1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát kiến thức, thực hành phòng chống các rối loạn do thiếu iot của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại xã long khánh, huyện bảo yên, tỉnh lào cai

47 136 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 574,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦMNON HOÀNG THỊ HOA KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG CÁC RỐI LOẠN DO THIẾU IOT CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ LONG KHÁN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦMNON

HOÀNG THỊ HOA

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG CÁC RỐI LOẠN DO THIẾU IOT CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ LONG KHÁNH, HUYỆN BẢO YÊN,

TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THỊ HOA

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG CÁC RỐI LOẠN DO THIẾU IOT CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ LONG KHÁNH, HUYỆN BẢO YÊN,

TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

Ths BÙI NGÂN TÂM

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền cho tôi khiến thức và niềm say

mê từ giảng đường Đại học để thực hiện khóa luận

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN trường Đại học Sư phạm Hà nội 2 đã giúp đỡ tận tình tôi trong suốt khóa học Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất với sự nhiệt tình của Ths Bùi Ngân Tâm – giảng viên trực tiếp, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt

là sự giúp đỡ của gia đình, người thân đã cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua

Mặc dù có nhiều cố gắng, tinh thần trách nhiệm cao, nhưng vì những khó khăn về tư liệu và năng lực trong nghiên cứu nên đề tài tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy, cô giáo, của bạn bè và người thân để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Người thực hiện

Hoàng Thị Hoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận do tôi trực tiếp thực hiện, các số liệu được

sử dụng trong bài khóa luận là trung thực, chính xác chưa được công bố trong bất

kì tài liệu nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Người thực hiện

Hoàng Thị Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

NỘI DUNG 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Nguồn gốc và vai trò của iot đối với cơ thể 4

1.1.1 Nguồn gốc của iot 4

1.1.2 Vai trò của iot đối với cơ thể 5

1.2 Nguyên nhân thiếu iot 9

1.3 Biện pháp phòng chống các rối loạn do thiếu iot 10

1.4 Cách sử dụng và bảo quản muối iot 11

1.4.1 Cách dùng 11

1.4.2 Bảo quản 11

1.4.3 Lưu ý khi mua: 11

1.5 Tình hình thiếu hụt iot và hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu iot trên thế giới và trong nước 12

1.5.1 Tình hình thiếu hụt iot và hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu iot trên thế giới 12

1.5.2.Tình hình thiếu hụt iotvà hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu iotở trong nước 14

1.6 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành của người dân trong phòng chống các rối loạn do thiếu iot 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, 18

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượngnghiên cứu 18

2.2 Nội dung nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

3.1 Kiến thức phòng CRLTI của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Long Khánh,

huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 20

3.1.1 Thông tin chung về các đối tượng tham gia phỏng vấn 20

3.1.2 Kiến thức về phòng chống CRLTI 22

3.2 Thực hành phòng chống CRLTI của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Long Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 28

3.2.1 Loại gia vị mặn thường dùng trong gia đình 28

3.2.2 Loại muối, bột canh sử dụng có nhãn mác hay không 30

3.2.3 Thực hành bảo quản, sử dụng muối, bột canh iot 30

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Iot là một vi chất dinh dưỡng có trong tự nhiên rất cần thiết cho cơ thể Trong cơ thể iot được sử dụng để tổng hợp hormone tuyến giáp có nhiều vai trò quan trọng.Thiếu iot gây ra những ảnh hưởng lớn cho sức khỏe cộng đồng,

sự phát triển kinh tế và nòi giống Một số rối loạn do thiếu iot có thể xảy ra: sảy thai, bướu cổ, trí tuệ chậm phát triển, đần độn…

Thiếu hụt iot không chỉ xảy ra trên phạm vi một nước, một khu vực mà xảy ra trên toàn thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2005, trên toàn thế giới ước tính gần 2 tỷ người trong đó có 284 triệu trẻ

em 6-12 tuổi bị thiếu iot Châu Mỹ có tình trạng thiếu iot nhẹ nhất (10,1%), tiếp đến là khu vực Tây Thái Bình Dương (24%), Đông Nam Á (40%), châu Phi (43%), Địa Trung Hải (54%) và nặng nhất là khu vực châu Âu (59,9%)

Tỷ lệ bướu cổ toàn cầu là 15,8% [7]

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực thiếu iot Năm 1993, kết quả điều tra của Bệnh viện Nội Tiết cho thấy 94% dân số Việt Nam sống trong vùng thiếu iot và có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iot; tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-12 tuổi là 22,4%, trung niệu là 3,2µg/dl.[7]

Chương trình Quốc gia phòng chống các rối loạn do thiếu iot (CRLTI)

đã được triển khai trên toàn quốc từ năm 1993 đến 2005 với sự tham gia của nhiều đơn vị tuyến cơ sở và đã đạt được hầu hết các mục tiêu mà Chính phủ

đề ra Kết quả điều tra cho thấy, năm 2005 Việt Nam đã hoàn thành việc thanh toán CRLTI ở cấp quốc gia: 92,3% các hộ gia đình dùng muối iot đủ tiêu chuẩn phòng bệnh (mức khuyến cáo của WHO là >90%), tỷ lệ bướu cổ trẻ em là 3,6%.[4]

Sau năm 2005, Dự án Quốc gia Phòng chống CRLTI đã chuyển sang là hoạt động thường quy của ngành y tế, không còn là dự án mục tiêu Quốc gia

Trang 9

Các đầu tư về nhân lực, vật lực cho hoạt động phòng chống CRLTI bị cắt giảm từ cấp Trung ương đến địa phương Mục tiêu duy trì bền vững thành quả

đã đạt không giữ được Trên toàn quốc, độ bao phủ muối iot đủ tiêu chuẩn phòng bệnh giảm từ 92,3% năm 2005 xuống còn 45,1% năm 2014 Cùng với việc sụt giảm độ bao phủ muối iot trên toàn quốc, kết quả điều tra tỷ lệ bướu

cổ trẻ em 8-10 tuổi toàn quốc năm 2013 – 2014 của Bệnh viện nội tiết Trung ương là: 9,8%[2],[13] Như vậy hiện nay cộng đồng lại phải đối đầu với tình trạng thiếu hụt iot và các hậu quả của nó

Long Khánh là xã miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Xã có diện tích 5.644,89 ha, dân số 3383 người chủ yếu là đồng bào các dân tộc Dao, Tày , Nùng Kinh tế của người dân trong xã dựa vào phát triển nông nghiệp, lâm nghiệplà chủ yếu Các hoạt động tại địa phương hiện nay nhằm cải thiện tình trạng thiếuvi chất dinh dưỡng của người dân nói chung và thiếu iot nói riêng còn nghèo nàn, hiệu quả chưa cao và chưa bền vững Cũng như nhiều vùng miền khác ở Việt Nam phụ nữ trong độ tuổi sinh

đẻ tại địa phương là một trong những đối tượng có nguy cơ cao thiếu iot và cũng thường là người quyết định công việc nội trợ mua và sử dụng muối trong gia đình Kiến thức, thực hành sử dụng muối iot và chế phẩm bổ sung iot của đối tượng này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả phòng chống CRLTI của các thành viên trong gia đình cũng như của bản thân khi là một trong những đối tượng nhạy cảm với thiếu iot nhất Vì vậy với mục tiêu tìm hiểu kiến thức, thực hành sử dụng muối iot và các chế phẩm bổ sung iot của các phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ từ đó đề xuất các giải pháp góp phần cải thiện thực trạng này tại địa phương chúng tôi thực hiện đề tài:

“Khảo sát kiến thức, thực hành phòng chống các rối loạn do thiếu iot của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Long Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và vai trò của iot đối với cơ thể

1.1.1 Nguồn gốc của iot

Iot có tên Hi Lạp là Iodes, có nghĩa là “ tím”, sau này Hội liên Hiệp quốc

tế về Hóa lí thuyết và Ứng dụng gọi là Iodine, là nguyên tố hóa học, kí hiệu là

I, là nguyên tử số 53

Iot là nguyên tố ít hoạt động nhất, có độ âm điện thấp nhất trong các halogen Giống như các nguyên tố trong nhóm VIIA (nhóm halogen) iot tự do thường có công thức phân tử là I2.[13]

Iot có thể điều chế thu được tinh khiết bằng cách đun nóng hỗn hợp KI với CuSO4 hoặc điều chế từ tảo bẹ, rong biển hoặc từ một số loại cây khác bởi chúng có khả năng hấp thụ và tích tụ iot trong cơ thể Để điều chế iot từ rong biển người ta lấy rong biển phơi khô, đốt thành tro rồi hòa tan với nước, sau đó cô cạn dung dịch đến khi muối kết tinh lắng xuống (muối kết tinh là muối clorua, sunfat) Gạn lấy phần nước trong (có muối iot) thì dùng khí Clo hay MnSO2, H2SO4 để oxi hóa iot trong dung dịch thành I2 Cuối cùng cho I2thăng hoa sẽ thu được iot.[10]

Iot là nguyên tử vi lượng rất cần thiết cho các sinh vật sống, đặc biệt là

cơ thể con người

Chu trình chuyển hóa của iot từ môi trường vào cơ thể con người là qua đường thức ăn và nước uống Chu trình đó được mô tả theo sơ đồ sau:

Cây trồng

Nước Đất

Vật nuôi Con người

Trang 12

Kết luận: Theo sơ đồ trên ta thấy đất ở vùng nào giàu iot thì nước ở vùng

đó có hàm lượng iot cao, cây trồng và vật nuôi ở vùng đó cũng có hàm lượng iot cao Cuối cùng con người sử dụng nguồn nước, lương thực, thực phẩm có hàm lượng iot cao sẽ giảm được tình trạng rối loạn do thiếu iot

Bảng 1.1 Sự phân bố hàm lượng iot trong môi trường đất, nước,

1.1.2 Vai trò của iot đối với cơ thể

Đối với con người iot là nguyên tố vi lượng có vai trò rất quan trọng Trong cơ thể con người iot chỉ chiếm một lượng rất nhỏ khoảng 0,00004% trọng lượng cơ thể (tức là 15-23mg) nhưng đóng vai trò quan trọng trong phát triển thể chất và trí tuệ của con người Trên 75% lượng iot của cơ thể tập trung ở tuyến giáp, phần còn lại tập trung rải rác ở các bộ phận như mô tuyến

vú, dịch tiêu hóa, thận, tuyến nước bọt Iot tồn tại ở dạng gắn với protein vận chuyển lưu thông trong cơ thể

Chức năng quan trọng nhất của iot là tham gia tạo hoocmone giáp T3 (triiotoyhyronine) và hoocmon T4 (thyroxinengh) Sự có mặt của nguyên tử iot sẽ tạo ra những liên kết đồng hóa trị trong cấu tạo của hocmone

Trang 13

Hoocmone tuyến giáp đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa phát triển cơ thể

Hoạt động của hoocmon tuyến giáp rất cần cho sự phát triển của não, làm tăng quá trình biệt hóa của não và tham gia vào chức năng của não bộ Ngoài ra, nó còn kích thích tăng quá trình chuyển hóa tới 30%, tăng sử dụng oxi và làm tăng nhịp tim Chế độ ăn uống thiếu iot dẫn đến việc sản xuất không đủ các kích thích tố tuyến giáp, ảnh hưởng đến nhiều bộ phận cơ thể, đặc biệt là cơ, tim, gan, thận và não đang phát triển, nếu như thiếu sẽ gây ra các rối loạn nội tiết, rối lọan này được biểu hiện bằng các chứng bệnh đần độn, thiểu năng trí tuệ, và bướu cổ [4],[5]

Vì iot có vai trò quan trọng như vậy nên khi thiếu iot sẽ gây cho cơ thể nhiều hậu quả:

Thiếu iot gây ra bướu cổ với các biến chứng của nó như mệt mỏi, không linh hoạt thiếu năng lượng và giảm khả năng lao động

Bướu cổ là hiện tượng tuyến giáp to hơn bình thường, lượng hoocmone trong tuyến giáp thấp kích thích làm cho tuyến giáp phát triển to thành bướu Bướu cổ có nhiều mức độ khác nhau:

 Bướu cổ độ 1: bướu cổ không nhìn thấy rõ khi cổ ở vị trí bình thường nhưng bác sĩ có kinh nghiệm có thể sờ thấy khi khám

 Bướu cổ độ 2: bướu cổ nhìn thấy khi cổ ở vị trí bình thường

 Bướu cổ độ 3: bướu cổ to

Để đánh giá tình trạng thiếu iot ở cộng đồng, người ta thường dựa vào tỉ lệ bướu cổ ở trẻ lứa tuổi học sinh (8-11 tuổi) như sau:

 Thiếu iot ở mức nhẹ: tỉ lệ bướu cổ từ 5-19,9%

 Thiếu iot ở mức vừa: tỉ lệ bướu cổ từ 20-29,9%

 Thiếu iot ở mức nặng: tỉ lệ bướu cổ từ 30% trở lên

Thiếu iot ở phụ nữ trong thời kì mang thai gây ra sảy thai, thai chết lưu,

Trang 14

đẻ non Vào tuần thứ 12 của thời kì thai nghén, thai nhi cần iot để tự tổng hợp hoocmone giáp nhằm duy trì sự sống Khi thiếu iot nặng trẻ sinh ra bị tổn thương não gây khuyết tật bẩm sinh, trí tuệ kém phát triển

Trẻ sơ sinh từ 4 tháng tuổi nếu có dấu hiệu: khó bú, khó nuốt, ít cử động, cơ nhẽo, thóp rộng, lưỡi dày, tóc mọc thưa cần đưa tới khám ở tại cơ sở

y tế Đây là các dấu hiệu thiểu năng tuyến giáp sơ sinh

Thiểu năng tuyến giáp xảy ra do cơ thể không nhận đủ hoocmon tuyến giáp bởi lượng hoocmon tuyến giáp trong máu thấp Thiểu năng tuyến giáp ở trẻ nhỏ gây ra trẻ bị chậm trí tuệ, chậm chạp, lờ đờ, hay ngủ nhiều, da khô, táo bón, học kém

Bệnh đần độn xảy ra do thiếu thiếu iot trong quá trình phát triển của bào thai, gây ra sảy thai liên tiếp, thai chết lưu, sinh non đứa trẻ sinh ra bị đần độn do não bị tổn thương vĩnh viễn, thần kinh, trí tuệ, thể chất chậm phát triển

có thể gây ra câm, điếc, lùn…Trẻ hầu như không giao tiếp được với cộng đồng, hoặc giao tiếp được rất ít, trẻ thường có vẻ mặt ngớ ngẩn, hành vi bất thường, kèm theo các khuyết tật như nói ngọng, mắt lác, liệt 2 chân

Thiếu iot làm giảm sức khỏe, giảm năng suất lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế xã hội Ngoài ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gia súc ở vùng thiếu iot cũng nhỏ bé, cho ít sữa, thịt, trứng, lông và giảm khả năng sinh sản

Người ta đánh giá mức độ thiếu iotcủa quần thể dựa vào mức trung vị iot niệu như sau:[13]

Trang 15

Bảng 1.2.Tiêu chuẩn phân loại mức độ thiếu iot dựa vào iot niệu của

20 – 29,9 Thừa iot, nguy cơ gây cường giáp do iot trong 5-10

năm đầu phủ muối ở nhóm nhạy cảm

>30 Thừa, có hại (cường giáp do iot, bệnh tuyến giáp tự

miễn)

Nhu cầu iot của cơ thể thay đổi tùy theo tuổi, giới tính, tình trạng sinh lí [1]

Bảng 1.3 Bảng nhu cầu khuyến nghị theo Viện dinh dưỡng

Nhóm tuổi Nhu cầu iot (mcg/ngày)

Trẻ em 0 – 5

(tháng tuổi) 6 – 11

90

90 Trẻ nhỏ 1 – 3

Trang 16

Bà mẹ cho con bú(trong cả thời kì)

1.2 Nguyên nhân thiếu iot

Trong thiên nhiên phần lớn iot được dự trữ trong nước biển Từ biển iot theo hơi nước bốc hơi đi vào đất liền Mưa bổ sung iot cho đất nhưng cũng chính là nguyên nhân gây ra sói mòn làm trôi iot ra biển, làm nghèo nàn lượng iot trong đất Những khu vực đất liền càng xa đại dương thì nguy cơ thiếu iot lớn Sự thiếu hụt iot nghiêm trọng sảy ra trên các miền núi cao do chặt phá rừng, thói quen canh tác, có khi xảy ra ở vùng thường xuyên bị lũ lụt, đồng bằng có các sông lớn không có rừng phòng hộ

Thức ăn là nguồn cung cấp iot chủ yếu, con người và động vật sử dụng lương thực và cây cỏ nuôi trồng trên đất thiếu iot sẽ dẫn đến thiếu iot Phụ nữ

có thai và cho con bú, trẻ em là đối tượng có nguy cơ bị thiếu iot cao nhất Trẻ bị suy dinh dưỡng, dinh dưỡng của trẻ không đảm bảo từ trong bào thai: khi mang thai người mẹ không thường xuyên bổ sung các thực phẩm giàu iot, không có chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lí.Trẻ không được bú

mẹ theo đúng khuyến cáo của WHO (không được bú sữa non, không bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu…)

Trang 17

Chế độ ăn bổ sung thiếu chất dinh dưỡng, chưa bổ sung được các thực phẩm giàu iot cho trẻ

Trẻ bị nhiễm khuẩn, chế độ dinh dưỡng trong và sau khi khỏi bệnh không được đảm bảo (kiêng khem quá mức, không cho trẻ ăn bù khi khỏi bệnh…)

Di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp thyroxin dẫn đến sự hình thành bướu cổ

1.3 Biện pháp phòng chống các rối loạn do thiếu iot

Khoảng 90% lượng iot thu nhận được từ thực phẩm được tiêu thụ và phần còn lại từ nước Iot có sẵn trong nước, thức ăn và muối thông thường Một số biện pháp phòng chống CRLTI như:

- Chế độ ăn đa dạng, ăn các thực phẩm giàu iot (sản phẩm của biển: tôm, cua, cá biển, rong biển, thịt bò, trứng, sữa…)

- Sử dụng các chế phẩm bổ sung iot như:

Muối iot: Muối bổ sung iot dùng trực tiếp trong chế biến, sử dụng thực phẩm hoặc dùng để chế một số loại gia vị mặn khác như bột canh, nước mắm.Người ta đã lựa chọn trộn iot vào muối để phòng chống thiếu iot vì những lí do sau:

+ Muối là 1 trong 8 mặt hàng thiết yếu không thể thiếu được với đời sống hàng ngày của con người.Việc sử dụng muối ai cũng phải dùng, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp và mọi lứa tuổi trong xã hội Trung bình một người sử dụng 6g gia vị mặn/ người/ngày Khi bổ sung iot vào muối thì mọi người cũng được hưởng thụ một liều lượng như nhau

+ Trộn iot vào muối không làm thay đổi lí tính, hoá tính của muối Không làm thay đổi màu sắc, mùi vị Bằng mắt thường không phân biệt đâu là muối iot đâu là muối không iot

Dầu iot:là một hợp chất hữu cơ bao gồm iot gắn este - ethyl với axit béo trong dầu hạt thuốc phiện Có hai loại dầu iot: dầu iot tiêm và dầu iot

Trang 18

uống (viên nang) Năm 1963, Mc Cullagh đã tiêm một liều 5ml dầu iot nhằm đạt hiệu quả lâu dài trong phòng chống bướu cổ ở Papua New Guinea, liều nhỏ hơn được sử dụng cho phù hợp với liều 2ml cho người lớn và 1 ml cho trẻ nhỏ sống trong vùng có bướu cổ nặng và có đần độn

Nước pha iot: Có thể iot hoá nguồn nước sử dụng (nước giếng ) bằng cách thả các hộp silicon có chứa KI và iot được khuyếch tán dần ra nước hoặc pha iot vào nước uống dùng lugol làm dung dịch pha

Bánh mì hoặc các thực phẩm khác trộn iot: Bánh mỳ được trộn KIC3 với tỉ lệ 20ppm Người ta cũng có thể trộn iot vào các sản phẩm khác như sữa, bánh quy…

Truyền thông giáo dục rộng rãi trong cộng đồng, chú trọng các đối tượng ưu tiên: phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ…[5]

1.4 Cách sử dụng và bảo quản muối iot

1.4.1 Cách dùng

- Dùng như muối thường trong mọi hình thức nấu ăn chế biến, dùng cả

khi muối dưa, muối cà, làm mắm, làm gia vị…

- Lượng iot trong muối giảm khi nấu, vì vậy nếu hợp lí nên cho muối

iot vào thức ăn sau khi nấu chín Không rang muối iot

- Dùng thường xuyên, liên tục ngay cả những vùng khu vực đã thanh

toán được các tình trạng rối loạn do thiếu iot

1.4.2 Bảo quản

- Khi sử dụng để muối iot trong lọ có nắp đậy hoặc túi nilon buộc kín

- Để lọ (túi) iot xa bếp, tránh ánh sáng, tránh nơi nhiệt độ thấp, nhiệt độ cao

- Dùng xong mỗi lẩn rửa lọ sạch, phơi khô xong lại dùng tiếp đợt khác

1.4.3 Lưu ý khi mua:

- Bao muối đề ngoài là muối iot

- Có bao bì nguyên vẹn, muối phải khô, sạch, không lẫn những tạp chất bẩn

Trang 19

- Có nhãn mác nơi sản xuất, ngày tháng sản xuất, hạn sử dụng

Thiếu iot là nạn đói “tiềm ẩn” có ý nghĩa toàn cầu Theo thống kê của

Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới hiện có hơn 100 nước có vấn đề thiếu iot, khoảng 1,5 tỷ người sống trong vùng thiếu iot và có nguy cơ bị các rối loạn

do thiếu iot, trong đó có hơn 11 triệu người bị chứng đần độn do thiếu iot.[10] Các quốc gia có nguy cơ thiếu iot nặng tập trung chủ yếu ở khu vực Mĩ

La tinh, châu Phi, châu Á, châu Âu, Himalaya khu vực mà iot bị sói mòn do mưa lũ Tại Đông Nam Á có khoảng 175 triệu người bướu cổ, chiếm 16,7% tổng số bị bướu cổ của thế giới

Ở Trung Quốc năm 1978 có làng khoảng 80% người dân bị mắc bệnh bướu cổ, 11% bị đần độn Tại vùng núi Jawa (Indonexia) lượng iot trung bình thấp có tới 70% người bị mắc bệnh bướu cổ (1972).[10]

Tại Australia, mặc dù có biển bao bọc nhưng từ đầu thế kỷ thứ 20 người

ta đã phát hiện ở châu lục này tình trạng thiếu iot

Việc phòng chống các rối loạn do thiếu iot đã trở thành vấn đề toàn cầu, không chỉ riêng một quốc gia nào Vào những năm 1950 – 1960, người ta bắt

Trang 20

đầu quan tâm tới phòng chống thiếu iot trên cộng đồng Uỷ ban phòng chống các rối loạn do thiếu iot quốc tế cũng đã được thành lập Về phòng bệnh, có nhiều biện pháp bố sung iot vào cơ thể con người như: dùng thuốc (kali iodat, lugol), đưa iot vào thức ăn (như bánh mì, các loại đồ hộp), nước uống, muối ăn; dùng dầu iot (tiêm hoặc uống) Tùy theo hoàn cảnh và dân trí của từng nước mà các biện pháp phòng bệnh ở mỗi nước có khác nhau nhưng phần lớn các nước đều kết hợp từ hai, ba biện pháp trở lên.

Australia đã tiến hành phòng chống thiếu iot từ rất sớm Các biện pháp được sử dụng: đưa iot vào các nguồn thực phẩm mà người dân hay dùng như bánh mỳ, nước chấm, về sau họ đưa iot vào muối (gọi là muối iot – 1924) Vì vậy, cho đến nay hầu như không thấy người dân Australia bị bướu cổ hoặc bị các bệnh do rối loạn thiếu iot Đến những năm 1960, Australia đã thanh toán xong các rối loạn do thiếu iot

Các nước châu Á đã dùng muối iot từ những năm 1960 Năm 1970 Ấn

Độ đã ban hành Luật về muối iot “cả nước chỉ có một loại muối ăn là muối iot” Vì vậy tỷ lệ bướu cổ ở Ấn Độ của những năm 1960 từ 34,1% đả giảm xuống còn 7,5% năm 1989.[1]

Philippin, Malaysia, Indonexia cũng đã thực hiện toàn dân dùng muối iot

từ những năm 70 và đã có luật về muối iot Ở Thái Lan, iot được bổ sung bằng nhiều hình thức: đưa iot vào muối, vào nước mắm và vào cả nước uống Việc trộn muối iot, ngoài các xí nghiệp tập trung ở các thành phố, các tỉnh, họ còn dùng máy trộn và đóng gói ngay tại xã làng

Trung Quốc đã triển khai công tác phòng chống rối loạn do thiếu iot

từ năm 1960 Lúc đầu chỉ triển khai ở các tỉnh miền núi, đến năm 1994, đã phủ muối iot cho cả nước với 1 tỷ 200 triệu dân Năm 1995, Trung Quốc đã ban hành Luật “Cả nước chí có một loại muối ăn là muối iot”

Trang 21

1.5.2 Tình hình thiếu hụt iot và hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu iot ở trong nước

Tình hình thiếu hụt iot

Việt Nam là một nước nằm trong vùng thiếu iot Kết quả cuộc điều tra quốc gia năm 1992 ở nước ta cho thấy: 84% trường hợp bị thiếu iot (dựa theo định lượng iot niệu), trong đó tỉ lệ thiếu nặng là 16% (iot niệu dưới 2µg/dl), thiếu vừa 45% (iot niệu từ 2 - 4,9µg/dl), thiếu nhẹ 23% (iot niệu từ 5 - 9,9 µg/dl) Năm 1994 - 1995, cuộc điều tra toàn quốc cho thấy vùng Đồng bằng Sông Cửu Long tỉ lệ mắc bướu cổ là 18%, Đồng bằng Sông Hồng dao động từ

10 – 30% Các tỉnh miền núi nơi đã dùng muối iot và dầu iot tiêm từ năm

1976, đến nay tỉ lệ bướu cổ giảm đi và xét nghiệm nước tiểu cho thấy iot niệu

ở mức trung bình Trong khi các tỉnh chưa phòng bệnh, iot trong nước tiểu ở mức rất thấp Năm 2000, tỉ lệ người được xét nghiệm có mức iot niệu thấp trên 30% Như vậy, tình trạng thiếu iot ở nước ta mang tính chất toàn quốc, không kể miền núi, thành thị hay vùng đồng bằng, ven biển

Bảng 1.4 Mức trung vị iot niệu ở từng khu vực và toàn quốc

trong 1 số năm

Khu vực Năm 2000 Năm 2003 Năm 2005

Trung du và miền núi phía Bắc 26,0 24,4 20,8 Đồng bằng Sông Hồng 15,2 18,2 12,9

Trang 22

Số liệu điều tra cho thấy giai đoạn 2001 – 2005 nhờ hoạt động của Dự

án Quốc gia phòng chống các rối loạn do thiếu iot luôn duy trì được mức trung vị iot niệu trên 10µg/dl trên quy mô toàn quốc Năm 2005, mức trung vị

iot niệu đạt 11,3 µg/dl Khu vục Đồng bằng Sông Cửu Long có độ phủ muối iot thấp nhất toàn quốc (mức trung vị iot niệu chỉ đạt 7,2 µg/dl)

Điều tra năm 2009 cho thấy mức trung vị iot niệu toàn quốc là 8,3 µg/dl trong khi mục tiêu duy trì thanh toán các rối loạn do thiếu iot là ≥ 10,0 µg/dl) Mức trung vị iot niệu các khu vực thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long, Miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ thấp Tỷ lệ thiếu hụt iot trung bình và nặng là 22,9% và 5% Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối iot chỉ còn 69,5%.[12]

Hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu iot

Từ năm 1970 nước ta đã bắt đầu có các hoạt động phòng chống bướu

cổ Ban đầu chương trình chỉ tập trung tại 17 tỉnh miền núi phía Bắc nơi có tỷ

lệ bướu cổ cao (16-55%).Vào thời điểm này, muối iot được trộn bằng phương pháp thủ công và còn sử dụng dầu iot Tuy nhiên, đến năm 1993, điều tra dịch

tễ học bướu cổ trẻ em toàn quốc đã được triển khai và phát hiện ra rằng tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em là 22% và nồng độ iot niệu trung vị là 3,2 µg/dl Kết quả này quá thấp so với khuyến cáo của WHO rằng mức iot niệu trung vị cần trên ngưỡng 10,0 µg g/dl Dựa trên cơ sở dữ liệu điều tra này, Chính Phủ đã mở rộng chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iot trên phạm vi toàn quốc và ban hành quyết định 481TTg vận động toàn dân mua và sử dụng muối iot Năm 1999, Chính Phủ đã ban hành nghị định 19 về sản xuất và cung ứng muối iot.Trong quá trình triển khai muối iot được coi là một mặthàng thiết yếu của vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu và được trợ giá.[8]

Nhờ quyết tâm và nỗ lực của Chính phủ cũng như các Bộ ngành liên quan, chương trình Quốc gia Phòng chống các rối loạn do thiếu iot đã đạt

Trang 23

được hầu hết các mục tiêu mà Chính phủ đề ra cho giai đoạn 2001 - 2005 về toàn dân sử dụng muối iot Tuy nhiên như ở trên chúng tôi đã trình bày sau năm 2005, Dự án Quốc gia Phòng chống các rối loạn do thiếu iot đã chuyển sang là hoạt động thường quy của ngành y tế, không còn là dự án mục tiêu Quốc gia Mục tiêu duy trì bền vững thành quả đã đạt không giữ được Trên toàn quốc, độ bao phủ muối iot đủ tiêu chuẩn phòng bệnh giảm từ 92,8% năm

2005 xuống còn 45,1% năm 2014 Như vậy hiện nay cộng đồng lại phải đối đầu với tình trạng thiếu hụt iot và các hậu quả của nó.Lại một lần nữa chúng

ta phải có sự chung tay gắng sức để khắc phục tình trạng này

1.6 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành của người dân trong phòng chống các rối loạn do thiếu iot

Tác giả Võ Thị Ngọc Nga và cộng sự đã nghiên cứu về kiến thức, thực hành sử dụng muối iot và các chế phẩm muối có iot ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Thừa Thiên Huế năm 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy độ bao phủ muối iot

đủ tiêu chuẩn phòng bệnh theo quy định của WHO/ICCIDD/UNICEF là 91,1%; mức trung vị iot niệu là 12,6µg/dl; tỷ lệ phụ nữ biết tác dụng của muối iot rất cao: 98,1%; 87,8% phụ nữ biết cách bảo quản muối iot.[7]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá kiến thức, thực hành về sử dụng muối iotcủa tác giả Nguyễn Văn Lành và Phan Quốc Tuấn được thực hiện trên 420 phụ nữ lứa tuổi từ 15-49 trực tiếp chế biến thức ăn trong gia đình ở Hậu Giang năm 2014 Kết quả cho thấy 92,6% phụ nữ biết tác hại của thiếu iot nhưng chỉ biết gây bệnh bướu cổ, chỉ có 2,1% phụ nữ có hiểu biết đầy đủ

về các tình trạng rối loạn do thiếu iot Nguồn thông tin về sử dụng muối iot

mà các phụ nữ nội trợ gia đình ở Hậu Giang biết chủ yếu là qua vô tuyến truyền hình (54,5%); nghe qua nhân viên y tế (33,3%) và nghe đài truyền thanh (30,2%); 70,7% số phụ nữ có sử dụng muối iot để chế biến thức ăn nhưng phần lớn các hộ gia đình bảo quản muối chưa được tốt, để muối bị ẩm ướt (84%) gây ảnh hưởng đến chất lượng iot trong muối.[6]

Ngày đăng: 15/07/2020, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Y tế,Viện dinh dưỡng (2006), Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, NXB Y học,Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế,Viện dinh dưỡng
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2006
[4]. Hà Huy Khôi và cộng sự (2004),“ Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm, Nxb Y học.tr 126-126, tr 267-271 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm
Tác giả: Hà Huy Khôi và cộng sự
Nhà XB: Nxb Y học.tr 126-126
Năm: 2004
[5].Nguyễn Công Khẩn và cộng sự (2008),Dinh dưỡng cộng đồng và An toàn vệ sinh an toàn thực phẩm, Nxb Giáo dục.tr 175-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng cộng đồng và An toàn vệ sinh an toàn thực phẩm
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn và cộng sự
Nhà XB: Nxb Giáo dục.tr 175-179
Năm: 2008
[6]. Nguyễn Văn Lành, Phan Quốc Tuấn (2016), Kiến thức, thực hành về sử dụng muối I ốt của phụ nữ trực tiếp chế biến thức ăn gia đình ở Hậu Giang, năm 2014. Tạp chí Y tế dự phòng,Tập XXVI (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y tế dự phòng
Tác giả: Nguyễn Văn Lành, Phan Quốc Tuấn
Năm: 2016
[7]. Võ Thị Ngọc Nga, Nguyễn Đình Sơn, Hà Thế Vinh, Lê Đình Quang và Trần Đạo Phong (2014), Nghiên cứu kiến thức, thực hành sử dụng muối Iot và các chế phẩm có Iot ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Thừa Thiên Huế năm 2007, Tạp chí Y học thực hành, (số 596) 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Võ Thị Ngọc Nga, Nguyễn Đình Sơn, Hà Thế Vinh, Lê Đình Quang và Trần Đạo Phong
Năm: 2014
[9]. Nguyễn Thị Thắm (2014), Kiến thức-Thực hành và các yếu tố liên quan đến sử dụng muối i-ốt của người dân tại xã Giai Phạm, Yên Mỹ, Hưng Yên, Tạp chí y học dự phòng,(Số 9 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2014
[2]. Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2013). Báo cáo kết quả điều tra tình hình sử dụng muối I ốt và thu nhận I ốt của phụ nữ có con nhỏ dưới 5 tuổi năm 2008,2009 – phần 1 Khác
[3]. Hồng Hữu Dũng (2016), Kiến thức thực hành sử dụng muối I ốt của phụ nữ 18 – 49 tuổi tại 2 huyện Phú Giáo và Dầu Tiếng năm 2015.Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Dương Khác
[8]. Nghị định của chính phủ số 19/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 1999 về việc sản xuất và cung ứng muối iot cho người ăn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w