Bên cạnh đó, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết về kĩ năng sống để trẻ sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa, giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kĩ năng sống được cung cấ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Xuân Lan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của khóa luận, tôi xin bày tỏ sự lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Lan- người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, định hướng khoa học
để tôi từng bước hoàn thành khóa luận với đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo
dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội”
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu và các giáo viên ở trường mầm non Kim Chung, trường mầm non Cổ Loa, trường mầm non Đại Mạch cùng các thầy cô trong khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Đây là lần đầu tiên tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi sự thiếu sót Rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn đọc
để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở
một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Lan
Các số liệu trong đề tài nghiên cứu này là trung thực, rõ ràng, chính xác
và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hòa
Trang 6
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của công trình nghiên cứu 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 5
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 5
1.1.1 Ngoài nước 5
1.1.2 Trong nước 7
1.2 Khái quát chung về kĩ năng sống 8
1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống 8
1.2.1 Phân loại kĩ năng sống 9
1.3 Giáo dục kĩ năng sống 12
1.3.1 Giáo dục 12
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống 13
Trang 71.3.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống 13
1.3.4 Một số nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống 15
1.3.5 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống 18
1.3.6 Các con đường giáo dục kĩ năng sống 21
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 24
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo lớn 24
1.4.2 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội (Trường mầm non Kim Chung, trường mầm non Cổ Loa, trường mầm non Đại Mạch) 26
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC ĐÔNG ANH-HÀ NỘI 28
2.1 Tình hình chung về kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn 28
2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 28
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non 29
2.2.2 Thực trạng kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh- Hà Nội 30
2.2.3 Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 33
2.2.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 35
2.2.4 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 37
Trang 8Chương 3 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ LỨA TUỔI MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON THUỘC KHU VỰC ĐÔNG ANH-HÀ NỘI 40
3.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến kĩ năng sống của trẻ lứa tuổi mẫu giáo 40
3.2 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất các biện pháp 42
3.2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 42
3.2.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 42
3.3 Đề xuất một số các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 43
3.3.1 Đổi mới công tác quản lý 44
3.3.2 Nâng cao nhận thức và năng lực của giáo viên 44
3.3.3 Tuyên truyền với các bậc cha mẹ cách dạy trẻ kĩ năng sống trong gia đình 46
3.3.4 Đầu tư kinh phí cho hoạt động giáo dục để giúp trẻ phát triển các kĩ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trường 47
3.3.5 Tạo môi trường giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy trẻ kĩ năng sống 47
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 Phụ Lục
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người từ khi được sinh ra đã phải biết tự biến đổi bản thân để thích ứng với sự thay đổi của môi trường tự nhiên và phải học cách ứng xử sao cho phù hợp với điều kiện sống Nói cách khác, để tồn tại và phát triển được trong
xã hội loài người, con người cần phải hình thành các kĩ năng sống Các kĩ năng sống giúp cho con người tiết kiệm được thời gian, sức lực và nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp con người tránh được những rủi ro, những rắc rối không đáng có
Ngày nay, trong thời kì giao lưu và hội nhập với nền kinh tế thế giới, với
sự thay đổi hàng ngày, hàng giờ về kinh tế, văn hoá, xã hội cùng với lối sống
và quá trình làm việc với tốc độ nhanh, đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa từng trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu trong cuộc sống Có cả những vấn đề đã từng xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa chứa đựng sự phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong
xã hội hiện đại Nó khiến con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro
Với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, giáo dục Việt Nam cũng như giáo dục ở các nước trên thế giới đều hướng tới 4 trụ cột giáo dục
mà UNESCO thế kỉ XXI đã đưa ra đó là: “Học để biết (Learning to know) - Học để làm (Learning to do) - Học để chung sống (Learning to live together)
và học để làm người (Learning to be)” Với mục tiêu hướng tới đào tạo Công dân toàn cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng các môn học mà còn phải hình thành và rèn luyện kĩ năng sống và năng lực xã hội cho người học theo hướng hoà nhập, thân thiện Hiện nay, trên thế giới có ít nhất là 70 quốc gia đã và đang đưa kĩ năng sống vào chương trình học chính khoá dưới hình thức một môn học riêng,
Trang 10hoặc tích hợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định
Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, giúp trẻ em thích ứng được với sự thay đổi của xã hội để có thể sống một cách an toàn và khoẻ mạnh Nhờ có kĩ năng sống mà trẻ em có thể làm chủ trong mọi tình huống, thích nghi với cuộc sống không ngừng biến đổi
Giáo dục kĩ năng sống giúp trẻ phát triển hài hoà, toàn diện nhân cách Bên cạnh đó, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết về kĩ năng sống để trẻ sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa, giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kĩ năng sống được cung cấp thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân với người người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực Theo UNESCO, trẻ tám tuổi là quá trễ để giáo dục kĩ năng sống Vì đến tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị, trừ khi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này Trẻ từ dưới hai tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ môi trường sống xung quanh như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với trẻ, cách thức tiếp xúc với trẻ…tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ.Vì vậy, việc hình thành và phát triển kĩ năng sống cần được tiến hành từ bậc mẫu giáo đặc biệt
là lứa tuổi mẫu giáo lớn.Tuy nhiên hiện nay, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non nói riêng và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng đã- đang được triển khai thực hiện như thế nào? Đó là một vấn đề cần phải quan tâm tìm hiểu Vì lí do
đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho
trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh-Hà Nội” để
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống, đề tài khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục
kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh-Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn
4 Giả thuyết khoa học
Nhiều kĩ năng sống cần thiết cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh- Hà Nội chưa được hình thành Nếu phát hiện đúng thực trạng và có những biện pháp tác động sư phạm phù hợp thì có thể nâng cao hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn
5.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệuliên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
Trang 12- Phương pháp phỏng vấn
6.3 Phương pháp thống kê toán học
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về mặt thời gian nên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh- Hà Nội
8 Cấu trúc của công trình nghiên cứu
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Ngoài nước
Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp con người có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống chất lượng và hạnh phúc
Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và bất định với con người Nếu con người không có năng lực để ứng phó vượt qua những thách thức đó và hành động theo cảm tính thì dễ gặp rủi ro
Chính vì vậy, trong diễn đàn giáo dục thế giới cho mọi người tại Senegan (2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra sáu mục tiêu, trong
đó mục tiêu thứ ba là: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu là trẻ em đến người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là phù
hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi Còn trong mục tiêu
thứ sáu yêu cầu: Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học” Như vậy, học kĩ năng sống trở thành quyền của người
học và chất lượng giáo dục phải thể hiện cả trong kĩ năng sống của người học
Cho nên, giáo dục kĩ năng sống cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục các nước Giáo dục phải mang lại cho mọi người không chỉ kiến thức mà cả kĩ năng sống trong xã hội dựa vào năng lực Nhu cầu vận dụng kĩ năng sống một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong
Trang 14thực hiện Công ước Quyền trẻ em, trong Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển…Những nghiên cứu về kĩ năng sống cũng đang được quan tâm ở các nước trong khu vực, bởi vì chưa có định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về kĩ năng sống và chưa có bộ chuẩn các tiêu chí đồng bộ cho việc hoạch định các chương trình giáo dục kĩ năng sống ở các nước Cụ thể như sau:
- Giáo dục kĩ năng sống ở Lào: Khái niệm kĩ năng sống và nội dung kĩ
năng sống có liên quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS và lồng ghép tromg chương trình giáo dục chính quy, không chính quy và các trường sư phạm đào tạo giáo viên Từ năm 2001, nội dung kĩ năng sống được mở rộng
ra các lĩnh vực khác như giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ và vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường…Từ năm 1997 đến 2002, ban đầu giáo dục kĩ năng sống chỉ đươc thực hiện ở 5 trường trung học cơ sở sau đó mở rộng ra
700 trường tiểu học và trung học Việc giáo duc kĩ năng sống thường bao gồm các kĩ năng như: Kĩ năng giao tiếp có hiệu quả, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tự nhận thức, sự thiện
cảm, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng xác định giá trị
- Giáo dục kĩ năng sống ở Malaysia: Giáo dục kĩ năng sống ở
Malaysia do Bộ giáo dục và các cơ quan khác thực hiện Bộ giáo dục coi môn
kĩ năng sống là môn kĩ năng của cuộc sống Trong chương trình giáo dục ở Malaysia môn này được dạy như môn học ở trường tiểu học, trường trung học nhằm cung cấp cho người học những kĩ năng thực tế cơ bản để cho họ thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh như kĩ năng thương mại, tự tin,
sáng tạo và có kĩ năng tương tác hiệu quả với người khác
- Giáo dục kĩ năng sống ở Inđonesia: Trong giáo dục không chính quy,
kĩ năng sống được quan niệm là những kĩ năng, kiến thức, thái độ giúp người
Trang 15học sống một cách độc lập, kĩ năng sống rộng hơn kĩ năng nghề nghiệp: Gồm
có kĩ năng chung (Kĩ năng cá nhân và kĩ năng xã hội) và kĩ năng sống cụ thể
(Kĩ năng học thuật và kĩ năng nghề)
- Giáo dục kĩ năng sống ở Ấn Độ: Quan niệm kĩ năng sống là những
khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người Các kĩ năng sống được quan tâm là: Giải quyết vấn đề, tư duy, phê phán, sáng tạo, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng quan hệ liên nhân cách, kĩ năng đàm phán, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng từ chối, kĩ
năng kiên định…
1.1.2 Trong nước
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng những thách thức của thiên tai…đã được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ Còn trong
hệ thống giáo dục thì quan điểm học làm người, nghĩa là để biết ứng xử với đời đã được coi là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục.Cho nên giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ
và kĩ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học có khả năng gia nhập cuộc sống xã hội
Kĩ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong nhà trường và ngoài nhà trường” Quan niệm về kĩ năng sống gồm: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định…
Tham gia vào chương trình này có ngành Giáo dục và Hội chữ thập
đỏ Và chương trình giáo dục kĩ năng sống đã được chú trọng hơn trong những năm gần đây và được chú ý từ bậc học mầm non Nội dung giáo dục
kĩ năng sống thể hiện trong Chương trình khung chăm sóc và giáo dục
Trang 16mầm non Có thể do đặc thù của trẻ em lứa tuổi mầm non là đang làm quen dần với xã hội và thế giới tự nhiên, cho nên giáo dục kĩ năng sống trong Chương trình giáo dục ở bậc học Mầm non khá phong phú và toàn diện giúp trẻ thích ứng với cuộc sống
1.2 Khái quát chung về kĩ năng sống
1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống
Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn
tả theo những cách khác nhau
- Có quan niệm coi kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy
đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (Tổ chức văn hóa,
khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc UNESCO) [2]
- Có quan niệm lại coi kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Tổ chức y tế thế giới
(WHO) coi kĩ năng sống là kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách
có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề những
tình huống của cuộc sống hàng ngày [7]
- Có thể thấy, quan niệm về kĩ năng sống của UNESCO có nội hàm rộng hơn quan niệm của WHO vì:
Thứ nhất là: Những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày sẽ bao gồm cả những kĩ năng cơ bản như:
kĩ năng đọc, viết, làm tính…trong khi đó những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp để giải quyết có hiệu quả những tình huống trong
cuộc sống…là những kĩ năng phức tạp hơn đòi hỏi sự tổng hợp các yếu tố kiến thức, thái độ và hành vi
Thứ hai là: Những kĩ năng tâm lí - xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong
số những kĩ năng cần thiết của cuộc sống hàng ngày
Trang 17- Tương đồng với quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới, quan niệm kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí - xã hội liên quan đến những tri thức, giá trị
và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả yêu cầu, thách thức của cuộc sống Bên cạnh hai khái niệm trên, vẫn còn tồn tại quan điểm rất khác nhau của nhiều tổ chức và cá nhân trong nước và trên thế giới Chúng có khác nhau về hình thức thể hiện, độ nông sâu của nội hàm khái niệm…song cái chung, thống nhất giữa các khái niệm đó là, xem kĩ năng sống dưới dạng một phạm trù năng lực của hành động (behavior), chứ không phải là một phạm trù kỹ thuật của hành động (skill) Kĩ năng thuộc phạm trù năng lực bao gồm: kiến thức, thái độ, giá trị, hành vi
Từ các quan niệm về kĩ năng sống nêu trên có thể thấy, các kĩ năng sống giúp ta chuyển dịch kiến thức - “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị -
“cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất, mang tính chất xây dựng Kĩ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và thực hành một cách
cụ thể Nó thường gắn liền với một nội dung giáo dục nhất định
Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội Kĩ năng sống mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân Kĩ năng sống còn mang tính xã hội
vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có kĩ năng sống thích hợp Chẳng hạn: kĩ năng sống của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với kĩ năng sống của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập, kĩ năng sống của người sống ở miền núi khác với kĩ năng sống của người sống ở vùng biển, kĩ năng sống của người sống ở nông thôn khác với
kĩ năng sống của người sống ở thành phố
1.2.1 Phân loại kĩ năng sống
Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống cụ thể:
Trang 18*Cách phân loại theo WHO: Kĩ năng sống gồm 3 nhóm [4]
- Nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng như tư duy phê phán,
tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…
- Kĩ năng đương đầu với xúc cảm bao gồm ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và
tự điều chỉnh…
- Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác bao gồm giao tiếp, tính quyết đoán, thương thuyết từ chối, hợp tác, sự cảm thông, chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác…
* Phân loại của UNESCO [4]
Theo cách phân loại của UNESCO thì ba nhóm trên được coi là kĩ năng sống chung Ngoài ra còn có những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như:
- Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng
- Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản
- Ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS
- Phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy
- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro
- Hòa bình và giải quyết xung đột
- Gia đình và cộng đồng, giáo dục công dân
- Bảo vệ môi trường
- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…
*Cách phân loại của ủy ban nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) [4] Mục đích giúp người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại kĩ năng sống theo các mối quan hệ sau:
Trang 19- Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm có:
+ Kĩ năng tự nhận thức: Mỗi người cần nhận biết và hiểu rõ bản thân, những tiềm năng, tình cảm những mặt mạnh và mặt yếu của mình
Khi con người càng nhận thức được khả năng của mình, thì càng có khả năng sử dụng kĩ năng sống khác một cách có hiệu quả và có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với điều kiện sẵn có của bản thân, của xã hội, lựa chọn những hành vi phù hợp với khả năng của bản thân
+ Lòng tự trọng là khả năng sống giúp ta cảm nhận được giá trị của bản thân mình và làm chủ được các tình huống xung quanh theo định hướng giá trị thực Sự nhận thức dẫn đến lòng tự trọng khi con người nhận thức được năng lực của bản thân, vị trí trong cộng đồng
Điều này thể hiện qua sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân và kiên định giữ gìn những giá trị có ý nghĩa của mình trong các tình huống phải lựa chọn giá trị
+ Sự kiên định có ý nghĩa là nhận biết được những gì mình muốn, tại sao lại muốn tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn, mục tiêu cụ thể một cách linh hoạt, mềm dẻo, dung hòa giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu người khác
+ Đương đầu với cảm xúc trong cuộc sống con người vẫn thường trải nghiệm những cảm xúc mang tính chủ quan như sợ hãi, tình yêu, phẫn nộ, e thẹn
và mong muốn được thừa nhận và con người thường hành động, phản ứng để đáp ứng một cách tức thời với tình huống không dựa trên suy luận logic
Vì thế việc xác định và nhận biết những cảm xúc của mình với những nguyên nhân cụ thể, tiếp đến là có những quyết định không để cho những xúc cảm chi phối đó chính là kĩ năng đối phó, đương đầu với những cảm xúc
+ Đương đầu với những căng thẳng như vấn đề của gia đình, mối quan
hệ bị đổ vỡ, sự mất người thân, sự căng thẳng trong thi cử…là một phần hiển
Trang 20nhiên của cuộc sống do đó cũng như với xúc cảm, con người cần phải có khả năng nhận biết sự căng thẳng, nguyên nhân và hậu quả, cũng như biết cách khắc phục
- Những kĩ năng nhận biết sống với người khác:
+ Kĩ năng quan hệ, tương tác liên nhân cách, vì mỗi cá nhân phải biết cách đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan hệ, để có thể phát triển tối
đa tiềm năng sẵn có trong môi trường của mình
+ Sự cảm thông, thấu hiểu là sự bày tỏ, sự thông cảm bằng cách tự đặt mình vào vị trí của người khác
1.3 Giáo dục kĩ năng sống
1.3.1 Giáo dục
Giáo dục theo tiếng Hán nghĩa là dạy, là rèn luyện về tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm, đạo đức…là nuôi, là săn sóc về mặt thể chất [3]
Vì vậy giáo dục là sự rèn luyện cho con người về 3 phương diện chính
đó là: Trí tuệ, tình cảm và đạo đức
Theo phương tây thì từ Education vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh Động từ educare là dẫn dắt, hướng dẫn để làm phát khởi ra khả năng tiềm tàng, sự dẫn dắt này đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Ngày nay giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau: Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể tới đối tượng trong hệ thống giáo dục đã được thể chế hóa Quá trình giáo dục được hiểu ở đây là chức năng cơ bản của xã hội chuẩn bị một cách
có mục đích, có kế hoạch cho những thành viên của mình hòa nhập và tham gia một cách tích cực, sáng tạo và sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội [3]
Trong nhà trường phổ thông, giáo dục lại được hiểu là sự kết hợp chặt
Trang 21chẽ giữa quá trình dạy “Chữ” (hình thành những hiểu biết, phát triển tư duy
và phẩm chất trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học…) với quá trình dạy
“Người” (hình thành những phẩm chất nhân cách)
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại Người có kĩ năng sống là người luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình
Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hiệu quả tiêu cực, chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho
xã hội
Đồng thời giáo dục kĩ năng sống cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của con người, theo bốn trụ cột trong giáo dục của thế kỷ XXI) thông qua quá trình dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp) vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua những thách thức của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các chỉ số IQ và các lĩnh vực xúc cảm, trí tuệ, xã hội
Giáo dục kĩ năng sống cho người học thông qua hai con đường cơ bản:
- Xây dựng và thực hiện các chương trình kĩ năng sống chuyên biệt (hệ thống các chủ đề) cho từng đối tượng với một mục tiêu cụ thể
- Tiếp cận kĩ năng sống trong toàn bộ quá trình giáo dục và đào tạo
1.3.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống
* Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non bao gồm:
Trang 22Giáo dục trẻ kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử như chào hỏi, cám ơn, xin lỗi…phát triển tình cảm xã hội, biết thông cảm với người khác…thông qua giải quyết tình huống đặt ra hàng ngày, qua kể chuyện, qua trò chơi đóng vai theo chủ đề:
- Yêu cầu cụ thể về giữ gìn sức khỏe và an toàn
- Phát triển tình cảm kĩ năng xã hội như: quan tâm đến người khác, giao tiếp, trò chuyện…
Ở mẫu giáo
- Phát triển thể lực: có kĩ năng và thói quen tự phục vụ liên quan đến
sức khỏe, an toàn, vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường
- Phát triển nhận thức: có hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội,
có khả năng quan sát, phân loại, phán đoán, phân tích về các sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh
- Phát triển ngôn ngữ: Nghe và hiểu lời nói trong giao tiếp Có khả
năng diễn đạt ý nghĩ, cảm xúc và tình cảm của mình
- Phát triển tình cảm, ứng xử và quan hệ xã hội: mạnh dạn, tự tin, lễ
Trang 23phép trong giao tiếp, chia sẻ, hòa nhập, cộng tác, yêu quý, quan tâm, giúp đỡ,
tự lập, có trách nhiệm…
Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ:
Bao gồm các nội dung sau:
- Sự hợp tác, tự kiểm tra, tự lập, tò mò, kĩ năng thấu hiểu và giao tiếp
- Học cách có được những mối liên hệ mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn
- Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận thử thách mới
- Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào, thích cái gì và địa chỉ nhà mình ở đâu
- Nhận biết ưu khuyết điểm của bản thân
- Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh Học cách lắng nghe mọi người và đối đáp
- Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ…)
Đối với trẻ mầm non: Có hành vi bắt chước, thói quen thực hiện lâu ngày trở thành kĩ năng Chúng ta chỉ dạy trẻ những điều nên, không nên Từ đó những hành vi này sẽ được tích lũy trong quá trình hướng dẫn của giáo viên
1.3.4 Một số nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
1.3.4.1 Thay đổi hành vi
Giáo dục kĩ năng sống có thể vận dụng các nguyên tắc thay đổi hành vi,
vì giáo dục kĩ năng sống chủ yếu hướng vào thay đổi hành vi, thói quen tiêu cực của người học.Thay đổi hành vi luôn là một việc khó Viện Hàn lâm khoa học Mĩ (NAS) đã nghiên cứu và giới thiệu mô hình bảy nguyên tắc thay đổi hành vi của con người như sau:
Trang 24- Cung cấp thông tin là thời điểm khởi đầu tất yếu của bất cứ sự cố gắng mong muốn thay đổi hành vi nào Thông tin cần dễ hiểu và phù hợp với người học, đối tượng mà chúng ta muốn họ thay đổi hành vi
- Tập trung vào những thông điệp tích cực, hình thành, duy trì và củng
cố hành vi lành mạnh và hướng tới cuộc sống tốt hơn cho mọi người trong cộng đồng, cần hạn chế sử dụng các thông điệp mang tính đe dọa để động viên sự thay đổi hành vi
- Giáo dục theo quy mô nhỏ và cần độ lâu về thời gian để động viên người tham gia chấp nhận những hành vi mới, để dạy mô hình các kĩ năng cần thiết nhằm đạt được những hành vi đó để tiếp tục củng cố những kĩ năng mới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành vi lành mạnh
- Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cá nhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nó trong số các phương án có thể nêu trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm ra phương án phù hợp với mình Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sống cần hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia học được rất nhiều lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn
- Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi vì sự thay đổi sẽ
dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cá nhân, nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác với cộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi
- Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng có thể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổ sung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ hội thuận lợi cho
sự thay đổi cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác Tập huấn cho người có tác động ảnh hưởng đến họ có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm của
Trang 25mình có thể giúp tăng đáng kể tác động của chương trình
- Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ, vì sự tái phạm có thể xảy ra, do đó cần phải xây dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúp người tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi họ
đã tái phạm
1.3.4.2.Trải nghiệm
Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi con người được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế
Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác
1.3.4.3 Tiến trình
Giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới.Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức
và thái độ
1.3.4.4 Thời gian - môi trường học
Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo
cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức vào kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trong gia đình, trong
Trang 26nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố
mẹ, là thầy cô, là bạn bè cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động , hoạt động đoàn thể-xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác
1.3.4.5 Tương tác
Kĩ năng sống không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thôn g qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn
đề nào đó Nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với các bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng,
kĩ năng giải quyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động
xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác , học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục kĩ năng sống hiệu quả
1.3.5 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống
*Phương pháp dùng tình cảm
Dựa vào tình cảm người lớn có thể gợi lên cho trẻ những suy nghĩ tốt lành, các kĩ năng ứng xử không chỉ với con người mà còn cả môi trường xung quanh trẻ Nên cần giúp trẻ tiếp nhận tình cảm của mọi người xung quanh Chính sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của người lớn đã tác động rất lớn đến tình cảm của trẻ Nhờ đó mà người lớn có thể dễ dàng giáo dục cho trẻ những kĩ năng cần thiết Nhưng ngược lại nếu người lớn dành tình cảm yêu thương thì trẻ không có các kĩ năng cần thiết và dễ hư
Trang 27hỏng Bên cạnh đó, trẻ cũng đáp lại tình cảm đối với những người xung quanh như hàng ngày bố mẹ, ông bà quan tâm chăm sóc trẻ nhưng những lúc người thân đau ốm trẻ biết lấy nước, quạt mát…Qua những việc làm rất nhỏ như vậy đã tác động rất lớn đến tình cảm của trẻ và cũng giúp trẻ có những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống sau này Nên người lớn cần chú ý
để giúp trẻ thể hiện các kĩ năng đó đúng hơn
*Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật
Việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ bằng các tác phẩm nghệ thuật sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong công tác giáo dục Với những hình ảnh giàu hình tượng, sinh động, dễ gợi cảm dễ dàng tác động đến trẻ với các loại hình nghệ thuật như:
- Âm nhạc: Âm nhạc gắn bó hết sức mật thiết với đời sống con người
ngay từ lúc lọt lòng Dựa vào những tiết tấu nhanh, lời ca dí dỏm vui tươi mà hết sức gần gũi với trẻ, giúp trẻ cảm thụ được những cái đẹp, hành động đẹp trong cuộc sống Như bài hát “Con chim vành khuyên” của nhạc sĩ Hoàng Vân giúp trẻ muốn trở thành em bé ngoan thì phải có kĩ năng chào hỏi, lễ phép, biết gọi dạ bảo vâng với mọi người xung quanh
- Thơ ca: Nhờ có thơ ca mà trẻ có cách nhìn, cách nghĩ cũng như cảm
nhận được cuộc sống của con người và các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ Như qua bài thơ “Đánh thức trầu” của nhà thơ Trần Đăng Khoa trẻ thấy được muốn hái trầu cho bà phải xin phép đàng hoàng, nhẹ nhàng…Hay cả bài thơ
“Thỏ con bị ốm” giáo dục trẻ phải biết giúp đỡ, quan tâm đến bạn bè Từ những câu thơ ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ giúp trẻ biết cái gì nên, không nên trong cuộc sống
- Truyện: Ở lứa tuổi mầm non có rất nhiều câu chuyện như truyện cổ
tích, truyện đồng thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười…Qua nội dung các câu chuyện trẻ biết phân biệt người tốt-người xấu, thiện-ác, chăm chỉ-lười
Trang 28biếng…Trẻ biết cách ứng xử giữa con người với con người và các sự vật xung quanh Như qua câu chuyện “Bác Gấu Đen và hai chú Thỏ” giáo dục trẻ phải biết giúp đỡ người khác, không được ích kỷ Cũng như câu chuyện “Dê đen
và dê trắng” thì trẻ biết không được sợ hãi, nhút nhát mà nên tự tin và dùng trí thông minh để thắng được kẻ ác
- Tạo hình: Trẻ nhìn nhận cuộc sống và phản ánh vào những bức tranh
những hành động nên làm như chị dắt em đi chơi, bé giúp mẹ quét nhà và những hành động không nên làm như vứt rác ra đường, không thu dọn đồ chơi…Thông qua đó người lớn có thể biết được những việc trẻ đã làm được
và chưa được để có thể hướng dẫn trẻ những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày
*Phương pháp dùng trò chơi
Vui chơi là hoạt động chính của trẻ ở trường mầm non Thông qua trò chơi trẻ học được nhiều kĩ năng như đoàn kết, giúp đỡ, chia sẻ đồ chơi cũng như phản ánh lại một phần cuộc sống xã hội (Đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề) Khi tham gia trò chơi trẻ được nhập vai để thể hiện chức năng
xã hội trong mối quan hệ xã hội đó (mẹ-con, cô-cháu, bác sĩ-bệnh nhân, người bán hàng-người mua hàng) Qua đó, trẻ học được cách ứng xử, giao tiếpvới nhau trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra trong trò chơi đóng vai theo theo chủ đề trẻ không chỉ tham gia các vai chơi mà còn có luật chơi giúp trẻ chơi theo đúng luật chơi đã đề ra giúp trẻ có kĩ năng có kỉ luật, biết hợp tác trong khi chơi Từ đó, trẻ có thể tự hoàn thiện các kĩ năng cần thiết
*Phương pháp luyện tập thường xuyên
Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ không chỉ hình thành trong ngày một ngày hai mà cần có thời gian để củng cố, luyện tập Để thực hiện phương pháp này đòi hỏi người lớn cần quan tâm thường xuyên đến trẻ, nhắc nhở trẻ thực hiện mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày Trước tiên cần làm mẫu
Trang 29những kĩ năng mới sau đó tạo tình huống để trẻ luyện tập các kĩ năng đó Và dần dần nâng cao yêu cầu luyện tập giúp trẻ tự hoàn thiện các kĩ năng đó Như kĩ năng rửa tay trước và sau khi ăn, kĩ năng trình bày ý kiến trước đám đông (thi làm người dẫn chương trình, giới thiệu bản thân…)
*Phương pháp khen chê
Trong quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ người lớn cần biết khen chê đúng mức và đúng lúc Nếu trẻ thể hiện được các kĩ năng như trong giao tiếp biết chủ động chào hỏi mọi người thì cần khen ngay bằng lời biểu dương hay những món quà mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất Ngược lại nếu trẻ chưa có kĩ năng như chơi xong không biết cất đồ chơi, tranh giành đồ chơi của bạn thì người lớn cần tỏ ra chê trách, không đồng tình giúp trẻ biết thế là
hư, không ai yêu Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê, nên người lớn cần biết khêu gợi lòng tự hào và tính xấu hổ đúng lúc, đúng chỗ để hình thành những kĩ năng cho trẻ
1.3.6 Các con đường giáo dục kĩ năng sống
*Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trước hết trong quá trình giáo dục ở nhà trường
- Năng lực tâm lý xã hội là một quá trình học tập được thực hiện
thông qua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng và niềm tin Quá trình học để có kĩ năng tâm lí xã hội được thể hiện cả trong nhà trường và ngoài nhà trường cũng như thông qua các kênh, nguồn khác nhau Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội làm cho con người càng biệt lập và mang tính cá nhân Gia đình trở nên nhỏ hơn và con người ít có cơ hội để học kĩ năng tâm
lý xã hội và phát triển Vì vậy cần tăng cường tâm lý xã hội cho người học ngay trong đời sống, nhà trường thông qua giáo dục kĩ năng sống
- Kĩ năng sống cần phải là một phần trong chương trình đang diễn ra trong nhà trường Điều này có nghĩa là giáo dục kĩ năng sống trước hết phải
Trang 30được giáo dục trong nhà trường Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năng sống cần được dạy trong chương trình của nhà trường hơn là nhiệm vụ biệt lập tách khỏi chương trình bình thường của nhà trường Dạy kĩ năng sống cần phải được chứa đựng trong tất cả các môn khoa học thông qua nhấn mạnh mối quan hệ giữa học tập và các hoạt động sống hàng ngày Đồng thời cần coi việc dạy kĩ năng xã hội với tư cách là một khía cạnh của kĩ năng sống
*Kĩ năng sống được giáo dục trong nhà trường có thể thông qua tiếp cận kĩ năng sống
- Tiếp cận kĩ năng sống: Tiếp cận kĩ năng sống đề cập đến quá trình tương tác giữa dạy và học tập trung vào kiến thức, thái độ và kĩ năng cần đạt được để có những hành vi giúp con người có trách nhiệm cao đối với cuộc sống riêng bằng cách lựa chọn cuộc sống lành mạnh, kiên định từ chối sự ép buộc tiêu cực và hạn chế tối đa những hành vi có hại
- Các đặc trưng của tiếp cận kĩ năng sống:
+ Yếu tố thứ nhất: Tập trung làm thay đổi hành vi như là mục tiêu đầu
tiên của tiếp cận kĩ năng sống, là điểm làm cho tiếp cận kĩ năng sống khác với cách tiếp cận khác như tiếp cận dạy học chỉ đơn giản để tiếp thu thông tin
+ Yếu tố thứ hai: Kĩ năng sống tồn tại ba thành tố
+ Yếu tố thứ ba: Những thách thức đối với hệ thống giáo dục và đánh
giá thay đổi hành vi Một số hành vi của người học cần thay đổi vì nó liên quan đến sự rủi ro, mạo hiểm Hệ thống giáo dục hiện nay nhìn chung chưa tập chung vào sự thay đổi hành vi và thường ở mức mong muốn thay đổi về
Trang 31kiến thức Do đó hệ thống giáo dục sẽ gặp thách thức đáng kể trong thực hiện tiếp cận kĩ năng sống Cho nên với mục tiêu cao nhất là thay đổi hành vi, kĩ năng sống sẽ không giới thiệu toàn bộ những thông tin dễ hiểu về chủ đề, mà chỉ giới thiệu những thông tin được coi là cần thiết có ảnh hưởng đến thái độ
và đề đạt được mục tiêu là làm giảm thiểu những hành vi mạo hiểm và thúc đẩy những hành vi tích cực
Để đạt được những mục tiêu giáo dục kĩ năng sống thông qua con đường này ta cần quan tâm tổ chức dạy học theo hướng tập trung vào sự thay đổi hành vi của người học trên cơ sở đảm bảo sự hài hòa cả kiến thức, thái độ, giá trị và hành vi Đặc biệt cần chú ý phát triển tư duy phê phán và tư duy sáng tạo là những kĩ năng sống, những năng lực hợp phần tạo nên những kĩ năng sống khác của con người
*Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng:
Giáo dục muốn bồi dưỡng năng khiếu và tiềm năng cá nhân, phát triển
cá tính của người học giúp cải thiện cuộc sống của họ và làm thay đổi xã hội thì cần phải chú trọng đến việc nắm được các kĩ năng Bên cạnh các kĩ năng thực hành, kĩ năng thể chất, chúng ta cần thêm các kĩ năng sống- những kĩ năng làm cho con người có thể học và sử dụng các kiến thức để phát triển kĩ năng phân tích và phán đoán giúp làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và có quan hệ phù hợp với người khác Thể hiện qua bốn tiêu chí đánh giá:
- Học để biết (kĩ năng nhận thức): Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
giải quuyết vấn đề, nhận thức được hậu quả, ra quyết định…
- Học để tự khẳng định mình (kĩ năng cá nhân): Kiểm soát cảm xúc, tự
nhận thức, tự tin, ứng phó với căng thẳng tự khẳng định…
- Học để cùng chung sống (kĩ năng xã hội): Hợp tác, thương lượng, làm
việc theo nhóm…
Trang 32- Học để làm (kĩ năng thực tiễn): Kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách
Bước 1: Khám phá: khuyến khích người học xác định những khái niệm,
kĩ năng liên quan đến bài học
Bước 2: Kết nối: Giới thiệu thông tin và kĩ năng mới dựa trên những cái
đã biết để liên hệ cái chưa biết
Bước 3: Thực hành: Giúp trẻ thực hiện kĩ năng đó trong hoạt động
thực tiễn
Bước 4: Vận dụng: Giúp trẻ có cơ hội mở rộng và vận dụng thông tin,
kĩ năng trong nhiều tình huống khác nhau
Vì vậy, cần giúp trẻ có môi trường trả lời để trẻ có các kĩ năng mới phù hợp với sự thay đổi cũng như của xã hội
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn
Ở trường mầm non trẻ thường được phân chia theo độ tuổi:
- Dưới 3 tuổi: nhà trẻ
- Từ 3 tuổi- 4 tuổi: mẫu giáo bé
- Từ 4 tuổi-5 tuổi: mẫu giáo nhỡ
- Từ 5 tuổi- 6 tuổi: mẫu giáo lớn
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn có đời sống tâm lý rất đa dạng và phong