Tình hình nghiên c ứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa c ủa từ ở Việt Nam Việc nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt, là một trong những lĩnh vực được
Trang 1KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ N ỘI, 2020
Trang 2KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai Các kết quả khảo sát và nghiên cứu đã nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Khương Thị Lan Phương
Trang 4và nghiên cứu tại trường
Hà nội, ngày 13 tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Khương Thị Lan Phương
Trang 5M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1 Khái niệm từ và những khái niệm liên quan 11
1.2 Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa 14
1.3 Sự phát triển nghĩa của từ 20
1.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ 22
1.5 Từ đa nghĩa……….24
Chương 2 NGỮ NGHĨA CỦA TỪ “ĂN” VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NÓ TRONG TI ẾNG VIỆT……… 26
2.1 Ngữ nghĩa của từ “ăn” trong tiếng Việt 29
2.2 Khả năng kết hợp của từ “ăn” trong tiếng Việt 33
Chương 3 NGỮ NGHĨA VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NHÓM TỪ ĐỒNG NGHĨA VỚI TỪ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT 59
3.1 Nhóm từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt 59
3.2 Khả năng kết của những từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt…… 60
K ẾT LUẬN 75
DANH M ỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN……… 79
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 61
M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong quan niệm của người Việt Nam, gia đình là tế bào của xã hội,
và cuộc sống sinh hoạt luôn gắn liền với bữa cơm gia đình – nơi ẩn chứa nhiều đạo lý, thể hiện tình cảm, yêu thương gắn kết giữa các thành viên, là linh hồn của hạnh phúc, và cũng là nơi truyền đạt những tư tưởng, truyền
thống, những đạo lý từ thế hệ này qua thế hệ khác Từ những phép cư xử
tưởng chừng đơn giản thông qua cách ăn uống: Ăn trông nồi, ngồi trông
hướng đến quan niệm về cái ăn, cái mặc: Ăn lấy chắc, mặc lấy bền; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp… ông bà ta muốn trao gửi đến thế
hệ con cháu những thông điệp đầy chất nhân văn, một trong những điều
đầu tiên, cơ bản nhất mà mỗi người đều cần phải học đó là “Học ăn, học
chuyện của việc duy trì sự sống, mà còn ẩn chứa trong đó những bài học về nhân cách, là quan niệm về nhân sinh, về cuộc sống và các đạo lý, các cách hành xử trong xã hội của con người
Có thể nói hoạt động ăn của con người không chỉ là hoạt động mang tính sinh học để duy trì sự sống mà còn mang tính văn hóa, gắn với mỗi
cộng đồng với những thói quen, tập tục Thông qua thói quen ăn uống, chúng ta có thể hiểu được phần nào đặc điểm tâm lý dân tộc, tập quán cũng như cách ứng xử của con người với môi trường Bởi vậy, cùng với sự thay đổi và phát triển không ngừng của xã hội, thì vốn từ vựng trong tiếng Việt nói chung và vốn từ vựng liên quan đến từ “ăn” nói riêng cũng không
ngừng tăng lên, hoạt động “ăn” của con người dần vượt lên những giá trị duy trì sự sống, vươn tới tầm nghệ thuật Điều đó được phản ánh khá sinh động trong ngôn ngữ
Trang 72
Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài : Nhóm từ, ngữ nói về
“ăn” trong tiếng Việt Với mong muốn thông qua sự nỗ lực tìm hiểu,
nghiên cứu sự phát triển của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” cùng với quá trình phát triển của dân tộc, cũng như sự phát triển của nhóm từ này trong các
mặt khác nhau của cuộc sống dưới góc độ ngôn ngữ học Thông qua đó có
thể góp một phần nhỏ vào nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nói chung, và của nhóm từ liên quan đến từ “ăn” nói riêng
2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên c ứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa
c ủa từ ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng
Việt, là một trong những lĩnh vực được khá nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Bởi từ vựng là một bộ phận được coi là không ổn định
nhất trong hệ thống ngôn ngữ, kết cấu nghĩa của từ luôn luôn vận động và phát triển, sự biến đổi nghĩa là một sự thực hiển nhiên và không ngừng thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa học, được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu về từ vựng học, từ vựng - ngữ nghĩa
tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn Văn Tu, trong cuốn “Từ vựng học
biến đổi nghĩa Ông đã trình bày về bản chất và nguyên nhân của biến đổi nghĩa, phân loại biến đổi nghĩa Còn tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng sự thay đổi nghĩa của từ trong tiếng Việt do nguyên nhân đơn giản là nhằm đáp ứng nhu cầu tạo thêm từ mới của xã hội.[4]
Bên cạnh đó, một số tác giả như Lê Quang Thiêm đã dành nhiều sự quan tâm đến biến đổi ý nghĩa của các yếu tố từ vựng Trong ấn bản chuyên khảo về lịch sử từ vựng (2003), tác giả đã dành một số trang để
Trang 83
khảo sát, nghiên cứu sự phát triển nghĩa qua con đường đa nghĩa hóa trong
tiếng Việt hiện đại (1858-1930) Đặc biệt, trong cuốn “Sự phát triển nghĩa
nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc nhất về sự phát triển nghĩa của từ vựng tiếng Việt trên quan điểm đồng đại, vận dụng phương pháp lịch sử so sánh, phân tích cấu trúc – hệ thống… Trên cơ sở đó có thể xác lập được các tầng nghĩa, kiểu nghĩa để từ đó tìm hiểu sự biến đổi, phát triển nghĩa từ vựng qua các mốc thời gian gắn liền với các sự kiện lịch sử
và những thăng trầm của đất nước
Tác giả Nguyễn Đức Tồn trong “Đặc trưng văn hóa - dân tộc của
nghĩa của trường từ vựng chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Nga) Tác giả đã phân tích và thống kê lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩa từ đó rút ra những nhận định
về quá trình chuyển nghĩa của các trường từ vựng này
Tác giả Phạm Văn Lam (2007) trong “Bước đầu khảo sát sự phát
nay” [22] đã khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng danh từ thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn từ năm 1945 đến nay Nghiên cứu cho thấy, sự mở rộng và phát triển nghĩa
của các nhóm từ gắn liền với sự phát triển xã hội cũng như tiến trình lịch
sử của dân tộc qua quãng thời gian có nhiều biến động và phát triển quan
trọng Trên cơ sở khảo sát sự phát triển nghĩa theo hướng trí tuệ hóa và
biểu trưng hóa, từ đó tác giả chỉ ra các xu hướng, con đường phát triển nghĩa của tiếng Việt, phân tích và lý giải các con đường phát triển ấy
Theo hướng nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Lý Toàn Thắng trong “Ngôn ngữ học tri nhận nhìn
Trang 94
từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [31] đã áp dụng những khái
niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn tiếng Việt, đưa ra những luận giải và các kết luận rất có giá trị đối với sự phát triển ngữ nghĩa
của từ trong tiếng Việt Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong bài viết “Ngữ
nghĩa của từ “Ra”, “Vào” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nghiệm thân”[17] đã dùng lí thuyết nghiệm thân để lí giải con đường chuyển nghĩa
của từ “ra”, “vào” trong tiếng Việt
Hay tác giả Nguyễn Thị Hiền (2018) trong “Sự phát triển ngữ nghĩa
[15] đã dùng cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận để làm rõ hiện tượng phát triển ngữ nghĩa Đặc biệt là thông qua hai phương thức chuyển nghĩa
ẩn dụ và hoán dụ Tác giả đã nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa của từ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận để từ đó tìm ra các giá trị văn hóa và tư duy đặc thù của dân tộc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ
Thông qua các công trình của một số tác giả trên cho thấy, việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa trong tiếng Việt nói chung, trong thời gian
gần đây đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Đặc biệt
là các công trình nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ ngôn
ngữ học tri nhận với những cấu trúc ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ, đa dạng
về nghĩa cũng như cách sử dụng, đã tạo nên những nét mới trong nghiên
cứu sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt
2.2 Tình hình nghiên c ứu sự phát triển nghĩa của nhóm từ, ngữ nói v ề “ăn” trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, việc nghiên cứu về nhóm từ, ngữ nói về “ăn”, khởi
điểm là Hoàng Tuệ trong bài viết “Câu chuyện tiếp tục về nghĩa của những
Trang 105
từ “ăn”, đồng thời chỉ ra gần 40 nghĩa của từ này Trên cơ sở từ nghĩa gốc
của từ “ăn” đã làm nảy sinh bốn dòng nghĩa phái sinh như sau:
1 Dòng nghĩa tiếp thụ
2 Dòng nghĩa hưởng thụ
3 Dòng nghĩa hài hòa
4 Dòng nghĩa tiêu hao
Từ đó, tác giả đã đưa ra một số nhận xét hết sức thú vị và độc đáo về
sự phát triển nghĩa từ “ăn” trong văn hóa và trong đời sống của người Việt Theo tác giả, mỗi dòng nghĩa là một trật tự biện chứng đi từ cụ thể đến khái quát Các dòng nghĩa cũng tập hợp lại thành một trật tự cân đối và đẹp đẽ, đầy sức sống
Tiếp theo là đề tài nhiên cứu “Một số vấn đề văn hóa ăn, uống trong
Tác giả cho rằng: từ “ăn” trong tiếng Việt đã mở rộng, phát triển nghĩa bao hàm nghĩa bóng sang tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… Qua từ “ăn” có thể nhìn thấy những nét cơ bản, phổ biến của xã hội Việt Nam ngày hôm qua
Cùng quan tâm đến vấn đề cái “ăn” trong văn hóa Việt, tác giả Vũ
Ngọc Khánh trong cuốn sách “Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi” [21]
khi viết về văn hóa ẩm thực Việt Nam đã dành một chương để nói về đề tài này Theo tác giả, trong ngôn ngữ Việt Nam, không có từ nào như từ “ăn” được ghép thành vô số những từ tố thông dụng trong tiếng nói con người
Có những từ phải suy nghĩ, phân tích mới thấy là ghép với từ “ăn” cũng là thích hợp Nhưng có những từ không dính dáng gì đến chuyện “ăn”, mà
vẫn phải dùng chữ ăn để làm thành phần của từ tố, từ vị Chuyện ăn của người Việt quả là một bài học vô cùng đa dạng và tinh tế
Trang 116
Nguyễn Đức Dân trong bài viết “Ăn, một từ kỳ thú” [7] đã khẳng
định từ “ăn” có trong ngôn ngữ của mọi dân tộc bởi nó là một từ chỉ hoạt động cơ bản nhất của con người “Ăn” là hành động gắn liền với con người ngay từ buổi sơ khai, nghĩa của từ “ăn” được mở rộng dần theo cách lấy khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ Và nó là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng, con đường phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” vô cùng
phong phú “Ăn” từ nghĩa đen đến nghĩa ẩn dụ, rồi các nghĩa chuyển, nghĩa phái sinh là thiên biến vạn hóa, nó diễn tả mọi nhận thức của con người về
cuộc sống quanh mình và về vũ trụ một cách rất chân thực nhưng cũng vô cùng tinh tế
Cùng trong mạch luận bàn về cái ăn, về ẩm thực, luận án “Đặc điểm
trường ngữ nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt) của Ngô
Minh Nguyệt [23] là công trình chuyên sâu nghiên cứu về các từ ngữ ẩm
thực ở Việt Nam Tác giả tập trung nghiên cứu các từ, ngữ liên quan đến ăn
uống, chỉ ra đặc điểm cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa, từ đó nêu ra những hàm ý văn hóa của các từ ngữ ẩm thực: Đặc điểm con người, đặc trưng văn hóa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt Tác giả cho rằng, cùng với sự phát triển của xã hội, ăn uống dần vượt lên giá trị duy trì sự sống, điều này được phản ánh sinh động trong ngôn ngữ
Có thể nói trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều cho rằng con đường phát triển nghĩa của từ “ăn” là vô cùng phong phú, nó
gắn liền với đặc trưng tư duy và văn hóa dân tộc
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ
“ăn” trong tiếng Việt kể trên, thì việc nghiên cứu các thành ngữ có chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt cũng dành được sự quan tâm đặc biệt của
một số tác giả Trong đó tác giả Nguyễn Hữu Đạt (2010) với bài viết “Con
đường tạo nghĩa của các thành ngữ liên quan đến ‘văn hóa ăn’ và ‘văn hóa
Trang 127
mặc’ trong tiếng Việt” [8] đã đi sâu vào phân tích quá trình tạo nên nghĩa
biểu trưng liên quan đến các thành ngữ biểu thị nội hàm “văn hóa ăn và văn hóa mặc” của người Việt, trên cơ sở đó để tìm ra mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa “văn hóa ăn và văn hóa mặc” trong tiếng Việt Đây được xem là
một trong các cơ sở hình thành nên nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam
Tác giả Đào Thị Hồng Quyết trong luận văn thạc sĩ “Đặc điểm của
trên khối liệu thành ngữ chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt, làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt, trong đó, tư duy về văn hóa ăn được thể hiện qua thành ngữ như tính cộng đồng trong
bữa ăn, tính phép tắc xã hội, miếng ăn thể hiện triết lý về đạo sống của người dân Việt Nam
Tiếp cận theo hướng tri nhận, Nguyễn Thị Bích Hợp trong “Ẩn dụ ý niệm
xây dựng mô hình cấu trúc miền đồ ăn gồm 5 nhóm lớn, tương ứng với 5 điển mẫu Thông qua việc nghiên cứu các điển mẫu với 5 mô hình tỏa tia “cơm, ăn, mặn, bát, đói”, tác giả đã chứng minh rằng “ăn” là ý niệm có sự phát triển nghĩa mạnh nhất,
từ một nghĩa gốc phái sinh 04 chùm nghĩa, rồi phát triển lên tổng số thành tố là 16 nghĩa Các thành tố nghĩa mới có sự biến chuyển xa dần nghĩa trung tâm Thông qua mô hình tỏa tia, cho thấy xu hướng tư duy ẩn dụ, hoán dụ trong quá trình ý
niệm hóa tạo nên các nghĩa mới Nguyễn Thị Hương (2017) với đề tài “Ẩn dụ ý
niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) [18] đã
nghiên cứu sự chuyển nghĩa, tỏa tia nghĩa của những điển mẫu là những từ chỉ
phạm trù ăn, uống, từ nghĩa gốc, nghĩa phái sinh đến các ẩn dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ
Trang 138
Thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trên, cho chúng ta thấy,
việc nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, ngữ nói về “ăn” tiếng Việt là tương
đối phong phú Tuy nhiên, việc đi sâu lí giải cơ chế hình thành những nghĩa đó,
cũng như tìm hiểu các từ đồng nghĩa trong nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong Tiếng
Việt, chưa dành được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của giới Việt ngữ Điều đó đã
gợi ý cho tôi thực hiện đề tài “Nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt”
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là tìm hiểu sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ,
ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định khuynh hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Thông qua đó, để hiểu rõ hơn về quan niệm sống, nhân sinh quan của người Việt về văn hóa ăn, mà sâu sắc hơn là cách nhìn nhận, đánh giá con người được thể hiện qua hoạt động “ăn”
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Xây dựng khung lý thuyết về ngữ nghĩa của từ và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
- Khảo sát sự phát triển nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” được thể hiện trong ngữ cảnh, qua các kết hợp, thông qua đó, để có thể thấy được sự phát triển
ngữ nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14- Luận văn xác định những từ, ngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động “ăn” trong
tiếng Việt và các kết hợp của nhóm từ này trong ngữ cảnh sử dụng, cũng như giá trị
Luận văn khảo sát ngữ nghĩa của từ “ăn” và dãy đồng nghĩa của từ “ăn”
trong T ừ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê [25], Từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
của tác giả Nguyễn Văn Tu [42] Để xem xét các kết hợp của “ăn” trong hành chức,
luận văn khảo sát hoạt động của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” (bao gồm cả các từ đồng nghĩa với từ “ăn”) trên ngôn ngữ báo chí (báo điện tử), trong một số tác phẩm văn
học và trong thành ngữ
4 3 Tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu của luận văn được lấy trong các cuốn Từ điển tiếng Việt, Từ điển thành ngữ Việt Nam, một số tác phẩm văn học Bên cạnh
đó luận văn còn khai thác tư liệu từ các trang Wed về thành ngữ tiếng Việt, một số bài viết, luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” đã xuất bản Ngoài ra, luận văn còn khảo sát ngữ liệu dựa chủ yếu trên các trang báo điện tử như: báo Thanh niên ( https://thanhnien.vn/), báo Tuổi trẻ (https://tuoitre.vn/), báo Dân trí (https://dantri.com.vn/)…), báo Vietnamnet
Trang 1510
https://vietnamnet.vn/ và một số trang báo điện tử khác được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi sẽ chủ yếu áp dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm xác định các nội hàm các khái niệm từ, nghĩa của từ, và các từ đồng nghĩa
- Phương pháp phân tích nghĩa nghĩa: Phương pháp này được sử dụng để phân tích nghĩa của từ để tìm ra nghĩa gốc, nghĩa phái sinh của từ
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
nói về “ăn” trong tiếng Việt góp phần khẳng định khuynh hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ “ăn” trong giai đoạn thực tế hiện nay
giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và bản ngữ, cung cấp cơ sở giải thích nghĩa
của từ “ăn” trong giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt cho người nước ngoài học tiếng
Việt; thông qua đó, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa và tư duy
7 K ết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, và Phụ lục, nội dung luận văn gồm có ba
chương:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết
Chương 2 Ngữ nghĩa của từ “ăn” và khả năng kết hợp của nó trong tiếng
Việt
Chương 3 Ngữ nghĩa và khả năng kết hợp của nhóm từ đồng nghĩa với từ
“ăn” trong tiếng Việt
Trang 16Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học Khi nghiên cứu
bất cứ một ngôn ngữ nào người ta cũng không thể bỏ qua việc xác định đơn vị này
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về từ, bởi ở mỗi loại hình ngôn ngữ khác nhau,
từ cũng có những đặc điểm riêng của mình Vấn đề “từ” trong tiếng Việt cũng vậy,
nó là vấn đề thuộc về lý luận cơ bản, vì toàn bộ hệ thống miêu tả ngôn ngữ phụ thuộc vào nó Từ không chỉ là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản
của ngôn ngữ nói chung Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào lý tưởng về từ có thể áp dụng cho mọi ngôn
ngữ, bởi mỗi ngôn ngữ có những nét riêng biệt
Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, định nghĩa phổ biến hiện
nay được nhiều nhà ngôn ngữ học cho là phù hợp về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất
của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [12, tr.61]
Đối với tiếng Việt, những tiếng như: hai, ba, ăn, ngủ, tôi nhà, tốt, đẹp,… và,
tuy, nhưng… đều được mọi người nhất trí coi là từ Từ là đơn vị cơ bản của tiếng
Việt và là đơn vị có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất:
- Chức năng cơ bản của từ là chức năng định đanh, nhưng trong dãy ngữ đoạn,
từ còn mang chức năng “phân biệt nghĩa” bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩ khác của
những từ nhiều nghĩa
- Từ tham gia vào các mối liên hệ từ vựng trong ngữ đoạn Chính đặc điểm này đã biến từ trở thành một loại đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, nằm trên giao điểm của hai trục tọa độ cơ bản trong tổ chức cấu trúc của ngôn ngữ - trục đối vị (trục dọc) và
trục nối tiếp (trục ngang)
Trang 17- Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Ví dụ: ăn là một từ có
nghĩa, nhưng nếu phân tích ra thành /ă/ /n/ thì đó chỉ là những âm hoàn toàn không có nghĩa
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: trời và giời, trăng và
giăng…), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: Các ý nghĩa khác nhau của
từ ăn: ăn giải, xe ăn xăng, ăn ảnh, ăn nằm…) nhưng không có biến thể
hình thái học
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt
Từ những đặc điểm trên của tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp
đã rút ra định nghĩa về từ của tiếng Việt như sau: “Từ của tiếng Việt là một
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một
số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,
Trong đó, các thành phần bên trong từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa) không độc lập với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một tập thể gọi là từ Và các thành phần ấy có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêng biệt
Trang 1813
Chính nhờ tính đồng loạt của các thành phần mà khi gặp một hình
thức ngữ âm nào đó, chúng ta mới có thể quyết định nó là từ nào và sử
niệm về “từ” theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu
sống Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng
lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Từ đó phát sinh nhu cầu
tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ
đã có sẵn Những đơn vị như thế được gọi là ngữ, có giá trị tương đương với từ
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp [13, tr 537]: “Ngữ là những cụm từ
giống với từ”:
- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ
- Về mặt cú pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, tức là có tính độc lập về cú pháp
Trang 1914
- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực
tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người
Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ
1.2 Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa
Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người Xét về mặt lý thuyết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Mỗi tín
hiệu là một tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành Cái biểu hiện trong ngôn ngữ chính là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu
hiện là khái niệm (ý nghĩa) hay đối tượng được biểu thị Hai mặt này luôn gắn kết
với nhau, không tách rời nhau, giống như “hai mặt của một tờ giấy vậy” Nghĩa của
từ cùng với hình thức ngữ âm được hình thành và ổn định dần dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc
“Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ
học Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này
Một số người cho rằng, nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị
Chẳng hạn, theo quan niệm này, nghĩa của từ cây là bản thân cái cây trong thực tế, nghĩa của các từ ăn, nói …từ tốt, xấu… là bản thân hành động, tính chất tương ứng
Trên thực tế, vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng là một hiện tượng phức tạp Ở Việt Nam, vận dụng những thành tựu nghiên cứu về nghĩa vào thực tế tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa
ra quan điểm của mình về khái niệm nghĩa của từ như sau:
Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp sau khi đã
trình bày các quan niệm khác nhau về nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới,
đã đưa ra nhận định của mình về nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là một đối
tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản như sau:“nghĩa sở chỉ”, “nghĩa
sở biểu”, “nghĩa sở dụng”, “nghĩa cấu trúc” [11, tr.126]
Trang 2015
Theo tác giả Hoàng Phê, nghĩa của từ là “Một tập hợp những nét nghĩa có
quan hệ quy định lẫn nhau Mỗi nghĩa của từ là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa, gọi là các nét nghĩa”; “Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng cho từng từ, vừa
được những đặc sắc của từng ngôn ngữ ở những phương diện nội dung” [26]
Quan niệm của Hoàng Phê cho thấy, cấu trúc của nghĩa từ là một cấu trúc động, trong quá trình đi vào hoạt động, thường chỉ có một số nét nghĩa của từ có
khả năng hiện thực hóa Khả năng hiện thực hóa ấy là tùy thuộc vào từng ngữ cảnh
mà chúng xuất hiện
Theo quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa
là lớp nghĩa cấu trúc hóa và lớp nghĩa liên hội Trong lớp nghĩa cấu trúc bao gồm ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Nếu ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho hàng loạt các từ (ý nghĩa hoạt động của các từ: ăn, uống, ngủ, cười, khóc…ý nghĩa
sự vật của các từ: nhà, cây, sách, bút…) thì ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ Ý nghĩa từ vựng tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Ý nghĩa biểu vật của từ là sự phản ánh sự vật, hiện tượng…trong thực tế
khách quan vào ngôn ngữ, nên sự vật hiện tượng là cơ sở nguồn gốc của ý nghĩa
biểu vật Nó mang tính võ đoán, quy ước của xã hội, đó là những mẩu, những mảnh
trong những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế, có tính khái quát nên không gắn với hoạt động, tính chất cụ thể của sự vật
Trang 2116
Ý nghĩa biểu niệm của từ là thành phần cơ bản của ý nghĩa từ vựng Sự vật,
hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật thì sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng được sắp xếp theo một tổ chức, một trật tự nhất định Các từ thuộc các từ loại khác nhau, có cách tổ chức các nét nghĩa khác nhau Còn các ý nghĩa biểu niệm của những từ trong một
từ loại lại có tổ chức giống nhau Giữa các nét nghĩa của chúng lại có quan hệ với
nhau Ví dụ, các nét nghĩa “đồ dùng” là dùng chung cho các từ bàn, ghế, giường,
tủ… nhưng trong mỗi từ này lại có những nét nghĩa riêng biệt
Ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh giá, biểu thị cảm xúc và thái
độ mà từ gợi ra cho người nói và người nghe Đây thực tế là sự phản ánh mối quan
hệ giữa từ và người sử dụng ngôn ngữ Ví dụ: Từ “ôm” trong câu “Bà mẹ ôm con
vào lòng” trung hòa về mặt biểu thái Nhưng câu nói “Cả ngày chỉ ôm lấy cái điện
thoại” thì từ “ôm” ở đây đã thể hiện thái độ chê trách Ba thành phần ý nghĩa trên
phản ánh việc xem xét, nhìn nhận từ ở các góc độ khác nhau Vì từ là một thể thống nhất, sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng
1.2.2 Hiện tượng đồng nghĩa
Hiện tượng đồng nghĩa là một vấn đề khá thú vị trong ngôn ngữ học Theo
Đại từ điển Bách Khoa Xô Viết, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện tượng đồng nghĩa
thuật ngữ tiếng Anh là Synonymy có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Synònymia có nghĩa là “cùng tên” chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng
nhất Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng, hoặc là với cùng một biểu vật (sự kiện, khách thể….), hoặc là cùng một biểu niệm (cái được biểu hiện thuộc tính ngôn ngữ) [dẫn theo 39, tr.66]
Trang 2217
1.2.2.1 Phân biệt hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa
a Hiện tượng đồng nghĩa
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, đồng nghĩa là một trong những khái niệm có tính chất nền tảng nhất của ngôn ngữ học Như chúng ta đã biết, trong ngôn ngữ học, chủ yếu các nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm Các biểu thức A và B được gọi là đồng nghĩa nếu cái biểu hiện của chúng không như nhau Nghĩa là: hình thức (A) ≠ hình thức (B), còn cái được biểu hiện của chúng là như nhau Nghĩa là: Nội dung (A) = (B) Người ta thường nói đến hiện tượng đồng nghĩa khi cái được biểu hiện tương ứng là khá gần gũi với các khái
niệm từ đồng nghĩa hay từ gần nghĩa Theo Nguyễn Đức Tồn, hiện tượng đồng nghĩa có nội dung rất rộng, nó có thể xảy ra giữa các hình vị (ví dụ: vô- phi- bất), đơn vị từ vựng đồng nghĩa (ví dụ: chết, tử, ngoẻo, toi), các kết hợp cú pháp (ví dụ:
Hương cao hơn Nam- Nam không cao bằng Hương)
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa có mặt trong hệ thống ngôn ngữ - những hiện tượng đồng nghĩa từ vựng và trong các văn bản - những hiện tượng đồng nghĩa lời nói Ở cả hai khu vực trên có thể có những từ và ngữ cố định đồng nghĩa, có những cụm từ và cụm từ (tự do) đồng nghĩa và cả những câu đồng nghĩa [4, tr.192]
b Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa
Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn, các đơn vị từ vựng đồng nghĩa gồm
các từ và các ngữ cố định có chức năng tương đương với từ như: hoa hồng, sân
bay, quần áo, ông bà, chậm như rùa, nghịch như quỷ sứ Do đó, hiện tượng đồng
nghĩa có thể xảy ra giữa các từ Ví dụ: nhìn - nhòm - dòm - ngó, mẹ - má- bầm- u,
chân lân đằng đầu; Đói cho sạch, rách cho thơm - Giấy rách giữ lấy lề
Trang 2318
Ngoài ra, hiện tượng đồng nghĩa còn xảy ra giữa một từ và một ngữ cố định:
xấu- xấu như ma, đen- đen như củ súng,…
Từ đó, ta có thể thấy rằng từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong cái được gọi là đơn vị từ vựng đồng nghĩa phân việt với đơn vị ngữ pháp đồng nghĩa và tất cả đều nằm trong hiện tượng đồng nghĩa của ngôn ngữ [39, tr.70]
Cho đến nay, trong lịch sử ngôn ngữ học có rất nhiều các quan niệm khác nhau về từ đồng nghĩa Sự bất đồng trước tiên trong khi giải quyết các vấn đề từ đồng nghĩa là do kết cấu ngữ nghĩa đa dạng, phức tạp của từ gây nên Mỗi từ không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa Nhiều trường hợp một từ có nhiều nghĩa khác nhau Hiện tượng đa nghĩa này dẫn đến các quan niệm khác nhau về từ đồng nghĩa
Nguyễn Văn Tu trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là nhiều từ khác
nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh” [39, tr 153]
Đỗ Hữu Châu quan niệm về từ đồng nghĩa: “Hiện tượng đồng nghĩa là hiện
tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ có chung một nét nghĩa đồng nhất Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì các từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó [4,
tr.199]
Nguyễn Đức Tồn quan niệm rằng: Từ đồng nghĩa phải dựa trên cả hai
đồng khi chúng có vỏ ngữ âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc các biểm niệm
Trang 2419
a Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B’ và đảo lại “B là A” mà không cần phải chỉnh lý bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/ từ cùng nghĩa
ngược lại “B là A” cần có một sự chỉnh lý, thêm nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị thì từ đó là những đơn vị từ vựng/ từ gần nghĩa” [39, tr.97]
Từ định nghĩa trên của tác giả Nguyễn Đức Tồn cho thấy, các từ đồng nghĩa trước hết phải là những thuộc về cùng một từ loại (có như vậy chúng mới cùng xuất
hiện được trong kết cấu đồng nhất “A là B” và “B là A”) Trong ý nghĩa của chúng
có chứa những yếu tố đồng nhất Các yếu tố khác nhau của các ý nghĩa này bị trung hòa hóa trong những ngữ cảnh nhất định Một số từ cực kì gần gũi về ý nghĩa được
gọi là những từ cùng nghĩa Đối với trường hợp đặc biệt của các từ cùng nghĩa là các từ đồng nghĩa tuyệt đối
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu
và các nhà ngôn ngữ học đi trước, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã chia các từ đồng nghĩa ra thành ba tiểu loại như sau:
a Các từ đồng nghĩa ý niệm
Các từ đồng nghĩa ý niệm là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách và khác biệt nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ Chẳng hạn, các từ
đừng - chớ là những từ đồng nghĩa ý niệm, có ý nghĩa chung là đều biểu thị ý
“Khuyên ngăn không nên làm điều gì” Hoặc từ như: nhiệm vụ - nghĩa vụ - trách
b Các từ đồng nghĩa phong cách
Các từ đồng nghĩa phong cách là những từ đồng nhất về ý nghĩa của chúng
và khác nhau về màu sắc phong cách
Chúng ta có thể xác định được một từ nào đó là từ đồng nghĩa phong cách khi đối chiếu nó với từ trung tính về phong cách tương ứng Vì vậy, có thể nói trong
Trang 2520
mỗi cặp từ đồng nghĩa phong cách hoặc trong mỗi dãy đồng nghĩa phong cách chắc
chắn sẽ có từ trung tính về phong cách Chẳng hạn như các từ đồng nghĩa phong cách trong nhóm từ nói về “ăn” trong tiếng Việt: Ăn (trung tính), xơi, mời (sang
trọng), hốc, đớp (thông tục)…
Các từ đồng nghĩa phong cách thường không thuần nhất Có thể tách chúng thành hai nhóm: Nhóm các từ cổ và nhóm các từ đồng nghĩa phong cách tiếng Việt
hiện đại
c Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách
Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách là những từ và các đơn vị tương đồng của chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện
thực khách quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong cách mà còn khác nhau
cả về sắc thái của ý nghĩa chung ở mỗi từ Ví dụ:
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong ba loại từ đồng nghĩa trên thì hai nhóm
từ đồng nghĩa ý niệm và từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách là những từ gần nghĩa Còn từ đồng nghĩa phong cách là những từ cùng nghĩa
1.3 S ự phát triển nghĩa của từ
Trong diễn tiến ngôn ngữ, kết cấu nghĩa của từ luôn luôn vận động phát triển,
sự biến đổi nghĩa là sự thực hiển nhiên trong nghĩa ngôn ngữ Có thể nói phát triển nghĩa, chính là một quá trình phát triển mở rộng các chức năng (định danh, biểu đạt…) của từ Đây chính là sự tăng lên về dung lượng nghĩa có trong một từ, tức là tăng thêm các biến thể từ vựng- ngữ nghĩa trong một vỏ bọc âm thanh của từ, là sự tăng lên về các nét nghĩa trong cấu trúc của một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, các nét nghĩa trong một biến thể từ vựng cho phép chủ thể ngôn ngữ có thể sử dụng từ
đó để gọi tên, biểu thị những đối tượng mà trước đây chưa được gọi tên, biểu thị Điều đó có nghĩa là phạm vi ứng dụng nghĩa của từ đã được mở rộng ra Phát triển nghĩa, vì thế, sẽ cho phép mặt được biểu hiện của từ có sự tăng lên về các ý niệm,
Trang 2621
các phạm trù nhận thức, mà vẫn giữ được nguyên vẹn mặt biểu hiện Theo tác giả
Phạm Văn Lam cho rằng: Phát triển nghĩa của từ là quá trình phát triển, mở rộng
trước đây chưa được trỏ ra, gọi tên, biểu thị; sự phát triển, sự phát triển mở rộng
đồng nói năng chấp nhận Đó chính là sự phát triển, mở rộng về phạm vi ứng dụng
Ngữ nghĩa học truyền thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản mà ngữ nghĩa học ngày nay không thể bác bỏ được Đó là hai khuynh hướng biến đổi: mở rộng và thu hẹp ý nghĩa (phát triển nghĩa và mất nghĩa), chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ Theo tác giả Lê Văn Thiêm; Phạm vi rộng hẹp
thể hiện ở số lượng và cả ở tính chất nét nghĩa Có nét thiên về cái chung, nét nghĩa
phạm trù và nét nghĩa thiên về cụ thể, loại biệt, nét nghĩa khu biệt [4, tr.311]
Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung, từ cái
cụ thể đến trừu tượng Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình này gọi là nghĩa mở
rộng Ví dụ; Tính từ “đẹp”, ban đầu chỉ dùng ở khía cạnh hình thức, nhưng hiện nay
dùng rộng rãi ở cả phạm vi tình cảm, tinh thần, quan hệ Chẳng hạn: tình cảm đẹp,
lại có ý nghĩa cụ thể là “mùi hôi”
Tóm lại, mở rộng và thu hẹp ý nghĩa là quá trình chuyển từ khái niệm về loại sang khái niệm về chủng (mở rộng) hoặc chuyển từ khái niệm về chủng sang khái
niệm về loại (thu hẹp) Quy luật tạo ra sự phát triển này là dựa vào các mối liên hệ
Trang 2722
tương đồng và tiếp cận Thể hiện ở các mối liên hệ đó, theo hình thức ẩn dụ và hoán
dụ Đây là cơ sở để tạo ra các nghĩa bóng, các nghĩa phái sinh của từ Ví dụ:
- Răng người và vật – răng lược, răng bừa
- Mũi người và vật – mũi thuyền, mũi kim
Đây là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng thông qua hình thức ẩn dụ
Hay sự chuyển đổi tên gọi từ sự vật, hiện tượng này sang hiện tượng khác
dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật, hiện tượng ấy qua hình thức hoán dụ
Ví dụ: Nhà tôi – vợ tôi
Sự phát triển nghĩa của từ luôn đi cùng với sự phát triển của xã hội Sự
biến đổi không ngừng của nghĩa do sự biến đổi của cuộc sống và cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt, giàu hình ảnh của con người đã góp phần làm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn Sự phát triển ấy theo hai khuynh hướng cơ bản: mở rộng và thu hẹp ý nghĩa, chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ Những đơn vị từ vựng được lựa chọn để phát triển nghĩa thường là những đơn vị mang những giá trị văn hóa ước định của cộng đồng, được mọi người chấp nhận, sử dụng, dễ dàng nhập vào hệ thống từ vựng -
ngữ nghĩa như là một đơn vị khu biệt Nghĩa là nó được đánh giá thuận lợi cho công việc giao tiếp, được thẩm định về khả năng biểu đạt nghĩa và giá trị thẩm mỹ khi đi vào hành chức
1.4 Hi ện tượng chuyển nghĩa của từ
Trên thực tế, cấu trúc ý nghĩa của từ không nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động và phát triển Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ và từ
từ phát triển thêm các biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, nhưng có thể quy vào các
yếu tố cơ bản sau đây
- Do sự biến đổi, phát triển không ngừng của đời sống;
Trang 2823
- Sự phát triển của nhận thức;
- Sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ;
- Tính quy ước của nghĩa
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển
biến ý nghĩa của từ Từ (đơn hoặc phức) lúc đầu mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa
Từ các nguyên nhân dẫn đến sự chuyển nghĩa của từ, ngữ nghĩa học truyền
thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản mà ngữ nghĩa học
hiện đại ngày nay không thể bác bỏ Theo các tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ
Hữu Châu, hiện tượng chuyển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức ẩn dụ
và hoán dụ
Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hiện
tượng được so sánh với nhau So sánh bộ phận được gọi là “đầu” của con người với
bộ phận trên của cái van xe đạp, chúng ta thấy có một điểm chung là “bộ phận trên, trước hết” Từ đó dẫn đến việc lấy tên gọi của bộ phận thân thể để biểu thị bộ phận
của cái van Mặt khác, so sánh con vật với hàng người, đoàn người thấy cả hai đều
có bộ phận trước, bộ phận sau, do đó đã lấy tên bộ phận trước hết của vật chỉ bộ phận trước hết của đoàn người, hàng người… Cứ phân tích như vậy, sẽ thấy các
nghĩa phái sinh của từ “đầu” đều là kết quả của quá trình chuyển nghĩa ẩn dụ
Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự
vật hoặc hiện tượng khác dựa trên một mối quan hệ logic giữa các sự vật hiện tượng
ấy Căn cứ vào tính chất chất của các quan hệ mà có thể chia ra làm nhiều loại hoán
dụ khác nhau như: quan hệ giữa cái toàn thể và bộ phận, lấy không gian, địa điểm thay cho những người sống ở đó Ví dụ: “Nhà có 5 miệng ăn” lẽ ra là “nhà có 5
người ăn” Đây là kiểu hoán dụ theo quan hệ lấy cái bộ phận thay cho toàn thể
Trang 2924
Nhìn chung, ẩn dụ và hoán dụ thường liên hệ với các hiện tượng mở rộng và thu hẹp ý nghĩa Những ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng hay ẩn dụ căn cứ vào sự
giống nhau về chức năng đồng thời cũng là một quá trình mở rộng ý nghĩa Hoán
dụ thường liên hệ với hiện tượng thu hẹp ý nghĩa Ẩn dụ, hoán dụ là phương thức
cơ bản tạo nên nghĩa mới cho từ
1.5 T ừ đa nghĩa
Hiện tượng đa nghĩa là một hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ Nói
một cách đơn giản, đây là hiện tượng một đơn vị ngôn ngữ mà cấu tạo nội dung của
nó có nhiều nghĩa khác nhau Điều này một mặt tạo ra tính đa dạng phong phú của ngôn ngữ Đây là hiện tượng biểu hiện một cách điển hình ở cấp độ từ vựng -
ngữ nghĩa Ở cấp độ này hiện tượng đa nghĩa không chỉ bộc lộ gắn liền với đặc điểm của từ mà còn thể hiện đặc điểm cấu tạo và phát triển của hệ thống
từ vựng - ngữ nghĩa của ngôn ngữ
Người ta nhận thấy rằng một từ lúc mới sinh ra chỉ có một nghĩa, theo dòng thời gian tồn tại và phát triển từ trở thành nhiều nghĩa Sự xuất hiện nghĩa mới của từ có quan hệ với sự phát triển một cách có quy luật và sự giàu
có, phong phú của thành phần từ vựng một ngôn ngữ Nó là kết quả của sự phát triển nghĩa của từ nói riêng và của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa nói chung, đồng thời cũng là biểu hiện, sản phẩm của sự phát triển ngôn ngữ văn hoá, sự giàu có, phong phú tư duy và kinh nghiệm của cộng đồng người nói một thứ tiếng nhất định Chính vì vậy, các ngôn ngữ gắn liền với nền văn minh tiên tiến thường phát triển với tỷ lệ cao những từ đa nghĩa Phát triển từ
đa nghĩa còn là một biện pháp, một phương thức làm giàu vốn từ ngữ dân tộc
Đa nghĩa là qui luật chung của ngôn ngữ nhân loại Việc tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt trong nội dung từ đa nghĩa của các dân tộc lại liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá của riêng của mỗi quốc gia Bởi vì đặc điểm đa
Trang 3025
nghĩa của mỗi ngôn ngữ như là sản phẩm sáng tạo, là thành tựu được tập thể
cộng đồng ngôn ngữ ấy xây dựng nên
Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về từ đa nghĩa từ
vựng Chẳng hạn như tác giả O.C.Akhmanôva cho rằng: “đa nghĩa là sự tồn
tại ở từ một số nghĩa vốn thường xuất hiện do việc sử dụng từ và sự phát triển các nghĩa bóng của từ” (Dẫn theo Lê Quang Thiêm) [34, tr.305]
Tác giả Vũ Đức Nghiệu cho rằng: “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc
biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại.”[6, tr.172]
Sau khi phân tích đánh giá một số cách hiểu tác giả Lê Quang Thiêm đã
đưa ra quan niệm của mình về từ đa nghĩa như sau: “Từ đa nghĩa là từ mà nội
nhiều nét nghĩa loại biệt thường biểu thị các đối tượng khác nhau nhưng lại được đặt cơ sở trên một sự giống nhau về chức năng, hình thức hoặc thuộc tính nào đó của đối tượng” [34, tr.305]
+ Các kiểu nghĩa của từ đa nghĩa
Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức
và trật tự nhất định Việc phân loại các nghĩa khác nhau của từ đa nghĩa giúp chúng
ta tìm ra được mối quan hệ của chúng và từ đó có cơ sở hiểu rõ hơn ý nghĩa của từ
- Dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, vốn có đối với một từ nào đó Vì thế nghĩa gốc thường là nghĩa không giải thích được lí do và có thể nhận
ra một cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác Nghĩa phái sinh là nghĩa có sau được tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc cho nên chúng thường có lí do và được nhận
ra qua nghĩa gốc của từ Ví dụ, trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê [25] có định nghĩa từ chân như sau:
Trang 3126
1 Bộ phận dưới cùng của cơ thể người và động vật, dùng để đi, đứng, thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người (Què chân; Vui chân đi quá xa; Nước đến chân mới nhảy)
2 Chân của con người, coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong hội đồng; thiếu một chân tổ tôm; chân sào)
Như vậy, trong hai nghĩa trên của từ chân thì nghĩa 1 là nghĩa gốc, nghĩa 2 là nghĩa phái sinh
- Dựa vào khả năng tồn tại độc lập của từ, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế Nghĩa tự do là nghĩa được bộc lộ trong mọi hoàn
cảnh, không lệ thuộc vào hoàn cảnh bắt buộc nào Nghĩa hạn chế là nghĩa chỉ xuất
hiện trong một hoàn cảnh nhất định
- Dựa vào mối quan hệ định danh giữa từ và đối tượng, nghĩa của từ đa nghĩa
gồm hai loại: nghĩa trực tiếp và nghĩa gián tiếp Nếu một nghĩa trực tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp thì đó là nghĩa trực tiếp (nghĩa đen) Còn nếu một nghĩa gián tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự
vật một cách gián tiếp (thông qua hình tượng hoặc nét đặc thù) thì đó là nghĩa gián
tiếp (nghĩa bóng)
- Nghĩa của từ đa nghĩa được chia thành nghĩa thường trực và nghĩa không thường trực dựa vào tiêu chí nghĩa đang xét đã nằm trong cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ hay chưa Một nghĩa được coi là nghĩa thường trực nếu nó đã đi vào cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ và được nhận thức một cách ổn định, như nhau trong các hoàn cảnh khác nhau Ngược lại, nếu có một nghĩa bất chợt nảy sinh trong một hoàn cảnh nào đó trong quá trình sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ, nó chưa hề đi vào cơ
cấu ổn định, vững chắc của nghĩa đó là nghĩa không thường trực (nghĩa ngữ cảnh) Trên đây là cách phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thường gặp Mỗi tiêu chí khác nhau có hệ thống phân loại khác nhau Trong thực tế, từ đa nghĩa không chỉ có 2, 3
Trang 3227
nghĩa mà có từ có rất nhiều nghĩa Nghĩa của từ đa nghĩa rất phong phú, đa dạng nên khi phân tích nghĩa theo thế lưỡng phân thường là sẽ có một số nghĩa không được gọi tên mà bị gộp chung với một nghĩa nào đó khái quát hơn
hiện và cái được biểu hiện không phải lúc nào cũng được duy trì, nó có thể,
một cách tiềm tàng, bị phá vỡ bất kỳ lúc nào Chính vì vậy, biến đổi nghĩa
là sự thật thực hiển nhiên trong ngôn ngữ Theo quan niệm truyền thống, có hai khuynh hướng biến đổi: phát triển nghĩa và mất nghĩa Trên thực tế, bất
kỳ một nghĩa nào đó đã xuất hiện, một cách tiềm năng, đều có khả năng tái
hiện ở những lần sau Vì thế nếu một nghĩa nào đó không may bị mất đi, thì
nó vẫn có khả năng được sử dụng trở lại, bởi cái nghĩa ban đầu bao giờ cũng là cái được con người dễ nhận diện nhất, được con người duy trì bảo
hộ nhiều nhất Vì thế, biến đổi nghĩa cũng là phát triển nghĩa
Trong ngữ nghĩa, hiện tượng đồng nghĩa thường xảy ra với hàng loạt các đơn vị từ vựng và tạo nên các sắc thái biểu cảm khác nhau về ngữ nghĩa Vì vậy, trong một dãy đồng nghĩa, giữa các nghĩa của từ đồng nghĩa
là giống nhau song chúng khác nhau về sắc thái biểu cảm
Hiện tượng chuyển nghĩa của từ tạo nên hiện tượng đa nghĩa từ vựng
Có hai con đường chuyển nghĩa cơ bản là mở rộng nghĩa hoặc thu hẹp nghĩa, thường được thực hiện thông qua ẩn dụ hoặc hoán dụ Trong từ đa nghĩa, giữa nghĩa gốc của từ với các nghĩa chuyển luôn có mối liên hệ nhất định về nghĩa, tuy nhiên, các nghĩa phái sinh thường vận động theo hướng
Trang 3328
ngày càng xa rời nghĩa gốc và trong những trường hợp cụ thể, giữa nghĩa
gốc và nghĩa chuyển còn xảy ra hiện tượng chuyển loại
Đây là những tiền đề lý luận cơ bản giúp chúng tôi triển khai thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trong chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 3429
Chương 2
NG Ữ NGHĨA CỦA TỪ “ĂN” VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP
C ỦA NÓ TRONG TIẾNG VIỆT
2.1 Ng ữ nghĩa của từ “ăn” trong tiếng Việt
Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống, mang
những nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Đối với người Việt, ăn
uống không chỉ đơn thuần là nét văn hóa về vật chất, một hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học của cơ thể mà còn phản ánh phương diện văn hóa về tinh thần, là tiếng nói của tâm hồn người Việt Thông qua hoạt động ăn uống người ta có thể
hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giá con người, trình độ văn hóa với những đạo
lý, phép tắc, phong tục, tập quán và cả triết lý nhân sinh… của mỗi cá nhân và rộng hơn là cả một dân tộc Cái ăn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tâm thức mỗi người dân Việt Có thể nói, mọi hoạt động của người Việt đều lấy “ăn” đặt lên làm
đầu: ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn tiêu… Và do nhu cầu sử dụng thiên biến vạn
hóa về sắc thái, từ “ăn” cũng là một trong những từ có rất nhiều từ đồng nghĩa trong
tiếng Việt như: xơi, mời, nhậu, hốc, nốc, tọng, chén, đánh chén, đớp, dùng, làm…
sự phong phú trong lớp từ đồng nghĩa ấy đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng của tiếng Việt
Trong T ừ điển Tiếng Việt (2010) của Hoàng Phê (chủ biên) đã khái quát từ
“ăn” (động từ) là một từ đa nghĩa gồm có 13 nghĩa (nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh) như sau: [25, tr.29-33]
1 Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống Ăn cơm Thức ăn Ăn có nhai, nói có
nghĩ (tng) Làm đủ ăn
2 Ăn uống nhân dịp gì Ăn cưới Ăn liên hoan Ăn tết
3 (Máy móc, phương tiện vận tải) tiếp nhận cái cần thiết cho sự hoạt động
Cho máy ăn dầu mỡ Xe ăn tốn xăng Tàu đang ăn hàng ở cảng
Trang 356 Giành về phần mình phần hơn, phần thắng (trong cuộc thi đấu) Ăn con xe
Ăn giải Ăn cuộc
7 Hấp thu cho thấm vào, nhiễm vào trong bản thân Vải ăn màu Da ăn
8 Gắn, dính chặt vào nhau, khớp với nhau Hồ dán không ăn Gạch ăn vôi
vữa Phanh không ăn
9 (Kết hợp hạn chế) Hợp với nhau, tạo nên một cái gì hài hòa Hai màu rất
ăn với nhau Người ăn ảnh
10 Làm tiêu hao, hủy hại dần dần từng phần Sương muối ăn bạc trắng cả
lá Sơn ăn tùy mặt
11 Lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó (nói về khu vực hoặc phạm vi tác
động của cái gì) Rễ tre lan ra tới ruộng Sông ăn ra biển Phong trào ăn sâu,
12 (Kng) Là một phần ở ngoài phụ thuộc vào; thuộc về Đám đất này ăn về
13 (Đơn vị tiền tệ, đo lường) có thể đổi ngang giá Một dolla ăn mấy đồng
Cùng với sự phát triển của xã hội, trong quá trình sử dụng khi đi vào ngôn
bản và trong từng hoàn cảnh cụ thể Nhóm từ nói về “ăn” được sử dụng khá linh
hoạt cho phù hợp với từng hoàn cảnh nhằm mang lại giá trị biểu cảm riêng Các nét nghĩa được mở rộng và theo thời gian các nét nghĩa phái sinh mới được hình thành
và ngày càng phong phú, làm giàu cho hệ thống từ vựng của tiếng Việt Điều đó cho thấy, quá trình vận động và phát triển nghĩa của từ “ăn” khá mạnh mẽ Ngoài
Trang 3631
những nghĩa gốc và nghĩa phái sinh được thống kê ở trên, trên thực tế chúng ta có
thể thấy “ăn” còn trở thành một yếu tố (thành tố) đóng vai trò như một hình vị cấu
tạo từ, có thể kết hợp với các hình vị khác để tạo ra các từ ghép khác nhau theo kiểu chính phụ hoặc đẳng lập có chứa yếu tố “ăn” Những đơn vị từ có chứa yếu tố “ăn” này có thể mang nghĩa chỉ hoạt động ăn theo nghĩa gốc, có thể không mang nghĩa
chỉ hoạt động ăn mà bàn đến mọi phương diện đời sống của con người Các nghĩa
của từ chứa yếu tố “ăn” này được người Việt chấp nhận và sử dụng trong cuộc sống
hàng ngày như: Ăn chơi, ăn nằm, ăn chặn… Đặc biệt có nhiều kết hợp với yếu tố
“ăn” mà trong đó không liên quan gì đến việc đưa thức ăn vào miệng và thực hiện động tác nhai, nuốt Mà từ “ăn” ở đây lại chỉ hành vi, lối sống, ta có thể hiểu như
một thứ nghề nghiệp, chẳng hạn như: Ăn sương, ăn trộm, ăn cắp…
Chúng ta có thể thấy, từ nghĩa gốc “ăn” để chỉ hoạt động “Tự cho vào cơ thể
thức ăn nuôi sống” cùng với sự phát triển của thời gian, các nét nghĩa phái sinh đã hình thành và sự kết hợp của yếu tố “ăn” với các từ/ tổ hợp từ đã tạo ra rất nhiều nghĩa mới thay thế hàng loạt các khái niệm khác Theo sự khảo sát của Nguyễn Thị Bích Hợp [18] khi miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa của từ “ăn” theo mô hình tỏa tia, tác giả đã bổ sung thêm hai nghĩa phái sinh mới so với các nét nghĩa trong Từ điển
tiếng Việt của Hoàng Phê [25], đó là: “ăn” nghĩa là “thực hiện hành động”: ăn vạ,
ăn hiếp, ăn hỏi, ăn diện, ăn thề, ăn nói, ăn mặc, ăn học; và “ăn” nghĩa là “quan hệ
thân xác”: ăn nằm, ăn cơm trước kẻng, đã ăn cô ta, ăn bánh trả tiền…
Ăn uống được dân gian Việt nam xếp lên hàng đầu “tứ khoái” của con người Nhà văn Tản Đà đối với văn hóa ẩm thực, ông đã nâng thành “lý luận 04
chữ W trong ăn uống”
1-Ăn cái gì ( What)?
2-Ăn lúc nào (When)?
3- Ăn ở đâu (Where)?
Trang 37Việt lại chiếm số lượng rất lớn Thông qua việc khảo sát trong các cuốn từ điển thành ngữ, các câu thành ngữ có chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt có tới 492 câu
Ẩn chứa trong mỗi câu thành ngữ là những kinh nghiệm trong cuộc sống, những giáo huấn về luân thường, đạo lý, cách ứng xử của con người với con người trong
xã hội Chúng ta vẫn thường nghe những câu thành ngữ nói về thói quen trong ăn
uống của ông cha ta: Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống,… hay
lên án những kẻ vô ơn, bội nghĩa: ăn cháo đá bát… phê phán những thói hư tật xấu:
ăn xó mó niêu, ăn gian nói dối… Cho đến những kinh nghiệm đời thường trong
cuộc sống: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau…
“Ăn” cũng là một trong những nguồn cảm hứng chính của các nhà văn
hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 như: Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… đề tài về “miếng ăn” được tái hiện dưới ngòi bút của các nhà văn vô cùng chân thực Thông qua cái “ăn” các tác giả đã cởi hết cái lớp áo bao phủ bên ngoài của đời sống của người dân Việt Nam thời đó để phơi bày chuyện đời nhức nhối nhất, sự thiếu thốn,
sự đói khổ trở thành vấn nạn khủng khiếp chi phối mọi mặt của đời sống xã hội
Việt Nam trước cách mạng tháng Tám “Ăn” cũng là đề tài khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà văn hiện đại trong thể loại Tùy bút như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng, Băng Sơn, Mai Thục, Trần Đức Anh Sơn… đều là những tác giả đã
rất thành công khi viết về đề tài liên quan đến cái “ăn”, một trong những nhu cầu tất
yếu của cuộc sống nhưng thông qua ngòi bút của các nhà văn, cái “ăn” được nâng
Trang 382.2 Kh ả năng kết hợp của từ/yếu tố “ăn” trong tiếng Việt
Đối với người Việt, văn hóa ăn uống đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý của cuộc sống Điều
đó rất dễ hiểu khi chúng ta thấy người xưa có câu “dĩ thực vi thiên” (ăn là quan
trọng nhất) Ý nghĩa của sự ăn là vô cùng đa dạng và sâu sắc Bởi “Có thực mới vực
được đạo”, “Thực túc binh cường” (ăn đầy đủ thì quân đội mới hùng mạnh) Song
đối với người Việt, nhiều khi người ta ăn không phải vì ăn, mà vì tình, vì nghĩa: Vị
tình, vị nghĩa, ai vị đĩa xôi đầy Hoặc đôi khi người ta ăn, chỉ cốt là để biết, để
thưởng thức, chứ không phải là thỏa mãn nhu cầu về vật chất thuần túy: Ăn lấy
thơm lấy tho, chứ ai ăn lấy no, lấy béo; ăn lấy vị, chứ ai lấy bị mà mang… Có thể
nói, đối với người Việt “Ăn” là cả một vấn đề ứng xử, vấn đề xã hội Chuyện ăn tưởng chừng quá quen thuộc hàng ngày đối với mọi người nhưng thực tế không đơn giản như vậy Trong dân gian từ xưa, người Việt rất coi trọng việc ăn uống: Từ việc nấu nướng đến việc chọn lọc miếng ăn và đặc biệt là việc giao tiếp ứng xử trong khi ăn uống Bởi vậy mà kinh nghiệm truyền dạy con trẻ của người Việt
được truyền từ đời này sang đời khác rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Trong đó “học ăn” được đặt lên hàng đầu Từ lâu người Việt đã ý thức được rằng:
Ăn cũng phải học, ăn là một khoa học Bởi vậy, khi nghiên cứu vấn đề “ăn” của người Việt theo góc độ ngôn ngữ và văn hóa là cả một vấn đề khoa học vô cùng phong phú và ý nhị
Trang 3934
Người Việt có một số tiêu chuẩn đánh giá con người thông qua dung nhan,
dáng đi, giọng nói, tướng mạo như “Người khôn con mắt đen xì, người dại con
nhận xét con người thông qua việc ăn uống vẫn là phổ biến, nhiều mặt hơn và sâu
sắc hơn
“Khôn ăn cái, dại ăn nước”
“Người khôn ăn miếng thịt gà,
Người dại ăn trái bồ nâu
Ăn no bĩnh bầu chẳng biết mùi ngon.”
Hay: “Người khôn ăn nói nửa chừng
Hoạt động “ăn” là một nét văn hóa vô cùng độc đáo thể hiện bản sắc văn hóa cộng đồng và thế ứng xử của con người với con người trong xã hội Điều đó được phản ánh sinh động trong lớp từ vựng của ngôn ngữ Trong tiếng Việt, từ/yếu
tố “ăn” là một từ/yếu tố vô cùng đặc biệt, có khả năng kết hợp với rất nhiều từ loại
để làm chức năng vị ngữ trong câu Ta có thể mô hình hóa khả năng kết hợp của
từ/yếu tố “ăn” như sau: Ăn + X Trong đó “X” là một kết cấu mở, có thể là những
từ loại như danh từ, tính từ, động từ hoặc tổ hợp từ kết hợp với từ/yếu tố “ăn” khá linh hoạt tạo ra tính đa chiều và đa hướng trong ngôn ngữ, nhằm thể hiện được lối
tư duy cũng như bản sắc văn hóa của người Việt thông qua cái “ăn” Khi đi vào hành chức, kết hợp với các từ/ tổ hợp từ, trong từng ngữ cảnh cụ thể, nghĩa của từ
“ăn” không còn giữ nguyên nghĩa gốc: “Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống” nữa
mà nó đã có sự chuyển nghĩa Sự phát triển nghĩa của “ăn” có thể quy thành một số nhóm dựa vào ý nghĩa khái quát của chúng như sau:
Trang 4035
2.2.1 Ăn + mục đích
Sự kết hợp của “ăn” với các từ / tổ hợp từ đã tạo ra hàng loạt từ ghép biểu thị
hoạt động các dịp ăn uống của người Việt Với kết cấu “Ăn + X”, trong đó tham tố
X ở đây là yếu tố mở, gắn liền với những từ “cụ thể” chỉ mục đích của việc ăn uống
như: Ăn hỏi, ăn mừng, ăn cưới, ăn liên hoan, ăn giỗ, ăn tết, ăn mày, ăn xin, ăn
kiêng, ăn hàng, ăn chay Trong các kết hợp này, “ăn” thường được sử dụng ở nghĩa
gốc, ít khi chuyển nghĩa Ví dụ:
mẹ chết, tr.161]
- Có cụ giáo Hiệu trưởng mẹ mời đến ăn tết thân mật với gia đình [ 23, Cái
bánh dẻo tròn, tr.192]
- Ăn cỗ mừng sinh nhật là một nét mới, trước kia chỉ có mừng thọ, thượng
thọ, lên lão và rất coi trọng nền nếp ngày giỗ [ 23 Giỗ tết, tr.239]
tỉnh Hà Tĩnh đã đóng cửa, nhân viên, lãnh đạo đều vắng mặt Lý do là nghỉ sớm
để ăn rằm [2]
của những rủi ro trong năm tuổi đầu tiên của cuộc đời.[3]
Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh cụ thể, khi mừng những sự kiện quan
trọng, có thể không có việc tổ chức ăn uống nhưng vẫn được gắn với “ăn” như “ăn
mừng chiến thắng” của đội bóng đá chẳng hạn Trong trường hợp này, “ăn” không
được sử dụng với nghĩa gốc mà đã chuyển nghĩa chỉ hoạt động chúc mừng, mang tính chất tinh thần Ví dụ:
Việt Nam.[5]
Cùng trong mô hình kết hợp “Ăn + mục đích”, nhưng khi đi vào trong thành ngữ, sự hoạt động của kết hợp này trong thành ngữ đã tạo nên nhiều hướng nghĩa