1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị từ thực tiễn huyện cần đước, tỉnh long an

86 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 896,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Làm rõ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định cụ thể về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, rút ra những đặc trưng cơ bản của xử phạt vi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN HẬU

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CẦN ĐƯỚC,

TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN HẬU

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CẦN ĐƯỚC,

TỈNH LONG AN

Ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN QUÂN

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi

Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHAN VĂN HẬU

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 7

1.1.1 Khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 7

1.1.2 Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 13

1.2 Cơ sở pháp lí về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 17 1.2.1 Các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 17

1.2.2 Hình thức xử phạt 18

1.2.3 Thẩm quyền xử phạt 26

1.2.4 Trình tự, thủ tục, xử phạt……… …27

1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị 30

1.3.1 Các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 30

1.3.2 Tổ chức bộ máy xử phạt vi phạm hành chính 31

1.3.3 Đội ngũ công chức trong thực thi công vụ 31

1.3.4 Yếu tố kinh tế 33

Chương 2 THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN 36

2.1 Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế -xã hội, đặc điểm hệ thống hạ tầng đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 36

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 37

2.1.3 Đặc điểm hệ thống hạ tầng đô thị 38 2.2 Tình hình vi phạm hành chính về trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước,

Trang 5

tỉnh Long An 39

2.2.1 Vi phạm trật tự xây dựng đô thị 39

2.2.2 Vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai 41

2.2.3 Vi phạm trong quản lý trật tự giao thông, trật tự công cộng đô thị 42

2.2.4 Nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 45

2.3 Thực tiễn công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 47

2.3.1 Hoạt động chỉ đạo của các cấp chính quyền huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong lĩnh vực trật tự đô thị 47

2.3.2 Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 48

2.3.3 Các cơ quan xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 48

2.3.4 Những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô trên địa bàn huyện Cần Đước, T.Long An 49 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN 588

3.1 Quan điểm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 588

3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An 60

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 660

3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 69

KẾT LUẬN 755

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 777

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATGT HĐND

: An toàn giao thông : Hội đồng nhân dân QLNN : Quản lý nhà nước TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TTĐT

UBND

: Trật tự đô thị : Ủy ban nhân dân VPHC : Vi phạm hành chính XHCN : Xã hội chủ nghĩa XLVPHC : Xử lý Vi phạm hành chính

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dưng từ năm

2015 đến 2019 40 Bảng 2.2 Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng

giao thông đường bộ từ năm 2015 đến 2019 444

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đô thị hóa không còn giới hạn trong phạm vi một thành phố, đô thị, một vùng lãnh thổ hay quốc gia mà mở rộng trên quy mô liên quốc gia và toàn cầu Dân cư đô thị được dự báo vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian tới Dân số đô thị thế giới đã tăng gấp 5 lần kể từ năm 1950 (hơn 0,7 tỷ người dân đô thị/ 2,5 tỷ dân) Dự báo đến năm 2050 dân số thế giới là 9,15 tỷ người, trong đó 2/3 có là dân đô thị (68%) Tính trong phạm vi cả nước cho đến ngày nay có khoảng 831 đô thị, trong

đó tỷ lệ thành phố và thị xã chiếm khoảng 1/8 , nghĩa là có khoảng hơn 100 thành phố và thị xã Nhà nước ta đã phê duyệt việc quy hoạch các thành phố và thị xã này Tuy nhiên, khi xây dựng thì phải đảm bảo các đô thị phải được xây dựng đúng yêu cầu mà quy hoạch đã đặt ra Đồng thơi việc xây dựng cũng phải đúng với quy chuẩn và đúng với các tiêu chuẩn cho phép đối với từng khu vực

cụ thể Huyện Cần Đước nằm ở phía Đông Nam vùng hạ của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên (DTTN) 218,103 km2, chiếm 4,86% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, được chia thành 17 đơn vị hành chính (16 xã và 1 thị trấn) Cần Đước là địa bàn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long An, thuộc vành đai ngoài của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được bao bọc bởi sông Rạch Cát

và Sông Vàm Cỏ Những điều kiện về tự nhiên, vị trí địa lý và điều kiện kinh

tế - xã hội đã giúp cho huyện Cần Đước có lợi thế thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa trong và ngoài tỉnh, có điều kiện tiếp thu nhanh và ứng dụng tốt khoa học kỹ thuật, có nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, có khả năng thu hút các nhà đầu tư lớn từ TP Hồ Chí Minh và nước ngoài Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để Cần Đước xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm

Trang 9

Để thực hiện phát triển đô thị đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải thiết lập được trật tự đô thị, điều này phản ánh trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Thời gian qua, công tác quản lý trật tự đô thị tại Long An đã được tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác quy hoạch, quản lý xây dựng theo quy hoạch, quản lý đất đai; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; huy động sự vào cuộc tích cực của nhiều chủ thể và nhân dân Vì vậy, công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ các công trình xây dựng có phép, đúng phép tăng dần, góp phần vào cải thiện cảnh quan kiến trúc đô thị và điều kiện sinh sống của nhân dân.Tuy nhiên, công tác quản lý trật tự đô thị ở một số nơi trên địa bàn tỉnh Long An còn bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém

Với mục đích lập lại trật tự đô thị nói trên, không chỉ riêng cho huyện Cần Đước, mà là cho cả tỉnh Long An nói chung thì công tác xử lý vi phạm trật tự

đô thị một cách triệt để nghiêm minh trên địa bàn huyện này là vô cùng quan

trọng Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh

vực trật tự đô thị từ thực tiễn huyện Cần Đước, Tỉnh Long An” làm đề tài

nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình, nhằm phân tích rõ về lý luận và thực tiễn thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị ở Long An là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua khảo sát, tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy có những công trình liên quan đến đề tài luận văn của mình như sau:

- Phan Thị Kim Giao (2006), “Giải pháp cơ bản để thiêt lập trật tự, kỷ

cương trong quản lý nhà nước ở đô thị”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội;

- Đỗ Vượng (2012),“Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm hành chính

trong lĩnh vực xây dựng từ thực tiễn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, luận văn

Trang 10

thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội;

- Trần Sơn Hà (2012), “Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong xử lý

vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”, Tạp chí Quản lý nhà nước số

199;

- Hoàng Thế Liên (2013), “Luật xử lý vi phạm hành chính với nhiệm vụ

bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8;

- Nguyễn Bá Phùng (2014), “Một số hạn chế, tồn tại trong công tác xử

phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng đô thị giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Khoa học kiểm sát số 3

- Nguyễn Chi Mai (2018), “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành

đô thị thông minh hướng tới bảo đảm trật tự an toàn xã hội”, Tạp chí Nghiên

cứu phát triển số 25;

- Phạm Tiến Luật (2018), “Định hướng xây dựng đô thị thông minh ở

Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước số 266;

- Vương Văn Đạt, Trần Hữu Dào (2019), “Tăng cường công tác quản lý

nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Thạch Thất, TP Hà Nội”, Tạp

chí Kinh tế và Dự báo số 11

Các công trình này hầu hết đã nghiên cứu về thực tiễn cũng như lí luận về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị từ thực tiễn huyện Cần Đước, tỉnh Long An Đó là lí do tác giả đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực Kết quả nghiên cứu của luận văn, dự kiến sẽ có những đóng góp mới về khoa học của chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính như sau:

- Tổng hợp các kết quả có giá trị khoa học từ các công trình nghiên cứu

có liên quan trước đó ở trong nước, các quy định của pháp luật về xử phạt vi

Trang 11

phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, từ đó tác giả đã kế thừa và phát huy có chọn lọc để định hướng cho luận văn những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo

- Làm rõ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định cụ thể về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, rút ra những đặc trưng cơ bản của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự

lý luận đó, luận văn đi sâu vào đánh giá thực trạng, kết quả đạt được trong việc

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước; đồng thời luận văn cũng nêu lên được những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xử lý vi phạm trật tự đô thị ở huyện Cần Đước; trên

cơ sở những bất cập, khó khăn và vướng mắc ấy tác giả đề xuất các giải pháp

để nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tìm hiểu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài

+ Đánh giá và làm sáng tỏ các quy định pháp luật cũng như thực tiễn xử phạt liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

+ Đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến xử

Trang 12

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần

Đước, tỉnh Long An

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An Thời gian nghiên cứu của luận văn là từ năm 2015 đến năm 2019

Không gian nghiên cứu là trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu, số liệu: Bằng các phương pháp

này, tác giả đã gặp gỡ các nhà khoa học để tìm hiểu, thu thập, thống kê số liệu, sau đó đọc, phân tích, tổng hợp những số liệu, tài liệu cần thiết liên quan đến nội dung của luận văn

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để ghi chép, lập luận,

giải thích làm sáng tỏ những tài liệu, số liệu đã xử lý trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn

Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê là quá trình thu

thập, tích lũy, so sánh, tổng hợp, phân tích các tài liệu thống kê phản ánh về vấn đề vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, nhằm rút ra kết luận đúng đắn về xử phạt vi phạm hành chính và soạn thảo các biện pháp giải quyết

Trang 13

phù hợp

Phương pháp chuyên gia, trao đổi: Trong quá trình nghiên cứu luận văn,

tác giả đã trao đổi với các chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Việc phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến việc

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị góp phần hoàn thiện các thể chế pháp luật phục vụ yêu cầu công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trong thời gian tới

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị Ngoài ra kết quả nghiên cứu này còn dùng làm tài liệu học tập trong các trường luật, hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Tác giải phân bố cục của luận văn được kết cấu gồm 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực trật tự đô thị

Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự

đô thị tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long

An

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH

CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị

1.1.1 Khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự

đô thị

Vi phạm hành chính là một trong số các hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên so với các vi phạm pháp luật khác như vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), vi phạm pháp luật dân sự (vi phạm dân sự), vi phạm kỷ luật nhà nước (vi phạm kỷ luật)… thì vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật phổ biến nhất trong đời sống xã hội hiện nay

Thuật ngữ “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được pháp luật hành chính Việt Nam định nghĩa trong Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/5/1977 với tên gọi “phạm pháp vi cảnh” Theo đó, Điều 2 của Điều lệ xử phạt vi cảnh giải thích “phạm pháp vi cảnh” là những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác”

Sau đó, ngày 07/12/1989, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh số LCT/HĐNN8 về xử phạt vi phạm hành chính, đây là văn bản pháp luật đầu tiên

28-đề cập đến thuật ngữ “vi phạm hành chính” Điều 1 của Pháp lệnh Xử phạt vi

phạm hành chính năm 1989 giải thích: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá

nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”

Trang 15

Có thể thấy nội hàm của thuật ngữ “vi phạm hành chính” trong Pháp lệnh

Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 rộng hơn so với thuật ngữ “phạm pháp

vi cảnh” trong Nghị định số 143-CP Theo Điều lệ xử phạt vi cảnh, có 3 dấu hiệu để xác định một hành vi là “phạm pháp vi cảnh” như sau: (i) là hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; (ii) có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng và (iii) chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác Nếu thiếu một hoặc một số dấu hiệu nêu trên thì không được coi là “phạm pháp vi cảnh” Trong khi đó, theo định nghĩa của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm

1989 thì hành vi bị coi là vi phạm hành chính phải có đầy đủ các dấu hiệu sau: (i) do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý; (ii) xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và (iii) theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

Đến ngày 06/7/1995, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 41-L/CTN xử lý vi phạm hành chính mới thay thế cho Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 So với trước đây, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 không đưa ra quy định giải thích thuật ngữ “vi phạm hành chính” một cách trực tiếp mà lại quy định gián tiếp qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” Theo khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính

năm 1995: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức

có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Tuy không đưa ra định nghĩa “vi phạm hành chính” nhưng

thông qua định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính” có thể thấy nội hàm của thuật ngữ “vi phạm hành chính” trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 cũng tương tự nhau

Trang 16

Vào ngày 02/7/2002, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10 đã ban hành Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 về việc xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2007, 2008) thay thế cho Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 Pháp lệnh này cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm “vi phạm hành chính” nhưng thông qua định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính”

để “ngầm” giải thích thuật ngữ “vi phạm hành chính” như sau: “Xử phạt vi

phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” (khoản 2 Điều 1)

Vào ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa 13 ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính thay thế cho Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 Đây là đạo luật đầu tiên quy định về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta Đạo luật này đã quay lại cách quy định như Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 để đưa ra một định nghĩa rõ ràng về “vi phạm hành chính”

tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân,

tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Như vậy, vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính

năm 2012 có các dấu hiệu sau: (i) là hành vi có lỗi; (ii) xâm hại đến hoạt động quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm; (iii) theo quy định phải bị xử phạt

vi phạm hành chính

Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu thì định nghĩa “vi phạm hành chính” trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vẫn tồn tại một số điểm chưa hợp lý Cụ thể như sau:

Một là, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chưa làm rõ khách thể

của vi phạm hành chính, dẫn đến gây nhầm lẫn khách thể là quy định của pháp

Trang 17

luật về quản lý nhà nước Theo lý luận về pháp luật, khách thể của vi phạm pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến Do đó, định nghĩa của luật cho rằng khách thể của vi phạm hành chính là các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước là chưa chính xác Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn cho rằng nội hàm của “quản lý nhà nước” là vô cùng rộng, chính vì vậy khi đồng nhất khách thể của vi phạm hành chính với “trật tự quản lý nhà nước” dễ tạo ra sự lúng túng khi tiếp cận khái niệm khoa học, bởi suy cho cùng tất cả các ngành luật đều bảo vệ “trật tự quản

lý nhà nước” chứ không chỉ có ngành luật hành chính

Hai là, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sử dụng cụm từ “mà không phải là tội phạm” để phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm hình sự

(tội phạm) dễ làm cho các chủ thể có thẩm quyền hiểu lầm rằng mình có thẩm quyền xác định hành vi nào là tội phạm, hành vi nào là vi phạm hành chính trong khi thẩm quyền xác định các loại vi phạm pháp luật thuộc về nhà làm luật chứ không phải là các chủ thể áp dụng pháp luật

Ba là, điều kiện thứ ba để xác định vi phạm hành chính đó là “phải bị xử phạt hành chính”, tức là hành vi vi phạm phải chịu ít nhất một trong các hình

thức xử phạt tại Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp ở cả góc độ khoa học lẫn góc độ thực tiễn bởi lẽ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì không phải mọi

vi phạm hành chính đều bị xử phạt vi phạm hành chính, chẳng hạn các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 như: không xác định được đối tượng vi phạm hành chính, cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt Trong khi đó nếu phân tích kỹ có thể thấy định nghĩa “vi phạm hành chính” trong Luật

Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã thiếu đi một chế tài hành chính quan trọng đó là “các biện pháp khắc phục hậu quả” Do đó, định nghĩa “vi phạm

Trang 18

hành chính” trong đạo luật này vừa không thống nhất với các quy định khác của Luật vừa không phù hợp với thực tế xử phạt vi phạm hành chính [14, tr.5-6]

Trật tự đô thị là sự điều chỉnh, sắp xếp các quan hệ xã hội đô thị hoạt động theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo cho môi trường dân sự đô thị được phát triển bền vững theo những nguyên tắc nhất định Ở nước ta, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng quy tắc, quy chuẩn của pháp luật hiện hành vì vậy để đánh giá đô thị đó

có trật tự hay không thì sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố Trong các yếu tố đó có các văn bản quy phạm pháp luật ban hành, năng lực của chủ thể quản lý, quy hoạch tổng thể của địa phương…

Qua đó, có thể rút ra khái niệm về “vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật

tự đô thị” như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là hành

vi do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực trật tự đô thị được pháp luật hành chính bảo vệ và theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”

Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 mặc dù có đưa ra khái

niệm “vi phạm hành chính” nhưng lại không đưa ra khái niệm về “xử phạt vi

phạm hành chính” Điều này xuất phát từ lý do nội dung của Pháp lệnh này chỉ

điều chỉnh vấn đề xử phạt vi phạm hành chính chứ không điều chỉnh vấn đề áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác như các Pháp lệnh sau này do đó

không cần thiết phải đưa ra khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” để phân biệt với thuật ngữ “xử lý vi phạm hành chính”

Trong khi đó, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 tuy không

định nghĩa “vi phạm hành chính” nhưng lại quy định rất rõ ràng khái niệm “xử

phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1 như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm

Trang 19

các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 tiếp tục kế thừa gần như

toàn bộ khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 Theo khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này thì “Xử phạt vi

phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là đạo luật đầu tiên điều chỉnh

hoạt động xử lý vi phạm hành chính đã rất tiến bộ khi vừa đưa ra khái niệm “vi

phạm hành chính” vừa giải thích khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”

Cách quy định của Luật thể hiện sự hợp lý, có tính khoa học, khắc phục nhầm lẫn trong nhận thức về hai khái niệm này vốn đã tồn tại trong các Pháp lệnh Xử

lý vi phạm hành chính năm 1995 và 2002 Theo đó, khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý

vi phạm hành chính năm 2012 định nghĩa: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc

người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”

Cách định nghĩa về “xử phạt vi phạm hành chính” của Luật là đúng với

bản chất của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính vì định nghĩa này cho thấy yếu tố quan trọng nhất, không thể thiếu trong nội hàm của khái niệm này là việc

áp dụng các chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính (gồm hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả) mà không bao gồm việc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác (chẳng hạn như biện pháp phòng ngừa hay ngăn chặn vi phạm) Các chế tài này thể hiện sự đánh giá cuối cùng của Nhà nước đối với hành vi và chủ thể vi phạm hành chính, là “hậu

Trang 20

quả kết cục” của vi phạm và là sự giải quyết thực chất vụ việc vi phạm [15, tr.21] Nếu thiếu đi nội dung này thì không thể đưa ra một khái niệm hợp lý về

“xử phạt vi phạm hành chính”

Qua những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm “Xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự” như sau:

“Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là việc người

có thẩm quyền xử phạt tiến hành các hoạt động nhằm áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật trong lĩnh vực trật tự đô thị mà theo quy định phải bị xử phạt vi phạm hành chính”

1.1.2 Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị

Trong lĩnh vực trật tự đô thị, khi xử phạt vi phạm hành chính có một số đặc điểm sau:

Nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mỗi cơ quan lại có thẩm quyền xử phạt khác nhau, khác với các vụ việc hình sự chỉ do một

cơ quan xem xét Tòa án Thẩm quyền chung là Chủ tịch UBND các cấp, thẩm quyền của Công an nhân dân, Hải quan, cơ quan Thuế, Quản lý thị trường, Thanh tra v.v

Xử phạt hành chính là biện pháp xử lý có tính cưỡng chế của Nhà nước,

do Nhà nước đặt ra dưới hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau tùy theo tính chất, mức độ của vi phạm và được Nhà nước bảo đảm thực hiện

Người có thẩm quyền cưỡng chế khi ra quyết định cưỡng chế có nhiệm vụ

tổ chức cưỡng chế như lập kế hoạch, huy động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị có liên quan, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện

Trang 21

cưỡng chế

Cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế và phải chịu trách nhiệm mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế

Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là trình tự pháp luật quy định mà người có thẩm quyền xử phạt phải nắm vững và tuân thủ triệt để khi tiến hành

Khi xử phạt theo thủ tục có lập biên bản, biên bản vi phạm hành chính là

cơ sở pháp lý quan trọng để người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với lỗi cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị Mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị do tổ chức gây ra đều bị xử phạt vi phạm hành chính

1.1.3 Sự khác nhau giữa xử phạt vi phạm hành chính và xử lý vi phạm

Trang 22

hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt và không đồng nhất với nhau Việc phân biệt hai khái niệm này phải dựa trên sự phân biệt về các tiêu chí Đó là sự khác nhau về: Khái niệm; đối tượng áp dụng; hình thức xử phạt; nguyên tắc áp dụng; thời hiệu xử phạt… Cụ thể như sau:

- Về khái niệm:

+ Xử phạt vi phạm hành chính: là việc người có thẩm quyền xử phạt áp

dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính (Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012) + Xử lý vi phạm hành chính: là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân

vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Ngoài ra, còn có biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở và biện pháp quản lý tại gia

đình (Khoản 3, khoản 4 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính)

- Về đối tượng áp dụng:

+ Xử phạt vi phạm hành chính: Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

(Khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính)

+ Xử lý vi phạm hành chính: Chỉ áp dụng với cá nhân trong nước Các

biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài

- Về hình thức xử phạt:

+ Xử phạt vi phạm hành chính:

Trang 23

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

Đưa vào trường giáo dưỡng;

Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;

Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Về nguyên tắc áp dụng:

+ Xử phạt vi phạm hành chính: Mọi vi phạm hành chính phải được phát

hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định

chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định;

Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

Trang 24

Việc xử lý vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính (Khoản 2 Điều 3 Luật này)

- Về thời hiệu xử phạt:

+ Xử phạt vi phạm hành chính: Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là

1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt (điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính)

+ Xử lý vi phạm hành chính: Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

phường, thị trấn từ 3 tháng - 1 năm kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm tùy từng trường hợp cụ thể:

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 6 tháng - 1 năm kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm tùy từng trường hợp sẽ là, Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 1 năm,

kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm;

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 3 tháng,

kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm

1.2 Cơ sở pháp lí về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự

đô thị

1.2.1 Các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là một dạng của vi phạm pháp luật, do đó cần phải xác định các bộ phận cấu thành của loại vi phạm này

để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị gồm: khách

Trang 25

thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan

Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là các quan

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật tự đô thị được pháp luật bảo vệ như các quy tắc về an toàn giao thông, trật tự quản lý đất đai, xây dựng, trật tự công cộng đô thị… được quy định trong các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Hành vi vi phạm hành chính là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị Khi xem xét để đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị hay không thì ta phải có những căn cứ pháp lý xác định hành vi đó phải được pháp luật quy định là hành vi vi phạm hành chính và hành

vi đó phải bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính

Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là các tổ

chức, cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành chính với lỗi cố ý Cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên và tổ chức có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trong mọi trường hợp

cá nhân họ phải chịu một hình thức chế tài hành chính nhất định Các hình thức

Trang 26

xử phạt chính gồm: Cảnh cáo, phạt tiền Các hình thức xử phạt như: Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động

có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng

để vi phạm hành chính; trục xuất có thể được quy định là hình thức xử phạt chính Ngoài ra, cá nhân, tổ chức, vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp xử

lý hành chính

Hình thức xử phạt chính chủ yếu trong xử phạt vi phạm hành chính về trật

tự đô thị gồm cảnh cáo và phạt tiền

Hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, đối với cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên và tổ chức thực

hiện vi phạm hành chính thì hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng khi

có đầy đủ các điều kiện: (i) vi phạm hành chính không nghiêm trọng; (ii) có tình tiết giảm nhẹ; (iii) theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo

Trường hợp thứ hai, hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với mọi

vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Đối với nhóm đối tượng này, dù vi phạm hành chính do họ thực hiện

có nghiêm trọng đến mức độ nào thì người có thẩm quyền trong mọi trường hợp đều phải áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với họ mà không được áp dụng các hình thức xử phạt khác Điều này thể hiện rõ nét nhất sự bảo vệ của Nhà nước đối với trẻ em - nhóm đối tượng được Nhà nước, pháp luật và xã hội bảo vệ một cách đặc biệt Đồng thời, quy định này cũng phản ánh nguyên tắc

xử phạt đối với người chưa thành niên tại khoản 1 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm

hành chính năm 2012 đó là “nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát

triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”

Hình thức phạt tiền được quy định tại Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu vi phạm hành chính không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo thì được áp dụng hình phạt tiền Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định mức

Trang 27

phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính đối với từng đối tượng và lĩnh vực: Đối với cá nhân, khung xử phạt từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng; đối với tổ chức, khung xử phạt từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá hai lần mức phạt áp dụng chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, an toàn xã hội và do Hội đồng nhân dân Thành phố trực thuộc Trung ương quyết định

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung gồm: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (khi không được áp dụng làm hình phạt chính)

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị ngoài việc xâm phạm trật

tự quản lý nhà nước còn gây ra những hậu quả nhất định đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Do đó, bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử phạt để răn đe cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính, pháp luật còn áp dụng các biện pháp nhất định nhằm khắc phục hậu quả

do vi phạm hành chính gây ra Điều này phù hợp với nguyên tắc “mọi vi phạm

hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm

minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo

đúng quy định của pháp luật”

Các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực trật tự đô thị được quy định gồm: buộc khôi phục tình trạng ban đầu; buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc khắc phục tình trạng của đất trước khi vi phạm…

Một số điểm, khoản, Điều, Nghị định 139/NĐ-CP ngày 27/11/2017 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng…quản lý công trình

Trang 28

hạ tầng kỹ thuật, phát triển nhà ở quy định:

Điều 15 Vi phạm quy định về trật tự xây dựng

1 Xử phạt hành vi thi công xây dựng không che chắn hoặc có che chắn nhưng để rơi vãi vật liệu xây dựng xuống các khu vực xung quanh hoặc để vật liệu xây dựng không đúng nơi quy định như sau:

a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ hoặc công trình xây dựng khác trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng

3 Xử phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng gây lún, nứt hoặc hư hỏng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình lân cận (mà các bên không thỏa thuận được việc bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự); gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận nhưng không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với xây dựng nhà

ở riêng lẻ tại nông thôn hoặc công trình xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này;

b) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;

c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng công trình yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập

dự án đầu tư xây dựng

Một số điểm, khoản, Điều, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

Trang 29

giao thông đường bộ và đường sắt, có quy định và hướng dẫn khá rõ về xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến lĩnh vực trật tự đô thị tại các Điều:

Điều 12 Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1 Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành

vi vi phạm sau đây:

a) Bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2, điểm b khoản 5, điểm e khoản 6 Điều này;

b) Phơi thóc, lúa, rơm, rạ, nông, lâm, hải sản trên đường bộ; đặt máy tuốt lúa trên đường bộ

2 Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành

vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình đường

bộ và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông;

c) Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi: Bày, bán hàng hóa; để vật liệu xây dựng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5; điểm d, điểm e khoản 6 Điều này;

d) Họp chợ, mua, bán hàng hóa trong phạm vi đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 5; điểm

d, điểm i khoản 6 Điều này;

Trang 30

đ) Xả nước ra đường bộ không đúng nơi quy định, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm h khoản 6 Điều này

3 Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng đường bộ trái quy định để tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội;

b) Dựng cổng chào hoặc các vật che chắn khác trái quy định trong phạm

vi đất dành cho đường bộ gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ;

c) Treo băng rôn, biểu ngữ trái phép trong phạm vi đất dành cho đường

bộ gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ;

d) Đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo trên đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 8 Điều này;

đ) Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi để xe, trông, giữ xe;

e) Sử dụng trái phép đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm nơi sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe, bơm nước mui xe gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ

4 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi đổ rác ra đường bộ không đúng nơi quy định, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: điểm

a khoản 6 Điều này; khoản 3, khoản 4 Điều 20 Nghị định này

5 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

Trang 31

a) Dựng rạp, lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 6, điểm b khoản 8, điểm a khoản 9 Điều này;

b) Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để: Họp chợ; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo; xây, đặt bục bệ; làm mái che hoặc thực hiện các hoạt động khác gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g khoản 6; khoản 7; điểm a khoản 8 Điều này;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe;

d) Chiếm dụng phần đường xe chạy hoặc lề đường của đường ngoài đô thị dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe

6 Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 20 Nghị định này;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong: Hành lang an toàn đường bộ, phần đất dọc hai bên đường bộ dùng để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

Trang 32

đ) Dựng rạp, lều quán, công trình khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ, gầm cầu vượt, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 9 Điều này;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

g) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe;

h) Xả nước thải xây dựng từ các công trình xây dựng ra đường phố; i) Chiếm dụng phần đường xe chạy hoặc lề đường của đường ngoài đô thị từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe

7 Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe

8 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

9 Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng đất của đường bộ hoặc đất hành lang an toàn đường bộ

để xây dựng nhà ở;

b) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính

Điều 13 Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về thi công, bảo trì công trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ

Trang 33

Điều 14 Xử phạt các hành vi vi phạm về xây dựng bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm thu phí đường bộ

Điều 15 Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về quản lý, khai thác, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

1.2.3 Thẩm quyền xử phạt

Trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính (VPHC), thẩm quyền xử phạt

là một chế định pháp lý bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những chức danh có thẩm quyền xử phạt trong việc áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với chủ thể vi phạm Chính vì tầm quan trọng của thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên Luật

Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC 2012) đã khái quát hóa thành nguyên tắc xử phạt là “việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật

Điều 38 đến Điều 51 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định

về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Theo đó, 185 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Cụ thể, 176 chức danh làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước (chiếm khoảng 95% số lượng các chức danh có thẩm quyền xử phạt), có 9 chức danh thuộc Tòa án không nằm trong cơ quan hành chính (chiếm khoảng 5% các chức danh có thẩm quyền xử phạt) So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 đã bổ sung 86 chức danh có thẩm quyền

xử phạt vi phạm hành chính Sự gia tăng số lượng các chức danh có thẩm quyền

xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính phù hợp với yêu cầu quản

lý nhà nước, khắc phục tình trạng tồn đọng cũng như không xử phạt kịp thời, đúng lúc các vi phạm Tuy nhiên, việc gia tăng các chức danh có thẩm quyền

xử phạt vi phạm hành chính vẫn không thể lấp đầy “khoảng trống” về thẩm

Trang 34

quyền xử phạt vi phạm hành chính

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, thẩm quyền áp dụng hình thức

xử phạt trục xuất chỉ thuộc về hai chủ thể là Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Điều này có nghĩa nếu vi phạm hành chính

có áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì thẩm quyền sẽ thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh Theo thống kê, hiện nay ở nước ta có 9 nghị định xử phạt vi phạm hành chính quy định về hành

vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Tuy nhiên, có những nghị định không quy định thẩm quyền xử phạt cho lực lượng công an (trong đó có Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh) Điều này dẫn đến nghịch lý là khi xử phạt vi phạm trong các lĩnh vực này mà áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì không có chủ thể nào có thẩm quyền ra

quyết định xử phạt

1.2.4 Trình tự, thủ tục xử phạt

Thời hạn xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 66 Luật Xử

lý vi phạm hành chính 2012 như sau: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm

hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản” Quy định thời hạn này là cần thiết vì từ khi lập biên bản vi phạm

không phải lúc nào các chủ thể có thẩm quyền cũng ra quyết định xử phạt ngay được, họ cần có thời gian để chuẩn bị, thu thập, xác minh tài liệu… nhằm đưa

ra quyết định xử phạt đúng đắn và chính xác nhất Từ đó, pháp luật cho phép

xin gia hạn thêm 30 ngày nữa và việc gia hạn đó phải được “thủ trưởng trực

tiếp” đồng ý bằng văn bản Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012

Trang 35

không quy định rõ ràng “thủ trưởng trực tiếp” ở đây là thủ trưởng quản lý trực

tiếp hay thủ trưởng có thẩm quyền xử phạt

Theo quy định của pháp luật, mỗi cơ quan Nhà nước đều có chức năng quản lý những lĩnh vực khác nhau Để thực hiện chức năng quản lý của mình, các cơ quan Nhà nước đều có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính thuộc lĩnh vực mình quản lý; việc ban hành quyết định hành chính phải thực hiện đúng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và việc ban hành phải có căn cứ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việc xem xét về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước được thể hiện bằng việc xem xét những vấn đề cơ bản sau đây:

* Lập biên bản vi phạm hành chính:

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản:

+ Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ

.- Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản

- Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt

vi phạm hành chính

+ Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành

vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định không phải lập biên bản nêu trên

+ Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Trang 36

* Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là 01 năm Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính

từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định nêu trên Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

- Trong thời hạn được quy định nêu trên mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt

*Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình (theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều

61 của Luật xử lý vi phạm hành chính) mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn

Trang 37

phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày

- Quá thời hạn quy định (tại khoản 1 Điều này hoặc khoản 3 Điều 63 của Luật xử lý vi phạm hành chính), người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC), quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nếu có lỗi trong việc

để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật

Tại Mục 1, Chương III Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó có các quy định

về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính Theo quy định của pháp luật thì thủ tục

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị gồm:

Một là, buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính

Hai là, xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

Ba là, xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Bốn là, ra quyết định xử phạt

Năm là, thi hành quyết định xử phạt

1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị

1.3.1 Các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính

Để thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị nói riêng đòi hỏi phải xây dựng được cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xử phạt Có thể nói rằng, hệ thống các văn

Trang 38

bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta đã tương đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong thực

tế Đối với lĩnh vực trật tự đô thị, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động xử phạt bao gồm:

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở

Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

1.3.2 Tổ chức bộ máy xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật

tự đô thị nói riêng là các loại vi phạm pháp luật phổ biến với số lượng lớn vi phạm, xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước Do vậy, để đáp ứng nhu cầu

xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực này trong thực tế đòi hỏi phải xây dựng được một bộ máy các cơ quan xử phạt vi phạm hành chính tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, điều này có tác động rất lớn đến hiệu quả của việc

xử phạt vi phạm hành chính

1.3.3 Đội ngũ công chức trong thực thi công vụ

Theo khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC 2012, xử phạt VPHC là việc người

có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện VPHC Tuân thủ đúng nguyên tắc thẩm quyền trong xử phạt VPHC có nghĩa là việc áp dụng hình thức xử phạt, biện

Trang 39

pháp khắc phục hậu quả phải nằm trong phạm vi thẩm quyền của chủ thể xử phạt

Đơn cử, theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, các vi phạm như “đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà

ga, bến xe, trên các phương tiện giao thông nơi công cộng hoặc ở những nơi khác làm mất vệ sinh chung”, “tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung ở khu công cộng và khu dân cư”, “để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng”, “lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh”, “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” sẽ bị phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu”

Theo Điều 66 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 400.000 đồng đối với các VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, chiến sĩ công

an đang thi hành nhiệm vụ không có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Do đó, các vi phạm trên không thuộc thẩm quyền xử phạt của chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ

Có thể nhận thấy hiện nay, lực lượng chủ yếu phát hiện VPHC trong Quân đội là các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở (Chiến sĩ Công

an nhân dân đang thi hành công vụ, Chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ, Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ, Công chức Hải quan đang thi hành công vụ, Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ, Công chức Thuế đang thi hành công vụ, Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ, Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ) Tuy nhiên, các chức danh này chỉ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền mà không có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Vì vậy, khi phát hiện các VPHC đơn giản,

Trang 40

có mức phạt tiền nằm trong phạm vi thẩm quyền nhưng nếu có áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì các chủ thể này lại không có quyền xử phạt

Chính vì lẽ đó, phải luôn đảm bảo đội ngũ công chức xử phạt vi phạm hành chính phải là những người có trình độ nhận thức, ý thức chính trị và có lập trường

tư tưởng chính trị vững vàng của người thực thi công vụ Một trong 5 mục tiêu quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011-2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm

chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” Muốn cải cách hành chính đạt hiệu quả, hoạt động xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thì yếu tố con người, đặc biệt là cán bộ, công chức đóng vai trò quyết định

1.3.4 Yếu tố kinh tế

Bên cạnh yếu tố về pháp lý, con người thì yếu tố kinh tế đóng vai trò không nhỏ trong việc quyết định chất lượng và hiệu quả của việc xử phạt vi phạm hành chính Thực tế cho thấy các vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức khác nhau, do vậy để thực hiện việc

xử phạt một cách hiệu quả đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính đầy đủ đáp ứng cho việc xử phạt Việc xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ và đồng bộ bao gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật nghiệp

vụ, phương tiện, công cụ hỗ trợ… sẽ hỗ trợ tích cực cho hoạt động xử phạt của các chủ thể có thẩm quyền trên thực tế

Qua sự phân tích trên có thể thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, bên cạnh các yếu tố mang ý nghĩa tích cực thì một số yếu tố vẫn còn phát sinh nhiều bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử phạt Để hoạt động

xử phạt đạt được hiệu quả thì vai trò của chỉ đạo, điều hành của những người

có thẩm quyền quản lý sẽ quyết định rất lớn đến hoạt động xử phạt hành chính

Ngày đăng: 15/07/2020, 12:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w