1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÁI độ và NHU cầu của học VIÊN nước NGOÀI đối với VIỆC sử DỤNG NGÔN NGỮ TRONG dạy học ở các lớp học TIẾNG VIỆT tại TRƯỜNG đại học hà nội

95 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 ngữ Vũ Thị Thanh Hương, 2005; Nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức đối với chính sách ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam Vũ Thị Thanh Hương, 2012; Mối quan hệ giữa thái độ và sự lựa c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM QUỲNH ANH

THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU CỦA HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẠY HỌC Ở CÁC LỚP HỌC TIẾNG VIỆT

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM QUỲNH ANH

THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU CỦA HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẠY HỌC Ở CÁC LỚP HỌC TIẾNG VIỆT

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em thực hiện

và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngôn ngữ học – Học viện Khoa học xã hội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình em học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội ngày 15 tháng 04 năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Quỳnh Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả khảo sát và nghiên cứu đã nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Quỳnh Anh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cơ sở lý luận 22

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA GIÁO VIÊN TRONG CÁC LỚP HỌC TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 33

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 33

2.1 Tình hình công tác giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ở Việt Nam và ở khoa Việt Nam học – trường Đại học Hà Nội 33

2.2 Đối tượng khảo sát của luận văn 36

2.3 Bố cục và nội dung phiếu khảo sát 36

2.4 Kết quả khảo sát qua bảng hỏi 37

Chương 3 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ TỚI THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU CỦA NGƯỜI HỌC ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA GIÁO VIÊN TRONG LỚP HỌC TIẾNG VIỆT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 58

3.1 Nhân tố giới tính 58

3.2 Nhân tố độ tuổi 64

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Quan điểm của sinh viên đối với việc lựa chọn ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt và lý do lựa chọn quan điểm đó 47 Bảng 2.2 Lý do người học lựa chọn học cùng giáo viên Việt Nam 49 Bảng 2.3 Thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt 51 Bảng 2.4 Nhu cầu của người học đối với tỉ lệ kết hợp giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ của giáo viên 52 Bảng 2.5 Lý do người học thích nghe giáo viên nói chuyện (nằm ngoài nội dung bài học)trong các lớp học tiếng Việt 52 Bảng 2.6 Lý do hài lòng với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt 53 Bảng 2.7 Lý do không hài lòng với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt 54 Bảng 3.1 Bảng thống kê về tỉ lệ hài lòng với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt theo giới tính 59 Bảng 3.2 Bảng so sánh về thái độ đối với việc kết hợp sử dụng giữa L1 và TL của giáo viên trong lớp học tiếng Việt giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ 60 Bảng 3.3 Bảng so sánh về nhu cầu người học đối với ngôn ngữ được giáo viên lựa chọn trong giảng dạy tiếng Việt giữa hai nhóm sinh viên namvà nữ 62 Bảng 3.4 Thống kê kết quả đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên phân chia theo độ tuổi người học 64 Bảng 3.5 Lý do không hài lòng với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên (phân chia theo nhóm tuổi người học) 65 Bảng 3.6 Thống kê nhu cầu của người học đối với việc lựa chọn sử dụng ngôn ngữ của giáo viên theo trình độ ngoại ngữ của người học 72

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Độ tuổi của các sinh viên tham gia khảo sát 38 Biểu đồ 2.2 Quốc tịch của các sinh viên tham gia khảo sát 39 Biểu đồ 2.3 Kênh tiếp xúc với tiếng Việt trước khi đến Việt Nam của người học 41 Biểu đồ 2.4 Trình độ ngoại ngữ đầu vào của người học 42 Biểu 2.5 Xu hướng sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt 43 Biểu đồ 2.6 Xu hướng sử dụng ngôn ngữ của giáo viên khi giảng dạy các 44 phân môn cụ thể 44 Biểu đồ 2.7 Xu hướng lựa chọn ngôn ngữ của giáo viên khi tiến hành các 44 hoạt động trên lớp 44 Biểu đồ 2.8 Nhu cầu của sinh viên đối với tỉ lệ sử dụng tiếng Việt (TL) của giáo viên trong lớp học 46 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thống kê về khả năng nghe hiểu của sinh viên khi giáo viên sử dụng tiếng Việt trong lớp học theo nhóm tuổi 67 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ so sánh sự nhu cầu về quốc tịch của giáo viên của các nhóm sinh viên phân chia theo độ tuổi 68 Biểu đồ 3.4 Trình độ ngoại ngữ đầu vào của các sinh viên khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội 70 Bảng 3.5 Thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học tiếng Việt 71

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đã từ lâu, việc sử dụng ngôn ngữ đích (TG – Targe Language) hay tiếng

mẹ đẻ (L1 - First Language) để giảng dạy ngoại ngữ luôn là vấn đề gây nhiều tranh luận Một số quan điểm cho rằng việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giảng dạy ngoại ngữ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với cả người dạy và người học ngoại ngữ Theo những người ủng hộ quan điểm này, việc sử dụng tiếng mẹ đẻ sẽ có tác dụng tích cực, giúp cho người học nhanh chóng nắm bắt được ngôn ngữ đích mà họ theo học Bên cạnh đó, cũng có một số quan điểm lại cho rằng tiếng mẹ đẻ chính là rào cản trong quá trình học ngoại ngữ Nó làm cho cả người dạy và người học đều thiếu đi sự chủ động trong việc học, tư duy cũng như áp dụng ngoại ngữ đang học trong thực tế

Với vai trò là một giảng viên giảng dạy bộ môn Thực hành tiếng Việt tại khoa Việt Nam học – Trường Đại học Hà Nội thường xuyên tiếp xúc với đối tượng học tập là các sinh viên nước ngoài, bản thân cá nhân tác giả cũng nhận thấy những băn khoăn, vướng mắc nhất định trong việc lựa chọn tiếng mẹ đẻ của học viên nước ngoài hay ngôn ngữ đích (tiếng Việt) để giảng dạy tiếng Việt cho các sinh viên, nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong việc dạy và học

Tuy đã có khá nhiều bài viết bảo vệ cho những quan điểm khác nhau như

đã được nói tới ở trên, nhưng những nghiên cứu về việc nên sử dụng tiếng mẹ

đẻ hay sử dụng ngôn ngữ đích trong lớp dạy ngoại ngữ sao cho hợp lý để có thể đạt được hiệu quả học tập tối ưu thì gần như chưa có Đây chính là lý do tác giả lựa chọn thực hiện nghiên cứu về vấn đề này

Có nhiều cách đo lường tác động của ngôn ngữ sử dụng trong dạy học ngoại ngữ đối với sự phát triển năng lực ngoại ngữ cho người học trong đó, nghiên cứu thái độ và nhu cầu của người học là một kênh tham chiếu quan trọng Khi thực hiện nghiên cứu này, tác giả mong muốn có được những lý do

và cơ sở chính xác về mặt khoa học và thực tiễn để có thể có được những định

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề sự ảnh hưởng của L1 và TL trong các lớp dạy và học ngoại ngữ Trong đó, phần lớn là nghiên cứu về sự ảnh hưởng của L1 và TL đối với việc dạy và học ngoại ngữ trong các lớp học tiếng Anh Theo những nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu trên thế giới chia thành 3 nhóm quan điểm như sau:

Nhóm 1 - Nhóm của những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng L1 trong các lớp học ngoại ngữ

Nhóm 2 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng TL trong các lớp học ngoại ngữ

Nhóm 3 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc kết hợp cả L1

và TL ở trong các lớp học ngoại ngữ

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về thái độ nói chung cũng như nhu cầu và thái độ của người học nói riêng được các nhà nghiên cứu quan tâm đến Chúng ta có thể kể đến những nghiên cứu về nhu cầu và thái độ đối với ngôn ngữ như: Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ và hành vi ngôn

Trang 10

3

ngữ (Vũ Thị Thanh Hương, 2005); Nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức đối với chính sách ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam (Vũ Thị Thanh Hương, 2012); Mối quan hệ giữa thái độ và sự lựa chọn ngôn ngữ (Trịnh Cẩm Lan, 2012); Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay (Trịnh Cẩm Lan, 2014); Nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng Gia-rai trên lớp học ở các lớp 1-2 vùng dân tộc thiểu số Gia-rai của tỉnh Gia Lai (Vũ Thị Thanh Hương, 2017);…

Ngoài ra, tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về thái độ và nhu cầu của người học cũng như nghiên cứu về những yếu tố liên quan tới thái độ, nhu cầu của người học như: Động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ (Trần Thị Thu Trang); Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên trường Đại học Đà Lạt (Nguyễn Thuý Quỳnh Loan, 2011); …

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu, phân tích và mô tả thái độ và nhu cầu của học viên nước ngoài đối với việc sử dụng ngôn ngữ để dạy học của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt và những nhân tố chi phối đến thái độ và nhu cầu của họ Thông qua những kết quả nghiên cứu đó, luận văn hy vọng góp phần giúp giáo viên dạy tiếng Việt hiểu được thái độ và nhu cầu của người học,

từ đó có được những định hướng và chiến lược tốt hơn trong việc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau trong giảng dạy

Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu (là các sinh viên nước ngoài đến từ nhiều quốc gia đang học tập tại khoa Việt Nam học – trường Đại học Hà Nội) nên ngôn ngữ được giáo viên sử dụng trong dạy học tiếng Việt là tiếng Anh (ngôn ngữ giao tiếp chung) và tiếng Việt (ngôn ngữ đích) Trong luận văn này, vấn đề đặt ra không phải là thái độ đối với việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người

Trang 11

4

học đối với tiếng Việt, mà là thái độ và nhu cầu đối với việc sử dụng tiếng Anh

và tiếng Việt đối với việc giảng dạy tiếng môn tiếng Việt

Luận văn thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về thái độ

và nhu cầu của học viên nước ngoài đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong các lớp học ngoại ngữ

- Nghiên cứu các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

- Thực hiện khảo sát và miêu tả thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau trong các lớp học tiếng Việt

- Khảo sát và miêu tả một số nhân tố tác động tới thái độ và nhu cầu của học viên nước ngoài đối với việc sử dụng ngôn ngữ trung gian trong lớp học tiếng Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những sinh viên nước ngoài năm thứ nhất và năm thứ 2 (niên khóa 2018-2022 và niên khoá 2019-2023) đang theo học chuyên ngành tiếng Việt và văn hóa Việt Nam tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội hệ đào tạo chính quy và ngắn hạn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

(1) Phương pháp thu thập ngữ liệu, bao gồm:

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi + Phương pháp phỏng vấn sâu

(2) Phương pháp phân tích, bao gồm:

+ Phương pháp phân tích miêu tả định lượng để đo lường thái độ, nhu cầu của học viên nước ngoài và mối tương quan giữa thái độ và nhu cầu của họ với các nhân tố khác như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, trình

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Về mặt lý luận

Đưa ra những cơ sở khoa học, những lý thuyết có liên quan về việc

sử dụng các ngôn ngữ trong những lớp học tiếng Việt, thông qua đó tìm ra những giải pháp phù hợp về mặt lý luận, làm cơ sở cho việc điều chỉnh hành vi, lựa chọn và sử dụng các ngôn ngữ khác nhau trong lớp dạy tiếng Việt cho người dạy

6.2 Về mặt thực tiễn

Thông qua những điều tra thực tế, nắm được tình hình chung về thái độ

và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt Đồng thời, thông qua đó, tiến hành phân tích và kết hợp với những cơ sở lý luận đã có ở trên, đưa ra những kiến nghị trong giảng dạy thực tế, giúp cho người dạy có cơ sở để lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ tốt hơn trong quá trình giảng dạy, nhằm mang đến hiệu quả cao hơn đối với công việc dạy và học tiếng Việt

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương

Chương 1 luận văn trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về sử dụng

và thái độ đối với ngôn ngữ trong dạy-học ngoại ngữ và cơ sở lý luận liên quan đến việ nghiên cứu thái thái độ ngôn ngữ và những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu và thái độ ngôn ngữ

Trang 13

6

Chương 2 luận văn trình bày về nội dung khảo sát cũng như tổng hợp, phân tích kết quả khảo sát về “thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt

Trong chương 2, chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu về 3 nội dung chính đó là:thực tế tình hình sử dụng ngôn ngữ trong các lớp dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ; thái độ của ngừoi học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt; và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt

Chương 3 luận văn trình bày về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt

Trang 14

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, con người không chỉ có nhu cầu giao tiếp với những người nói cùng ngôn ngữ ở xung quanh mình, mà họ còn có nhu cầu được giao lưu với những người sử dụng ngôn ngữ khác ở những nơi xa xôi tới vùng đất của họ, hay những con người

sử dụng ngôn ngữ khác ở những vùng đất mới mà họ có thể đi tới; cũng có thể

là những kiến thức, những đặc trưng văn hoá của những cộng đồng người sử dụng một ngôn ngữ khác mà chúng ta cần tìm hiểu hay do nhu cầu giao thương buôn bán, do nhu cầu học tập hay tuyên truyền tôn giáo Bởi vậy, ngoài việc

sử dụng tiếng mẹ đẻ, xu hướng học thêm ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai để đáp ứng những nhu cầu về giao tiếp và cập nhật những thông tin, kiến thức mới trên thế giới ngày càng phổ biến và trở thành một nhu cầu cần thiết của xã hội hiện đại Song song với sự gia tăng không ngừng về nhu cầu học ngoại ngữ chính là

sự phát triển của việc dạy-học ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai

Cho tới nay, thật khó để có thể tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi

“Việc dạy học ngoại ngữ bắt đầu từ khi nào và khởi nguồn từ đâu?”; nhưng có một điều chúng ta có thể chắc chắn rằng song ngữ luôn là xu hướng được hướng đến và phổ biến hơn việc chỉ sử dụng một ngôn ngữ đơn thuần Ngoài ra, một điểm đáng nhấn mạnh nữa là trong chính quá trình dạy và học ngôn ngữ thì các ngôn ngữ lại có sự chuyển hoá vai trò cho nhau: Trong quá trình chinh phục Hy Lạp, người La Mã đã cố gắng để học tiếng Hy Lạp nhưng sau đó, người Hy Lạp lại cố gắng để học tiếng của người La Mã, …

Vì thế, một trong những câu hỏi lớn được đặt ra cho các nhà giáo dục, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu ngôn ngữ là “Người ta dạy và học ngoại ngữ như thế nào?” Câu hỏi này chính là thách thức, đồng thời cũng là động lực của

Trang 15

Để có thể làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 3 phương diện có liên quan trực tiếp tới thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp dạy – học tiếng Việt như một ngoại ngữ Cụ thể, ba phương diện đó bao gồm: (i) Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong các lớp học ngoại ngữ; (ii) Thái độ và nhu cầu của người học

về việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học ngoại ngữ và (iii) Các nhân tố có ảnh hưởng tới thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong các lớp học ngoại ngữ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

a Về sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ

Bàn về vấn đề ngôn ngữ được sử dụng trong các lớp học ngoại ngữ, chúng ta chắc chắn phải kể đến hai loại ngôn ngữ cơ bản nhất, đó là ngôn ngữ

mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích (ngôn ngữ mục tiêu mà người học đang muốn hướng tới) Bởi vậy, trong các nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ cả ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ (L1) và ngôn ngữ đích (TL) tới khả năng tiếp thu ngôn ngữ đích của người học

Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề sự ảnh hưởng của L1 và TL trong các lớp dạy và học ngoại ngữ Trong đó, phần lớn là nghiên

Trang 16

9

cứu về sự ảnh hưởng của L1 và TL đối với việc dạy và học ngoại ngữ trong các lớp học tiếng Anh Theo những nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu trên thế giới chia thành 3 nhóm quan điểm như sau:

Nhóm 1 - Nhóm của những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng L1 trong các lớp học ngoại ngữ

Nhóm 2 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng TL trong các lớp học ngoại ngữ

Nhóm 3 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc kết hợp cả L1

và TL ở trong các lớp học ngoại ngữ

Những quan điểm ủng hộ sử dụng L1 trong các lớp học ngoại ngữ cho rằng, L1 hỗ trợ cho người học đồng thời làm giảm thiểu những ảnh hưởng do rào cản tâm lý, giúp cho người học cảm thấy tự tin hơn trong giới hạn khả năng của mình và đạt hiệu quả cao hơn khi học ngoại ngữ Một số đại diện cho quan điểm này có thể kể tới như: Hall & Cook, Harbord, Scheffler & Dominska…

Ví dụ như trong nghiên cứu của Nghiên cứu của Habor (1992) đã chỉ ra, sử dụng L1 trong lớp học ngoại ngữ sẽ tiết kiệm thời gian hơn, và thời gian đó có thể được tận dụng cho các hoạt động mở rộng khác Các nhà nghiên cứu Seng

& Hashim trong nghiên cứu của họ (2006) đã chỉ ra rằng, những sinh viên ở trình độ thấp thường gặp khó khăn trong việc diễn đạt suy nghĩ và quan điểm của họ một cách tự tin và chính xác, vì vậy họ cần được sử dụng cả TL để hỗ trợ diễn đạt Ở một nghiên cứu khác, nhà nghiên cứu Liao (2006) đã nhận thấy rằng, nếu TL là loại ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong lớp học ngoại ngữ thì đối với một số câu hỏi của giáo viên, sinh viên sẽ lựa chọn cách im lặng bởi

sự lo lắng vì mình không đủ vốn từ để hiểu và diễn đạt Hay những ý kiến ủng

hộ cho quan điểm này như: Nếu sử dụng TL trong lớp học ngoại ngữ sẽ cần thời gian khởi động khi bắt đầu bài học thì việc sử dụng L1 lại có thể khắc phục điều đó Hay: một buổi học với toàn bộ TL sẽ làm cho người học cảm thấy quá mệt mỏi v.v

Trang 17

TL Vì vậy, L1 đã làm giảm bớt những cơ hội học tập của chúng ta.” v.v [dẫn theo 13, tr.6] Họ cho rằng, đối với hầu hết những người học ngoại ngữ mà nói, lớp học là cơ hội duy nhất để họ tiếp xúc với ngôn ngữ đích Nghiên cứu của Hawkin (1987) đã so sánh việc học ngoại ngữ giống như công việc làm vườn ở trong một cơn lốc Ở đó, giáo viên được ví như những người gieo mầm nhưng luôn có những cơn lốc ở giữa những tiết học sẽ cuốn đi thành quả

mà giáo viên đã gieo trồng Vì vậy, việc sử dụng TL một cách tối đa trong lớp học là vô cùng quan trọng và cần thiết Quan điểm này càng được củng cố bởi nghiên cứu của Krashen (1985) rằng, người học ngoại ngữ sẽ đạt được hiệu quả cao nhất khi có thể xử lý được toàn bộ những dữ liệu đầu vào bằng TL trong những trường hợp giao tiếp cụ thể

Ngoài những ý kiến ủng hộ tuyệt đối cho sử dụng L1 hay TL trong các lớp học ngoại ngữ, còn một nhóm những nhà nghiên cứu có quan điểm trung hoà giữa nhóm 1 và nhóm 2 Đó là các nhà nghiên cứu thuộc nhóm 3 – Nhóm ủng hộ việc sử dụng kết hợp cả L1 và TL Các nhà nghiên cứu thuộc nhóm này cho rằng, việc kết hợp giữa L1 và TL theo một tỉ lệ và chiến lược nhất định sẽ giúp cho việc dạy học ngoại ngữ đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều Họ coi phương pháp kết hợp này như một chiếc sandwich bao gồm tỉ lệ L1, TL được kết hợp với nhau theo một thứ tự và lượng hợp lý Một số nhà nghiên cứu ủng

hộ quan điểm này có thể kể đến như: Butzkamm & Calwell (2009), Goh & Burn (2012), …

Trang 18

11

Phải nói thêm rằng, mặc dù như đã đề cập ở phần trên, việc dạy và học ngoại ngữ là hoạt động có sự tác động qua lại và ảnh hưởng hai chiều tới nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích Tuy nhiên, cho tới nay, hầu hết các nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong các lớp dạy ngoại ngữ được tiến hành theo hướng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong các lớp dạy ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai chứ ít có sự nghiên cứu theo chiều hướng ngược lại (sự ảnh hưởng của ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai tới tiếng mẹ đẻ)

b Nghiên cứu về thái độ và nhu cầu đối với sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ

Thái độ và nghiên cứu thái độ

Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt, “Thái độ là mặt biểu hiện bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động Thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào đó trước một sự việc.”

Hay theo từ điển tiếng Anh định nghĩa, thái độ (Attidude), là “Cách suy nghĩ hoặc cách cư xử của một cá nhân”

Hay trong từ điển tiếng Trung có định nghĩa thái độ (态度) là cách nhìn, hoặc cách hành động được lựa chọn đối với mỗi sự vật/sự việc cụ thể

Có thể thấy, dù được định nghĩa theo cách nào thì “thái độ” cũng có những đặc điểm chung, đó là cách nhìn nhận, đánh giá và sự lựa chọn phương án hành động của mỗi cá nhân đối với một sự việc hoặc vấn đề nào

đó Và với những đặc điểm như vậy, có thể thấy rằng, thái độ chính là nhân

tố quyết định đến nhận thức, tình cảm và cách hành xử của mỗi người đối với một sự việc, một vấn đề cụ thể trong xã hội cũng như trong cuộc sống

Để có thể hiểu hơn về thái độ cũng như tầm ảnh hưởng của thái độ tới các sự việc, các vấn đề trong cuộc sống, từ trước tới nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như các tác phẩm nghiên cứu về thái độ

Trang 19

12

W.I.Thomas và F.Znaniecki là hai nhà nghiên cứu người Mỹ được biết đến như những người đầu tiên nghiên cứu về “thái độ” như một đặc tính quan trọng của vấn đề Năm 1918, trong một công trình nghiên cứu của mình, Thomas và Znaniecki cho rằng: “Thái độ là định hướng chủ quan của

cá nhân như là thành viên của cộng đồng đối với giá trị này hay giá trị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp nhận.” Theo những nhà nghiên cứu này, thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân và nó bao gồm cả những phản ứng tiêu cực và phản ứng tích cực đối với một hiện tượng cụ thể, không có những đánh giá chung chung [dẫn theo 11, tr.11]

Tác giả G.W.Allport đã viết trong tác phẩm “A Handbook of Social Psychology” (1935) của mình rằng, “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ” [dẫn theo 14, tr.810]

Một nghiên cứu khác của nhà tâm lý học Mỹ H.C Trianodis vào năm

1971 đã định nghĩa rằng, “Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm Nó gây tác động lên hành vi nhất định, thái độ con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách ứng xử của họ đối với đối tượng đó.” Qua định nghĩa này, ta có thể thấy nhận thức và cảm xúc của con người là yếu tố chính, nó chi phối và hình thành lên thái độ khác nhau ở mỗi cá nhân và đây cũng chính là yếu tố tác động lên hành vi của con người [dẫn theo 11, trang 12]

Như vậy, nghiên cứu về thái độ chính là cách giúp chúng ta hiểu được nhận thức, cảm xúc của mỗi cá nhân đối với các hiện tương, vấn đề xảy ra trong cuộc sống cũng như nguyên nhân, động cơ và xu hướng hành động khi mỗi cá nhân đối diện với những hiện tượng, vấn đề đó

Trang 20

13

Do vậy có thể thấy, nghiên cứu thái độ là một trong những nghiên cứu phổ biến và bao trùm lên mọi lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta nhằm hiểm biết về thái độ, nhận thức của các cá nhân có liên quan trực tiếp tới lĩnh vực đó, qua đó khái quát lên xu hướng hành động, đồng thời dự đoán hành

vi và chỉnh đốn hành động nhằm đạt được kết quả cao nhất Nếu tìm hiểu, chỉ với từ khoá “nghiên cứu thái độ” (tiếng Anh là Attitude, ta có thể tìm được rất nhiều các kết quả có liên quan, bao trùm các lĩnh vực và các ngành nghề như “nghiên cứu thái độ về môi trường”, “nghiên cứu thái độ khách hàng về sản phẩm”, “nghiên cứu thái độ của người trẻ về vấn đề bình đẳng giới”, “nghiên cứu về thái độ của thanh thiếu niên với mạng xã hội”, v.v

Nghiên cứu thái độ của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ

Không nằm ngoài những yếu tố đó, ngôn ngữ cũng là một yếu tố xuất hiện trong rất nhiều các hoạt động của đời sống cong người Có thể nói, chúng ta sử dụng ngôn ngữ trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống thường ngày Từ những việc đơn giản như xem tivi, nghe nhạc, gọi điện thoại tới những việc như trao đổi thông tin trong học tập, công việc hay viết thư, xem sách, đọc báo… đều cần đến sự đóng góp của ngôn ngữ Thông thường, những hoạt động ngôn ngữ này được thực hiện vô cùng dễ dàng và tự nhiên đến mức đôi khi trở thành vô thức

Như vậy, những nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung cũng như những nghiên cứu về thái độ và nhu cầu của con người về các hoạt động ngôn ngữ nói riêng là một công việc vô cùng cần thiết và quan trọng, nhằm xác định được tình cảm, nhận thức của mỗi cá nhân thông qua việc sử dụng ngôn ngữ,

từ đó có thể xác định những yếu tố ảnh hưởng cũng như xu hướng hành động của mỗi cá nhân dưới sự tác động của ngôn ngữ

Có nhiều quan điểm khác nhau về ngôn ngữ Harris và Sipay (1970) cho rằng, ngôn ngữ là “một khía cạnh của hành vi của con người có liên

Trang 21

14

quan đến việc sử dụng các âm thanh có ý nghĩa có sẵn và khi những âm thanh đó thoát ra sẽ tương ứng với các ký hiệu bằng văn bản nhằm hình thành, diễn đạt và truyền đạt một suy nghĩ và ý tưởng Như vậy, hầu hết việc

xử lý ngôn ngữ sẽ không liên quan đến các hoạt động vật lý có thể nhìn thấy được, ví như cử động của con mắt người; mà nó liên quan đến các sự kiện tinh thần diễn ra ở trong tâm trí chúng ta Tuy nhiên, những sự kiện tinh thần

đó lại có thể suy ra từ những hành vi của người nói biểu hiện ra ngoài mà chúng ta có thể quan sát được

Bởi vậy, việc tìm hiểu về ngôn ngữ cũng như ứng dụng những hiểu biết về ngôn ngữ vào giảng dạy ngoại ngữ từ lâu đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, những kỹ thuật và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ và quá trình ứng dụng chúng trong thực tế thì vẫn cần được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn nữa để có thể xây dựng thành công một cây cầu nối giữa lý thuyết và thực hành cũng như hiện thực hóa và nâng cao hơn nữa chất lượng của việc dạy – học ngoại ngữ

Nhiều nghiên cứu cho rằng, thái độ của người học ngoại ngữ đối với việc sử dụng ngôn ngữ là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình học ngoại ngữ cũng như kết quả của việc học Nếu người học có thái độ tốt đối với việc

sử dụng ngôn ngữ thì đó chính là động lực để dẫn tới những kết quả học tập tốt cũng như những thành công của người họ và ngược lại

Những nghiên cứu của các tác giả Krashen (1982); Dornyei (1990; 2001); Gardner (1985) ); Liu (2009); Gardener & MacIntyre (1993 đã chứng minh rằng: thái độ và động lực học tập thường có liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc dạy học ngoại ngữ

Nghiên cứu của Richards (1998, tr.308) cũng đã khẳng định rằng

“ Thái độ của sinh viên đối với khoá học ngôn ngữ của họ cũng như đối với giáo viên của họ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khao khát được học tập

Trang 22

15

cũng như sự tham gia vào lớp học của họ; thái độ của họ đến ngôn ngữ góp phần định hình lý do học tập ngôn ngữ cũng như chiến lược sử dụng ngôn ngữ của họ;…”

Nhiều nghiên cứu của Dornyei (2001); Gardner (1985); Gadrrner & MacIntyre (1993); Liu (2009); Trembalay & Gardner (1995)… đều khẳng định rằng, “thái độ tích cực đối với ngôn ngữ sẽ dẫn đến động lực cao hơn để học và năng lực ngoại ngữ tốt hơn [dẫn theo 25, tr.1]

Nghiên cứu của Caroll (1964) cho thấy sự biểu hiện của thái độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất để có thể dự đoán hiệu quả và sự thành công của người học

Động cơ và thái độ học tập cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai (Ellis, 1994) Theo Gardner (1985, tr.5), động cơ bao gồm 4 yếu tố: mục đích cần đạt được trong hoạt động học tập, sự nỗ lực để đạt được mục đích, ước muốn đạt được thành công và thái độ đối với hoạt động học tập

Trong lớp học ngoại ngữ, thái độ người học sẽ thể hiện thông qua các hoạt động dạy và học ngoại ngữ (Ellis, 1986) Thái độ và động cơ của người học sẽ quyết định sự kiên trì của người học khi đương đầu với những thử thách hay khó khăn trong học tập, yếu tố này có ảnh hưởng đến mức độ thành thạo ngôn ngữ của người học và luân phiên dẫn đến thành công hay thất bại trong việc phát triển ngôn ngữ (Ellis, 1994) Nếu người học có động cơ và thái độ tích cực (do kết quả học tập mang lại), thì nó sẽ tiếp tục dẫn người học đến thành công, ngược lại một động cơ và thái độ tiêu cực sẽ là rào cản cho sự phát triển ngôn ngữ của người học

Về động cơ và thái độ học tiếng Anh, phân tích hồi quy của Gradman

và Hanania (1991) cho thấy rằng việc người học nhận thức được nhu cầu phải học tiếng Anh và vai trò của tiếng Anh trong tương lai có tác động đến

sự thành công của họ Chou (2007) cũng nhận thấy động cơ học tập là yếu tố

Trang 23

16

thứ hai sau yếu tố phương pháp học tập có tác động đến khả năng tiếng Anh của người học [dẫn theo 8, tr.69]

Nghiên cứu cứu của Csizér (2007) và nghiên cứu của Dornyei (2009)

đã chỉ ra rằng, thái độ và động lực có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau Những thái độ tích cực đối với ngoại ngữ cũng như người sử dụng ngoại ngữ sữ làm gia tăng động lực từ đó dẫn đến những kết quả học tập tốt hơn cũng như giúp người học đạt được nhiều thành công hơn ở ngoại ngữ đó

c Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ và nhu cầu người học

Bên cạnh việc nghiên cứu trực tiếp về nhu cầu và thái độ của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt,

để hiểu rõ hơn về nhu cầu và thái độ của ngừơi học, có rất nhiều nghiên cứu

về các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến thái độ và nhu cầu của người học đã được tiến hành, nhằm xác định mối quan hệ cũng như vai trò của các yếu tố này tới việc dạy và học ngoại ngữ Trong đó, có thể kể tới các yếu tố như: độ tuổi, giới tính, mục đích học tập, v.v

Trong một nghiên cứu về giới tính đối với thái độ về ngôn ngữ và sự thụ đắc ngôn ngữ của Fahrady (1982) khi tiến hành điều tra đối với sinh viên từ 800 trường đại học đã phát hiện ra rằng, các sinh viên nữ thường bắt đầu nói sớm hơn các sinh viên nam và các sinh viên nữ thường nói được những câu dài hơn Không chỉ có vậy, ngữ pháp được các sinh viên

nữ sử dụng cũng đúng hơn và vốn từ vựng của họ cũng linh hoạt và phong phú hơn các sinh viên nam Ngoài ra, các sinh viên nữ cũng có thái độ học đọc tích cực hơn và đạt được những kết quả tốt hơn trong các bài đọc Không chỉ có vậy, các sinh viên nữ cũng được cho là có thái độ tích cực hơn và tự tinh về sự thành công của bản thân trong lĩnh vực này hơn các sinh viên nam [dẫn theo 15, tr 5]

Trang 24

17

Một nghiên cứu khác của Ellis (1994) đã phát hiện ra rằng, tuy không thể lý giải được nguyên nhân giữa sự khác nhau giữa kết quả về sự thụ đắc ngôn ngữ giữa nam và nữ nhưng có một sự giải thích có thể nhìn thấy được cho việc nữ giới thường thành công hơn khi học L2 so với nam giới là vì họ thường có thái độ học tập tích cực hơn [dẫn theo 15, tr.5]

Tuy nhiên, nghiên cứu của Ellis (1994) cũng chỉ ra rằng, nữ giới không hẳn luôn luôn học L2 tốt hơn nam giới Ví dụ như những người đàn ông Châu Á sống ở Anh sẽ nói tiếng Anh tốt hơn những người phụ nữ Châu

Á sống ở Anh Lý do là vì những người đàn ông Châu Á sống ở Anh thường

có cơ hội ra ngoài, có công việc thường xuyên tiếp xúc với người bản xứ, trong khi những người phụ nữ Châu Á sống ở Anh thường chỉ có cuộc sống

“khép kín” ở trong gia đình Như vậy, một yếu tố nữa đã ảnh hưởng tới việc học L2 là cơ hội cũng như khoảng cách để người học được tiếp xúc với người bản xứ [dẫn theo 15, tr.6]

Một nghiên cứu có tên “Lớp học ngôn ngữ: Một “lãnh địa” của phái nữ? – Cái nhìn cá nhân sinh viên nam và nữ đối với việc học ngoại ngữ” của tác giả Larrisa Nikitina (2007) đã phát hiện rằng hầu hết các sinh viên tham gia điều tra đều có suy nghĩ rằng “nữ giới có khả năng học ngôn ngữ tốt hơn nam giới”, còn kết quả thực nghiệm cho thấy các nữ giới có xu hướng có động lực học một ngôn ngữ mới cao hơn nam giới một chút [dẫn theo 24, tr.4]

Khi nghiên cứu về các yếu tố tác động tới nhu cầu và thái độ của những học sinh người Ấn Độ đối với môn tiếng Anh, tác giả M.H.Verma đã chỉ ra rằng, những người học ngoại ngữ cần một giáo viên có thể tạo động lực cho họ nói nhiều hơn trong lớp học cũng như hướng dẫn họ làm sao để

sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học nhiều hơn Họ mong muốn một người giáo viên tiếng Anh có trình độ tiếng Anh tốt để có thể sữa những lỗi sai họ mắc phải mà không làm tổn thương cái tôi của họ hay kết tội họ vì thiếu kiến thức

Trang 25

18

môn tiếng Anh Họ cần một giáo viên có thể tạo ra không khí vui vẻ, không

gò bó trong lớp học [dẫn theo 27, tr.7]

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến những vấn đề khác

có ảnh hưởng đến thái độ ngôn ngữ và sự thụ đắc ngôn ngữ như như dân tộc,

xã hội, trình độ ngoại ngữ và trình độ tiếng mẹ đẻ của người học

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

a Nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ

Cùng với sự phát triển không ngừng của thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá, hiện nay, không chỉ có người Việt Nam có nhu cầu học ngoại ngữ để giao lưu, học tập và hợp tác kinh tế, chính trị, xã hội với các quốc gia khác trên thế giới mà rất nhiều người nước ngoài cũng có nhu cầu học tiếng Việt như một ngoại ngữ Nhu cầu này không chỉ đến từ những người sống ở các nước nước có vị trí địa lý gần Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản,… mà nó đã tới từ khắp các châu lục, khắp các quốc gia trên thế giới Những người nước ngoài học tiếng Việt với nhiều mục đích khác nhau như: tìm cơ hội việc làm, đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tìm hiểu

về đất nước, văn hoá của Việt Nam hay để thoả lòng khao khát tìm hiểu về những cảnh đẹp ở đất nước hình chữ S này Cũng có một phần không nhỏ trong số họ là những người con mang trong mình dòng máu Việt nhưng chưa từng được một lần về quê hương, và họ muốn học tiếng Việt như một cách để luôn ghi nhớ về nơi mà một phần con người mình thuộc về, để khi có cơ hội thì họ có thể một lần được trở về với quê hương, và được nói tiếng Việt với đồng bào, những người cùng mang trong mình dòng máu Việt

Có nhiều lý do khác nhau để người nước ngoài lựa chọn tiếng Việt như một ngoại ngữ để học tập Bởi vậy, những nghiên cứu về việc dạy – học tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng đã được quan tâm từ rất sớm nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học trong các lớp học ngoại ngữ Không khó để chúng ta có thể tìm được một bài viết với nội dung như: “Ngôn ngữ

Trang 26

19

trong các lớp học tiếng Anh”; “Có nên sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các lớp học tiếng Anh?”; “Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các lớp học ngoại ngữ?”; “Trò chuyện về việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các lớp học ngoại ngữ?”; hoặc những nghiên cứu về ngôn ngữ được sử dụng trong lớp học tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số (Nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng tiếng Việt

và tiếng Gia-rai trên lớp học ở các lớp 1-2 vùng dân tộc thiểu số Gia-rai của tỉnh Gia Lai của PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương, 2017) v.v… Tuy có thể khác nhau về đối tượng nghiên cứu nhưng về bản chất, những nghiên cứu đó đều là nghiên cứu về ngôn ngữ được sử dụng trong các lớp học ngoại ngữ

b Nghiên cứu về thái độ và nhu cầu đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ

Như đã nói ở những phần trên, nghiên cứu về thái độ của một người đối với một đối tượng/ hiện tượng xã hội là một tập hợp những niềm tin hay khuynh hướng tâm lý để hành động hoặc đánh giá các hành vi theo một cách nhất định Và, việc nghiên cứu về thái độ của người học có thể giúp cho chúng ta có thể tiếp tục dự đoán những hiệu quả và thành công trong học tập Như vậy, việc nghiên cứu về thái độ của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong dạy học chính là nghiên cứu về những niềm tin, những khuynh hướng tâm lý để hành động của người học hoặc cách người học đánh giá các hành vi sử dụng ngôn ngữ của người dạy trong các lớp học ngoại ngữ Thông qua việc đánh giá này, chúng ta có thể hiểu thêm về niềm tin, khuynh hướng hành động của người học, qua đó nhằm tìm ra những cách thức sử dụng ngôn ngữ của người dạy sao cho phù hợp nhất với niềm tin, nhu cầu và tâm lý của người học để công việc dạy – học có thể đạt được hiệu quả tốt nhất

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về thái độ nói chung cũng như nhu cầu và thái độ của người học nói riêng được các nhà nghiên cứu quan tâm đến Chúng ta có thể kể đến những nghiên cứu về nhu cầu và thái độ

Trang 27

20

đối với ngôn ngữ như: Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ và hành

vi ngôn ngữ (Vũ Thị Thanh Hương, 2005); Nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức đối với chính sách ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam (Vũ Thị Thanh Hương, 2012); Mối quan hệ giữa thái độ và sự lựa chọn ngôn ngữ (Trịnh Cẩm Lan, 2012); Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay (Trịnh Cẩm Lan, 2014); Nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng Gia-rai trên lớp học ở các lớp 1-2 vùng dân tộc thiểu số Gia-rai của tỉnh Gia Lai (Vũ Thị Thanh Hương, 2017);…

Ngoài ra, tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về thái độ và nhu cầu của người học cũng như nghiên cứu về những yếu tố liên quan tới thái

độ, nhu cầu của người học như: Động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ (Trần Thị Thu Trang); Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên trường Đại học Đà Lạt (Nguyễn Thuý Quỳnh Loan, 2011); …

Những nghiên cứu về nhu cầu và thái độ nói riêng cũng như nhu cầu và thái độ đối đối với ngôn ngữ nói chung cũng phần nào giúp chúng ta hiểu thêm về thái độ, nhu cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ, nhu cầu cũng như các nhìn nhận, đánh giá của các đối tượng liên quan đối với những yếu tố này

Và đó cũng là tiền đề cho những nghiên cứu về thái độ, nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong lớp học ngoại ngữ mà chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu trong luận văn này

c Nghiên cứu về các nhân tố liên quan tới thái độ và nhu cầu của người học

Không chỉ nghiên cứu trực tiếp về thái độ và nhu cầu của người học với những câu hỏi trực tiếp như: Người học có hài lòng không, người học cảm thấy thế nào, … Các nhà nghiên cứu còn quan tâm tới những yếu tố có liên quan và

sự tác động của chúng lên thái độ và nhu cầu của người học để từ đó có thể

Trang 28

Có thể kể đến những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và nhu cầu người học như: Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên trường Đại học Đà Lạt (Phan Hữu Tín, Nguyễn Thuý Quỳnh Loan, 2011), Động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ (Trần Thị Thu Trang), hoặc Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường Ngoại ngữ, …

Trong lĩnh vực ngôn ngữ và đào tạo ngoại ngữ, cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến nhu cầu và thái độ người học như: Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ và hành vi ngôn ngữ (trên cứ liệu về cách phát âm /l/ và /n/ ở Vĩnh Tuy, Hà Nội (Vũ Thị Thanh Hương,2005); Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ môn Tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Vũ Thị Như Quỳnh, 2007); Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên trường Đại học Đà Nẵng (Nguyễn Thuý Quỳnh Loan & Phan Hữu Tín, 2011); Khảo sát thái độ ngôn ngữ của đồng bào người Thái đối với chữ Thái được sử dụng trong giáo dục (Lê Thị Lâm, 2012); Nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng Gia-rai trên lớp học ở các lớp 1-2 vùng dân tộc thiểu số Gia-rai của tỉnh Gia Lai (Vũ Thị Thanh Hương, 2017); v.v

Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy sự đề cập tới các yếu tố khác như: điều kiện học tập, mục đích học tập, trình độ của giáo viên, sự hợp tác của các bạn cùng học, chính sách của từng vùng/quốc gia về ngôn ngữ đó, yêu cầu về sự

Trang 29

Đó là các giai đoạn: Giai đoạn dạy học truyền thống, Giai đoạn chuyển tiếp, Giai đoạn thịnh hành giao tiếp và Giai đoạn hiện đại

(1) Giai đoạn dạy học truyền thống (Classical Period)

Như đã đề cập ở trên, để có thể hiểu được lý do xuất hiện của phương pháp dạy học này, chúng ta cần nhìn lại về lịch sử của giai đoạn đó Đó là vào khoảng thế kỷ thứ 16, ở thời kỳ này, tiếng Latin là ngôn ngữ phổ biến ở Châu

Âu Khi đó, người ta học tiếng Latin nhằm hiểu những ký tự, văn bản cổ đại Ngoài ra, ở thời kỳ đó, tiếng Latin còn được cho là ngôn ngữ có thể phát triển trí tuệ con người Bởi vậy, nhu cầu chủ yếu khi học ngôn ngữ này là để đọc và hiểu các tài liệu Đó cũng chính là nguyên nhân mà phương pháp giảng dạy được lựa chọn và rất thịnh hành ở thời kỳ này là phương pháp Dịch - ngữ pháp (Grammar – Translation Method) Tuy nhiên, sau đó, tiếng Latin trở thành một

“ngôn ngữ chết”, đặc biệt là ở kỹ năng nói, và tiếng Anh đã được lựa chọn để thay thế cho tiếng Latin thời kỳ này Phương pháp Dịch – ngữ pháp vẫn được tiếp tục áp dụng để dạy tiếng Anh ở thời kỳ sau đó

Trang 30

hệ thống Người học thường được khuyến khích sử dụng từ điển song ngữ, các bài tập phổ biến của phương pháp này là dịch xuôi và dịch ngược Thi cử cũng lấy dịch làm trọng tâm Có thể nói, khi học phương pháp này, người học được nghe nghe nhiều, hiểu nhiều về ngôn ngữ đích Tuy nhiên, khi học theo cách này, người học lại chỉ chuyên tâm và dịch chứ không được giao tiếp nhiều Theo William H.D Rouse, Dịch – ngữ pháp không phải là phương pháp giảng dạy ngoại ngữ mà chỉ là “ cách để hiểu về những gì nằm ngoài ngôn ngữ của chúng ta”

(2) Giai đoạn chuyển tiếp (Alternative Period)

Đầu thế kỷ 19 đã đánh dấu nhiều sự thay đổi lớn của Châu Âu về kinh tế, chính trị và xã hội, bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, tiếp đó là cuộc cách mạng tư sản Pháp và các cuộc chiến tranh của Napoleon, sự tái tổ chức trong bản đồ chính trị Châu Âu… Đồng thời, thế kỷ 19 đã đánh dấu bước ngoặt chuyển từ sản xuất thủ công sang nền sản xuất cơ khí Loài người đã chuyển từ văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp Cũng chính nền văn minh công nghiệp này đã tạo ra cách nhìn mới trong nhận thức của con người, kéo theo những biến đổi lớn về khoa học, chính trị, văn hóa, xã hội Từ đây, loài người bước vào một giai đoạn mới của văn minh nhân loại – một giai đoạn cần có sự giao lưu, trao đổi giữa các quốc gia, các nền văn hóa chứ không chỉ gói gọn ở việc xem các tài liệu có sẵn

Những sự thay đổi về kinh tế, chính trị và xã hội đó cũng là lý do thúc đẩy những người dạy và học ngoại ngữ tìm đến một phương pháp dạy học

Trang 31

24

ngoại ngữ mới, một phương pháp có sự giao tiếp, có tính ứng dụng cao để thay thế cho phương pháp Dịch – ngữ pháp trước đó, nhằm đáp ứng nhu cầu cao hơn của xã hội về ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng lúc bấy giờ Bởi vậy, trong giai đoạn thứ hai này, họ tìm ra một phương pháp mới, với tên gọi là phương pháp trực tiếp (Direct Method)

Có thể nói, phương pháp trực tiếp này là một sự thay đổi tích cực của các nhà giáo dục ngôn ngữ để khắc phục những hạn chế của Phương pháp Dịch – ngữ pháp

Theo các nhà ngôn ngữ học như Henry Sweet, Celce-Murcia, Wihelm Viëtor và Paul Passy thì phương pháp này có những đặc điểm như hoàn toàn không sử dụng tiếng mẹ đẻ trên lớp, giáo viên thường là người bản ngữ hoặc người có năng lực ngoại ngữ cao, thường sử dụng tranh ảnh, giáo cụ trực quan hoặc hành động để giải thích từ mới và bài học thường được tiến hành thông qua các hội thoại hoặc những mẩu chuyện vui đơn giản về đời sống sinh hoạt hàng ngày Phương pháp dạy học này chú trọng vào thực tiễn, sự tác động qua lại giữa người học và người dạy trên lớp thông qua việc thực hành sử dụng ngoại ngữ, chú trọng vào phát âm, đôi khi phương pháp này đối lập với phương pháp Dịch – ngữ pháp nhưng nó đã mang lại hiệu quả thực tiễn cho người học, đặc biệt trong kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ Đây là một kết quả không thể chối

bỏ và được đánh giá cao Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này trong giảng dạy ngoại ngữ, người dạy lại gặp phải một số khó khăn trong vấn đề giải quyết những từ ngữ trừu tượng, không thể quan sát một cách trực quan hay giải thích chi tiết những nét khác nhau giữa các từ gần nghĩa

 Giai đoạn giao tiếp đương đại (Current Communicate Period)

Bước vào giai đoạn phát triển thứ 3 của phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, cùng với những vấn đề lịch sử nổi cộm của thế giới lúc bấy giờ - Sự nổ ra của Chiến tranh Thế Giới thứ 2 (1939 - 1945) Mục tiêu đặt ra cho giai đoạn này là dạy ngoại ngữ cho lính chiến và các sỹ quan quân đội Mỹ để họ có thể

Trang 32

25

học ngoại ngữ một cách nhanh chóng và có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất Theo Richards (1998), chương trình dạy học ngoại ngữ đặc biệt này đã thành công khi chia những người lính Mỹ thành những nhóm nhỏ và luyện tập hội thoại theo những chủ đề ngoại ngữ và cấu trúc ngữ pháp đã được định sẵn Phương pháp dạy học được áp dụng trong giai đoạn này là Phương pháp Nghe nói khẩu ngữ (Audio – Lingual Method)

Cũng theo Celce-Murcia, khi áp dụng phương pháp này, bài học thường được bắt đầu bằng một mẩu hội thoại với trọng tâm các kỹ năng được sắp xếp theo trật tự: nghe – nói – đọc – viết; trong đó, hai kỹ năng nghe và nói được xem là những kỹ năng cơ bản, cần thiết và bắt buộc; còn hai kỹ năng đọc và viết được xem là những kỹ năng chưa cần thiết Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với tên gọi của kỹ năng này – chú trọng vào nghe nói Với phương pháp này, ngữ âm rất quan trọng, còn ngữ pháp được giảng dạy theo phương pháp quy nạp Ngôn ngữ được sử dụng ở phương pháp này chủ yếu là ngôn ngữ đích Người học sẽ lặp đi lặp lại các mẫu câu của cùng một cấu trúc ngữ pháp để hiểu ngữ pháp đó, sau đó sẽ vận dụng nó trong nhiều trường hợp giao tiếp khác nhau Như vậy, khi giảng dạy phương pháp này, giáo viên không cần biết quá nhiều từ vựng Họ chỉ cần nắm một lượng từ vựng nhất định, và nhiệm vụ chính là luyện tập những cấu trúc ngữ pháp trong phạm vi được định trước cho người học thông qua việc lặp đi lặp lại các cấu trúc ngữ pháp đó Thông qua nhiều lần luyện tập, người học sẽ nắm được ngữ pháp đó một cách tự phát và trở thành phản xạ

Ngoài ra, ở trong giai đoạn này cũng đã xuất hiện những phương pháp giảng dạy ngoại ngữ khác được đánh giá có hiệu quả khá tốt như: Phương pháp giao tiếp (Communicative Language Teaching); Phương pháp học thư giãn (hay còn gọi là Phương pháp Lozanov); Lối im lặng…

 Giai đoạn thực hiện nhiệm vụ (Post Method Era)

Trang 33

26

Ở giai đoạn mới này, những người dạy ngoại ngữ đã triển khai một phương pháp dạy học ngoại ngữ mới, được biết đến với tên gọi Phương pháp giao nhiệm vụ (Task –Based language teaching) Bởi trong xu thế hiện nay, người ta không chỉ dừng ở việc sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp hay tìm hiểu thông tin như những thời kỳ trước, mà con người đòi hỏi ở việc học một ngoại ngữ nhiều hơn thế Họ hy vọng có thể sử dụng ngoại ngữ như một công cụ chứ không phải là mục tiêu tối thượng nữa, đồng thời, phương pháp này có thể chuyển việc dạy ngôn ngữ vốn là truyền đạt những kiến thức trừu tượng thành những ứng dụng thế giới thực Bởi vậy, ở trong phương pháp này, theo tác giả Martin Williams, task là “các hoạt động mà ở đó ngôn ngữ đích được người học sử dụng với mục tiêu giao tiếp nhằm đạt được một kết quả nào đó” Điều này có nghĩa là task ở đây có thể là bất cứ việc gì, từ việc giải bài tập đố cho đến việc mua bán thực tế Còn theo Lê Văn Canh (2004), đây là phương pháp dạy học ngoại ngữ có những đặc điểm sau:

- Nhấn mạnh vào việc học để giao tiếp thông qua sự tương tác với nhau qua việc sử dụng ngôn ngữ đích

- Giới thiệu các ngôn bản đích thực vào tình huống học tập

- Cung cấp cho người học các cơ hội không chỉ tập trung vào bản thân ngôn ngữ mà còn tập trung vào quá trình học

- Tăng cường khai thác những kinh nghiệm của cá nhân như một thành

tố quan trọng đối với việc học

- Cố gắng kết hợp việc học ở trên lớp với việc sử dụng ở ngoài lớp

1.2.2 Lý thuyết về nghiên cứu thái độ và việc nghiên cứu thái độ của người học đối với việc lựa chọn sử dụng ngôn ngữ trong lớp học ngoại ngữ

a Khái niệm “thái độ ngôn ngữ”

Trước khi đề cập tới vấn đề nghiên cứu về thái độ, chúng ta hãy cùng dành chút thời gian để tìm hiểu về định nghĩa “Thái độ là gì?” Theo Gardner (1985), “Thái độ là một tập hợp những niềm tin và khuynh hướng tâm lý để

Trang 34

27

hành động hoặc đánh giá các hành vi theo một cách nhất định Việc nghiên cứu thái độ có liên quan tới những yếu tố khác như văn hoá, xã hội, kinh tế và những yếu tố cá nhân khác”

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, “thái độ ngôn ngữ” chính là những niềm tin, những khuynh hướng tâm lý để hành động hoặc đánh giá các hành vi có liên quan đến ngôn ngữ của cá nhân tham gia vào các hoạt động ngôn ngữ đó

Theo Trịnh Cẩm Lan, “thái độ ngôn ngữ (language attitude), theo góc nhìn tâm lý học xã hội, thường tập trung vào lý giải việc các cá nhân tham gia giao tiếp nghĩ gì về ngôn ngữ và làm gì với ngôn ngữ.” [dẫn theo 6, tr.19 ] và [dẫn theo 5, tr.3]

b Lý thuyết về nghiên cứu thái độ ngôn ngữ

Theo Fasold, (1993)có 2 trường phái lớn trong nghiên cứu thái độ nó

chung: quan điểm tinh thần luận (Mentalist view) và quan điểm hành vi luận (Behaviourist view)

Quan điểm của trường phái Hành vi luận đối với việc thụ đắc ngôn ngữ, dạy học ngoại ngữ và nghiên cứu thái độ

Trường phái Hành vi luận đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển của lĩnh vực ngôn ngữ học Quan điểm này được bắt nguồn từ cuối thế kỷ

19 - đầu thế kỷ 20, cùng với những quan điểm triết học cho rằng mọi sự vật đều tồn tại dưới dạng vật chất và phủ nhận sự tồn tại của tinh thần Họ hạn chế công nhận những tác động của sinh lý đối với hành vi của con người và cũng không muốn thông qua đó để tìm hiểu hay giải thích những hành vi của con người, bao gồm cả ngôn ngữ Định nghĩa về Hành vi luận được Watson nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1908 và sau đó, tiếp tục được nghiên cứu và khẳng định thông qua nghiên cứu thống kê của Bloomfield Theo quan điểm này, các nhà nghiên cứu cho rằng, ngôn ngữ chính là một loại hành vi, và việc học một ngoại ngữ chính là việc học tập để thay đổi một hành vi của người học Những người theo quan điểm này cho rằng, con người khi được sinh ra không tồn tại

Trang 35

Như vậy, trường phái Hành vi luận cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại ở dạng vật chất cụ thể Họ cho rằng, cũng giống như ngôn ngữ, thái độ của con người cũng là một loại hành vi và muốn biết thái độ của một người thì cần phải phân tích hành vi thực tế của người đó

Nếu tiếp cận vấn đề theo quan điểm này, chúng ta có thể nhận thấy một

số điểm bất cập trong quan điểm này đối với ngôn ngữ như sau:

(1) Trường phái này được bắt nguồn từ những nghiên cứu về hành vi của động vật (ví dụ: Nghiên cứu về hành vi của chó của Pavlov, hành vi của gà của Thorindike, hành vi của chim bồ câu của Skinner v.v.)

(2) So sánh với những nghiên cứu về phản ứng kích thích của động vật, nhưng vật chất thì hoàn toàn không liên quan đến việc học ngoại ngữ

(3) Những nhà nghiên cứu của trường phái này khẳng định, họ đã giải thích tất cả các loại hành vi, nhưng việc tư duy bằng ngôn ngữ lại không thể giải thích được như một hành vi

(4) Không liên quan đến khả năng học tập và niềm đam mê với những

gì quan sát được bẩm sinh của con người

(5) Không cần được thưởng ngay trong quá trình học tập

(6) Một vài số liệu điều tra (của Gestalt) được dựa trên khả năng giải quyết vấn đề, nhưng học tập không được coi là là một vấn đề cần được giải quyết

Trang 36

29

(7) Sự khái quát trong quá trình học không dựa vào quy tắc ngôn ngữ

mà dựa vào sự tương đồng bậc thấp giữa các yếu tố

Quan điểm của trường phái Tinh thần luận đối với việc thụ đắc ngôn ngữ và dạy học ngoại ngữ và nghiên cứu thái độ

Theo trường phái Tinh thần luận, con người khi được sinh ra đã được trang bị sẵn khả năng thụ đắc ngôn ngữ một cách bẩm sinh, và việc mà chúng

ta cần làm để học ngôn ngữ là kích hoạt hệ thống đó Một trong những nhân vật nổi bật của trường phái này chính là nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Chomsky, và học thuyết này của ông đã được trình bày lần đầu tiên vào năm 1957 Ông cho rằng, ngôn ngữ học là một bộ phận tạo thành của tâm lý học và ông cũng nhấn mạnh vai trò của tư duy Quan điểm chủ yếu của Chomsky là những ngữ pháp của ngôn ngữ con người quá phức tạp và trừu tượng để có thể có thể chỉ học bằng kinh nghiệm và những gì con người đã tiếp cận Theo Chomsky, khi một đứa trẻ được sinh ra sẽ có một năng lực về tinh thần được điều hành bởi một hệ thống cơ bản, và chúng có khả năng tạo nên những ngữ pháp của riêng mình dựa vào những âm thanh đứa trẻ ấy nghe được Những ngữ pháp này là một bộ phận trong khung nền tảng nhận thức của đứa trẻ và tất cả những âm thanh chúng nghe được sẽ không được lưu trữ trong bộ não cho tới khi đứa trẻ tìm được sự tương ứng giữa âm thanh đó với những gì chúng đã biết và tìm được một “nơi lưu trữ chính xác” cho âm thanh nghe được trong khuôn khổ đó

Vũ Thị Thanh Hương và những nhà nghiên cứu theo điểm tinh thần luận cho rằng, thái độ là trạng thái sẵn sàng bên trong, là một biến trung gian giữa một kích thích tác động lên một người và phản ứng của người đó Theo quan điểm này, thái độ của một cá nhân đối với một hiện tượng/ đối tượng sẽ quyết định việc ứng xử của cá nhân đối với hiện tượng/ đối tượng đó Để đo thái độ cần đề nghị cá nhân thông báo lại thái độ của mình (phương pháp trực tiếp) hoặc suy diễn từ hành vi (phương pháp gián tiếp) Quan điểm này kéo theo một

Trang 37

c Các nhân tố tác động đến thái độ ngôn ngữ

Như đã được đề cập ở trên, chúng ta có thể hiểu, thái độ ngôn ngữ là những cảm xúc của một người về ngôn ngữ của chính bản thân họ hoặc của những người khác Nếu hiểu xa hơn nữa thì thái độ ngôn ngữ chính là các yếu

tố tâm lý của cá nhân một người đối với ngôn ngữ của chính mình và ngôn ngữ của người khác Như vậy, có thể thấy, thái độ ngôn ngữ của một người sẽ quyết định phản ứng, hành vi liên quan đến ngôn ngữ của họ cũng như quyết định chất lượng và sự thành công của những hành vi liên quan đến ngôn ngữ đó

Có nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự ảnh hưởng của các nhân tố như tuổi tác, giới tính, trình độ giáo dục, nghề nghiệp, … đối với ngôn ngữ Trịnh Cẩm Lan (2014) cho rằng, “Việc hình thành thái độ ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, trình độ giáo dục, nghề nghiệp, … Ngược lại, rất nhiều những hành vi ứng xử ngôn ngữ lại chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thái độ ngôn ngữ”

Trong những nghiên cứu về mối liên hệ giữa các yếu tố độ tuổi, giới tính, trình độ giáo dục đối với thái độ ngôn ngữ, các tác giả đã chỉ ra được mối tương quan giữa các yếu tố này với thái độ ngôn ngữ Trong nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan về thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi ngôn ngữ trong tiếng Việt, tác giả cũng đã đề cập đến sự ảnh hưởng của các yếu tố

có liên quan tới thái độ ngôn ngữ Cụ thể, tác giả cho rằng “Có thể thấy thấp thoáng phía sau những con số là một chiều hướng phát triển, định hình của thái

độ theo sự trưởng thành của tuổi tác, đó là mô hình diễn tiến hợp lý theo thời

Trang 38

31

gian, từ thái độ cực đoan khi còn trẻ đến cách nhìn bình tĩnh, trung dung hơn khi đã có thêm những trải nghiệm cuộc đời Tương ứng với mô hình phát triển thái độ theo tuổi là mô hình phát triển thái độ theo học vấn, theo đó, nhóm cư dân có trình độ phổ thông, thường tương ứng với nhóm nhỏ tuổi nhất có thái độ lưỡng cực, nhóm cao đẳng và đại học có thái độ dung hòa hơn và nhóm sau đại học có thái độ 100% trung lập Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy thái độ ngôn ngữ cũng chịu sự ảnh hưởng của giới: trong khi có một tỉ lệ tương đương giữa hai giới có quan điểm trung lập thì ở số còn lại, nữ giới có thái độ tiêu cực hơn hẳn nam còn nam lại có thái độ tích cực hơn hẳn nữ.” [dẫn theo 6, Tr.37]

Trên thực tế, việc nghiên cứu về sự lựa chọn ngôn ngữ của người dạy, cũng như thái độ và nhu cầu của người học đối với ngôn ngữ được giáo viên lựa chọn sử dụng trên lớp học ngoại ngữ cũng chính là một cách nghiên cứu về thái độ và nhu cầu đối với ngôn ngữ Bởi vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi xin được phép khảo sát nhằm tìm ra câu trả lời cho câu hỏi có chăng một mối liên hệ giữa những yếu tố độ tuổi, giới tính, trình độ ngoại ngữ, … của người học đối với thái độ của họ về ngôn ngữ mà giáo viên lựa chọn sử dụng trong các lớp học tiếng Việt, từ đó nhằm đưa ra các kiến nghị về chiến lược lựa chọn

và sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học tiếng Việt

Ngoài những nhân tố đã nêu trên, cũng có những nhân tố đã đề cập đến mối liên hệ giữa các nhân tố khác nữa, như: Các chính sách ngôn ngữ của từng quốc gia, nền tảng lịch sử của quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó, các yếu tố gia đình của cá nhân người sử dụng ngôn ngữ, năng khiếu học ngoại ngữ của mỗi

cá nhân, … Tuy nhiên, do điều kiện chưa cho phép nên chúng tôi xin được tiếp tục nghiên cứu tới những nhân tố này ở những nghiên cứu sau

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đã trình bày về các quan điểm liên quan đến việc

sử dụng ngôn ngữ trong dạy học, khái niệm và các yếu tố liên quan đến thái độ

Trang 39

32

ngôn ngữ và những quan điểm, căn cứ để đánh giá thái độ ngôn ngữ cũng như những nghiên cứu đã có và những lý thuyết liên quan tới các khái niệm này

Theo đó, chúng ta có thể tổng kết lại rằng, hiện nay, trên thế giới đang có

3 quan điểm khác nhau về việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ, đó

là chỉ sử dụng ngôn ngữ đích trong giảng dạy, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học (hoặc ngôn ngữ trung gian mà cả người dạy và người học có thể hiểu) hoặc sử dụng kết hợp cả tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích của người học Về “thái

độ ngôn ngữ”, chúng ta có thể hiểu “thái độ ngôn ngữ” chính là những niềm tin, những khuynh hướng tâm lý để hành động hoặc đánh giá các hành vi có liên quan đến ngôn ngữ của cá nhân tham gia vào các hoạt động ngôn ngữ đó Thông qua việc đánh giá đúng thái độ của một người đối với ngôn ngữ mà họ

sử dụng, chúng ta có thể đưa ra những chiến lược sử dụng ngôn ngữ phù hợp, qua đó tạo được những hiệu quả tốt hơn trong giao tiếp nói chung và trong vấn

đề dạy – học ngôn ngữ nói riêng

Để đánh giá về thái độ ngôn ngữ, có 2 nhóm quan điểm đó là: Tinh thần luận và Hành vi luận Tuy nhiên, vì một số điểm chưa hoàn thiện đã được chỉ

ra của quan điểm Hành vi luận nêu trên nên trong luận văn này, chúng ta sẽ lựa chọn cơ sở để đánh giá thái độ của người học theo quan điểm Tinh thần luận

Trang 40

33

Chương 2 KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA GIÁO VIÊN TRONG CÁC LỚP HỌC TIẾNG VIỆT

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

2.1 Tình hình công tác giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ở Việt Nam và ở khoa Việt Nam học – trường Đại học Hà Nội

Cùng với sự phát triển và không ngừng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế của Việt Nam, ngày nay, số lượng người nước ngoài có nhu cầu học tiếng Việt ngày càng gia tăng Cùng với sự tăng lên về số lượng người có nhu cầu học tiếng Việt đó chính là sự tăng lên về số lượng và nâng cao về số lượng và cải thiện về chất lượng dạy học của các cơ sở đào tạo tiếng Việt trên toàn Thế Giới và đặc biệt là ở Việt Nam Ở Việt Nam, có thể nói, việc dạy và học tiếng Việt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, … diễn ra rất sôi nổi Các cơ sở đào tạo chính chủ yếu là các trường đại học đào tạo về ngôn ngữ và các trung tâm dạy tiếng Việt

Các học viên tìm đến tiếng Việt mang các quốc tịch khác nhau và lý do

mà họ tìm tới tiếng Việt cũng không giống nhau và ngày càng đa dạng, phong phú Tại khoa Việt Nam học – trường Đại học Hà Nội, số lượng học viên tới học tăng trung bình 20% mỗi năm; các sinh viên tới từ trên dưới 30 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Lào, Nga, Mỹ, Pháp, Đức, Ireland, Palestine,… Phần lớn mục đích của người học khi tìm tới tiếng Việt là để có thể sinh sống, và tìm được một cơ hội làm việc bằng thứ tiếng nói giàu thanh điệu này Ngoài ra, cũng có những người vì yêu mảnh đất xinh đẹp hình chữ S mà họ chưa bao giờ được đặt chân tới, họ tìm tới tiếng Việt như một cách để có thể giao lưu với con người nơi đây, hay để thông qua ngôn ngữ này mà có thể tìm hiểu về lịch sử, văn hoá của đất nước và con người Việt Nam Ngoài những lý do trên, cũng phải kể đến một

Ngày đăng: 15/07/2020, 11:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w