trẻ, khỏe, có tri thức, dễ tiếp thu các tri thức khoa học của nhân loại, có hoài bão, cóước mơ, dám đương đầu với khó khăn thử thách mang tính quyết định đối với nềnkinh tế, xã hội của m
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ,giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Luận văn cũng đượchoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứuliên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổchức nghiên cứu, tổ chức chính trị…Đặc biệt là sự hợp tác của cán bộ giáo viên cáctrường … đồng thời là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía giađình, bạn bè và các đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Khánh Minh –
người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫntôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, cùng toàn thể quý thầy cô giáo đãtận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vànghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Luận văn này không tránh khỏi nhữngthiếu sót, hạn chế Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quantâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp,giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020
TÁC GIẢ
NGUYỄN THÀNH Ý
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi,không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã có Số liệu và kết quả nghiêncứu trong luận văn này là trung thực Tôi cũng xin cam đoan rằng các kết quả tríchdẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc hoặc chỉ rõ trong tài liệu thamkhảo
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020
TÁC GIẢ
NGUYỄN THÀNH Ý
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BGH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: Cơ sở vật chất : Công tác Đoàn : Chi Đoàn Thanh niên : Giáo dục
: Giáo dục và đào tạo : Giáo dục pháp luật : Giáo dục nghề nghiệp : Giáo dục công dân : Học sinh
: Khoa học công nghệ : Pháp luật
: Phương pháp dạy học : Trung cấp nghề
: Trung học phổ thông : Ủy ban nhân dân : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ 9
1.1 Khái niệm, mục đích, vai trò giáo dục pháp luật 9
1.1.1 Khái niệm giáo dục 9
1.1.2 Khái niệm pháp luật 10
1.1.3 Khái niệm giáo dục pháp luật 12
1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật 15
1.3 Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật cho học sinh trung cấp nghề 17
1.3.1 Chủ thể của giáo dục pháp luật 17
1.3.2 Đối tượng của giáo dục pháp luật 18
1.4 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật cho học sinh trung cấp nghề 19
1.4.1 Nội dung của giáo dục pháp luật 19
1.4.2 Hình thức của giáo dục pháp luật 20
1.5 Vai trò của giáo dục pháp luật đối với học sinh tại các Trường trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 20
1.6 Một số yếu tố tác động ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho HS TCN 23
1.6.1 Về mặt nhận thức của HS TCN 23
1.6.2 Về mặt nhận thức vai trò GDPL của đội ngũ giáo viên 23
1.6.3 Về nhận thức gia đình 24
1.6.4 Về kinh tế - xã hội 24
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26
2.1 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh 26
Trang 72.2 Thực trạng GDPL cho học sinh các Trường trung cấp nghề tại TPHCM 33
2.2.1 Tổ chức khảo sát 33
2.2.2 Giáo dục pháp luật cho HS TCN tại TPHCM 36
2.3 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung cấp nghề tại TPHCM 50
2.3.1 Ưu điểm 50
2.3.2 Hạn chế 51
2.3.3 Nguyên nhân 54
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ TỬ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 58
3.1 Quan điểm về giáo dục pháp luật cho HS TCN tại Thành phố Hổ Chí Minh .58
3.2 Giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho HS TCN từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 58
3.2.1 Tiếp tục đổi mới nội dung, tăng cường thời lượng chương trình GDPL cho HS trong các trường TCN 59
3.2.2 Cần có sự quan tâm của các cấp trong việc tuyên truyền phổ biến, GDPL cho các đối tượng trình độ sơ cấp nghề, đào tạo thường xuyên dưới 03 tháng 60
3.2.3 Tăng cường bồi dưỡng năng lực, phẩm chất của CB-NV-GV GDPL 60
3.2.4 Phát huy tính tự giác học tập của học sinh trong quá trình GDPL 60
3.2.5 Cơ sở vật chất bảo đảm cho công tác GDPL 60
3.2.6 Có chế độ, chính sách bồi dưỡng đội ngũ làm công tác GDPL 61
3.3 Tăng cường các hoạt động đoàn thể hỗ trợ công tác giáo dục cho người học 61
3.3.1 Tăng cường hoạt động của Công đoàn Trường 61
3.3.2 Tăng cường hoạt động của Chi đoàn thanh niên Trường 62
3.3.3 Tăng cường hoạt động của Hội Cựu chiến binh Trường 63
3.3.4 Tăng cường hoạt động của Hội Chữ thập đỏ 64
3.4 Nêu cao tính gương mẫu trong cán bộ - nhân viên và nhà giáo tác động tích cực đối với người học 64
Kết luận chương 3 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Nhận thức của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của GD PL cho
HS TCN 36
Bảng 2.2: Nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ giáo viên tham gia thực hiện GDPL cho học sinh TCN tại Thành phố Hồ Chí Minh 37
Bảng 2.3: Mục tiêu GDPL cho HS TCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 39
Bảng 2.4: Nội dung GDPL cho HS TCN tại Thành phố Hồ Chí Minh 40
Bảng 2.5: Hình thức GDPL cho HS TCN tại Thành phố Hồ Chí Minh 46
Bảng 2.6: Phương pháp GDPL cho HS TCN tại Thành phố Hồ Chí Minh 48
Bảng 2.7: Các điều kiện bảo đảm GDPL cho HS TCN tại Thành phố Hồ Chí Minh 49
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từnăm 1986 cho đến nay, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đã đưađất nước vượt qua được thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị, giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề kinh tế - xã hội Chúng ta
đã nhận thức rõ hơn về những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam Những đặc trưng đó là quan điểm của Đảng và cũng từ thực tiễn xâydựng và hoạt động của Nhà nước và thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013 Đó là
“Nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhànước đều thuộc về nhân dân” Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp Đề cao vai trò thượng tôn pháp luật trong quản lý xã hội,trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Nhà nước bảo đảm quyền của công dân,quyền và lợi ích chính đáng của con người Nhà nước, công dân, con người đề caotrách nhiệm pháp lý Nhà nước pháp quyền Việt Nam tôn trọng các văn bản luậtpháp quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia Nhà nước pháp quyền Việt Nam doĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước không ngừng thể chế hóa, cụ thể hóaCương lĩnh, đường lối của Đảng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Vì vậy,công tác GDPL rất được chú trọng và được đưa vào trong hệ thống các cơ quan, tổchức, các trường học, các đoàn thể nhân dân
Đời sống xã hội hiện nay là không thể tách rời Pháp luật, vì nếu đời sống xãhội tách rời pháp luật thì vấn đề an ninh trật tự an toàn xã hội sẽ trở nên hỗn loạngây ra hậu quả tác động đến nền kinh tế, chính trị của một gia rất là lớn Chính vì lẽ
đó, công tác giáo dục pháp luật cho đối tượng lứa tuổi thanh thiếu niên mà cụ thểcho học sinh tại các trường trung cấp nghề là hết sức cần thiết và quan trọng, vì làđối tượng có vai trò đặc biệt trong quá trình lao động, là lực lượng lao động chính
để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Học sinh tại các trường TCN là lớp lao động
Trang 10trẻ, khỏe, có tri thức, dễ tiếp thu các tri thức khoa học của nhân loại, có hoài bão, cóước mơ, dám đương đầu với khó khăn thử thách mang tính quyết định đối với nềnkinh tế, xã hội của một quốc gia…tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì một số
bộ phận học sinh tại các trường nghề hiện nay vẫn tồn tại một số mặt tiêu cực nhưthiếu bản lĩnh, dễ dàng bị lôi kéo, kích động, đua đòi, ham chơi, lêu lỏng, tụ tập phálàng, phá xóm, … Mặt khác, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường dẫn đếnmột số bộ phận học sinh do không am tường pháp luật, không hiểu từng khía cạnhcủa vấn đề, do đó dễ buông lỏng, thay đổi theo cái gọi là “xu thế thời đại” như “mặc
cả, thuận mua vừa bán”, cạnh tranh không lành mạnh, “cá lớn nuốt cá bé”, thể hiệnminh chứng cho bản lỉnh của mình theo chủ nghĩa “Anh hùng cá nhân”…
Từ thực tiễn hiện nay, mặc dù công tác giáo dục pháp luật vẫn được nhà nướcquan tâm nhưng chúng ta vẫn thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng, cónhững trường hợp học sinh hiện giờ thiếu về sự am tường pháp luật dễ dẫn đến cáchành vi tiêu cực trong xã hội như trộm, cướp, mua bán sử dụng trái phép các chất
ma túy, vi phạm luật giao thông đường bộ, lệch lạc giới tính…, trong học đường thìdiễn ra tình trạng bạo lực học đường, bạn đánh bạn, trò đánh trò, trò lên tiếng nhục
mạ, bêu xấu, thậm chí hành hung cả thầy cô giáo, làm mất đi truyền thống “Tôn sưtrọng đạo” của dân tộc Việt Nam ta từ ngàn đời; hoặc làm suy thoái đạo đức xã hội:con cái bất hiếu, bất kính với ông bà cha mẹ, có trường hợp con cái vì cha mẹ hayông bà, những người nuôi dưỡng mình không cung cấp chi phí tiền bạc đầy đủ, kịpthời mà dẫn đến hành vi giết người một cách lạnh lùng, tàn bạo, nhẫn tâm, do ảnhhưởng tác động của phim ảnh, games online ; có lối sống bất cần đời, không biếtnghĩ đến bản thân, gia đình, họ hàng và những người xung quanh, sống không cómục đích, lý tưởng, hoài bão…Từ đó, việc giáo dục cho thế hệ học sinh hiện nay tạicác trường học mà cụ thể tại các trường TCN hết sức quan trọng Bởi vì, mục tiêucủa các trường TCN là đào tạo ra sản phẩm là những người thợ lành nghề thực chất,nắm vững kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề thuần phục, có kỹ mềm, cóđạo đức và lương tâm nghề nghiệp; đồng thời, khi các em ra đời làm việc thì sẽ phátsinh nhiều mối quan hệ xã hội, do đó, nếu như các em có
Trang 11kiến thức cơ bản về pháp luật thì các em sẽ tránh được các hành vi tiêu cực đã nêutrên.
Chính vì lẽ đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng và cấp thiết đối với xã hộihiện nay đó là công tác giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường học nói chung
và trường trung cấp nghề nói riêng, vì trường học cũng là một bộ phận nhỏ của xãhội Đây là vấn đề cần phát triển thêm, cần đẩy mạnh thêm cho công tác giáo dụcpháp luật Nếu như tất cả các nhà trường đều quan tâm và xem công tác giáo dụcpháp luật cho thanh thiếu niên là hết sức cần thiết, sẽ góp phần giúp cho tình hình xãhội ổn định, đất nước phồn vinh và phát triển
Trong những năm qua, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với sự nỗ lực và
cố gắng của các cấp, các ngành, công tác phổ biến, GDPL đã có những chuyển biếntích cực, đã góp phần xây dựng ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luậtcủa cán bộ và nhân dân Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trênnhiều mặt, từ việc xác định mục tiêu GDPL, xây dựng đội ngũ nhà giáo giảng dạypháp luật, lựa chọn nội dung, phương pháp cho đến hình thức GDPL cho học sinh;
Có thể thấy công tác GDPL cho học sinh trong các trường trung cấp nghề trên địabàn Thành phố Hồ Chí Minh tuy đã được chú trọng, nhưng chưa được tiến hànhthường xuyên; còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu sự gắn kết nhịp nhàng, phốihợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các cấp, các ngành có liênquan; tình trạng học sinh vi phạm pháp luật nói chung vẫn còn xảy ra, nhiều họcsinh chưa vận dụng được các quy định của nhà nước trong việc bảo vệ quyền vàthực hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy, để có thể đáp ứng được xu thế của thời đại, xuthế hội nhập quốc tế, công tác GDPL càng phải được xem trọng, đặc biệt là công tácgiáo dục cho các học sinh ở các trường TCN cần phải có định hướng, được đầu tưlâu dài, các điều kiện đảm bảo để công tác GDPL cho các đối tượng này có hiệuquả
Như vậy hoạt động GDPL học sinh các trường trung cấp nghề đang là mộtyêu cầu khách quan, có tầm quan trọng trong điều kiện góp phần thúc đẩy sự nghiệpphát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Trang 12hiện nay của địa phương Đó cũng là lý do tác giả chọn nghiên cứu vấn đề: “Giáo
dục pháp luật đối với học sinh Trung cấp nghề, từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật hành chính.
- Trần Ngọc Minh (2016), GDPL cho sinh viên từ thực tiễn các trường cao đẳng tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội [41]
Đề tài của tác giả Trần Ngọc Minh đã trình bày rõ nét về: khái niệm, đặcđiểm, vai trò GDPL cho sinh viên Đồng thời tác giả cũng nêu các thành tố củaGDPL cho sinh viên Bên cạnh đó, đề tài còn nêu cụ thể những yếu tố tác động đếnhiệu quả GDPL cho sinh viên Tuy đối tượng khác nhau về độ tuổi, tâm sinh lý;nhưng những lý luận trên vẫn có giá trị đối với đề tài của tác giả đang nghiên cứu
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật chương IX- Ý thức pháp luật, các tác giả chỉ rõ mục đích của GDPL được xem xét
trên nhiều góc độ, tùy thuộc vào đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng như hìnhthức giáo dục có thể mang tính trước mắt hoặc lâu dài vào đều hướng đến các vấn
đề cơ bản: Thứ nhất, GDPL nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật Hai là, GDPL nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật Ba là, GDPL nhằm hình thành thói
quen ứng xử theo pháp luật với động cơ tích cực [55]
- Một số công trình nghiên cứu của các tác giả: "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997 [22]; "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật
Trang 13có hiệu quả trong một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên
cứu Khoa học pháp lý
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học của các tập thể và cá nhân,các bài viết về GDPL, có thể khẳng định rằng đây là những tài liệu có giá trị cao vềmặt lý luận và thực tiễn trên phạm vi rộng của cả nước, của từng vùng và của từngđịa phương Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, bấtcập và nguyên nhân dẫn đến thực trạng, các nhân tố ảnh hưởng, tác động đếnGDPL, tình trạng suy thoái và xuống cấp đạo đức của học sinh, sinh viên đáng báođộng, rất nhiều học sinh, sinh viên sống mờ nhạt về lý tưởng sống, thiếu tráchnhiệm trước các vấn đề xã hội của đất nước, một bộ phận đề cao lối sống thực dụng,ích kỷ chỉ biết đến bản thân mình
Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu
về Giáo dục pháp luật đối với học sinh Trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố HồChí Minh Từ sự tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định nhữngvấn đề đặt ra cần được tiếp tục triển khai, đi sâu nghiên cứu trong quá trình thựchiện luận văn Trong giai đoạn hiện nay cần tiếp tục chú trọng đúng mức, cấp thiếtcủa việc GDPL và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để góp phần vào việc ổnđịnh tình hình và phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực có chất lượngcủa thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Dựa vào các cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường TCN
-Dựa vào thực tiễn của xã hội từ khi các em không hiểu biết pháp luật cho đếnkhi các em dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật
- Để góp phần nhỏ đối với công tác giáo dục cho học sinh tại các trường TCN trong
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật của tất cả mọi công dân, quản lý xã hội bằng luật pháp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 14Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần có những nhiệm vụ chủ yếusau:
- Xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật cho đối tượng làhọc sinh các trường trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên
cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn bản pháp luật khác
- Điều tra và phân tích thực trạng tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra hạn chếtrong việc giáo dục pháp luật cho người học thời lượng quá ít, các điều kiện đảmbảo để thực hiện giáo dục cho học sinh TCN, cần phải tăng cường hoặc bổ trợ thêmbằng những hoạt động khác
- Đưa ra một số quan điểm và giải pháp trong công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung cấp nghề từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác GDPL cho học sinh tại các trường Trung cấp nghề tại Thành phố HồChí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận được thực hiện dựa trên phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương củaĐảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu:
+Những vấn đề lý luận trực tiếp liên quan đến GDPL trong các trường Trung cấp
Trang 15Nghiên cứu đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu sự ra đời và hình thànhgiáo dục, pháp luật và mối tương quan của giáo dục và pháp luật cũng như sự tácđộng của nó trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ thanh thiếu niên hiện nay Trong quátrình nghiên cứu đề tài, tác giả coi trọng việc sử dụng kết hợp nhiều phương phápkhác nhau như: phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp phântích, phương pháp tổng hợp, phương pháp liệt kê, tra cứu tài liệu để làm sáng tỏnhững nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích sẽ được tác giả chú trọng sử dụng trong toàn bộluận văn, phương pháp sẽ được sử dụng nhiều nhất để nghiên cứu thực tế tác độngcủa công tác giáo dục pháp luật đối với học sinh TCN
- Đồng thời tác giả kết hợp giữa phương pháp phân tích với phương pháp sosánh trong một số trường hợp cụ thể, trong đó có việc so sánh quy định của phápluật với thực tế áp dụng, so sánh chương trình đào tạo giảng dạy môn Pháp luật giữatrường TCN với trường THPT hoặc đại học
- Bên cạnh đó, tác giả sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp sẽ nhiều ở phần kếtluận của các chương và kết luận của luận văn nhằm tóm lược các nội dung đã đượctrình bày ở phần trên và toàn bộ luận văn tạo nên tính hệ thống khoa học của vấn đề
đã được tác giả trình bày
- Phương pháp liệt kê được thực hiện trong quá trình thu thập các tài liệu, luận văn và các trường hợp trên thực tế
Thông qua đó, tác giả muốn đưa ra một minh họa cụ thể toàn cảnh về công tácgiáo dục pháp luật cho học sinh Trung cấp nghề nói chung và thực tiễn tại thành phố
Hồ Chí Minh áp dụng trong thực tế, cũng như một số biện pháp nhằm đổi mới, bổsung và nâng cao chất lượng của công tác này, đáp ứng với xu hướng hội nhập thờiđại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời đại công nghệ 4.0 và phát triển đất nước.Phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một số vấn đề lý luận về GDPLcho đối tượng là học sinh tại các trường trung cấp nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16hiện nay Bên cạnh việc đưa ra thực trạng của công tác GDPL cho học sinh tại cáctrường nghề, luận văn cũng cung cấp một số nội dung, những hạn chế, nguyên nhânliên quan đến công tác GDPL và đề xuất một số quan điểm, giải pháp góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh Trung cấp nghề tại Thành phố
Hồ Chí Minh
- Là tài liệu tham khảo phục vụ cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy ở các trường nghề, các cơ sở GDNN trên địa bàn thành phố và những nơi khác
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, thì bố cục của luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục giáo dục pháp luật cho học sinh
trung cấp nghề
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Biện pháp tăng cường công tác giáo dục pháp luật đối với học sinh
trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ1.1 Khái niệm, mục đích, vai trò của giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Giáo dục là mộtquá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham giavào đời sông xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnhhộiinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người Giáo dục được hiểu dưới hai góc độ:
(1) Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất;
(2) Giáo dục được như là một hoạt động xã hội, dạng tái sản xuất ra lựclượng lao động mới Ở đây, đối tượng là thế hệ trẽ, là tập hợp các đối tượng đơnnhất Giáo dục là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động;
Khi nói đến giáo dục theo nghĩa rộng, là ta thường liên tưởng ngay đến cụm
từ "giáo dục theo nghĩa hẹp và đào tạo"
Giáo dục theo nghĩa hẹp, là một quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch của một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - nhằm tácđộng vào hệ thống nhận thức của người đó, để làm phát triển trí thông minh, pháttriển khả năng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan, và làm phát triển nhậnthức của người đó lên; qua đó tạo ra một con người mới, có những phẩm chất phùhợp với yêu cầu được đặt ra
Giáo dục theo nghĩa hẹp là nuôi dưỡng, làm cho phát triển hoặc triệt tiêu,giảm cái có sẵn Ví dụ như trí thông minh căn bản là cái có sẵn, tính thiện là cái cósẵn, Giáo dục làm tăng trưởng trí thông minh căn bản, và tính thiện lên
Ðào tạo là một quá trình truyền thụ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệmmột cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của một người (hay một nhóm người)
- gọi là giáo viên - vào người đó, nhằm tạo ra một số sự nhận thức, một số kỹ năng
Trang 18hoạt động phù hợp với yêu cầu của công việc, và phát triển chúng nó lên bằng cáchrèn luyện Công việc này có thể là hoạt động trí não, hay hoạt động chân tay.
Đào tạo là tạo ra cái mới hoàn toàn, chứ không phải là cái có sẵn Ví dụ chữviết, những kiến thức về toán học, các kỹ năng về tay nghề, các thế võ, Ban đầuchúng hoàn toàn chưa có nơi một con người Chỉ sau khi được huấn luyện, đào tạothì chúng mới có ở nơi ta Ví dụ: học sinh được dạy học môn toán, để có kỹ năngtính toán Một nhà khoa học được đào tạo, để có các kỹ năng nghiên cứu khoa học.Một vị Tu sĩ được dạy cách ngồi thiền, để có thể ngồi thiền tu tập sau này Mộtngười công nhân, được đào tạo tay nghề, để có thể làm việc sau này
Tuy rằng, không phải là đào tạo, nhưng muốn giáo dục thành công thì cầnphải thông qua công tác đào tạo Vì vậy chúng có mối liên hệ rất mật thiết với nhau.Cho nên khái niệm giáo dục ở đây được hiểu bao gồm cả giáo dục và đào tạo [52]
Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhâncách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời và pháttriển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dụcphục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bướcnào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sựphát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầungày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội manglại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm pháttriển của xã hội
1.1.2 Khái niệm Pháp luật
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhànước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấpthống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi íchcủa giai cấp mình
Như vậy, khái niệm pháp luật được thể hiện bằng 4 ý cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung;
Trang 19Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến Tức là nói đến tínhkhuôn mẫu, mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến chung Trong xã hội khôngchỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm Đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các điều
lệ của các tổ chức chính trị – xã hội và đoàn thể quần chúng đều có tính quy phạm.Cũng như pháp luật, tất cả các quy phạm trên đều là khuôn mẫu, quy tắc xử sự củacon người Nhưng khác với đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quyphạm của pháp luật mang tính phổ biến Đây chính là dấu hiệu để phân biệt phápluật và các loại quy phạm nói trên Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thểhiện ở chỗ:
- Là khuôn mẫu chung cho nhiều người
- Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn
- Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện thống nhất Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:
+ Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quancủa mỗi người Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũngphải tuân theo các quy tắc pháp luật
+ Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ viphạm mà Nhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiệnđúng các quy tắc đó
+ Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện
Thứ hai, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận;
Ngoài việc ban hành Nhà nước còn có thể thừa nhận những tập quán trong xãhội bằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn
Thứ ba, đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước;
Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đócác biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thờihạn, tù chung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được
Trang 20các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đờisống xã hội.
Thứ tư, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích giai cấp mình
Cũng giống như bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trướchết ở tính giai cấp Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấpthống trị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vậtchất của giai cấp thống trị Ý chí của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong cácvăn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
1.1.3 Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao trithức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị )hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôntrọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
Giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản của Nhànước với sự tham gia của các thiết chế xã hội, tuy rằng cách quan niệm và hình thứcthực hiện có sự khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc Trongkhoa học pháp lý nói riêng, giáo dục pháp luật là một trong những phạm trù cơ bản,ngày càng được quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện, đặc biệt là từ phươngdiện xây dựng văn hóa pháp luật Trên phương diện lý luận và thực tiễn, từ trướcđến nay, đã có khá nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về giáo dục pháp luậtnói chung và giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng
Giáo dục pháp luật chính là sự truyền tải thông tin pháp luật có định hướngmục đích: nâng cao ý thức pháp luật, hình thành lối sống tuân thủ pháp luật trongNhân dân.1 [54]
Giáo dục pháp luật là phạm trù có nội hàm rộng lớn, bao gồm cả tuyêntruyền, phổ biến pháp luật Tính bao quát của giáo dục pháp luật thể hiện ở chỗ,giáo dục pháp luật vừa có tính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống để bảo đảm
1: Đào Trí Úc (chủ biên): Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc
Trang 21đối tượng giáo dục được nâng cao về kiến thức, tình cảm, thái độ tôn trọng phápluật, niềm tin và kỹ năng thực hành pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật Kháiniệm “phổ biến, giáo dục pháp luật” chính thức được sử dụng trong Luật Phổ biến,giáo dục pháp luật đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 20-6-2012.
Giáo dục pháp luật là phạm trù có nội hàm rộng lớn, bao gồm cả tuyêntruyền, phổ biến pháp luật Tính bao quát của giáo dục pháp luật thể hiện ở chỗ,giáo dục pháp luật vừa có tính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống bao gồmcác hoạt động cung cấp tri thức, thông tin, kỹ năng pháp luật, xây dựng cho các đốitượng xã hội ý thức, tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật và niềm tin pháp luật
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọngtrong đời sống xã hội Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác này càng có vai tròquan trọng về nhiều mặt Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Pháthuy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xãhội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hànhpháp luật”.[5]
Cùng với sự phát triển về văn hóa – xã hội và kinh tế công tác giáo dục phápluật ngày càng được quan tâm và được coi là nhiệm vụ quan trọng góp phần nângcao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.Tháng 6năm 2012, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật ra đời đã quy định và khẳng định hơnnữa quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luậtcủa công dân; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; trách nhiệm của cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổbiến, giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật góp phần đem lại cho con người có tri thức pháp luật, xâydựng tình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết dùng pháp luật làmphương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện cho quá trình
Trang 22quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Giáo dục pháp luật trong trường học có vai trò tolớn đối với sự phát triển toàn diện con người Việt Nam Bác Hồ đã dạy: “ Có tài màkhông có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”.Xét trên mọi phương diện giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật góp phầnquan trọng tạo nên nhân cách mỗi con người.
Chính vì lẽ đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Giáo dụcnghề nghiệp luôn coi môn học Pháp luật là một trong những nội dung quan trọngcủa đào tạo nghề, nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện người lao động và môn họcPháp luật là môn học bắt buộc trong chương trình dạy nghề dài hạn
Tóm lại: Giáo dục Pháp luật trong khoa học pháp lý được xem là hoạt động
có tính định hướng của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó người giáodục và người được giáo dục luôn có tác động qua lại lẫn nhau, thiết lập hành vi sử
sự phù hợp với quy phạm pháp luật Hoạt động giáo dục pháp luật nhằm hình thành
ở con người thói quen sử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật Về mặt tri thứcgiáo dục pháp luật giúp người học hình thành tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắnvới Pháp luật, giúp con người tổ chức một cách có ý thức hành động của mình và tựđánh giá, kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật Về mặt cảm xúcgiáo dục pháp luật chính là giáo dục tình cảm, tính công bằng, ý thức biết tuân thủpháp luật, biết ủng hộ, tích cực tham gia bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bàitrừ thái độ coi thường không tuân thủ pháp luật
Giáo dục pháp luật vừa mang những đặc điểm chung của giáo dục, sử dụngcác hình thức tổ chức, phương pháp sư phạm của giáo dục nói chung, vừa thể hiệnnhững nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hìnhgiáo dục khác như giáo dục chính trị, đạo đức Tính đặc thù của giáo dục pháp luậtthể hiện ở cả mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp với mục đích tạoniềm tin cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnhchấp hành pháp luật
Trang 231.2 M c đích c a giáo d c pháp lu t ụ ủ ụ ậ
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiếnpháp và pháp luật” GDPL được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chínhsách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân Vì vậy, vấn đề xácđịnh được mục đích của GDPL có ý nghĩa quan trọng, nhằm xây dựng ý thức phápluật trong nhân dân Dựa trên các nghiên cứu khoa học cũng như trong thực tiễn,GDPL có những mục đích cơ bản như sau:
- Thứ nhất, Mục đích nhận thức: Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng
[53] Không phải lúc nào mọi người trong xã hội cũng chủ động tìm hiểu, quan tâm,đồng tình ủng hộ và nghiêm túc thực hiện pháp luật của Nhà nước Mặc dù, phápluật được coi là phương tiện để công dân thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình khỏi sự xâm hại của người khác, kể cả từ một số cá nhân có thẩmquyền trong bộ máy Nhà nước Trong xã hội, pháp luật cũng được một số người dântìm hiểu, quan tâm và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân như họctập, nghiên cứu, kiện tụng hay nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ Cũng có nhữngngười luôn theo sát và tìm hiểu những quy định pháp luật mới được ban hành nhưngkhông nhiều và sự hiểu biết rõ về quy định pháp luật chưa sâu Trong khi đó, do nhucầu phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, sự điều chỉnh của các văn bản pháp luậtphải được thực hiện và liên tục Do đó, số đông quần chúng nhân dân chưa có điềukiện tiếp cận pháp luật cũng như có tiếp cận cũng chưa hiểu biết hết về pháp luật.Nếu pháp luật không được nhân dân biết đến và hiểu đúng thì pháp luật vẫn không
đi vào cuộc sống và phát huy đúng vai trò của pháp luật trong Nhà nước pháp chếXHCN
Chính vì vậy, mục đích của GDPL là nâng cao hiểu biết pháp luật cho đốitượng là một trong những mục đích quan trọng GDPL là phương tiện truyền tảinhững thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với ngườidân, giúp cho họ hiểu biết, nắm bắt kịp thời pháp luật; là phương tiện hỗ trợ tíchcực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân
Trang 24- Thứ hai, Mục đích cảm xúc: Hình thành lòng tin vào pháp luật của đối tượng
[53]: Để nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật không thể chỉ dùng biện phápcưỡng chế mà phải tạo được lòng tin, sự tin tưởng của mọi người dân vào nhữngquy định của pháp luật Đây là mục đích rất quan trọng, vì nếu không có sự tôntrọng, lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thì người dânrất dễ bị thế lực xấu kích động đứng lên chống phá nhà nước hoặc có những hànhđộng vi phạm pháp luật
Tạo dựng lòng tin vào pháp luật cho mỗi người dân trong xã hội đòi hỏi sự kếthợp của nhiều yếu tố Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng là GDPL đểmọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện áp dụng pháp luật
Từ đó, mọi người sẽ hiểu biết đúng về quyền và lợi ích của bản thân trong xã hội và
sẽ đồng tình ủng hộ pháp luật
- Thứ ba, Mục đích hành vi: Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của
đối tượng, tự giác là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc [53] Xâydựng ý thức tự giác chấp hành luật pháp của người dân đang là vấn đề được Nhànước và xã hội rất quan tâm, bởi việc chấp hành pháp luật là điều kiện tiên quyết để
xã hội vận hành có trật tự, kỷ cương và là điều kiện quyết định góp phần phát triểnbền vững đất nước Trong xã hội hiện đại, ý thức chấp hành pháp luật là một trongcác biểu hiện của lối sống có văn hóa Ý thức pháp luật của người dân được hìnhthành từ hai yếu tố là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật
Tri thức pháp luật là nhận thức, sự hiểu biết về pháp luật thông qua việc họctập, nghiên cứu pháp luật, tích lũy kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác.Tình cảm, thái độ ứng xử đối với pháp luật chính là trạng thái tâm lý, cách ứng
xử đối với hệ thống pháp luật và với những văn bản, quy định pháp luật cụ thể
Sự khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội gắn liền với quátrình không ngừng nâng cao ý thức và tính tích cực tham gia của mọi tầng lớp nhândân trong việc bảo vệ pháp luật Tăng cường pháp chế XHCN (mà một trong nhữngyếu tố cấu thành là sự phát triển của nhận thức pháp luật và văn hoá pháp lý củanhân dân), mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ sẽ không có ý nghĩa khi không thực
Trang 25hiện được một cách toàn diện, hiệu quả công tác GDPL cho cán bộ và nhân dân.Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau,trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cá nhân, tổ chức thuộcmọi tầng lớp trong xã hội.
Đặc trưng rõ nét của ý thức pháp luật là sự thể hiện thái độ của các thành viêntrong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật; là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằngcủa pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ có tác dụngđiều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối với xã hội được ghinhận, chấp nhận, khi mà nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trởthành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người.Bởi thế, có thể coi ý thức pháp luật như là tiền đề tư tưởng cho sự củng cố và pháttriển nền pháp chế
- Thứ tư, GDPL góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước,
quản lý xã hội: Vai trò quan trọng trong công tác GDPL bắt nguồn từ chính vai trò
và giá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội GDPL giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúngđắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăngcường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người
Trong điều kiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì mộttrong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tích cựcvào các hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật Tăng cường dân chủ cũng cónghĩa là mở rộng sự tham gia của người dân vào các hoạt động lập pháp, hành pháp
và tư pháp, thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước Chính điều này
đã nâng cao trách nhiệm của mỗi người trong xã hội
1.3 Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật cho học sinh trung cấp nghề
1.3.1 Chủ thể của giáo dục pháp luật
Theo lý luận giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy cô giáo và tất cả nhữngngười làm công tác giáo dục khác Vận dụng vào giáo dục pháp luật, có thể hiểuchủ thể của giáo dục pháp luật là tất cả những người có chức năng, nhiệm vụ hay
Trang 26trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích giáo dục phápluật cho các đối tượng của GDPL Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xácđịnh và thừa nhận có hai loại chủ thể giáo dục pháp luật: chủ thể chuyên nghiệp vàchủ thể không chuyên nghiệp với vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu và trình độ, kỹ năngGDPL khác nhau.
Chủ thể chuyên nghiệp GDPL là những người có chức năng, nhiệm vụ chủyếu, trực tiếp của họ là thực hiện mục đích, nội dung GDPL (giáo viên luật, các báocáo viên, tuyên truyền về pháp luật…)
Chủ thể không chuyên nghiệp GDPL là những người mà chức năng, nhiệm vụchính không phải là GDPL, nhưng một trong các nhiệm vụ của họ là thông qua hoạtđộng chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện mục đích GDPL (cán bộ, công chứcthuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp, Đoàn thể…)
Các loại chủ thể đều có các hình thức, phương thức và phương pháp tiến hànhhoạt động GDPL khác nhau
1.3.2 Đối tượng của giáo dục pháp luật
Khách thể được quan niệm là “đối tượng chịu sự chi phối của hành động,trong quan hệ đối lập với đối tượng gây ra hành động gọi là chủ thể” Từ khái niệmchung đó có thể đồng nhất khách thể với đối tượng chịu sự tác động “Khách thểcủa (đối tượng) của giáo dục pháp luật là những cá nhân, nhóm cộng đồng xã hộicùng với ý thức và hành vi pháp luật của họ”
Tại Mục 3, Chương II- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 có chỉ racác đối tượng của phổ biến GDPL, gồm2: “Người học cấp mầm non, tiểu học, trunghọc cơ sở, trung học phổ thông; cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học,các cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân” GDPL là giáo dục cho tất
cả người học trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Quá trình GDPLthực chất là quan hệ xã hội giữa một bên là người giáo dục (chủ thể) và một bên làngười được giáo dục (khách thể hay đối tượng) Mối quan hệ này có tác động qualại lẫn nhau giữa các bên tham gia trong mối quan hệ Song chiều tác động chủ yếu
Trang 27vẫn là sự tác động, chi phối của người giáo dục (chủ thể) Sự tác động giáo dục lànhững hoạt động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt tới mục tiêu, mụcđích nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc, mục đích hành vi,thói quen xử sự theo pháp luật) Nói cách khác, chủ thể GDPL tác động lên kháchthể (đối tượng) GDPL với những mong muốn cụ thể là xây dựng được ý thức vànhững hành vi hợp pháp cho khác thể (đối tượng) GDPL.
1.4 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật cho học sinh trung cấp nghề
1.4.1 Nội dung của giáo dục pháp luật
Muốn hiện thực hóa mục đích, mục tiêu GDPL thì phải có những nội dunggiáo dục cụ thể Đó là toàn bộ những gì mà chủ thể GDPL cần truyền đạt, chuyển tảicho đối tượng GDPL, giúp họ có những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật;trên cơ sở đó, hình thành, phát triển ý thức pháp luật, niềm tin đối với pháp luật vàlối sống pháp luật
Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày 20/6/2012,nội dung của phổ biến GDPL bao gồm: 3 “1 Quy định của Hiến pháp và văn bảnquy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự,hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môitrường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ,công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành 2 Các điều ướcquốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thoả thuậnquốc tế 3 Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi íchcủa việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật”.[48]
Phạm vi của nội dung GDPL bao gồm hệ thống pháp luật thực định, các vănbản pháp luật; các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật và thực tiễn pháp luật,các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật, tình hình tội phạm; kết quả xử lí các viphạm pháp luật theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật hiện hành; các thông
3Luật phổ biến giáo dục pháp luật:, Nxb CTQG-ST, HN, 2012, trang 13.
Trang 28tin phản hồi từ các tầng lớp nhân dân góp ý, đề xuất ý kiến về việc thực hiện, xâydựng và hoàn thiện pháp luật…
1.4.2 Hình thức của giáo dục pháp luật
Hiện nay có rất nhiều để thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phápluật, đó là tuyên truyền phổ biến GDPL qua nhà trường, qua báo chí, mạng lướitruyền thanh cơ sở, qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý và tư vấn phápluật, qua mạng lưới internet…
Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, các hình thức của phổbiến giáo dục pháp luật bao gồm4: “1 Họp báo, thông cáo báo chí 2 Phổ biến phápluật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu phápluật 3 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet,pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luậttrên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khudân cư 4 Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật 5 Thông qua công tác xét xử, xử lý viphạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của côngdân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạtđộng trợ giúp pháp lý, hoà giải ở cơ sở 6 Lồng ghép trong hoạt động văn hoá, vănnghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật
và các thiết chế văn hoá khác ở cơ sở 7 Thông qua chương trình giáo dục pháp luậttrong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân 8 Các hình thức phổ biến,giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật đem lại hiệu quả”.[48]
Qua khảo sát và tìm hiểu thực tiễn, có thể nhận thấy GDPL có 10 hình thứcthông dụng nhất hiện nay Mỗi hình thức có đặc trưng và kỹ năng riêng của mình:
- Tuyên truyền miệng về pháp luật: đặc trưng chính là dùng lời lẽ trực tiếp truyền đạt nội dung pháp luật cho người nghe
Trang 29- GDPL trên các loại hình báo chí, qua mạng internet và qua mạng lướitruyển thanh cơ sở: đặc trưng chính là sử dụng báo nói, báo viết, báo mạng, báohình để truyền bá nội dung cần phổ biến giáo dục…
- Biên soạn và phát hành các loại tài liệu GDPL: dùng các ấn phẩm để truyền
bá nội dung cần phổ biến
- GDPL trong nhà trường: truyền đạt nội dung pháp luật thông qua các phuơng pháp sư phạm
- Tổ chức các hình thức thi tìm hiểu pháp luật: vận động, khuyến khích đối tượng tìm hiểu pháp luật thông qua thi thố tài năng
- Thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật: Đối tượng của GDPLđồng thời cũng chính là chủ thể của GDPL, ở mỗi thành viên phát huy tính nhậnthức tích cực của mình trao đổi, tranh luận… để mở rộng kiến thức pháp luật củamình
- Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật: Trực tiếp cung cấp tài liệu, thông tin pháp luật cho đối tượng
- GDPL thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý: thông quaviệc cung cấp dịch vụ pháp lý, giải đáp pháp luật, hương dẫn thân chủ ứng xử đúngpháp luật để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ mà nâng caohiểu biết pháp luật cho họ
- GDPL thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở và xét xử tại Toà án: Thôngqua việc giới thiệu văn bản phân tích, hướng dẫn để các bên tranh chấp hiểu vănbản, tự đối chiếu với hành vi của mình và hành vi của phía bên kia để thấy rõ cáiđúng, cái sai của cả hai bên, giúp các bên nhận thức pháp luật sâu sắc hơn Hay tạicác phiên toà xét xử, thẩm phán và các cơ quan hành pháp phân tích điều luật mà bịcáo vi phạm qua đó cả bị cáo và người dân hiểu rõ về pháp luật
- GDPL thông qua các loại hình văn hoá, văn nghệ, đặc biệt là các loại hìnhsinh hoạt văn hoá truyền thông: Khai thác nghệ thuật biểu đạt của một loại hình vănhoá, văn nghệ để đưa pháp luật tới nhân dân
Trang 301.5 Vai trò của giáo dục pháp luật đối với học sinh tại các Trường trung cấp nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, độ tuổi các học sinh tham gia học tậptại các trường trung cấp nghề hiện nay thường vào khoảng 14, 15 cho đến dưới 20,tức là trong độ tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi rất nhạy cảm, dễ chịu nhiều sự tácđộng, ảnh hưởng của bên ngoài, do vậy giáo dục pháp luật cho các học sinh họcnghề cũng là giáo dục pháp luật đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, nó có vai trò quantrọng như sau:
- Góp phần giúp đối tượng nhận thức được giá trị, vai trò của pháp luật, hìnhthành ý thức pháp luật và đạo đức, hình thành nhân cách của thanh thiếu niên Điềunày giúp cho các em có ý thức tôn trọng pháp luật, từ tạo nên thói quen có tổ chức,
kỷ luật sau này áp dụng trong quá trình làm việc của bản thân; tạo nên hiệu quả chodoanh nghiệp nói chung
- GDPL cho học sinh từ độ tuổi này là phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi và có nền tảng cho cuộc sống về sau:
Dưới góc độ sinh học thì các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạntrong quá trình phát triển của cơ thể, vì trong giai đoạn này, về mặt thể lực, trí tuệ,sinh lý đều có sự thay đổi rõ rệt Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất.Thanh niên là giai đoạn chuyển từ ý thức, tư duy theo khuynh hướng lệ thuộc vàogia đình, nhà trường và xã hội, sang giai đoạn tự ý thức, nhận thức được về thái độ,hành vi, tư tưởng Thanh niên dưới góc độ kinh tế học là nguồn nhân lực không thểthiếu trong đội ngũ lao động và sản xuất Bên cạnh đó, thanh niên cũng là bộ phậnquan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, sự năng động, nhạy bén, ham học hỏi,sáng tạo, gắn bó mật thiết với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuthế hội nhập kinh tế quốc tế Dưới góc độ luật học, Luật Thanh niên tại Điều 1 quyđịnh “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [38,tr.1] Theo quan niệm quốc tế thì thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi Nhưvậy, khái niệm thanh niên dùng để chỉ một lớp người trong xã hội với độ tuổi từ đủ
Trang 31lực lượng có vai trò không thể thiếu đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, anninh trong đời sống xã hội.
Như vậy, GDPL cho học sinh đang học trung cấp nghề là phù hợp với tâmsinh lý của họ Khi ấy họ dễ dàng chấp nhận và xây dựng cho mình ý thức phápluật; có thái độ đúng đắn khi ứng xử với các mối quan hệ xã hội theo đúng quyphạm pháp luật Từ thái độ đó tạo thành thói quen ứng xử, cũng là tiền đề tạo nêncuộc sống vững vàng khi bước vào đời
1.6 Những yếu tố tác động đến công tác GDPL cho học sinh TCN
1.6.1 Về mặt nhận thức của học sinh TCN
Do tâm sinh lý của HS TCN bị biến đổi từ phổ thông sang giai đoạn TCN nêncác em vẫn còn tư tưởng ham chơi, đua đòi, dễ bị lôi kéo, dễ bị tác động, dễ dẫn đếnhành vi tiêu cực, vi phạm PL Nếu HS được giáo dục và được trang bị kiến thứcpháp luật cơ bản đầy đủ thì tự bản thân các em hình thành ý thức và trách nhiệmmang tính tích cực của mình trong việc học tập, lao động và đóng góp cho xã hội
1.6.2 Về mặt nhận thức vai trò GDPL của đội ngũ giáo viên GDPL và cán
do chỉ là môn học phụ, không cần phải đầu tư chất xám vào bài giảng, chỉ cần dạytheo chương trình khung cơ bản, “giáo viên đọc, trò ghi bài” thế là kết thúc môn màkết quả cuối cùng là mục tiêu bài học không tác động gì đến nhận thức của HS Vànếu cứ mãi theo lối mòn như vậy dễ dẫn đến việc HS nhàm chán, không muốn họcmỗi khi đến tiết học, trốn tiết, GV giảng dạy thiếu dẫn chứng thực tế, HS thiếu kiến
Trang 32thức pháp luật cơ bản hay không hiểu hết những vấn đề nên dễ hiểu nhầm khi ứng
xử, ban đầu chỉ là những vi phạm nội quy nhỏ lâu dần dẫn đến vi phạm lỗi nghiêmtrọng và có những hành vi vi phạm pháp luật
1.6.3 Về nhận thức gia đình
Nhiều gia đình vẫn còn tư tưởng con em mình phải “ông này, bà nọ” sau nàynên chỉ biết ép các em làm theo ý của mình mà không nghĩ tới sức học của conmình như thế nào, có theo học tiếp tục chương trình phổ thông được không, có địnhhướng được tương lai nghề nghiệp cho các em sau này sẽ như thế nào? Điều nàydẫn đến việc học quá sức làm cho các em dễ dàng bỏ cuộc giữa chừng, mất thờigian và đầu tư tiền bạc vô ích
1.6.4 Về kinh tế - xã hội
Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập quốc tế, bên cạnhnhững mặt tích cực mang lại, thì những mặt tiêu cực cũng làm ảnh hưởng đến côngtác GDPL cho các em HS tại các trường TCN gặp nhiều khó khăn, do bị tác độngcủa những nền văn hóa “lai căn” thông qua phim ảnh, mạng xã hội, games online,những thú vui bệnh hoạn đã làm cho các em dễ bị lôi kéo, hành động thiếu suynghĩ dễ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật, gây hỗn loạn mất đi tính ổn định xã hội.Nếu các em HS tại các Trường TCN được trang bị đầy đủ các kiến thức xã hội
sẽ đón nhận nguồn nhân lực vừa có trình độ tay nghề, vừa có đạo đức, có kỉ luật, có
nề nếp, có tác phong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có chất lượng và năng suất sảnphẩm làm ra đảm bảo, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, làm cho xã hội ngày càngphát triển, giúp cho kinh tế đất nước phát triển; ngược lại, xã hội sẽ phải tiếp nhậnnguồn nhân lực có ý thức kỉ luật kém, không có tác phong công nghiệp, dễ ảnhhưởng đến năng suất lao động, tác động xấu đến nền kinh tế dẫn đến một xã hộibất ổn, kỷ cương xã hội bị lệch chuẩn, nền kinh tế dậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi,không phát triển
Kết luận chương 1
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật và giáo dụcpháp luật cho học sinh trường trung cấp nghề Hệ thống bao gồm các nội dung:
Trang 33Khái niệm giáo dục, pháp, giáo dục pháp luật; Mục đích của giáo dục pháp luật; Vaitrò, nội dung, hình thức của giáo dục pháp luật, các yếu tố ảnh hưởng;
GDPL cho HS học trung cấp nghề có vai trò đặc biệt quan trọng Trước hết,thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức pháp luật giáo dục, pháp luật hình thành
và phát triển nhân cách học sinh GDPL giúp các em hiểu được điều hay lẽ phải,nhận biết được những chuẩn mực tốt đẹp về lòng nhân ái, sự công bằng, bình đẳng,dân chủ, lòng khoan dung, biết yêu cái đẹp, cái chân chính, biết đấu tranh với cáixấu và trong những tình huống cụ thể các em biết nên và cần ứng xử như thế nàocho phù hợp với đạo lý làm người Đồng thời GDPL còn góp phần phòng, chốnghành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trong nhà trường và ngoài xã hội
GDPL cho học sinh trường trung cấp nghề là một hoạt động không thể thiếutrong chương trình đào tạo, không chỉ góp phần ổn định hoạt động của ngành màcòn góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, góp phầnquan trọng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Các nội dung trình bày trên là cơ sở quan trọng để tiến hành khảo sát thựctrạng công tác giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường trung cấp nghề trên địabàn thành phố Hồ Chí Minh ở chương tiếp theo
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH2.1 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất cả nước, đồng thời cũng
là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích: 2.095,239 km2 với dân số: 7.990.100 người(2013), đơn vị hành chính: 24 quận, huyện
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý khoảng 100 10' – 100 38’ Bắc và
1060 22' – 1060 54 'Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh TâyNinh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -VũngTàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam ViệtNam, Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km theo đường bộ,nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðôngsang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biểnĐông 50 km đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thànhphố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đườngthủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
Năng động và sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trongcác phong trào xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổcập giáo dục trung học
Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thànhphố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoahọc kỹ thuật - y tế lớn của cả nước
Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấucông nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến, một thành phố văn minhhiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á (Nguồn Wikipedia)
Trang 35Với vị trí quan trọng trong chiến lược và vai trò đầu tàu kinh tế của ViệtNam, Thành phố Hồ Chí Minh được quy hoạch phát triển đào tạo nghề để cung ứngnguồn lực lao động có tay nghề cho thành phố cũng như các địa bàn và khu vực lâncận với quy mô 60 trường trung cấp trong đó 17 trường Trung cấp nghề (TCN), cụthể:
1 Trường TCN Bình Thạnh
2 Trường TCN Củ Chi
3 Trường TCN Đông Sài Gòn
4 Trường TCN KT-NV Tôn Đức Thắng
5 Trường TCN Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương
6 Trường TCN Nhân Đạo
7 Trường TCN Quang Trung
8 Trường TCN Trần Đại Nghĩa
9 Trường TCN Kỹ thuật Cơ khí Giao thông
10 Trường TCN Ngọc Phước
11 Trường TCN Suleco
12 Trường TCN tư thục Kỹ thuật- Kinh tế Sài Gòn 3
13 Trường TCN tư thục Quản lý khách sạn Việt- Úc
14 Trường TCN Việt Giao
15 Trường TCN Nhân lực Quốc Tế
16 Trường TCN Xây lắp Điện
17 Trường TCN Châu Hưng
Về qui mô phát triển trường lớp TCN trong 03 năm gần nhất
Thống kê số lượng học sinh học nghề trong 03 năm (2017- 2018- 2019) trong các trường TCN
Trang 36Các trường TCN giảng dạy theo chương trình đào tạo tự chủ trong đó phầncác môn học/ mô đun (trong đó có môn Pháp luật) được giảng dạy theo chươngtrình khung bắt buộc của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, gồm các bài giảng:
- Bài 1: Một số vấn đề chung về nhà nước và pháp luật;
- Bài 2: Hiến pháp;
- Bài 3: Pháp luật về lao động;
- Bài 4: Pháp luật Phòng, Chống tham nhũng;
- Bài 5: Pháp luật Bảo vệ quyền lợi Người tiêu
dùng Tổng cộng bao gồm 05 bài với 15 tiết lên lớp
Trong những năm gần đây, sự nghiệp đào tạo nghề của thành phố đã cónhững chuyển biến tích cực trên các mặt như: Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạyhọc, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được bố trí đủ về số lượng, phongtrào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực đã đạt được nhiều kếtquả, chất lượng dạy nghề luôn có sự chuyển biến về chất lượng và số lượng
Về đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo: Thống kê trong 03 năm
2017-2018-2019 các trường TCN trên địa bàn thành phố rất quan tâm chú trọng bồi dưỡng độingũ cán bộ quản lý-nhà giáo Trình độ chuyên môn 92% cán bộ quản lý có trình độđạt chuẩn (Đại học), 24,6% cán bộ quản lý có trình độ trên đại học (Thạc sĩ, Tiếnsĩ), 95% nhà giáo đạt trình độ Đại học trở lên
Đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo các trường TCN đều có nhiệt huyết, yêunghề, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tự nghiên cứu, tìm tòi và tự bồi dưỡng,
có trình độ chuyên môn vững vàng, có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp
Nội dung của pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học TCN bao gồm
(i) Xác định mục đích giáo dục pháp luật cho học sinh TCN
- Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc xây dựng nội dung giáo dụcpháp luật và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện Căn cứ vào mục đích yêu cầu
GDPL, xuất phát từ hiện thực khách quan, phù hợp với đối tượng HS tránh khuynh hướng áp đặt chủ quan
Trang 37(ii) Quy định về nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh TCN
Nội dung GDPL và đối tượng GDPL có mối liên hệ mật thiết với nhau, nghĩa
là phải căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu tiếp nhận kiến thức pháp luật của từng nhómđối tượng GDPL để lựa chọn các nội dung GDPL phù hợp
Các nội dung pháp luật được phổ biến trong các trong trường trung cấp hiệnnay chỉ gói gọn trong 05 bài bao gồm những nội dung sau: Những vấn đề chung vềnhà nước và pháp luật, Hiến pháp, Pháp luật lao động, Pháp luật phòng, chống thamnhũng, Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; ngoài ra, một số trường còn bổ sung vớigiáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục nhân cách học sinh, tập trung vào các lĩnh vựcnhư: bảo vệ môi trường, chấp hành luật giao thông, phòng chống ma túy, tội phạm
và các tệ nạn xã hội trong học đường, phòng chống HIV/AIDS, luật nghĩa vụ quân
sự, giáo dục giới tính, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình…
(iii) Quy định về hình thức, phương pháp GDPL cho học sinh TCN
Các phương pháp giáo dục nói chung và công tác GDPL cho HS TCN nói riêng,
có thể phân thành 2 nhóm cơ bản:
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân:
- Phương pháp đàm thoại (phỏng vấn): là cách thức thu nhập thông tin về hiệntượng tâm lý được nghiên cứu dựa vào các nguồn thông tin thu thập được trong quátrình trò chuyện Nguồn thông tin có thể bao gồm các câu trả lời và các yếu tố hành
vi như cử chỉ, ngôn ngữ của người trả lời Phỏng vấn có thể bao gồm nhiều hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp, phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm
- Phương pháp nêu gương: bằng cách minh họa những tấm gương tốt hoặc xấucủa các cá nhân, tập thể để kích thích tinh thần học tập của HS, qua đó, giáo dụccho các em học tập và hướng dẫn các em theo hướng tích cực, hướng tốt và tránh những hành vi tiêu cực, xấu xa
- Phương pháp giảng dạy: sử dụng những video clip, bướm tuyên truyền, hìnhảnh…để giải thích, minh họa, thu hút HS, giúp các em nắm bắt những vấn đề căn bản về pháp luật
Trang 38Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh nghiệm ứng xử
xã hội cho HS bao gồm:
- Phương pháp giao việc: là phương pháp lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đadạng với những công việc cụ thể, với những nghĩa vụ xã hội nhất định Qua đó, họcsinh sẽ có điều kiện để thể hiện những kinh nghiệm vốn có của mình hình thànhđược những hành vi phù hợp với công việc được giao, thu nhận kiến thức phù hợp,nhận thức được ý nghĩa những công việc mình thực hiện và hăng hái tham gia
- Phương pháp làm việc theo nhóm: là một trong những phương pháp dạy họcđược áp dụng trong đổi mới phương pháp dạy học: phát huy tính tích cực của ngườihọc, dạy học hướng về người học.Giảng dạy dựa trên phương pháp làm việc theonhóm là một phương pháp sư phạm mà theo đó, lớp được chia thành nhiều nhóm,mỗi nhóm được phân công giải quyết một công việc cụ thể hướng tới một nội dungcông việc chung lớn hơn; kết quả của từng nhóm sẽ được trình bày để thảo luậnchung trước khi giáo viên đi đến kết luận cuối cùng
- Phương pháp tình huống: Phương pháp tình huống là một phương pháp dạyhọc tích cực, trong đó sinh viên đặt trong một tình huống thực tiễn hoặc lấy bốicảnh gắn với thực tiễn để giải quyết các vấn đề mà tình huống đặt ra Đây là phươngpháp dạy học có khả năng, làm tăng hứng thú học tập, phát huy năng lực tư duy củasinh viên và gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn
(iv) Quy định về các điều kiện đảm bảo giáo dục pháp luật cho học sinh TCN
Về mặt con người : Sự phối hợp, huy động giữa các lực lượng giáo dục
Để đạt hiệu quả cao trong công tác GDPL cho HS cần phải phối hợp đồng bộvới các lực lượng từ trong nhà trường (Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáoviên bộ môn, các tổ chức đoàn thể) đến các lực lượng xã hội (các ban, ngành, chínhquyền địa phương và các tổ chức xã hội) và gia đình các em HS
Thực tế trong những năm qua, đội ngũ giáo viên trong các trường nghề cảnước nói chung, các trường nghề không đào tạo ngành luật nói riêng đã từng bướcphát triển nhiều mặt cả về số lượng và chất lượng Đội ngũ giáo viên có trình độchuyên môn, có học vị cao ngày càng tăng, chất lượng chuyên môn ngày càng tốt
Trang 39hơn Nhưng bên cạnh những ưu điểm trên vẫn còn một số những hạn chế nhất định
về yêu cầu và năng lực chuyên môn Vì vậy, để đảm bảo chất lượng trong giáo dụcpháp luật cho học sinh viên các trường nghề phải không ngừng nâng cao tri thức vànăng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy pháp luật
Giáo viên dạy pháp luật phải là người đã tốt nghiệp đại học luật, đã tốt nghiệpđại học các chuyên ngành của trường đó hoặc là các chuyên ngành luật của cáctrường xã hội được đưa đi bồi dưỡng về pháp luật và phương pháp dạy pháp luật.Giáo viên dạy bộ môn pháp luật nói riêng và cán bộ được phân công làm côngtác GDPL trong trường phải là người gương mẫu trong thực hiện pháp luật Việcgiáo dục pháp luật không chỉ bó hẹp trong các bài giảng trên lớp mà mọi hành vi tácphong và thái độ chấp hành quy chế của cán bộ giáo viên cũng cần phải rất mẫumực để sinh viên có thể soi mình vào những tấm gương chấp hành pháp luật củangười thầy Ngoài ra, cần phải thường xuyên trau dồi, cập nhật các kiến thức mới vềpháp luật để giảng dạy cho học sinh, vận dụng những phương pháp dạy để đạt đượchiệu quả cao trong những bài giảng, tạo cho sinh viên hứng thú, say mê môn họcpháp luật Đối với không ít người, môn học pháp luật nếu áp dụng kỹ thuật dạy họckhông tốt sẽ trở nên khô khan, học sinh viên khó tiếp thu Nhưng nếu áp dụng kỹthuật dạy học tích cực thêm vào với những ví dụ thực tiễn hoặc có những buổi đithực tế tại tòa án chắc chắn bài học sẽ trở lên lý thú và cuốn hút người học
Lãnh đạo nhà trường cần tạo dựng môi trường văn hóa chấp hành pháp luậttrong cán bộ giảng viên và sinh viên Giữ nghiêm kỷ cương nề nếp để mọi ngườinghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Bên cạnh đó, đội ngũ nhà giáo chủ nhiệm và các tổ chức đoàn thể chính trị xãhội trong nhà trường và các lực lượng xã hội khác cũng góp phần đẩy mạnh côngtác tuyên truyền GDPL cho HS
Trong các lực lượng trên thì gia đình đóng vai trò quan trọng Vì gia đình đóngvai trò vô cùng quan trọng trong việc nuôi dạy, giáo dục và rèn luyện HS, là ngôitrường đầu tiên xây dựng nền tảng cho phát triển tri thức, đạo đức, tính cách, tâm lý
Trang 40và kết hợp cùng nhà trường, cộng đồng xã hội tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển nhân cách toàn diện cho HS.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu giảng dạy:
Trong thực tế, với sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiệnnay, để nâng cao chất lượng trong giảng dạy, học tập kiến thức pháp luật thì khôngthể thiếu việc trang bị những phương tiện hiện đại phục vụ cho công tác giáo dụcpháp luật
Việc hiện đại hóa cơ sở vật chất của các nhà trường phải căn cứ vào đối tượng,chương trình, nội dung giáo dục pháp luật, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thứcpháp luật của các trường Có thể nói đây là yếu tố cơ bản đầu tiên cần xác địnhtrước khi đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy và học tậppháp luật của các trường Từ việc căn cứ vào đối tượng, chương trình, nội dung, nhucầu đào tạo, bồi dưỡng mới có thể biết được nhu cầu cụ thể về cơ sở vật chất,phương tiện kỹ thuật cần những gì? mức độ ra sao, tránh lãng phí và nó còn đáp ứngđược những yêu cầu cần đặt ra, phát huy được hiệu quả tối đa giá trị sử dụng
Về giáo trình, chương trình đào tạo
Để thực hiện có kết quả việc đưa nội dung giáo dục pháp luật vào hệ thốngcác trường này thành một môn học riêng biệt, vấn đề đầu tiên là phải tổ chức biênsoạn và ban hành được bộ chương trình chuẩn thống nhất, chính thống có tính chấtbắt buộc đối với sinh viên các trường đại học
Thiết kế chương trình môn học là công việc khoa học có cơ sở lý luận vàthực tiễn Chương trình dạy học nói chung và lý luận dạy học nói chung trong đóquy định cụ thể về vị trí, mục tiêu, yêu cầu của bộ môn, hệ thống nội dung bộ môn,
số học phần, học trình dành cho các bộ môn cũng như số tiết cho từng phần, từngchương phù hợp với từng đối tượng đào tạo
Về kinh phí tổ chức hoạt động GDPL cho HS TCN
Để có thể thực hiện đảm bảo các điều kiện cơ bản trên thì chúng ta cần có cơchế, chính sách cụ thể đối với nguồn kinh phí tổ chức hoạt động công tác GDPLchẳng hạn như kinh phí mua sắm trang bị tài liệu tham khảo, thiết bị chuyên dụng