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********
NGUYỄN THỊ NHUNG
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ GIẢI NGHĨA Ý NGHĨA TỪ NGỮ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ Lê Bá Miên, người đã hướng dẫn tận tình và chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học sinh trường Tiểu học Xuân Hòa (phường Xuân Hòa - TX Phúc Yên - Vĩnh Phúc)
đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát thực tế
Bước đầu nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn chế tôi khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Hà Nội tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt : TV Trang : tr Kết quả : KQ
Lý thuyết : LT Thực hành : TH
Tỉ lệ : TL
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và yêu cầu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Nghĩa của từ 7
1.1.2 Cấu tạo từ 11
1.1.3 Từ loại của từ 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Chương trình, sách giáo khoa Tiểu học lớp 4, 5 14
1.2.2 Một số biện pháp giải nghĩa từ ở Tiểu học 16
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ GIẢI NGHĨA TỪ NGỮ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 19
2.1 Dựa vào kiểu cấu tạo để hiểu nghĩa của từ 19
2.1.1 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ đơn 19
2.1.2 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ghép 21
2.1.3 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ láy: 23
2.2 Dựa vào cấu trúc nghĩa của từ để giải nghĩa 26
2.2.1 Hiểu biết lý thuyết về nghĩa của từ 26
2.2.2 Dựa vào các nét nghĩa để hiểu nghĩa của từ 33
2.3 Dựa vào từ loại của từ để hiểu nghĩa của từ 37
Trang 62.3.1 Khả năng hiểu biết và giải nghĩa các danh từ của học sinh lớp 4, 5 37
2.3.2 Khả nănghiểu biết và giải nghĩa tính từ của học sinh lớp 4, 5 40
2.3.3 Khả năng hiểu biết và giải nghĩa động từ của học sinh lớp 4, 5 42
2.4 Một số đề xuất dạy giải nghĩa từ cho học sinh Tiểu học 44
KẾT LUẬN 46
PHỤ LỤC 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học giữ vai trò nền tảng với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng nhất của người công dân, người lao động tương lai Đó là những con người phát triển toàn diện, có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, sáng tạo
Đất nước Việt Nam đang trên đường đổi mới và phát triển Để tiến kịp với thời đại và phục vụ sự nghiệp công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngành giáo dục và Đào tạo nói chung, trường Tiểu học nói riêng phải đặt ra những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ phù hợp góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đồng thời cũng chuẩn bị nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới
Bậc Tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống quốc dân Vì vậy các môn học ở bậc Tiểu học ngòai việc cung cấp tri thức thì cần chú trọng hình thành cho học sinh các kĩ năng học tập Cùng với các môn học Toán, Tự nhiên - Xã hội…, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt, phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày
Từ vựng - ngữ nghĩa là một bình diện của ngôn ngữ bên cạnh những bình diện khác như ngữ pháp, ngữ âm, phong cách,…Dạy từ ngữ là một hoạt động không thể thiếu trong chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung và chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học nói riêng Mục tiêu đầu tiên của môn Tiếng Việt trong chương trình mới (sau năm 2000) là: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi” Điều này có nghĩa là
Trang 8chương trình tiếng việt Tiểu học giúp các em mở rộng và phát triển vốn từ, làm cho các em hiểu được nghĩa của các từ cụ thể, từ đó vận dụng vào giao tiếp và học tập
Về từ ngữ, các tác giả cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” khẳng định: “Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, thiếu từ vựng thì sẽ không có bất cứ ngôn ngữ nào” Điều này lý giải tại sao việc dạy
từ ngữ được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, lí giải tại sao việc mở rộng và phát triển vốn từ cho học sinh được chú trọng ngay từ bậc Tiểu học
Từ có vai trò rất quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Con người muốn
tư duy phải có ngôn ngữ Không có vốn từ đầy đủ, con người không thể sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp Việc dạy từ ngữ ở Tiểu học sẽ tạo cho học sinh có năng lực từ ngữ, giúp cho học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ,
có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn diện
Nghĩa của từ rất quan trọng, trong giao tiếp thông thường cả người phát (nói, viết) và người nhận (nghe, đọc) đều phải nắm được từ, hiểu được nghĩa của từ thì mới sử dụng được từ một cách chuẩn xác, từ đó giao tiếp mới có hiệu quả Dạy từ mà không cho học sinh hiểu từ, nắm được nghĩa của từ thì sẽ
là việc vô bổ bởi vì như thế học sinh không biết dùng các từ đã cung cấp
Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai và là người trực tiếp giảng dạy các em học sinh trong cấp học đầu tiên để tạo nền tảng kiến thức vững chắc cho các cấp học tiếp theo, tôi nhận thấy giảng dạy môn Tiếng Việt không thể có hiệu quả nếu không có ý thức đầy đủ việc dạy nghĩa, đem đến cho học sinh nhữn hiểu biết về những sắc thái tinh tế của nghĩa từ, cụm từ, câu và bài Hơn nữa, để tăng vốn từ cho học sinh phải cung cấp những từ mới, do vậy công việc đầu tiên của việc dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ Nó là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việc dạy nghĩa từ
Trang 9được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có sự dạy nghĩa từ Chẳng hạn như các bài tập đọc thường có mục ghi chú, giải nghĩa các từ ngữ cho học sinh; các bài tập giải nghĩa cũng nhằm mục đích này Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong phân môn Luyện từ và câu không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại thường xuyên phải thực hiện không chỉ trong giờ luyện từ và câu mà trong rất nhiều giờ học khác của môn học Tiếng Việt và các môn học khác
Với những lí do thiết thực trên đây, chúng tôi quyết định chọn nghiên
cứu đề tài “Tìm hiểu khả năng nhận biết và giải nghĩa ý nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5’’ làm khóa luận của mình
2 Lịch sử vấn đề
Việc giải nghĩa từ không chỉ sử dụng chủ yếu trong môn Tiếng Việt, đặc biệt phân môn luyện từ và câu mà còn được sử dụng trong các môn khác nữa, nó được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để tâm nghiên cứu Sau đây chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu trong nước về vấn
đề này:
Tác giả Đỗ Hữu Châu với cuốn “từ vựng nghĩa Tiếng Việt” đã dành riêng chương XVII, đăc biệt từ trang 273 đến tang 279 để nói về “ giải nghĩa từ” Ông còn cho rằng; “Dạy từ không chỉ thu hẹp trong việc giải nghia từ mà, mặc dù đó là việc then chốt” Tác giả đưa ra 3 cách để giải nghĩa biểu niệm
đó là giải nghĩa theo cách định nghĩa, khái niệm Giải nghĩa theo lối so sanh
từ đồng nghĩa, trái nghĩa và giải nghĩa theo cách miêu tả
Tiếp tục tìm hiểu về ngữ nghĩa, nghĩa của từ thì hai tác giả Vũ Đức Nhiệu và Nguyễn Văn Hiệp với cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” gồm 18 chương, trong đó nội dung về ngữ nghĩa, nghĩa của từ và nghĩa của câu được
đề cập trong hai chương lớn là chương XV và XVI
Nhóm tác giả Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” cũng bàn về giải nghĩa từ ở trang 198
Trang 10đến trang 202 của chủ đề 6: Phương pháp dạy học luyện từ và câu Khi nói về vấn đề này, các tác giả cũng khẳng định: “Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (một hiện tượng, một quan hê, một tính chất, hay một quá trình) trong nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm thanh xác định Đồng thời nhóm tác giả này còn đưa ra 5 biện pháp giải nghĩa từ: giải nghĩa bằng trực quan, giải nghĩa bằng đối chiếu
so sánh với các từ khác, giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, giải nghĩa bằng cách phân tích thành các thành tố (tiếng) và giải nghĩa từng thành tố này, giải nghĩa bằng định nghĩa
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của một số tác giả mà chúng tôi vừa kể trên thì có một số đề tài khoa học của khóa trước cũng tìm hiểu về vấn
đề này như đề tài “Khảo sát khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học” của Nguyễn Thị Nhung Trong đề tài này Nguyễn Thị Nhung đã nghiên cứu về khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học Sau đó là phần tìm hiểu thực trạng khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh tại một trường tiểu học bằng các bài kiểm tra (phiếu điều tra) nhưng đề tài của Nguyễn Thị Nhung chưa tập trung đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu về khả năng giải nghĩa từ của học sinh lớp 4, 5
Như vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nghĩa của
từ nhưng xét về cơ bản thì chưa có công trình nào nghiên cứu kĩ về khả năng nhận biết và giải nghĩa từ của học sinh lớp 4,5 Vì vậy chúng tôi có thể khẳng định rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi là một đề tài mới mẻ và cần thiết
3 Mục đích và yêu cầu
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu khả năng nhận biết ý nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5
Trang 11Thứ hai: Tìm hiểu khả năng giải nghĩa từ ngữ dựa vào kiểu cấu tạo, từ loại, cấu trúc nghĩa của từ của học sinh lớp 4, 5
Thứ ba: Trên cở thực tế về khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học lớp 4, 5, đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh nhận diện, hiểu nghĩa và biết cách giải nghĩa từ một cách tốt hơn
3.2 Yêu cầu
Để thực hiện được những mục đích trên và đặc biệt giúp khóa luận này
có hiệu quả, người viết phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Nắm được khái niệm nghĩa của từ, các loại nghĩa
- Biết được các cách giải nghĩa từ ở Tiểu học
- Nêu được một số dạng bài tập giải nghĩa từ phổ biến, hay gặp trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học sau năm 2000
- Tiến hành điều tra, thống kê, mô tả khả năng nhận biết và giải nghĩa từ của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Xuân Hòa
- Đề xuất được một số phương pháp cụ thể giúp học sinh nhận biết và giải nghĩa từ tốt hơn
4 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học lớp 4, 5 (lớp 4A2 và lớp 5A1) ở trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên-Vĩnh phúc
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ nghiên cứu khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5 ở một trường Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, em sử dụng một số phương pháp sau:
6.1 Phương pháp điều tra
Điều tra khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5 dưới dạng bài kiểm tra (phiếu điều tra)
Trang 12sở lý luận của đề tài
Các bước tiến hành nghiên cứu:
Bước 1: Đọc tài liệu lí luận
Bước 2: Đi thực tế thống kê
Bước 3: Xử lý tư liệu thống kê
Bước 4: Tổng hợp viết khóa luận
7 Ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu thực trạng khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học và đề xuất một số giải pháp hình thàh khả năng trên cho học sinh Tiểu học lớp 4, 5 Theo các biện pháp này học sinh sẽ có khả năng nhận biết và giải nghĩa từ để có thể biết cách giải nghĩa từ và làm được nhiều bài tập giải nghĩa từ khác nhau, làm cho vốn từ của các em trở nên phong phú và linh hoạt hơn, giúp cho việc học tập môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày thuận lợi hơn
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Nghĩa của từ
Để trả lời câu hỏi: “nghĩa của từ là gì?”, trước hết phải trở lại với bản chất tín hiệu của từ Từ là một tín hiệu, nó phải “nói lên”, phải đại diện cho, phải được sử dụng quy chiếu về một cái gì đó Từ có thể được phân loại theo nhiều cách: phân loại dựa vào ý nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp của từ
- ta có các lớp từ theo từ loại; phân loại dựa vào nghĩa - ta có các lớp từ như
từ đồng nghĩa, trái nghĩa,…; phân loại theo nguồn gốc - ta có từ thuần Việt, từ Hán Việt; phân loại theo phạm vi sử dụng - ta có từ địa phương, từ toàn dân Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta đều học bằng cách liên hệ với những cái mà từ đó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính… mà từ đó làm tên gọi cho nó) Mắt khác nghia của từ cũng được thông qua hoặc liên quan tới vô vàn tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó sử dụng, nghĩa của từ chính là nội dung tư tưởng gợi ra trong từ
Trong một đơn vị từ vựng người ta phân chia làm hai lớp nghĩa: Lớp nghĩa bên ngoài (nghĩa liên hội) và lớp nghĩa bên trong (nghĩa cấu trúc, nghĩa ngữ pháp) Lớp nghĩa bên ngoài được hình thành trong mối quan hệ với xã hội, lịch sử, dân tộc, thời đại và cá nhân người sử dụng ngôn ngữ Cụ thể mỗi
từ khi đưa vào sử dụng thì trong quá trình sử dụng ấy đã hình thành một lớp nghĩa bao quanh mỗi từ Nhờ có một lớp nghĩa này mà từ mới thực sự trở thành cụ thể sinh động của một thực tiễn nhất định Mỗi dân tộc hầu như có một ngôn ngữ, tính chất cư trú trên những vị trí địa lí khác nhau, phong tục tập quán khác nhau…Tất cả những cái khác ấy tạo nên ý nghĩa bên ngoài của
từ khác nhau Ý nghĩa bên ngoài ấy lại có thể thay đổi theo từng thời đại mà
Trang 14cũng có thể được mỗi cá nhân sử dụng với những ý nghĩa khác nhau do vốn sống, vốn ngôn ngữ khác nhau
Nghĩa bên trong là lớp nghĩa đối lập với lớp nghĩa bên ngoài, lớp nghĩa này có tính bền vững, ít thay đổi, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Lớp nghĩa bên trong gồm 2 loại, đó là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp
Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ, không lặp lại ở các từ khác Nghĩa từ vựng bao gồm nghĩa biểu niêm, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu thái
Nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho nhiều từ cùng loại và liên quan đến chứcnăng cấu tạo câu Nghĩa này có thể quy về các phạm trù như: giống, cách, số, ngôi, thời, thể, thức hay các phạm trù : danh, động, tính, số từ…
Nghĩa ngữ pháp tạo thành khuôn từ loại, còn nghĩa từ vựng là lõi nằm bên trong khuôn từ loại đó Như vậy, muốn hiểu được nghĩa của từ ta phải đối chiếu từ với các hoạt động giao tiếp, với các chức năng tín hiệu học của từ, phải nắm được ý nghĩa riêng của từ đó là nghĩa từ vựng và ý nghĩa chung của
từ đó là nghĩa ngữ pháp Trong phần nghiên cứu này ta chỉ đi tìm hiểu ý nghĩa riêng của từ Vì vậy trong phần này chúng tôi chỉ đề cập đến nghĩa của từ vựng
Các thành phần nghĩa của từ:
1.1.1.1 Nghĩa biểu vật
Ý nghĩa biểu vật bắt nguồn từ chức năng biểu vật của từ Nghĩa biểu vật là nghĩa gọi tên các loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất hoạt động… theo lối tổng hợp tính, nghĩa là gọi tên không có lí do
Khi nghiên cứu nghĩa biểu vật của từ phải đặt từ trong mối liên hệ với thực tế khách quan Bởi vì đó là những “mẩu”, những “mảnh”, những “đoạn cắt” của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế khách quan, giữa từ với thực tế khách quan ít có sự tương ứng 1 - 1, cùng một sự vật nhưng có rất nhiều tên gọi hoặc cùng một từ nhưng chỉ nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau
Trang 15Các từ trong Tiếng Việt có từ có ý nghĩa biểu vật rộng, có từ có ý nghĩa biểu vật hẹp Những từ có ý nghĩa biểu vật rộng là những từ có ý nghĩa khái quát và có thể gọi tên được nhiều sự vật, hiện tượng đó là những từ đơn âm tiết, từ ghép (nhà cửa, ruộng nương), láy cá thể (máy móc, chim choc, tiệc tùng…) Những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp là những từ chỉ gọi tên được một hay một số ít các sự vật, hiện tượng đó là các từ ghép phân nghĩa (xe đạp, xe máy,…) , láy sắc thái hóa (xanh xao, vàng vọt…)
1.1.1.2 Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Cái ý
đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật và trong ý thức con người)
Nghĩa biểu niệm bắt nguồn từ chức năng biểu niệm của từ Nghĩa biểu niệm là nghĩa biểu thị khái niệm về sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan Mỗi sự vật, hiện tượng được nhận thức bằng tư duy thông qua những dấu hiệu của nó và dược phản ánh bằng ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật (được gọi tên), từ nghĩa biểu vật sẽ có một nghĩa biểu niệm tương ứng Khi nghiên cứu nghĩa biểu niệm phải đặt từ trong mối liên hệ với các dâu hiệu của khái niêm Như vậy gọi tên theo lối biểu niệm là gọi tên có lí do
Ví dụ: Sự vật có mặt phẳng, làm bằng nguyên liệu rắn, có chân, dùng
1.1.1.3 Nghĩa biểu thái
Ngoài hai thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm, khi xác định nghĩa của từ người ta còn phân biệt một số thành phần nghĩa nữa, đó là nghĩa ngữ dụng hay còn gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ
Trang 16Nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng, nghĩa hàm chỉ ) bắt nguồn từ chức năng biểu thái của từ, nó biểu thị thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người
sử dụng ngôn ngữ cuả người sử dụng đối với sự vật được gọi tên
Như vậy, nghiên cứu nghĩa biểu thái, nó đặt từ trong mối quan hệ với nguời sử dụng ngôn ngữ, biểu hiện thái độ ứng xử như thế nào trước một sự vật được gọi tên; ở cung bậc tình cảm : vui, buồn, yêu, ghét, lo, sầu…; ở trong cách đánh giá con người trước một sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan.Ví dụ, đánh giá về lượng nhiều hay ít, về chất tốt hay xấu, về cường độ nhanh hay chậm…
Trong hệ thống từ vựng, nghĩa biểu thái của từ cũng biểu hiện không đồng đều giữa các từ Những từ có ý nghĩa biểu thái cao nhất là các từ cảm, các trợ từ : ái, ối, ôi, a, chao ôi, khiếp,…; những từ có ý nghĩa biểu thái thấp hơn là nhóm từ vừa có ý nghĩa định danh vừa có ý nghĩa biểu thái, đó là những từ ghép, láy ắc thái hóa, và một số từ đơn có ý nghĩa biểu thái, ví dụ : lom khom, khấp khểnh, tấp tểnh, đen sì, đỏ lòm,…
Nhóm từ có ý nghĩa sắc thái hóa thấp nhất là nhóm từ có ý nghĩa định danh thông thường Muốn tìm hiểu ý nghĩa sắc thái hóa của những từ định danh thông thường thì phải đặt nó trong mối quan hệ với dãy đồng nghĩa để ta
so sánh từ này với từ kia, xét nó ở mức độ nào Ví dụ: Dãy đồng nghĩa: chết , mất, hi sinh…
Như vậy, nghĩa của từ có 3 thành phần nghĩa: Nghĩa biểu vật gọi tên sự vật bên ngoài (khách quan), cụ thể; nghĩa biểu niệm chỉ ra khái niệm bên trong (bản chất), trừu tượng; nghĩa biể thái chỉ ý nghĩa đi kèm thái độ, cảm xúc của người dùng Cả ba nghĩa đều quan trọng, không có nghĩa nào quan trọng hơn nghĩa nào, nó là ba mặt của một vấn đề, có vai trò như nhau và liên
hệ với nhau
Trang 17Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập Thí dụ: Nhà,
xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…
1.1.2.2 Từ ghép
Từ ghép là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau
dựa trên quan hệ ý nghĩa
Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm
2 loại chính:
a Từ ghép đẳng lập:
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng
Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết, tiên lợi, cốt nhục, máu mủ, xinh đẹp, bát đọi, thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, sống chết, già trẻ, gần
xa, trong ngoài,…
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành
tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ
Trang 18ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa
b Từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại
Thí dụ: máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa Thí dụ,
so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …
1.1.2.3 Từ láy
Từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm
có tác dụng tạo nghĩa
Trang 19Ðặc điểm của từ láy:
- Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ, co ro, lác đác, lung túng, đo đỏ, hao hao,…
Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau: láy đôi, láy ba, láy tư Nhưng ở đây chúng tôi chỉ tìm hiểu về từ láy đôi
- Kiểu láy âm:
+ Thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,…
+ Thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,…
1.1.3 Từ loại của từ
Từ xét về mặt ngữ pháp gồm có những loại như: danh từ, động từ, tính
từ Về mặt ý nghĩa, chúng có bản chất từ vựng - ngữ pháp, trực tiếp phản ánh các nội dung ý nghĩa từ vựng khái quát có tính vật thể, hành động, trạng thái hoặc phẩm chất thành các đặc trưng phân loại
1.1.3.1 Danh từ
Danh từ là những từ biểu thị mọi “thực thể” tồn tại trong thực tại, được nhận thức và được phản ánh trong tư duy của người bản ngữ như là những sự vật
Danh từ gồm có danh từ riêng và danh từ chung:
Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể…
Ví dụ: Nguyễn Tất Thành, Hà Nội…
Danh từ chung chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên
Dựa trên sự thể hiện và phân bố ý nghĩa khái quát về sự vật có thể tách danh từ chung thành danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp:
Trang 20Danh từ tổng hợp biểu thị các sự vật tồn tại thành từng tổng thể (sự vật
- gộp) như: thợ thuyền, binh lính, quần áo…
Danh từ không tổng hợp biểu thị sự vật đơn thể( sự vật - rời) : bàn, ghế,
áo, thuyền…
1.1.3.2 Động từ
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian
Động từ được chia thành hai lớp con là lớp động từ không độc lập và lớp động từ độc lập:
Động từ không độc lập như: nên, mong, muốn, bị , được, cho…
Động từ độc lập như: viết, đánh, chạy, yêu, tặng…
1.2.1 Chương trình, sách giáo khoa Tiểu học lớp 4, 5
Trong chương trình Tiểu học thì ở lớp 4 học sinh bắt đầu học về từ đơn,
từ phức, từ láy Việc dạy từ ghép và từ láy được tiến hành ở tuần 4 của lớp 4 Đặt trong hệ thống, bài từ ghép và từ láy là bài lý thuyết về từ thứ hai của chương trình Tiếng việt mới sau bài từ đơn và từ phức Từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy là kết quả của một cách phân loại từ - phân loại theo cấu tạo Sách giáo khoa quan niệm “Tiếng cấu tạo nên từ Từ gồm một tiếng gọi là từ đơn Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức” Từ phức được phân loại
thành hai kiểu: từ ghép và từ láy
Trang 21Đồng thời ở lớp 2, lớp 3 học sinh được làm quen với việc giải nghĩa từ,
đó là đọc các từ khó được giải thích ở dưới bài tập đọc Nhưng chỉ ở mức độ đọc cách giải nghĩa đã ghi sẵn Còn đến lớp 4 thì học sinh đi sâu vào giải nghĩa từ trong phân môn luyện từ và câu, làm quen với các dạng bài tập về giải nghĩa từ Lên đến lớp 5 thì những kiến thức này được vận dụng nhiề.u và các bài tập về giải nghĩa từ đưa ra với mức độ khó và phức tạp hơn
Giải nghĩa từ trong chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học hiện đã thể hiện được vai trò của mình Tuy thế thực tiễn dạy học tiếng việt nói chung và giải nghĩa từ nói riêng còn đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, nhất là ở tính hiệu quả tối đa
Trước hết xết về mặt nội dung Theo khảo sát của tác giả Lê Phương Nga thì hiện nay, khi xây dựng sách giáo khao Tiếng Việt tiểu học, các nhà biên soạn đều xác định phạm vi vốn từ tối thiểu về thế giới xung quanh, công việc của học sinh… Vì thế, những từ ngữ được dạy ở bậc Tiểu học gắn liền với thiên nhiên, đất nước, con người… giúp làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu và ghét
Xét về mặt kết cấu và phân bố chương trình, trong tổng số 175 tuần học của chương trình Tiếng Việt tiểu học mới, từ ngữ hiện vẫn chỉ được dạy tích hợp qua các phân môn của Tiếng Việt mà chưa có giờ riêng Chương trình
165 tuần và chương trình 100 tuần học trước đây thì đã có phân môn Từ ngữ,
có giờ học từ ngữ riêng, bắt đầu từ lớp 2 Thời lượng dạy từ ngữ trong số quỹ thời gian của năm học ở cả hai chương trình cũ và mới là vừa phải tuy nhiên tổng số thời gian dành riêng cho việc giải nghĩa từ vẫn còn quá ít Bởi lẽ nếu phạm phải thời gian chuẩn thì các giờ học không đảm bảo, dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo; ngược lại, nếu trú trọng đến việc giải nghĩa từ, lượng thời gian như vậy với nhu cầu cần thiết dành cho việc nay là khá khiêm tốn Theo
Trang 22quy định mới trong năm học 2008 - 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo đối với bậc tiểu học, thời lượng tối đa các môn học chính khóa không vượt quá 25 tiết/tuần Như vậy, thời gian, tâm huyết dành cho dạy học giải nghĩa từ trong các phân môn của Tiếng Việt chắc chắn sẽ càng ít hơn
Thời gian gần đây, nhiều nhà báo, những người vốn nặng lòng với sự nghiệp phát triển giáo dục tiểu học đã có những nhận định gai góc về tình trạng trồi sụt năng lực ngôn ngữ, năng lực tiếng Việt của học sinh Như trên
đã chỉ ra, lượng thời gian thực học giải nghĩa từ là rất hạn chế Trong khi đó, giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh, giúp cho trẻ biết
đó là "cái gì" trước khi tìm hiểu chúng ra sao, cấu trúc, quy luật thế nào Thực
tế cho thấy, không chỉ trong dạy học các phân môn của Tiếng Việt mà trong bất cứ tiết học, môn học nào ở tiểu học, khi xuất hiện những khái niệm, vấn
đề mới, người giáo viên nhất thiết phải sử dụng thao tác giải nghĩa từ Tuy nhiên, xét trong tương quan chung, đây là nhiệm vụ, kĩ năng đặc trưng, bắt buộc của dạy học Tiếng Việt, nhất là đối với các phân môn Tập đọc, luyện từ
và câu…
1.2.2 Một số biện pháp giải nghĩa từ ở Tiểu học
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh
Ở Tiểu bọc người ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau :
1.2.2.1 Giải nghĩa bằng trực quan
Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ… để giải nghĩa từ Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ được dùng
để đại diện cho nghĩa của từ
Ví dụ : Khi dạy bài tập đọc “Những con sếu bằng giấy”(TV5, Tập 1), giáo viên đưa con sếu bằng giấy cho học sinh xem và nói: “Đây là con sếu
Trang 23bằng giấy” hoặc: khi học bài “Rừng thảo quả” giáo viên cho học sinh xem tranh, ảnh rừng thảo quả
1.2.2.2 Giải nghĩa bằng cách đối chiếu so sánh với từ khác
Ví dụ : Phân biệt nghĩa của các cụm từ : khu dân cư, khu sản xuất , khu bảo tồn thiên nhiên( TV 5 - tập 1)
1.2.2.3 Giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Ví dụ : “siêng năng là chăm chỉ”, “Ngăn nắp là không lộn xộn” Tương ứng với cách giải nghĩa này, sách giáo khoa có các bài tập yêu cầu giải nghĩa bằng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
1.2.2.4 Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các thành tố (tiếng) và giải nghĩa từng thành tố này
Ví dụ: Tổ quốc là từ ghép gốc Hán Tổ là ông cha ta từ xa xưa, quốc là nước, đất nước Cách giải nghĩa này có ưu thế đặc biệt khi giải nghĩa từ Hán Việt Sách giáo khoa không có những bài tập yêu cầu giải nghĩa theo cách phân tích từng thành tố nhưng ý thức được việc nắm nghĩa của các tiếng sẽ làm tang nhanh chóng vốn từ hơn là nắm nghĩa của từng từ nên trong sách giáo khoa có rất nhiều bài tập yêu cầu nêu nghĩa của tiếng trong từ và dùng nghĩa của tiếng có trong từ dể làm căn cứ phân loại các từ đó
1.2.2.5 Giải nghĩa bằng định nghĩa:
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp phổ biến nhất trong SGK Đây
là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung, gồm tập hợp các nét nghĩa bằng một định nghĩa Tập hợp nét nghĩa được liệt kê theo sự sắp xếp nét nghĩa
từ loại lên trước hết và các nét nghĩa càng hẹp càng riêng thì càng ở sau
Ví dụ: + “Thảo quả”(TV5- T1- Tr113): thảo quả là một loại cây, thân nhỏ, quả hình bầu dục, lúc chín màu đỏ, tỏa mùi thơm ngào ngạt, dùng làm thuốc và gia vị
+ Gùi (TV5 -T1- Tr 144): đồ vật, đan bằng mây, tre, đeo trên lưng để chuyên chở đồ đạc, miệng loe hơn đáy có hình trụ
Trang 24Bằng việc giải nghĩa biểu niệm theo cách định nghĩa khái niệm như trên, tôi nhận thấy cần hướng dẫn học sinh biết cách xác định các nét nghĩa và
tổ chức sắp xếp các nét nghĩa ấy Công việc này đòi hỏi giáo viên lưu ý các
em trước hết phải nhận dạng được ý nghĩa phạm trù của từ cần giải nghĩa, và biết chúng thuộc tiểu loại nào Bởi vì các từ loại khác nhau sẽ có hướng giải nghĩa khác nhau Mặt khác, cùng là danh từ nhưng cách giải nghĩa danh từ trừu tượng sẽ khác với danh từ chỉ sự vậtcụ thể
Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy nghĩa đầy đủ nhất nhưng là một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học Vì vậy, các dạng bài tập giải nghĩa bằng định nghĩa trong sách giáo khoa thường xây dựng dưới dạng cho sẵn từ và nghĩa của từ, các định nghĩa về từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng
Ví dụ: “tự trọng là coi trọng và giữ gìn phẩm giá của mình” ( TV4-tập 1- tr 49)
Trang 25CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ GIẢI NGHĨA TỪ NGỮ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5
2.1 Dựa vào kiểu cấu tạo để hiểu nghĩa của từ
Vì cấu tạo từ liên quan chặt chẽ với ý nghĩa của từ, mỗi một kiểu cấu tạo sẽ tạo ra những kiểu ý nghĩa tương ứng nên khi tìm hiểu ý nghĩa của từ (nhất là đối với từ Tiếng Việt) ta phải dựa vào kiểu cấu tạo
Để kiểm tra khả năng nhận biết các loại từ cử học sinh Tiểu học về cấu tạo, chúng tôi đã đưa ra những phiếu câu hỏi khác nhau để đánh giá mức độ hiểu biết và vận dụng các khái niệm: Từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy
2.1.1 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ đơn
Chúng tôi đưa ra câu hỏi sau: “Thế nào là từ đơn? lấy ví dụ một số từ đơn biểu thị các hiện tượng của tự nhiên” (mưa, bão, sấm, chớp, nắng…)
Có 60 phiếu câu hỏi được chia đều cho 2 lớp là lớp 4A2 và lớp 5A1, chúng tôi thu được số phiếu trả lời như sau:
Kết quả
lớp
Lý thuyết và thực hành Lý thuyết Thực hành Đúng Tỷ lệ (%) Sai Tỷ lệ (%) Sai Tỷ lệ (%)
Trang 265 ví dụ có 4 bài =13,3% 6 ví dụ có 1 bài =3,3 %
Lớp 5: 5 ví dụ có 3 bài= 10% 8 ví dụ có 7 bài =23,3 %
6 ví dụ có 3 bài = 10% 9 ví dụ có 2 bài = 6,6 %
7 ví dụ có 5 bài =16,6% 10 ví dụ có 1 bài = 3,3%
Như vậy ở cả lớp 4 và lớp 5 học sinh đều lấy được khá nhiều ví dụ Lớp
5 thì số lượng ví dụ học sinh lấy được nhiều hơn so với lớp 4, do các em học lớp cao hơn nên vốn từ của các em rộng hơn nên các em kể được nhiều ví dụ hơn Tuy nhiên bên cạnh đó số lượng học sinh làm sai lý thuyết (khái niệm) còn nhiều Cụ thể:
Lớp 4 có 16/35 bài =45,7%
Lớp 5 có 11/35 bài = 31,4%
Nguyên nhân chủ yếu:
-Học sinh chưa nắm chắc và phân biệt được giữa từ và tiếng nên còn nhầm lẫn giữa từ và tiếng là giống nhau Phần lớn số học sinh làm sai khái niệm vì đã mắc lỗi sai này: “Từ đơn là từ chỉ có một từ” Chúng ta biết rằng
“từ và tiếng” không thể giống nhau Tiếng là đơn vị nhỏ hơn từ và tiếng cấu tạo nên từ
-Học sinh nhầm lẫn giữa tiếng và chữ Cũng tương tự như lỗi sai trên, học sinh cũng do nhầm lẫn này mà đã nêu khái niệm sai: “Từ đơn do một chữ tạo nên” hay “từ đơn là những chữ có một tiếng” Tuy sự nhầm lẫn này ít hơn
sự nhầm lẫn giữa “từ và tiếng” kể trên nhưng đây vẫn là một thực trạng đáng quan tâm ở học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 4 vừa mới được học về từ đơn Ở đây học sinh đã không nắm được bản chất chữ cấu tạo nên tiếng Định nghĩa từ đơn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập I (sách cải cách): “Từ do một tiếng có nghĩa, gọi là từ đơn”
Để tránh những nhầm lẫn trên của học sinh thì trong quá trình dạy giáo viên nên lưu ý cho học sinh các trường hợp trên (những trường hợp mà các
em nhầm lẫn dẫn đến những lỗi sai) Ví dụ như trường hợp nhầm lẫn giữa
Trang 27tiếng và từ thì khi đưa ra khái niệm giáo viên cần phân biệt rõ từ và tiếng, trong khái niệm từ đơn thì phải do tiếng tạo nên Sau đó giáo viên đưa ra một
số lỗi sai về khái niệm như trên để học sinh rút kinh nghiệm
Khi học sinh đã nắm được những kiến thức đó, giáo viên cho học sinh nhắc lại nhiều lần và ôn tập củng cố khái niệm để khắc kiến thức
2.1.2 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ghép
Câu hỏi đưa ra: Thế nào là từ ghép? Trong những từ sau đây,từ nào là
từ ghép: học sinh, công nhân, nông dân, râu ria, mặt mũi, máu mủ, cá rô, quần
áo, rầm rập.( học sinh, công nhân, nông dân, râu ria, mặt mũi, máu mủ, cá rô, quần áo)
Kết quả thu được:
KQ
Lớp
Lý thuyết và thực hành Lý thuyết Thực hành Đúng TL
Trang 28Ví dụ: “Từ ghép là ghép các từ vào nhau để cho nó có nghĩa”
“Từ ghép là từ có âm, nghĩa hợp lại với nhau”
“Từ ghép là từ có 2 tiếng không có nghĩa ghép lại với nhau”
Học sinh mắc lỗi nhiều tương tự như các câu hỏi trên khi không phân biệt được từ, tiếng và chữ
Ví dụ: “Từ ghép là từ chỉ có hai chữ”
“Từ ghép là từ có hai từ hoặc nhiều từ ghép lại với nhau”
Để tránh được những nhầm lẫn trên của học sinh thì trong quá trình dạy giáo viên cần phân tích kĩ khái niệm cho học sinh nắm được bản chất Đặc biệt, lưu ý cho học sinh phân biệt giữa từ, tiếng và chữ để học sinh không bị nhầm lẫn giữa các đơn vị này Đồng thời trong các giờ làm bài tập thì cho học sinh nhắc lại và phân biệt các khái niệm đã được học
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh những từ ghép trên thuộc loại từ ghép nào, chính phụ hay đẳng lập để hiểu nghĩa từ chính xác hơn
Trang 29Khi giải nghĩa các từ ghép học sinh không sử dụng nhiều kiểu giải nghĩa theo kiểu miêu tả mà các em giải nghĩa bằng định nghĩa
Từ ghép hợp nghĩa có ý nghĩa tổng hợp
Ví dụ: “Bánh trái” là danh từ chỉ chung các loại bánh
“Bạn bè” là bạn nói chung
“Nhà cửa” là nhà nói chung để ở
Giải nghĩa theo kiểu miêu tả:
“Làng xóm” là một tập thể sông đông đúc ở quê, các nhà cạnh nhau
“Phố phường” là nơi nhộn nhịp, nhiều nhà ở thành phố
Những lỗi sai của học sinh là do các em không hiểu ý nghĩa của từ cho nên giải nghĩa không đúng
Ví dụ: Học sinh giải nghĩa từ “bánh trái” là bánh và hoa quả hay “bánh trái” là bánh làm từ các loại quả
“Bạn bè” là bạn chơi với nhau thành bè hay học sinh khác giải nghĩa
“Bạn bè” là người thân yêu bạn bè của mình hay bạn bè thân mật
Giaó viên cần quan tâm đến việc giải nghĩa của các em để sửa cho các
em cả những lỗi nhỏ ngay cả cách diễn đạt để học sinh tránh mắc phải những lỗi sai kể trên
2.1.3 Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ láy:
Mỗi từ láy, do cách cấu tạo đặc thù của mình mà biểu thị ý nghĩa ở một phạm vi nhất định Vì vậy trước khi giải nghĩa được từ láy, học sinh cần phải nhận biết được từ láy
Trang 30Chúng tôi đưa ra bài kiểm tra có nội dung: “Thế nào là từ láy? Em hãy
Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng tôi thấy rằng:
Số bài làm đúng lại tiếp tục giảm và tỉ lệ làm sai lý thuyết (khái niệm) lại từ 60% trở lên ở cả hai lớp Đây là thực trạng đáng quan tâm vể khả năng nhận biết từ của học sinh về mặt cấu tạo Cụ thể:
Số bài làm đúng cả lý thuyết và thực hành ở lớp 4 có 5/30 phiếu =16,6% Lớp 5 có 10/30 bài = 33,3 %
Số bài làm sai cả lý thuyết và thực hành ở lớp 4 có 5/30 phiếu =16,6%,