Cây xanh đô thị có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người và môi trường đô thị, nó làm đẹp thành phố, làm đẹp các khu ở, là một bộ phận trong hệ sinh thái tự nhiên, các tác dụ
Trang 1Mục lục trang
1 Sự cần thiết của đề tài 3
2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
3 Bố cục của đề tài 4
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cây xanh đô thị và cây xanh trên đường phố 4 1.1 Khái niệm về cây xanh đô thị 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Thành phần của cây xanh đô thị 6
1.2 Ý nghĩa của cây xanh đô thị 8
1.2.1 Đưa thiên nhiên trở lại với con người 9
1.2.2 Cân bằng hệ sinh thái 9
1.2.3 Đáp ứng nhu cầu văn hóa nghỉ ngơi của người dân đô thị 10
1.2.4 Hoàn thiện 10
1.2.5 Hạn chế ô nhiễm không khí 11
1.2.6 Kiểm soát sự rửa trôi và xói mòn đất 11
1.2.7 Giảm sự chói sáng và phản chiếu 11
1.2.8 Các công dụng khác 11
1.3 Các nguyên tắc quy hoạch cây xanh đô thị 12
1.3.1 Nguyên tắc 1 12
1.3.2 Nguyên tắc 2 13
1.3.3 Nguyên tắc 3 13
1.3.4 Nguyên tắc 4 13
1.3.5 Nguyên tắc 5 14
1.3.6 Nguyên tắc 6 14
1.3.7 Nguyên tắc 7 14
1.4 Các loại hình tổ chức cây xanh đô thị 15
1.4.1 Phân loại cây xanh đô thị 15
1.4.2 Bố trí các loại cây xanh đô thị 15
Trang 21.5 Kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức và quản lý cây xanh đô thị ở một số nước trên
thế giới 18
1.6 Cơ sở pháp lý cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị 23
1.6.1 Chỉ tiêu cây xanh trong quy hoạch xây dựng đô thị 23
1.6.2 Các văn bản pháp lý đã được ban hành trong công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị 24
1.6.3 Các cơ sở từ động lực mới của hiệp hội công viên cây xanh Việt Nam 24
Chương 2: Thực trạng cây xanh trên đường phố Hà Nội 26 2.1 Giới thiệu khái quát thành phố Hà Nội 26
2.2 Thực trạng cây xanh trồng trên dải phân cách Hà Nội 30
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất trồng cây xanh ở giải phân cách trên đường phố chính ở Hà Nội 41 3.1 Vai trò của cây xanh đường phố 41
3.2 Đảm bảo kĩ thuật trồng cây xanh đường phố 43
3.3 Mang tính truyền thống 45
3.4 Giải pháp quy hoạch 46
3.5 Các giải pháp kĩ thuật 46
Kết luận và kiến nghị 50 1 Kết quả nghiên cứu của đề tài 50
2 Những tồn tại và hướng phát triển của đề tài 51
3 Kiến nghị, đề xuất 51
Trang 3Phần mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,quá trình đô thị hóa ở Việt Nam cung diễn ra nhanh chóng Bộ mặt đô thị được cải thiện
và đổi mới từng ngày Cây xanh đô thị có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người và môi trường đô thị, nó làm đẹp thành phố, làm đẹp các khu ở, là một bộ phận trong hệ sinh thái tự nhiên, các tác dụng lớn trong việc cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trườngsống đô thị, không gian sống đô thị thường được ví như lá phổi cuả đô thị và là một trong những yếu tố nghệ thuật bố cục không gian và cảnh quan đô thị
Ngày nay, khi quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ mật độ xây dựng ngày càng cao, vai trò của cây xanh, mặt nước càng cần phải được chú ý trong quá trình lập quy hoạch một đô thịm một khu dân cư hay công nghiệp, trong quá trình thiết kế kiến trúc một côngtrình cụ thể
Xanh hóa đô thị đang là vấn đề rất nóng tại các đô thị lớn tại Việt Nam, tăng diện tích câyxanh nhằm cải thiện môi trường cũng như tăng giá trị cảnh quan cho đô thị Mật độ cây xanh được tăng lên trong các khu đô thị xây mới, hay những tuyến đường chính trong khu vực, không những trồng cây trên vỉa hè mà diện tích giải phân cách cũng được tận dụng tối đa để làm xanh hóa đô thị
Nhắc đến Hà Nội, chúng ta không thể không nhắc tới hệ thống cây xanh và không gian xanh đô thị – thường được ví như lá phổi của đô thị Những hàng cây xanh suốt bốn mùa trên đường phố đã mang lại cho Hà Nội một vẻ đẹp riêng, tạo ấn tượng cho du khách đến thăm
Hệ thống cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với môi trường, cải tạo vi khí hậu, bảo vệmôi trường sống đô thị, cải tạo không gian kiến trúc cảnh quan và là một bộ phận không thể thiếu trong hệ sinh thái tự nhiên
Trải qua thăng trầm của lịch sử, cây xanh đô thị của Hà Nội luôn là vấn đề được quan tâm
và phát triển Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, cây xanh Hà Nội đang gặp phải rất nhiều vấn đề liên quan đến giá trị thẩm mỹ, mức độ an toàn và sức khỏe cây xanh đô thị Nguyên nhân chủ yếu từ quá trình đô thị hóa, hiện tượng biến đổi khí hậu và vấn đề lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng
2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu, đánh giá tác động của hệ thống cây xanh trồng trên các giải phân cách đường phố chính ở Hà Nội trong thời gian gần đây
Nội dung nghiên cứu:
Trang 4 Khảo sát, thống kê hệ thống cây xanh trồng trên các dải phân cách đường phố chính ở Hà Nội trong thời gian gần đây
Đánh giá tác động của hệ thống cây xanh này tới môi trường đô thị Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu:
Trước tiên nghiên cứu trên cở sở lý thuyết và dựa vào kết quả điều tra thu thập từ thựctế…lấy kết quả đó đánh giá và đề ra phương hướng giải quyết
3 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cây xanh đô thị và cây xanh trên đường phố
Chương 2: Khảo sát đánh giá kiểm tra cây xanh trên đường phố
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất trồng cây xanh ở giải phân cách trên đường phố chính ở
Hà Nội
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cây xanh đô thị và cây xanh trên đường phố
1.1 Khái niệm về cây xanh đô thị
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4000người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trần Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị
1.1.1.2 Khái niệm cây xanh đô thị
Theo nghị định Số: 64/2010/NĐ-CP, khái niệm cây xanh đô thị được hiểu như sau: “Cây xanh đô thị là cây xanh sử dụng công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế và cây xanh
chuyên dụng trong đô thị”
Trang 5Cây xanh và mặt nước là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được trong đô thị Cây xanh mặt nước (sông, hồ, bồn nước nhân tạo…) đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực kiến trúc công trình đặc biệt là ở một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm như ở Việt Nam.Cây xanh, mặt nước khi được sử dụng thích đáng trong các khu xây dựng (khu nhà ở, khulàm việc hoặc các công trình công cộng, khu công nghiệp…) sẽ cải thiện đáng kể cảnh quan môi trường trong các khu đó Cây xanh, mặt nước có tác dụng tích cực cải tạo môi trường, như khả năng làm giảm yếu bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp, giảm nhiệt độ không khí và nhiệt độ các bề mặt, hút bớt khói bụi, các chất độc hại cũng như tiếng ồn, tăng cường độ ẩm không khí, cải thiện chế độ gió…trong các khu vực xây dựng.
1.1.2 Thành phần của cây xanh đô thị
1.1.1.1 Cây che bóng
Là cây thuộc nhóm cây tầm cao, dành cho khuôn viên có không gian lớn, cần được phủ bóng mát:
+ Cây bóng mát thường như: lộc vừng, me chua,…
+ Cây bóng mát có hoa như: Sứ trắng, kèn hồng, chuông vàng,…
Trang 6Bên cạnh việc tạo bóng mát cây có hoa tạo điểm nhấn, mang màu sắc tươi tắn và không khí trong lành đến mọi không gian.
+ Cây ăn quả như cây sa kê, cây xoài,…
1.1.1.2 Cây trang trí
Trang 7 Là cây thuộc nhóm cây tầm trung, được chia thành các nhóm nhỏ:
Cây phân loại theo hình khối, dáng dấp:
Có xén tỉa như: cây Hồng lộc, cây phi lao…
Cây tạo rào chắn như: Hoàng nam, trúc quân tử, trúc cần câu,…
Cây dạng bụi:
Gồm những cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi không có hoa hay có hoa nhiều màu sắc Có thể trồng đơn lẻ thành nhiều cụm, theo mảng hay trong chậu, điểm thêm màu sắc cho khuôn viên
Cây dây leo: tùy thuộc công trình kiến trúc mà chọn loại cây thích hợp, tạo bóng râm, che tường, trang trí cổng, cột,…
1.2 Ý nghĩa của cây xanh đô thị
Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của loài người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên Thế nên, bất kể ai khi đứng trước các yếu tố tạo nên thiên nhiên (nước, có
Trang 8cây hoa lá, núi non ) đều cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng và thư thái, như tìm được chốn yên bình sau khoảng thời gian ồn ào vội vã của cuộc sống
Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, Hệ sinh thái đô thị ngoài hai thành phần cơ bản là hữu sinh và vô sinh, nó còn có thành phần thứ ba đó là thành phần công nghệ
Nó bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất…
Dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên nhiên đang dần bị mất đi Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiều nguồn
ô nhiễm (nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn ) gây ra cho con người những bất lợi về sức khỏe đặc biệt là về yếu tố tinh thần
Để bảo vệ môi trường và cải thiện không gian sống quanh ta, ngoài các biện phápgiảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc sử dụng cây xanh tạo cảnh quan có vai trò vô cùng quan trọng Hệ thống cây xanh đô thị có những tác dụng sau:
1.2.1 Đưa thiên nhiên trở lại với con người
Lịch sử thế giới đã khẳng định rằng: Cái nôi sự sống của mỗi sinh vật, trong đó cóloài người chính là thiên nhiên muôn màu, muôn vẻ, thiên nhiên ấy chính là sự kết hợp hài hòa giữa các loài động vật và thực vật Mọi sinh vật đều có sự tương quan mậtthiết với nhau tạo thành một hệ sinh thái hoàn hảo
Sự bùng nổ dân số theo cấp số nhân trong nhiều thập kỷ qua đã đặt ra cho nhân loại hàng loạt vấn đề cần giải quyết Chủ yếu là các nhu cầu thiết yếu của con người:
ăn, mặc, ở Hệ quả của nó là hàng loạt các đô thị từ nhỏ đến lớn lần lượt xuất hiện Cái nôi của sự sống là cảnh vật thiên nhiên ngày càng bị mất đi Màu xanh của cây cỏ,
lá, hoa xuất hiện rất khiêm tốn trong lòng đô thị Quy hoạch hệ thống cây xanh đô thị nhằm đưa thiên nhiên trở lại với môi trường sống của con người, khắc phục dần nhược điểm của việc bùng nổ đô thị, tô thêm màu xanh sống động của cây xanh lên các mảng bê tông gạch đá… tạo nên môi trường sống sinh động hài hòa
Một số cây xanh còn tiết ra chất phytoncide có tác dụng diệt khuẩn làm trong lành môi trường, có lợi cho sức khỏe của cư dân đô thị
1.2.2 Cân bằng hệ sinh thái
Vấn đề cân bằng hệ sinh thải chưa được đặt ra, khi mà nền công nghiệp còn thô sơ, lạc hậu, môi trường sống còn đa dạng phong phú, mật độ dân số còn thưa thớt so với thiên nhiên tương đối nhiều Nhưng kể từ khi nền công nghiệp phát triển từ quy mô nhỏ và vừa đến đại công nghiệp, khi mà dân số bùng nổ và nhất là khi hàng loạt các
đô thị bùng nổ xuất hiện dẫn hệ sinh thái và môi trường sống thực sự bị xáo trộn và bị
bẻ gãy Vấn đề môi trường là bài toán thiết yếu cần phải được giải quyết trong quy
Trang 9hoạch đô thị hiện nay và tương lai Thực tế đã cho thấy rằng cây xanh đã góp phần rất lớn trong việc cân bằng hệ sinh thái đang bị xáo trộn ấy qua các tác động sau:
Cải thiện vi khí hậu (về nhiệt độ, độ ẩm và gió)
Chống ô nhiễm tiếng ồn
Làm trong lành môi trường đô thị
Tăng tính thẩm mỹ và cảnh quan đô thị
1.2.3 Đáp ứng nhu cầu văn hóa nghỉ ngơi của người dân đô thị
Yếu tố “thời gian rảnh” đang là vấn đề đặt ra cho các nhà xã hội học, khi mà xã hội ngày càng văn minh tiến bộ, tự động hóa ngày càng phát huy vai trò tích cực, con người ngày càng thoát khỏi các công việc nặng nhọc, ngày nghỉ càng nhiều, thời gian rảnh càng tăng Các hoạt động thể thao vui chơi giải trí lành mạnh, phù hợp với nét đẹp văn hóa của người dân đô thị đang là đòi hỏi cấp thiết Các hình thức giải trí, nghỉngơi và các hoạt động văn hóa, thể thao ngày trở nên quan trọng nhất trong các hoạt động đô thị Các hoạt động diễn ra trong nhà và ngoài trời, trong đó khu đất cây xanh ngoài trời sẽ là mảng sinh hoạt chủ yểu của người dân đô thị trong thời gian rảnh Câyxanh đô thị luôn là khu sinh hoạt có sức chứa rất lớn, đảm bảo hoạt động giao tiếp rộng, mang tính cộng đồng, có tác dụng phục hồi sức khỏe, sảng khoải tâm hồn, phát triển tư duy và năng khiếu thẩm mỹ Có thể nói cây xanh đô thị là cầu nối đưa con người đô thị về với thiên nhiên, về với cội nguồn cuốc sống
1.2.4 Hoàn thiện
Địa hình, mặt nước, cây xanh, công trình kiến trúc Là các yếu tố tạo thành cảnh quan đô thị Do thị hiếu thẩm mỹ của con người luôn vươn tới cải mới, cái phong phú
đa dạng Cây xanh đã đáp ứng được nhu cầu ấy thông qua quá trình sinh trưởng của
nó theo từng thời điểm của thời gian trong một không gian biến đổi Cây xanh là yếu
tố hình khối có nhiều hình thức đa dạng và màu sắc phong phú nhất trong các yếu tố, tạo cảnh sự tương hợp, hài hòa về màu sắc hình dáng và ngay cả hương thơm của cây xanh đã góp phần tạo nên bố cục hợp lý của các yếu tố khác nhau, hình thành giá trị thẩm mỹ của cảnh quan đô thị
Trang 101.2.6 Kiểm soát sự rửa trôi và xói mòn đất
Thực vật giảm xói mòn đất gây ra do nước bằng cách ngăn cản hạt mưa, giữ đất trong
hệ rễ, gia tăng sự hấp thụ nước thông qua tích lũy chất hữu cơ Thêm vào đó cây xanh thì hấp dẫn, dễ nhìn hơn các thiết bị chống xói mòn khác
1.2.7 Giảm sự chói sáng và phản chiếu
Bức xạ mặt trời ảnh hưởng tới tầm nhìn của chủng ta cũng như đối với cảm giác nhiệt độ Chúng ta bị bao quanh bởi vô số bề mặt chiếu sáng: gương, thép, nhôm, bê tông và mặt nước, các bề mặt đó đều phản chiếu ánh sảng Mọi người đều có cảm giácbất tiện của việc ánh sáng phản chiếu đến mắt của chúng ta
Thực vật, cây xanh có thể dùng để che chắn và làm dịu ánh sáng sơ cấp và ánh sáng thứ cấp Hiệu quả của nó trước hết tùy vào kích thước và mật độ Nguồn của ánh sángphải được biểu thị trước khi thực vật thích hợp có thể được chọn để kiểm soát nó Mức độ kiểm soát cũng phải được xem xét để loại trừ ánh sáng hoàn toàn hay tạo ra một màng lọc hay tạo ra hiệu ứng làm dịu
1.2.8 Các công dụng khác
Ngoài các công dụng chính đã nói ở trên, cây xanh còn có nhiều công dụng khác nữa:
Trang 11Cây xanh ở đô thị sau chu kỳ nuôi dưỡng, cây được đốn hạ, thay thế sẽ cung cấp các sản phẩm gỗ có giá trị kinh tế cao như sao, dầu
Dưới tán cây, bóng mát trong các khu công cộng, cây xanh cung cấp chỗ nô đùa, vui chơi cho trẻ em Dưới bóng cây người lớn có thể đi dạo, hít thở không khí nhiều ôxi, lặng ngắm thiên nhiên và suy ngẫm những vấn đề riêng tư của mình
Cây xanh còn dùng như một chỉ dẫn của biến cố lịch sử, nơi tưởng niệm Ví dụ lấylàm tên các địa danh như cây Gáo, cây Da Xà, Hàng Xanh
Cây hoa kiểng trên các ban công, sân thượng bổ sung môi trường thiên cho cảnh quan nội thị, vốn nhiều bê tông cốt thép
Cây xanh trồng ở một nơi khác có thể là một vật gợi nhớ những kỷ niệm quê hương hay một nơi thân thương đã trải qua trong đời khi nhìn sự hiện diện của chúng hay ngửi những hương thơm , mùi, vị mà cây xanh có được
Ít ra, chúng ta cũng có thể nói rằng đô thị sẽ là một nơi đìu hiu, hoang vắng nếu chúng ta không có cây xanh
Như vậy, ngoài chức năng là sinh vật sản xuất như trong các hệ sinh thái khác (hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp…) cây xanh trong hệ sinh thái đô thị còn
có chức năng quan trọng hơn đó là bảo vệ môi trường và trang trí cảnh quan
1.3 Các nguyên tắc quy hoạch cây xanh đô thị
Hệ thống cây xanh có vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt của dân cư đô thị, nó
có giá trị sử dụng rất cao, do đó khi quy hoạch hệ thống cây xanh trong tổng thể đô thị, cần phải tuân thủ một số nguyễn tắc cơ bản nhằm đảm bảo giá trị sử dụng ấy
Do đó cây xanh không cần thiết phải phân bổ đồng đều trên mặt bằng đô thị mà
nó cần bố trí ở các vị trí dễ thu hút lượng người nhất Thường bố trí trong lòng các điểm dân cư hoặc trung tâm các tổ chức ở trong đô thị
Đối với mảng cây xanh cấp thành phố nên bố trí trồng ưu tiên ở đầu hướng gió
để phát huy tác dụng cải thiện vi khí hậu đô thị
Trang 121.3.2 Nguyên tắc 2
Cây xanh sẽ phát huy rất tốt tác dụng của nó đối với đô thị trong điều kiện tập trung
và liên tục: Vì vậy cần tạo các mảng xanh lớn trên mặt bằng đô thị (≥ 3ha) tạo các cấpcông viên: công viên đơn vị ở 3-5ha, công viên quận huyện hoặc tiểu vùng 5-15ha, công viên cấp thành phố từ 15-30ha, công viên quốc gia >30ha Các dải cây xanh phòng hộ, cây xanh cách ly Tất cả phải được nối trực tiếp hoặc gián tiếp qua các mảng xanh đường phố hoặc dòng sông để tạo nên 1 hệ thống cây xanh thống nhất và liên tục trên toàn địa bàn đô thị
1.3.3 Nguyên tắc 3
Phải tạo được tính quần thể cây xanh trong và ngoài thành phố: Cơ sở của tính quần thể được xác lập qua sự thổng nhất về chức năng và bố cục cây xanh cùng với sựkết nối giữa tuyến cây xanh trong, ngoài qua các dải cây xanh từ ngoại ô chạy sâu vào
đô thị Do đó phải quy hoạch toàn bộ các phần cây xanh trong và ngoài thành phố cùng lúc, tạo mối liên hệ chặt chẽ với nhau thành một hệ thống thống nhất Tất cả dựatrên cơ sở tính chất quy mô của quy hoạch vùng, quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết đô thị
sở quyết định hệ thống cây xanh cho toàn thành phố Nó trở thành trung tâm của bố cục cây xanh trong đô thị
1.3.5 Nguyên tắc 5
Chọn loại giống cây trồng: Cây xanh chỉ có thể xanh tốt và phát huy tác dụng nếu có giống cây trồng phù hợp với điều kiện môi trường và khí hậu địa phương, nhất là thực tế đặc điểm khi hậu của khu đất xây dựng ( hướng gió, tốc độ gió, chế độ nhiệt, độ ẩm, lượng mưa ) Chẳng hạn, thành phố Hà Nội khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít.: nhiều mua nhiều nắng hệ thống cây xanh cần đủ đểdẫn gió, không nên quá dày hoặc quá rộng để tăng độ ẩm không cần thiet Biển thường trống phi lao, cây lá kim để chắn gió, đổi núi thường trồng xú vẹt ( bộ rễ dày), cây thân
mủ (có gai) để bám chặt đất
1.3.6 Nguyên tắc 6
Trang 13Các danh làm thắng cảnh hoặc các di tích lịch sử: trong bất kì điều kiện nào phải được đưa vào hệ thống cây xanh đô thị, vì nó cũng là những bộ phận của nghi ngơi giải trí Nó trở thành trung tâm cho sự phát triển cho hệ thống cây xanh khu vực Các công viên di tích được hình thành trong các điều kiện này.
Các di tích lịch sử thường có những vùng bảo vệ I, I, III, thường vùng II hoặc một phần vùng III là những nơi được ưu tiên bố trí cây xanh, vừa để tôn tạo di tích vừa tạo mảng xanh cho đô thị
Những di tích mang tính chất rừng cần giữ nguyên hiện trạng, cần thiết có thể trồng thêm cây xanh để tăng quy mô đạt đến mức cần thiết
1.3.7 Nguyên tắc 7
Quy hoạch cây xanh cần thiết đảm bảo diện tích cây xanh cần thiết cho từng cấp: Do
đó phải căn cứ vào quy mô cũng như tính chất đô thị để có được diện tích phù hợp Ngoài diện tích cây xanh cần thiết cho quy mô đô thị, phải tính đến khả năng phát triển
và mở rộng đô thị Khả năng này căn cứ vào định hướng phát triển đô thị mà có, từ đó dự trù diện tích cây xanh phù hợp
Để tiết kiệm đất xảy dựng, đất trồng cây xanh cần tận dụng đất không xây dựng được của
đô thị, hoặc vị trí đất ít giá trị nhất có thể được
1.4 Các loại hình tổ chức cây xanh đô thị
1.4.1 Phân loại cây xanh đô thị
Thông thường đất cây xanh đô thị được chia làm 3 loại chủ yếu dựa trên chức năng sửdụng hợp lý:
Loại 1: Cây xanh công cộng
Là loại hình cây xanh sử dụng có tính chất chung cho mọi người dân đô thị, phục vụ cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, văn hóa, thể thao, công cộng, cụ thể là cây xanh trong các công viên, vườn hoa, vườn dạo, quảng trường, đường phố và các công trình hành chính công cộng
Loại 2: Cây xanh hạn chế
Là loại cây xanh sử dụng không rộng rãi, phục vụ lượng người nhất định, nghỉ ngơi giải trí chốc lát Đó là các loại hình cây xanh trong trường hoc, bệnh viện, xí nghiệp, kho tàng, cơ quan nghiên cứu
Loại 3: Cây xanh chuyên dụng
Trang 14Là loại cây xanh sử dụng theo yêu cầu chuyên môn riêng, do nhữmg yêu cầu đặc biệt
về điều kiện thiên nhiên, đất đai hoặc dùng vào mục đích kỹ thuật kinh tế như: Khu cây xanh cách ly độc hại, cây xanh chống gió, cát, cây xanh chắn đất, vườn ươm, cây xanh nghĩa địa
1.4.2 Bố trí các loại cây xanh đô thị
Hệ thống cây xanh trong mặt bằng tổng thể đô thị
1.4.2.1 Theo thuyết tầng bậc
Hệ thống cây xanh đô thị
Cây xanh cách ly Cây xanh khu
công nghiệp
Công viên đô
Cây xanh xí nghiệp
Vườn khu ở
Cây xanh từng bộ phận xí nghiệp
Vườn nhóm nhà
Vườn nhóm nhà
Cây xanh Boulevard
Cây xanh từng khu vực
Cây xanh đường nội bộ
Cây xanh quảng trường
Trang 151.4.2.2 Theo thuyết phi tầng bậc
Trang 16 Các kiểu thức bố trí cây xanh
Căn cứ vào địa hình, bố cục không gian đô thị, điều kiện phân bố dân cư Việc bố trí câyxanh có những hình thức bố cục phù hợp
Có 3 hình thức cơ bản để bố cục cây xanh: Điểm, Tuyến, Mảng Tùy theo cấp độ
bố trí cây xanh (thành phố, quận, khu ở), các hình thức trên sẽ có quy mô khác nhau Ví dụ: Bố cục cây xanh trong thành phổ, bố cục cây xanh trong khu ở (phường, xã), bố cục cây xanh trong đơn vị ở ( tổ, khu phố)
Bố cục cây xanh thành các điểm: Hệ thống cây xanh được phân bố trên nhiều mảnh đất phân tán rải rác trong đô thị Cách bố cục này thường dùng cho những
Hệ thống cây xanh đô thị
Cây xanh cách ly Cây xanh
đường phố, quảng trường ly
Công viên đô thị Công viên đô thị
Trang 17đô thị hay những khu cải tạo tận dụng các khu đất trống để tăng cường diện tích cây xanh
Bố cục cây xanh thành tuyến (hoặc thành dải): Kết hợp những khu đất trồng cây dọc các tuyến sông, tuyến kênh hay tuyến giao thông đường phố hoặc các dải cây cách ly tạo thành những dải cây lớn xen với những dải đất xây dựng Cách
bố cục này được sử dụng phố biến trong các đô thị mới xây dựng Các dải cây có
sự liên kết với nhau tạo thành những hệ thống liên tục, phát huy hiệu quả trong các ý đồ quy hoạch và cải thiện vi khí hậu
Bố cục cây xanh thành mảng: Đó là những khu đất cây xanh có bề mặt diện tích lớn (3ha, 15ha, 30ha) cách bố trí này thường thấy ở các đô thị lớn, các khu ở đầy
đủ chức năng hay các đơn vị ở hoàn chỉnh
Toàn bộ các hình thức bố cục nêu trên, tùy yêu cầu và đặc điểm từng vùng mà
1.5 Kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức và quản lý cây xanh đô thị ở một số nước trên thế giới
1.5.1 Kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức, quản lý cây xanh tại Singapore Singapore
với dân số khoảng 3 triệu người là một đảo quốc nhỏ bé nằm trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm một đảo chính và 60 đảo nhỏ, cách đường xích đạo 137km về phía bắc Tổng diện tích của Singapore chi có 647,5km2, trong đó một nửa diện tích
Singapore là rừng, đầm lấy và các khu vực không đuợc xây dựng Hơn 49,67% diện tích được sử dụng để ở, dịch vụ, thương mại và công nghiệp chỉ có 1,7% diện tích ( khoảng 10.8 km) là dành cho công nghiệp Singapore không được ưu đãi về khí hậu với khí hậu nhiệt đới với mặt trời mọc quanh năm Tuy nhiên do lượng mưa dồi dào, mùa mưa kéo dài nhiều tháng trong năm cũng góp phần cho cây cối phát triển
Không thuận lợi về khí hậu, diện tích, đất đai nhưng Singapore đã vươn lên để trở thành một quốc gia không những phát triển trong khu vực Đông Nam A mà trở thành một trong những quốc gia “Xanh và Sạch" nhất thế giới với GDP tính cho mỗi người dân rất cao, nhờ đó trở thành địa điểm du lịch rất hấp dẫn và nổi tiếng Vườn quốc gia Singapore có khung cảnh xanh tươi với nhiều chủng loại cây là kết quả 40 năm quyết tâm và nỗ lực trải qua những công việc đầy khó khăn, vất vả và kiên trì Sự phát triển của Singapore để trở thành một “ thành phố vườn" bắt đầu bằng sự thành lập Chương trình phủ xanh với sự hậu thuẫn là nguyên thủ tướng Lý Quang Diệu, người có nhận
Trang 18định Singapore xanh là nhân tố cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài Ông phát động cuộc vận động trồng cây xanh vào năm 1963 và những thập niên sau các nhà lãnh đạo kế nhiệm vẫn tiếp tục thực hiện chương trình này Tuy nhiên, song song với
sự phát triển của giao thông, nhà ở các công trình xây dựng khác một cách nhanh chóng ở trung tâm thành phố thì tình trạng thiếu cây xanh cũng tăng nhanh Những năm đầu 1976 vụ giải trí và công viên thuộc bộ phát triển quốc gia được thành lập để thực hiện nhiệm vụ phủ xanh Singapore trong thời gian ngắn nhất Vì thế các cây bàn địa có đặc tính phát triển nhanh được lựa chọn, đầu bảng là các cây Angsana bởi chúng cho bóng râm, phát triển nhanh, sẵn có và dễ trồng Một số loài khác là Rain Tree, Yellow Flame và Ketapang Việc trồng tiếp theo các cây hoa tự nhiên và cây bụi như Bougain villeas sặc sỡ được coi như phần nỗ lực để trang điểm phong cảnh cùng với các thảm cỏ xanh tươi được cắt tỉa công phu
Ảnh chụp trên cao "Garden by the Bay" nổi tiếng của Singapore
Trang 19Ảnh một góc nhỏ trong Garden by the Bay
Trang 20Cùng thời điểm đó luật đường bộ được phát triển nhằm bảo vệ khu vực trồng cây xanh dọc theo các con đường Cả những khu vực bên hè đường như nơi đỗ xe ô tô cũng được quy định trồng cây để giảm bớt bức xạ và sức nóng của những mặt đường nhựa trải rộng Thêm vào đó là các cấu trúc bê tông như cầu vượt, tường bao cũng được phủ bởi các loại cây thằn lằn, cây hoa leo như Ficus pumila và được che bởi các cây bụi và cây di thực để làm giàu mức độ bê tông hóa
Trong thành phố, các công viên được phát triển, mọi khoảng trống được tận dụng để trồng cây để cải tạo những " lá phổi xanh" cho cư dân, ở những khu vực thương mại sầm uất Bên cạnh đó người ta yêu cầu những nhà đầu tư phải trồng cây ven đường vàcác công viên nội khu bên cạnh các khối nhà cao tầng nhằm tao ra không gian mở Chương trinh phát triển công viên chính trên các đảo cũng được triển khai nhanh để phục vụ những nhu cầu giải trí phong phủ của dân chúng Trong chương trình này, cáccông viên cũ đang tồn tại xây dựng phát triển bên cạnh những khu nhà ở mới chỉnh trang có mật độ thấp và rất nhiều công viên mới được hình thành, đáng kể là Sentosa
1.5.2 Kinh nghiệm tổ chức cây xanh trung tâm đô thị của các nước trên thế giới
Qua nghiên cứu tìm hiểu các thành phố tác giả nhận thấy rằng, chính quyền đô thị của mọi thành phố chọn lựa chiến lược phát triển cây xanh phù hợp với điều kiện của mình Việc đầu tư phát triển có tính bền bỉ, để các thế hệ sau có thể kế thừa những thành quả của các thế hệ đã xây dựng Việc xây dựng, quản lý và phát triển cây xanh tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Khu trung tâm đô thị, mật độ dân cư cao và lượng khách vãng lai đông đúc, nên đểđảm bảo chỉ tiêu cây xanh bình quân cao trên đầu người là một bài toán nan giải, nhất là các đô thị hiện hữu đang được phát triển mở rộng
Do vậy, cần có tầm nhìn cao bao quát khi quy hoạch phát triển đô thị: Sự phân bố dân cư,các khoảng không gian trống, các hoạt động thương mại dịch vụ, lượng xe lưu thông trên thành phố Đồng thời bố trí việc phát triển mảng xanh phải đảm bảo yêu cầu cải thiện môi trường, chú ý đến việc ngăn chặn sự lan tỏa các chất gây ô nhiễm môi trường, tiếng
ồn, giao thông, bụi bám theo gió đến những vùng kế cận Ngoài ra, việc quy hoạch cây xanh đô thị không nhất thiết phải phân bố đều mà nên tập trung ưu tiên cho trung tâm thành phố
Cây xanh là một trong các thành phần của cảnh quan thiên nhiên Do đó, trong quyhoạch không thể tách rời cây xanh ra khỏi các thành phần còn lại như địa hình, mặt nước, không gian và động vật mà phải luôn chú ý đến sự gắn bó của chúng với nhau làm thành hệ thống cây xanh thông nhất, liên tục và lan tỏa từ trung tâm thành phố ra ngoại thành Các khoảng không gian trống, mặt nước, với dải đất ven
bờ hồ, sông, kênh, rạch có thể quyết định tính chất của hệ thống chính của cây xanh đô thị
Trang 21 Kết hợp đặc điểm khí hậu như hướng gió, tốc độ gió, chế độ nhiệt, lượng mưa, thổnhưỡng khi bố trí trồng cây phát triển mảng xanh cho từng khu vực Trên cơ sở đất nào trồng cây đấy, đặc biệt chú ý đến đất đai đã thay đổi cấu trúc bởi các công trình xây dựng cần cải tạo đất và dùng khoa học kỹ thuật vào để bảo dưỡng cho đất có nhiều độ ẩm
Nước là yếu tố quan trọng cho sự sống cây xanh tươi và ra hoa kết trái của cây cỏ Nếu không gần sông ngòi, hồ nước tự nhiên thì cũng cần bố trí nhân tạo để duy trì
sự phát triển của cây xanh
Trồng cây kết hợp với các di tích lịch sử, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh, không đưa vào công viên cây xanh quá nhiều công trình kinh doanh gây tiếng ồn ônhiễm môi trường, vì đó là một bộ phận của hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, giáo dục văn hóa cho cư dân đô thị
Đầu tư cây xanh là một loại dự án lâu dài , hiệu quả kinh tế không thấy ngay lập tức , nhưng hiệu quả về mặt xã hội, về môi trường sống, về cảnh quan đô thị Nhiều đô thị đang thu được những nguồn lợi nhờ vào những nguồn thu to lớn về đầu tư thương mại dịch vụ và đặc biệt là ngành du lịch nhờ vào sự đầu tư phát triển cây xanh, mà Singapore là một ví dụ điển hình
Quá trình đô thị hóa và sự năng động của kinh tế thị trường đã tác động đáng kể tới lối sống của người dân đô thị Sự gia tăng dân số đô thị khiến diện tích ở ngày càng hẹp, cộng với nhịp sống hiện đại sôi động khiến nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi công cộng gia tăng về quy mô và độ phức tạp Trong điều kiện sống như thế, cây xanh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giải trí, thư giãn và tái tạo môi trường không khí trong lành
Không phải lúc nào thành quả quản lý tốt của đô thị này là kết quả của đô thị kia, tuy nhiên từ các thực tế của những nước phát triển trước cho thấy giải quyết vấn đề cây xanh
đô thị hiện nay không những là trách nhiệm của chính quyền, các nhà chuyên môn mà còn là sự đóng góp to lớn từ sự ý thức người dân
Trang 221.6 Cơ sở pháp lý cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị
1.6.1 Chỉ tiêu cây xanh trong quy hoạch xây dựng đô thị
Bộ xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng theo quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 3/4/2008 có quy định cụ thể các chỉ tiêu cây xanh trong
26/11/2003 , có thể hiểu công tác QLQHXD bao gồm : - Công tác xây dựng khung pháp
lý để QLQHXD : Ban hành các quy chuẩn , tiêu chuẩn quy hoạch , ban hành luật , nghị định , thông tư và các văn bản pháp lý - Công tác định hướng phát triển cho QHXD : Hình thành các quy hoạch định hướng phát triển tổng thể đô thị và tất cả các lĩnh vực khác của đô thị có ảnh hưởng đến QHXD - Công tác hình thành quy hoạch : Lập , thẩm
Trang 23định , phê duyệt , QHXD và ban hành các quy định QLQHXD Công tác quản lý thực hiện QHXD : Quản lý mốc giới , quản lý việc xây dựng công trình và hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch , xử lý các trường hợp xây dựng không theo quy hoạch
1.6.2 Các văn bản pháp lý đã được ban hành trong công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị.
Nội dung quy định về quy hoạch chi tiết 1/500, 1/2000 ngày càng cụ thể và nhiều tính khả thi hơn so với trước đây
Bộ xây dựng có các văn bản pháp lý, như thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ xây dựng hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị: thông tư liên tịch
số 04/2007/TTLT-BXD-BCA ngày 07/07/2007 của Bộ xây dựng và Bộ công an về việc hướng dẫn xử lý quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng, đặc biệt là xử
lý việc lạm dụng quyền hạn ảnh hưởng gây tác động xấu với quy hoạch cây xanh
Chính phủ có nghị định số: 38/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 về việc quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị
Chính phủ có nghị định số: 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 về việc quản lý cây xanh đô thị
Bộ xây dựng có thông tư số: 20/2009/TT-BXD ngày 30/06/2009 về việc sửa đổi bổ sung Thông tư số: 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ xây dựng hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số: 199/2004/QĐ-UB ngày 18/8/2004 quyết định về ban hành quy định quản lý công viên và cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.6.3 Các cơ sở từ động lực mới của hiệp hội công viên cây xanh Việt Nam
Hiệp hội công viên- cây xanh Việt Nam, tên giao dịch quốc tế Vietnam Parks- GreeneriAssocisation ( viết tắt VPGA ) được bộ nội vụ cấp quyết định số 623/QĐ- BNV ngày 3/4/2006 cho phép thành lập và tổ chức đại hội lần đầu tại Hà Nội vào ngày 29/6/2006 Tôn chỉ của hội là mở ra sân chơi cho những nhà chuyên môn, những người có trách nhiệm trong lĩnh vực phát triển bảo vệ cây xanh Hội mở ra những diễn đàn bàn về các giải pháp kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật để phát triển cây xanh, bảo vệ môi trường sống và sự phát triển bền vững đô thị Với sự ra hoạt động của Hiệp hội công viên cây xanh Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển vững chắc hơn của ngành công viên cây xanh cho trung tâm đô thị góp phần cho thành phố chúng ta ngày càng Xanh - Sạch – Đẹp và phát triển bền vững
Hệ thống cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với môi trường, cải tạo vi khí hậu, bảo vệmôi trường sống đô thị, cải tạo không gian kiến trúc cảnh quan và là một bộ phận không thể thiếu trong hệ sinh thái tự nhiên
Trải qua thăng trầm của lịch sử, cây xanh đô thị của Hà Nội luôn là vấn đề được quan tâm
Trang 24và phát triển Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, cây xanh Hà Nội đang gặp phải rất nhiều vấn đề liên quan đến giá trị thẩm mỹ, mức độ an toàn và sức khỏe cây xanh đô thị Nguyên nhân chủ yếu từ quá trình đô thị hóa, hiện tượng biến đổi khí hậu và vấn đề lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng.
Trang 25Chương 2: Thực trạng cây xanh đường phố Hà Nội
2.1 Giới thiệu khái quát thành phố hà nội
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội
có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng
8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưngtập trung chủ yếu bên hữu ngạn
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hà Nội là một đầu mối giao thông quan trọng cả về đường thủy và đường hàng không nối liền các tỉnh trong vùng và còn là của ngõ quốc tế