TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON NGUYỄN THỊ HUYỀN KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA CÁC BÀ MẸ NUÔI CON NHỎ TẠI XÃ THÀNH CÔN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ HUYỀN
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA CÁC BÀ MẸ NUÔI CON NHỎ TẠI XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN
KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo Dục Mầm Non
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ HUYỀN
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA CÁC BÀ MẸ NUÔI CON NHỎ TẠI XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN
KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo Dục Mầm Non
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S Bùi Ngân Tâm
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài “Khảo sát kiến thức, thực hành phòng
chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công,huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”, tôi đã thường xuyên nhận sự giúp đỡ
tận tình, tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, các thầy
cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn trực tiếp – Ths Bùi Ngân Tâm
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới Ths Bùi Ngân Tâm – người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND xã Thành Công, trạm y tế
xã, các cộng tác viên và các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình tôi, là nguồn động viên và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày 9 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths Bùi Ngân Tâm Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Vĩnh Phúc, ngày 9 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đại cương về bệnh TMDTS 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Nguyên nhân TMDTS 4
1.1.3 Đối tượng có nguy cơ thiếu sắt cao 4
1.1.4 Dấu hiệu nhận biết 5
1.1.5 Hậu quả của TMDTS 5
1.1.6 Một số biện pháp phòng chống thiếu sắt 7
1.2.Tình hình TMDTS trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Tình hình TMDTS trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình TMDTS ở Việt Nam 9
1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống thiếu máu do thiếu sắt 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Nội dung nghiên cứu 11
2.3 Phương pháp nghiên cứu 11
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
3.1 Kết quả khảo sát kiến thức phòng chống bệnh TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 13
3.1.1 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát 13
3.1.2 Kết quả khảo sát kiến thức của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên về đối tượng có nguy cơ cao bị bệnh TMDTS 14
3.1.3 Kết quả khảo sát kiến thức của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên thức về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh hưởng của bệnh TMDTS 15
3.1.4 Kết quả khảo sát kiến thức về phòng chống bệnh TMDTS của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 18
3.2 Kết quả khảo sát về thực hành phòng chống TMDTS của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 20
3.2.1 Thực hành sử dụng sắt dược phẩm của các BMNCN trong thời gian mang thai 20
3.2.2 Thực hành dinh dưỡng của các bà mẹ 23
3.2.3 Thực hành phòng chống nhiễm kí sinh trùng 26
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 7UNSCN United Nations ( Liên hiệp quốc)
SDD Suy dinh dưỡng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát (n=60) 13 Bảng 3.2 Kiến thức của các bà mẹ nuôi con nhỏ về đối tượng có nguy cơ cao bị TMDTS (n= 60) 15 Bảng 3.3 Kiến thức của các BMNCN về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh hưởng của bệnh TMDTS (n=60) 15 Bảng 3.4 : Kiến thức của các BMNCN về phòng chống bệnh TMDTS (n=60) 18 Bảng 3.5: Thực hành sử dụng sắt dược phẩm của các BMNCN trong thời gian mang thai (n=60) 20 Bảng 3.6: Thực hành dinh dưỡng của các BMNCN (n=60) 24 Bảng 3.7 Thực hành phòng chống nhiễm kí sinh trùng (n=60) 27
Trang 91
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng Hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu bất kể lý do gì
Thiếu máu do thiếu sắt (TMDTS) là loại thiếu máu dinh dưỡng hay gặp nhất, có thể kết hợp với thiếu acid folic nhất là trong thời kì có thai Các loại thiếu máu dinh dưỡng khác như thiếu vitamin B12, pyridoxin (B6) và đồng ít gặp hơn Các đối tượng thường bị đe dọa thiếu máu dinh dưỡng là trẻ em, học sinh và nhất là phụ nữ có thai
Theo ước tính gần đây nhất của WHO, trên toàn thế giới có trên 2 tỷ người bị thiếu sắt, trong số này 1,2 tỷ người có biểu hiện thiếu máu Thiếu máu hay gặp ở các nước đang phát triển Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở Châu Phi, Nam
Á rồi đến Mỹ La tinh trong khi các nước ở vùng khác tỷ lệ thấp hơn [2] Ở Việt Nam, thiếu máu bà mẹ và trẻ em được xác định là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng Báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2014-2015 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi: 27,8%; phụ nữ không có thai: 25,5%; phụ nữ mang thai: 32,8% [16] Nguyên nhân chính của thiếu máu ở phụ nữ Việt Nam cũng là
do thiếu sắt, chiếm từ 22-86,3% ở một số vùng nông thôn và miền núi [9]
TMDTS là do cơ thể không nhận đủ lượng sắt cần thiết từ khẩu phần, do mất máu, nhiễm giun, rối loạn hấp thu sắt và nhu cầu tăng Ở phụ nữ, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt cao thường liên quan đến mất máu qua các kỳ kinh nguyệt, nhu cầu cao khi mang thai và thời gian cho con bú Hậu quả của TMDTS rất nặng nề đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ em và năng suất lao động người lớn Thiếu máu ở phụ nữ cũng làm tăng nguy cơ tai biến và tử vong mẹ trong cả thời
kỳ mang thai và sinh nở Với các ảnh hưởng nặng nề của TMDTS, việc phòng ngừa, phát hiện sớm và có kế hoạch điều trị kịp thời sẽ là can thiệp có hiệu quả
trong việc nâng cao sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em
Trang 102
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây tác động của các can thiệp dinh dưỡng, y tế và những cải thiện kinh tế xã hội đã góp phần làm giảm tình trạng thiếu máu trong cộng đồng Tuy nhiên mức độ giảm không đáng kể và không đồng đều giữa các đối tượng, các vùng, các khu vực Thiếu máu dinh dưỡng vẫn là một vấn đề dinh dưỡng quan trọng hàng đầu ở nước ta Tỷ lệ thiếu máu dao động nhiều theo địa phương đã nói lên tính phức tạp của các nguyên nhân gây tình trạng thiếu máu
Bổ sung viên sắt/acid folic kết hợp với khẩu phần hợp lí được xem là giải pháp quan trọng để giải quyết tình trạng thiếu máu do thiếu sắt Việt Nam hiện đang áp dụng phác đồ bổ sung sắt hàng ngày để điều trị thiếu máu của Tổ chức
Y tế Thế Giới cho trẻ em và phụ nữ có thai Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng viên sắt theo phác đồ này còn nhiều hạn chế do tác dụng phụ về đường tiêu hóa, khó khăn về vấn đề tuyên truyền và duy trì tuân thủ uống thuốc theo đúng chỉ dẫn Trên thực tế kiến thức và thực hành của các bà mẹ về việc sử dụng viên sắt, chế độ dinh dưỡng hợp lí rất quan trọng trong phòng chống thiếu máu trong cộng đồng nói chung và cho phụ nữ, trẻ nhỏ nói riêng Việc nâng cao nhận thức, thực hành cho các bà mẹ là việc làm thiết thực nhất Hoạt động này có liên quan đến tập quán, thói quen, tình trạng kinh tế của gia đình và cộng đồng Thành Công là một xã thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Trước đây nghề nông là công việc chính của người dân ở đây Hiện nay nơi đây có các khu công nghiệp với nhiều công ty, nhà máy thu hút phần lớn nhân công ở địa phương [14] Một đặc điểm dễ nhận thấy ở Thành Công nói riêng và các vùng nông thôn có khu công nghiệp nói chung là người dân vừa đi làm tại các công
ty, nhà máy vừa kết hợp tranh thủ làm nông nghiệp Trong sự thay đổi như vậy
về kinh tế, xã hội tại địa phương thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống thiếu máu do thiếu sắt của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại đây còn hạn chế gì? Có thể đề xuất các giải pháp gì để góp phần cải thiện thực trạng đó? Để giải đáp các vần đề này chúng tôi thực hiện đề tài:
Trang 113
“Khảo sát kiến thức, thực hành phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Góp phần cải thiện tình trạng TMDTS của người dân nói chung và của các
bà mẹ, trẻ nhỏ nói riêng tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 124
Phần 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về bệnh TMDTS
1.1.1 Khái niệm
đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống Bởi vậy, thực chất thiếu máu là sự thiếu hụt lượng huyết sắc tố trong máu lưu hành [5]
Thiếu máu thiếu sắt: là tình trạng thiếu máu xảy ra do cơ thể không đủ sắt
đáp ứng nhu cầu tạo hồng cầu vì những nguyên nhân khác nhau Thiếu máu thiếu sắt là một loại bệnh thiếu máu phổ biến TMDTS có thể kết hợp với thiếu axit folic, thiếu vitamin B12 [5]
Thiếu máu do thiếu sắt là bệnh thiếu máu dinh dưỡng hay gặp nhất ở nước
ta Thiếu máu là bệnh tiến triển âm thầm nên thường bị bỏ qua
- Ăn bổ sung không đúng và không hợp lý: sớm quá hoặc muộn quá, thực phẩm bổ sung quá nghèo nàn, thiếu các chất dinh dưỡng cần cho tạo máu, đặc biệt là thiếu sắt
- Tăng nhu cầu dinh dưỡng khi có thai, cơ thể trẻ em, vị thành niên
- Mất máu kì kinh nguyệt, khi sinh đẻ
- Nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng
1.1.3 Đối tượng có nguy cơ thiếu sắt cao [8]
Những đối tượng có nguy cơ thiếu sắt cao bao gồm: phụ nữ mang thai; phụ nữ sau khi sinh; trẻ đẻ non, nhẹ cân hoặc không được nuôi bằng sữa mẹ; trẻ
Trang 131.1.4 Dấu hiệu nhận biết [4], [8]
Biểu hiện lâm sàng của thiếu máu do thiếu sắt thường rất nghèo nàn, lặng
lẽ Chính vì vậy thiếu máu do thiếu sắt thực sự là một bệnh thiếu vi chất tiềm ẩn Người bị thiếu máu có thể không tự nhận ra mình có bệnh, điều đó cho thấy sự khó khăn trong phòng chống bệnh này ở cộng đồng Biểu hiện của thiếu máu nhẹ: mệt mỏi, mất ngủ, kém tập trung Khi bị thiếu máu nặng có thể xuất hiện các triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi lao động gắng sức, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn
Ở phụ nữ có thai có biểu hiện: mệt mỏi, khó tập trung; khi thiếu nặng thường có dấu hiệu chóng mặt, khó thở, tim đập mạnh, da xanh, niêm mạc nhợt Đối với trẻ nhỏ, tùy theo mức độ bệnh có thể có các biểu hiện: Mệt mỏi, quấy khóc, vật vã, ngủ ít; biếng ăn, chậm tăng cân, gầy ốm; da xanh; tóc gãy, dễ rụng, bạc màu; móng tay móng chân dẹp, biến dạng; chậm biết ngồi, biết đứng, biết đi, bắp thịt nhão, bụng chướng, đau nhức xương
Để chẩn đoán chính xác bệnh thiếu máu người bệnh cần đi khám và làm các xét nghiệm huyết học
1.1.5 Hậu quả của TMDTS [5],[6]
Sắt là một trong những chất vi lượng có vai trò quan trọng bậc nhất, có mặt trong hầu hết các tổ chức của cơ thể đặc biệt tập trung nhiều ở: hemoglobin
Trang 146
(Hb), myoglobin và một số enzyme Vì vậy sắt tham gia vào việc vận chuyển và
dự trữ oxy, các quá trình chuyển hoá như tổng hợp DNA, vận chuyển electron…
Ở người bình thường, 90- 95% lượng sắt trong cơ thể được tái sử dụng từ nguồn sắt do hồng cầu già bị phá hủy và giải phóng ra, có 5 - 10% (1 - 2mg) lượng sắt được bài tiết qua nước tiểu, mồ hôi, phân Để bù lại lượng sắt mất đi,
cơ thể nhận thêm sắt từ thức ăn, quá trình hấp thu sắt diễn ra chủ yếu ở dạ dày, hành tá tràng và đoạn đầu hỗng tràng
Khi thiếu máu do thiếu sắt cơ thể sẽ gánh chịu các hậu quả sau:
- Ảnh hưởng tới khả năng lao động
Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu ô xy ở các tổ chức, đặc biệt ở não, ở tim và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ do đó làm giảm khả năng lao động ở những người bị thiếu máu Khi tình trạng thiếu máu được cải thiện thì năng suất lao động cũng tăng theo
- Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ
Người bị thiếu máu thường dễ bị mất ngủ, mệt mỏi, kém tập trung, dễ bị kích thích, khi già dễ bị mắc bệnh mất trí nhớ Thiếu máu do thiếu sắt làm giảm 10-30% năng suất lao động do khả năng tư duy và nhận thức của não bộ đều bị giảm sút Thực hiện nghiên cứu trên 5.400 em từ 6 đến 16 tuổi, các nhà khoa học Mỹ thấy rằng khi làm bài kiểm tra toán, các em thiếu sắt có khuynh hướng
bị điểm dưới trung bình cao gấp hai lần so với các em khác Các em bị thiếu sắt
sẽ kém tập trung, hay ngủ gật trong giờ học, học bài khó nhớ, mau quên Cơ bắp không đủ ôxy nên các em sẽ mau mệt khi hoạt động thể lực [3 ]
- Ảnh hưởng tới thai sản
Phụ nữ bị thiếu máu khi có thai tăng nguy cơ sảy thai, bong nhau thai, đẻ non, đẻ con yếu, dễ bị băng huyết khi sinh, thậm chí có thể tử vong cả mẹ và con
dễ bị mắc các bệnh nhiễm trùng ở thời kỳ hậu sản Vì vậy người ta coi thiếu máu dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là một đe dọa sản khoa
- Giảm sức đề kháng của cơ thể
Người bị thiếu máu suy giảm sức đề kháng dễ bị ốm, dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn
Trang 15và hướng
- Cải thiện bữa ăn: Đa dạng hóa bữa ăn Lựa chọn thực phẩm giàu sắt cho bữa ăn gia đình Những thực phẩm giàu sắt bao gồm: các loại thịt như thịt bò, lợn, gan lợn, tiết lợn; cá ngừ; lòng đỏ trứng; các loại đậu Dùng thêm nước
mắm, xì dầu, bánh quy … có bổ sung chất sắt
Chất sắt có nguồn gốc từ động vật dễ hấp thu hơn từ thực vật Trong bữa
ăn, nếu có rau xanh hoặc sau bữa ăn dùng thêm trái cây tươi giàu vitamin C (cam, chanh, bưởi, táo, sơ ri, đu đủ, chuối ) sẽ giúp cơ thể hấp thu sắt tốt hơn Không nên uống nước trà đặc quá gần bữa ăn mà chỉ uống cách sau bữa ăn từ 2 giờ trở đi vì tanin trong trà sẽ hạn chế hấp thu sắt
- Điều trị triệt để các bệnh gây mất máu mãn tính; phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét; vệ sinh môi trường
Các bệnh gây mất máu mãn tính: trĩ, xuất huyết dạ dày… cần được điều trị triệt để
Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm trùng cũng là một trong những giải pháp phòng chống thiếu máu Định kỳ tẩy giun, đặc biệt giun móc sẽ có tác động tới cải thiện tình trạng sắt Khuyến nghị tẩy giun định
kỳ hàng năm bằng Mebendazol và Albendazol, đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em trên 2 tuổi Các giải pháp phối hợp là vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân: Khuyến khích thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh,
sử dụng nước sạch cho ăn uống Xử lý phân rác hợp vệ sinh, không dùng phân tươi bón ruộng, sử dụng bảo hộ lao động khi làm nông nghiệp
Trang 16vệ sinh ăn uống tốt (ăn chín, uống sôi; rửa sạch rau, trái ), vệ sinh cá nhân (rửa tay trước khi ăn và sau khi tiêu tiểu, khi chế biến thực phẩm, không đi chân đất ); vệ sinh môi trường nhà ở
1.2.Tình hình TMDTS trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình TMDTS trên thế giới
Thiếu máu là vấn đề sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, gây hậu quả nặng nề đối với sức khỏe con người cũng như đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Thiếu máu xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ vòng đời, nhưng phổ biến nhất ở phụ nữ có thai
và nuôi con nhỏ Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ có nguy cơ cao bị thiếu máu do cạn kiệt sắt mạn tính vì mất sắt trong các chu kỳ kinh nguyệt
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới từ số liệu điều tra trên 192 quốc gia từ năm 1993 đến năm 2005 cho thấy có 56,4 triệu phụ nữ có thai bị thiếu máu, chiếm 41,8%, trong đó tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở châu Phi (57,1%), tiếp đến Đông Nam Á (48,2%) Châu Âu và châu Mỹ có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (25,1% và 24,1%) Có khoảng 468,4 triệu phụ nữ không có thai trên toàn cầu bị thiếu máu, chiếm 30,2% Châu Phi vẫn là châu lục có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (47,5%) với 69,9 triệu phụ nữ bị thiếu máu Đông Nam Á có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (45,7%) nhưng lại ảnh hưởng tới 182 triệu phụ nữ Châu Âu và châu
Mỹ tỷ lệ thiếu máu gần như thấp nhất (19% và 17,8%) [9] Ủy ban thường trực
về dinh dưỡng của Liên hiệp quốc (UNSCN) nhận xét rằng tỷ lệ thiếu máu qua nhiều năm cải thiện chưa nhiều, thậm chí không giảm được bao nhiêu so với các thiếu hụt dinh dưỡng khác
Trang 179
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1996 tại Banglades trên 179 phụ nữ tuổi từ 15 - 49 không có thai cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 73% trong đó thiếu máu nhẹ chiếm 52%, thiếu máu vừa chiếm 20% và thiếu máu nặng chỉ chiếm 1% [13]
Jemal Haidar nghiên cứu trên 170 phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Ethiopia năm
2005 cho biết: tỷ lệ thiếu máu: 30,4%; thiếu sắt: 50,1%; thiếu máu thiếu sắt: 18,1% [8]
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2005 tại nông thôn Ấn Độ trên 19.659 phụ nữ, cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 47,9% [8]
1.2.2 Tình hình TMDTS ở Việt Nam
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, ở Việt Nam thiếu máu cũng được coi là vấn đề sức khoẻ cộng đồng Mặc dù tình trạng thiếu máu đã được cải thiện trong vài thập kỷ qua nhưng mức giảm còn chậm
Số liệu điều tra toàn quốc của Viện Dinh Dưỡng quốc gia năm 1995 cho thấy thiếu máu ở phụ nữ có thai là 52,7%; ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 40,2% và ở trẻ em là 45,3% Tỷ lệ thiếu máu năm 2000 đã giảm một cách đáng
kể so với điều tra năm 1995 ở tất cả các nhóm đối tượng, thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ giảm xuống còn 24,3% [10]
Năm 2008 thì tỷ lệ thiếu máu của PNTSĐ trên toàn quốc là 28,8% và ở mức trung bình ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng Vùng núi Tây Bắc là nơi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất trong cả nước (56,7%) và ở mức nặng về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng, sau đó là vùng Nam miền Trung (36,3%) và vùng núi Đông Bắc (31,9%) Ngoài vùng núi Tây Bắc thì tỷ lệ thiếu máu ở sáu vùng còn lại đều ở mức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [10]
Điều tra quốc gia về Vi chất dinh dưỡng năm 2014, 2015 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em < 5 tuổi: 27,8%; ở phụ nữ có thai là 32,8%; ở phụ nữ không
có thai : 25,5% [16]
Trang 18uống hàng ngày chỉ chiếm 72,3% [12]
Nghiên cứu của Hồ Thu Mai (2013) cho biết điểm trung bình thực hành phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đúng của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Tân Lạc, Hòa Bình chỉ đạt từ 5,0 ± 1,1 điểm trên tổng số 11 điểm thực hành Chính vì điểm trung bình thực hành của phụ nữ tuổi sinh đẻ thấp nên tỷ lệ phụ nữ có thực hành phòng chống thiếu máu tốt còn thấp (28,9%) Điểm trung bình kiến thức về phòng chống thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu thấp hơn nhiều (7,3±4,3/52 điểm) so với điểm trung bình kiến thức phòng chống thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Huế năm 2006 (22-23/100 điểm) nhưng điểm thực hành của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Huế lại thấp hơn (41,3-43,4/100 điểm) [11]
Tác giả Nguyễn Văn Hòa và cộng sự (2014) đã phỏng vấn 281 phụ nữ đang mang thai và cho con bú tại phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên Huế Kết quả cho thấy: có 95% các bà mẹ đã nghe nói về bệnh thiếu máu; về kiến thức phòng chống thiếu máu Tỷ lệ các bà mẹ biết nên uống viên sắt là 80,4%, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng là 77,9%, ăn thức
ăn giàu sắt 25,3%; tỷ lệ các bà mẹ biết tác hại của thiếu máu làm giảm khả năng lao động là 61,2%, gây sẩy thai, sinh non, băng huyết: 49,1%, giảm trí nhớ 17,1% [3]
Nghiên cứu của Hoàng Thu Trang vào năm 2017 cho thấy phụ nữ nuôi con nhỏ tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã có kiến thức và hiểu biết cơ bản trong việc phòng chống thiếu sắt Có 45/56 bà mẹ (80,36%) có uống viên sắt khi mang thai [13]
Trang 1911
CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiến thức, thực hành phòng chống TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ
- Khách thể nghiên cứu: Các bà mẹ nuôi con nhỏ đồng ý tham gia khảo sát tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát kiến thức phòng chống TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại
xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
2.2.2 Khảo sát thực hành phòng chống TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại
xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc tài liệu: tổng hợp thông tin dùng cho việc viết phần
tổng quan và phần bàn luận
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
+ Phương pháp điều tra: Điều tra hoạt động tuyên truyền và các hoạt động
khác góp phần phòng chống TMDTS tại địa phương
+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng bộ câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp các bà
mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tự nguyện tham gia phỏng vấn Phiếu khảo sát được thiết kế sẵn gồm 3 phần:
Phần thông tin chung về đối tượng nghiên cứu gồm: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế hộ gia đình, số con
Phần kiến thức gồm: kiến thức về đối tượng có nguy cơ cao bị TMDTS (1 nội dung); nguyên nhân, biểu hiện và ảnh hưởng của bệnh TMDTS (3 nội dung); kiến thức về phòng chống bệnh TMDTS (5 nội dung)
Phần thực hành gồm: thực hành về sử dụng sắt dược phẩm trong thời
gian mang thai (9 nội dung); thực hành về dinh dưỡng (8 nội dung)
Trang 2012
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các khuyến cáo của y tế về phòng chống TMDTS Từ kết quả phỏng vấn đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
- Phương pháp xử lí số liệu: dùng phần mềm Excell
Trang 2113
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả khảo sát kiến thức phòng chống bệnh TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Chúng tôi đã dùng phiếu khảo sát với bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để thu thập các thông tin về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh TMDTS của 60
bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Phiếu được thiết kế với 5 câu hỏi về thông tin chung của các bà mẹ, 10 câu hỏi phỏng vấn kiến thức và 17 câu hỏi phỏng vấn thực hành
Các câu hỏi phỏng vấn kiến thức của các bà mẹ nuôi con nhỏ về phòng chống bệnh TMDTS tập trung vào 3 nhóm chính: kiến thức về đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh TMDTS; nguyên nhân, biểu hiện, ảnh hưởng của bệnh TMDTS và kiến thức về phòng chống bệnh TMDTS
3.1.1 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát
Bảng 3.1 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát (n=60)
Tuổi
18 đến dưới 30
30 đến dưới 40 Trên 40
38
20
2
63,33 33,33 3,33
Trình độ
văn hóa
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Khác (trung cấp, cao đẳng, đại học )
Nghề
nghiệp
Nông dân Công nhân Viên chức Khác( buôn bán, dịch vụ )
Trang 2214
Hộ có mức sống trung bình Khác
0
48
12
0 80,00 20,00
3,33
Số liệu bảng 3.1 cho thấy:
- Các bà mẹ tham gia khảo sát ở độ tuổi từ 18 đến dưới 30 là chủ yếu chiếm 63,33%; các bà mẹ ở độ tuổi trên 40 chiếm tỷ lệ thấp (3,33%)
- Điều kiện kinh tế của các gia đình phần lớn ở mức trung bình (80%), số gia đình có mức sống khá giả ít (20%), không có hộ cận nghèo, hộ nghèo
- Các bà mẹ đã tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (41,66%); có 21/60 bà mẹ chiếm 35% đã tốt nghiệp trung học phổ thông; có 2/60 bà mẹ chiếm 3,33% có trình độ tiểu học
- Các bà mẹ là công nhân; viên chức; buôn bán, làm dịch vụ chiếm tỷ lệ xấp xỉ nhau lần lượt tương ứng là: 31,66; 31,66 và 30%; các bà mẹ là nông dân chiếm tỷ lệ thấp (6,66%) Tuy vậy như ở phần đầu chúng tôi đã giới thiệu trước
đây người dân ở Thành Công làm nông nghiệp là chủ yếu, gần đây ở địa phương
có các công ty, xí nghiệp được mở ra ở địa phương vì vậy số người dân chuyển sang làm công nhân, viên chức và dịch vụ tương đối đông Tuy làm ngành nghề khác nhưng họ vẫn tranh thủ làm thêm việc đồng áng là công việc trước đây họ
đã làm Vì vậy các bà mẹ này tương đối bận, thời gian chăm sóc con nhỏ bị eo
hẹp
3.1.2 Kết quả khảo sát kiến thức của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên về đối tượng có nguy cơ cao bị bệnh TMDTS
Trang 23- Trẻ vị thành niên (đặc biệt là trẻ gái)
- Phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Số liệu bảng 3.2 cho thấy:
Số bà mẹ biết phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ là đối tượng có nguy cơ cao bị TMDTS là cao nhất 41/60 bà mẹ biết điều này chiếm 68,33%; có 28/60 bà mẹ biết phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có nguy cơ TMDTS chiếm 46,66% Số bà mẹ biết trẻ nhỏ; trẻ vị thành niên đặc biệt là trẻ gái là đối tượng
có nguy cơ cao bị TMDTS chiếm tỉ lệ thấp (30,00% và 10,00%) Hiểu biết của các bà mẹ về đối tượng có nguy cơ cao bị TMDTS không đầy đủ sẽ dẫn tới bỏ sót đối tượng cần quan tâm trong thực hành phòng chống TMDTS
3.1.3 Kết quả khảo sát kiến thức của các BMNCN tại xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên thức về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh hưởng của bệnh TMDTS
Bảng 3.3 Kiến thức của các BMNCN về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh
hưởng của bệnh TMDTS (n=60)
(%)
Nguyên nhân
- Chế độ ăn đơn điệu, nghèo nàn
- Không uống sắt bổ sung khi mang thai
- Không đảm bảo khoảng thời gian >= 2 năm giữa những lần mang thai kế tiếp