Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử nóichung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những năm qua.. Tuynhiên, việc thực hiện tích hợp kiế
Trang 11 Lời giới thiệu
Tích hợp trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quantrọng trong giáo dưỡng, giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tíchtổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa
Các chủ đề tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh,
có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đềtích hợp, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết cáctình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực
và phẩm chất của học sinh được phát triển
Tài liệu Văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứa nhiềutiềm năng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học Lịch sử, góp phần nângcao hứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh
Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử nóichung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những năm qua Tuynhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy học lịch sử đảmbảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng tư duy sáng tạocủa học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa ra các phươngpháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học môn Lịch sử.Trong những năm học trước, bản thân tôi cũng đã nghiên cứu, áp dụng việcthực hiện tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong giảng dạy phần Lịch sử ViệtNam các giai đoạn: 1919 – 1930; 1930 – 1945 và đều được hội đồng sáng kiến cấp
cơ sở đánh giá sáng kiến đạt loại khá, tốt
Trong năm học 2018 – 2019 và năm học 2019 – 2020, với mong muốn nângcao hứng thú của học sinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục bộ môn, nhất là chất lượng ôn thi THPT Quốc gia môn
Lịch sử, tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm
đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình
2 Tên sáng kiến: Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch
sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 - Lớp 12 (Ban cơ bản).
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Phạm Thị Thanh Hảo
- Địa chỉ: Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0978.599.120
- Email:Phamthanhhao.gvtranhungdao@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Thanh Hảo
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Trang 2- Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng trong việc giảng dạy môn Lịch sử,chương IV phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, lớp 12 ban cơbản.
- Trong phạm vi đề tài này, tôi thực hiện nghiên cứu đưa ra các nội dung,
phương pháp tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong giai đoạn Lịch sử Việt
Nam từ năm 1954 đến năm 1975 thuộc chương trình Lịch sử lớp 12 – Ban cơbản
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Sáng kiến kinh nghiệm được
áp dụng lần đầu ngày 09 tháng 01 năm 2019 (trong năm học 2018 – 2019)
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tích hợp trong dạy học nói chung, Lịch sử có ý nghĩa quan trọng tronggiáo dưỡng, giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổnghợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Sự phát triển nhanh chóng của khoa học
kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện
về nội dung và phương pháp giáo dục Từ cách tiếp cận nội dung, giáo dụcchuyển sang tiếp cận năng lực Điều đó đặt ra những yêu cầu về nguyên tắc vàphương pháp giáo dục theo hướng tích hợp để giải quyết vấn đề đặt ra trênđây
Tài liệu Văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứa nhiềutiềm năng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học lịch sử, góp phần nâng caohứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh
Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử nóichung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những năm qua
Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy học lịch
sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng tư duysáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa ra cácphương pháp, cách thức tích hợp kiến thức văn học, địa lí trong dạy học lịch sử.Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa của tài liệu Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sửcùng những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện vận dụng kiến thức Vănhọc, Địa lí trong giảng dạy Lịch sử; với mong muốn nâng cao hứng thú của họcsinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo
dục, tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm đề tài
sáng kiến kinh nghiệm của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trang 3Qua đề tài này, tôi muốn giúp học thấy được mối liên hệ giữa kiến thức mônLịch sử với kiến thức Văn học, Địa lí, vai trò của tài liệu Văn học, Địa lí với việcgiảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT nói chung và phần Lịch sử Việt Nam 1954
- 1975 nói riêng Từ đó giúp cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh mang tính hệthống, khoa học và sâu sắc hơn
Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tích hợp kiến thức Vănhọc, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam phần từ năm 1954 đến năm 1975 (ban
cơ bản), góp phần nâng cao hứng thú và năng lực tư duy sáng tạo của học sinhtrong học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu việc vận dụng tích hợp kiến thức Vănhọc, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
- Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 12A5 trường Trung học phổ thông TrầnHưng Đạo - tỉnh Vĩnh Phúc
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháplôgic cùng những phương pháp dạy học gắn liền với đặc trưng bộ môn nhằm pháthuy tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập như: Phương pháp thông tin,tái hiện lịch sử; phương pháp nhận thức lịch sử
- Phương pháp phỏng vấn: Trong quá trình thực hiện đề tài sẽ phỏng vấn trực
tiếp một số học sinh về giờ học vận dụng phương pháp tích hợp và trao đổi vớimột số giáo viên có kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp dạy học tíchhợp liên môn
- Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là khâu quan trọng nhằm kiểm nghiệm, chứng minh
và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp liên môntrong giờ học lịch sử
Thực nghiệm tiến hành tại trường THPT Trần Hưng Đạo, Giáo viên chọn 1lớp học – lớp 12A5 để tiến hành thực nghiệm
Thời gian thực nghiệm:
+ Ở giáo án thực nghiệm số 1 (tiết 38), tôi tiến hành dạy thực nghiệm vào tiết
2, thứ sáu, ngày 09 tháng 01 năm 2019 ở lớp 12A5
+ Ở giáo án thực nghiệm số 2 (tiết 42), tôi tiến hành dạy thực nghiệm vào tiết
3 thứ tư, ngày 27 tháng 2 năm 2019 ở lớp 12A5
- Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý số liệu thu thập được trong
quá trình nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: nghiên cứu phương pháp thực hiện tích hợp kiến thức Văn
Trang 4học, Địa lí trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 (Lớp
- Về thời gian nghiên cứu: năm học 2018 – 2019 và năm học 2019 – 2020
6 Điểm mới của đề tài
- Tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra các nội dung kiến thức Văn học, Địa lí có thểthực hiện tích hợp trong quá trình dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1954đến năm 1975
- Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp thực hiện tích hợp kiếnthức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam phần Nam từ năm 1954 đếnnăm 1975 (ban cơ bản), góp phần nâng cao hứng thú và năng lực tư duy sáng tạocủa học sinh trong học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận; Phần nội dung của sáng kiến đượccấu tạo thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP KIẾN THỨC VĂN HỌC, ĐỊA LÍ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
1.1 Tổng quan về tích hợp trong dạy học Lịch sử
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trongviệc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựngchương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Thực hiện môn học tích hợp, cácquá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn liềnvới kinh nghiệm sống của học sinh và được liên hệ với các tình huống cụ thể, có ýnghĩa với học sinh Khi đó, học sinh được dạy sử dụng kiến thức trong những tìnhhuống cụ thể và việc giảng dạy kiến thức không chỉ là lí thuyết mà còn phục vụthiết yếu trong cuộc sống con người, để làm người lao động, công dân tốt Mặtkhác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyên cập nhật với cuộc sống.Theo đó khi đánh giá học sinh, thì ngoài kiến thức cần đánh giá học sinh về khảnăng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc sống
Dạy học tích hợp giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trongcùng một môn học và giữa các môn học khác nhau Đồng thời, dạy học tích hợpgiúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽtừng môn học nhưng lại có những nội dung kiến thức, kĩ năng mà nếu theo mộtmôn học riêng rẽ sẽ không có được
Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nângcao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đủ phẩm chất và nănglực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướng tích hợpphát huy được tính tích cực của học sinh, góp phần đổi mới nội dung và phươngpháp dạy học
1.2 Vị trí, vai trò của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông
Môn Lịch sử là một môn học bắt buộc trong trường phổ thông Đây là mộttrong những con đường giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua hoạt động dạy
và học Theo chương trình đổi mới, bộ môn Lịch sử ở các cấp học nói chung và ởtrường THPT nói riêng sẽ cung cấp, củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinhmột cách tương đối có hệ thống về Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt Nam, kể từ khiloài người xuất hiện cho đến nay
Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT ngoài việc cung cấp kiến thức,còn hướng tư tưởng tình cảm, rèn luyện các kỹ năng cho học sinh
1.2.1 Về kiến thức
Môn Lịch sử sẽ giúp cho học sinh có hiểu biết tương đối chắc chắn và có hệthống về lịch sử loài người Qua mỗi bài học, mỗi lớp học, học sinh sẽ hiểu biết
Trang 6sâu hơn và có hệ thống về quá trình phát triển của lịch sử loài người, lịch sử dântộc từ khởi thủy đến nay Từ khi xuất hiện trên trái đất cho đến ngày nay, conngười đã trải qua biết bao thăng trầm, bao giai đoạn phát triển Học sinh sẽ nắmđược những giai đoạn phát triển chủ yếu của lịch sử dân tộc, những sự kiện có ýnghĩa về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội Học sinh sẽ hiểubiết được phần nào quá trình sáng tạo, văn minh, những nét lớn của văn hóa cácdân tộc trên thế giới, của văn hóa Việt Nam.
Nắm được những thành tựu chính về các mặt trong Lịch sử dân tộc, Lịch sửthế giới đồng thời cũng sẽ nhận thức được một số hạn chế của Lịch sử mà chúng tacần khắc phục
1.2.2 Về tư tưởng, tình cảm
+ Lịch sử sẽ giúp học sinh nhận thức được quá trình phấn đấu gian khổ vàsáng tạo, xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể để vươn lên nhữngđỉnh cao mới của văn minh Nhờ đó đời sống vật chất và tinh thần của con người,của các dân tộc không ngừng được cải thiện và nâng cao
+ Đời sống của các dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫnnhau, dù có khi hòa thuận êm đẹp hay có khi trái ngược hoặc xung đột nhau
+ Càng ngày càng thấy rõ trái đất và quê hương là ngôi nhà chung mà mọingười, mọi dân tộc phải phấn đấu xây dựng, bảo vệ
+ Nhận thức được những truyền thống cơ bản, tốt đẹp của dân tộc
+ Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu quê hương và niềm tự hào chân chính
+ Trân trọng và có ý thức giữ gìn nên văn hóa dân tộc được xây dựng và pháttriển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Biết ơn tổ tiên, những anh hùngdân tộc đã lao động, chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước; đồngthời có quyết tâm vươn lên trong học tập, lao động xây dựng và bảo vệ đất nướcngày nay
* Năng lực chuyên biệt:
- Thực hành bộ môn Lịch sử: khai thác kênh hình có liên quan đến bài học;
- Phân tích mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động của các sự kiện lịch sử
Trang 7- Năng lực phát hiện, giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (Điều tra, thuthập, xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết các vấn đề, vận dụng kiến thức vàothực tiễn cuộc sống).
1.3 Thực trạng việc dạy và học Lịch sử hiện nay
Thực tiễn dạy học lịch sử cho thấy, hiệu quả giờ dạy lịch sử còn nhiều hạnchế, học sinh chưa yêu thích và ham học môn lịch sử Căn cứ vào phổ điểm cácmôn thi kì thi THPT Quốc gia trong năm học 2018 - 2019 thì kết quả của môn Lịch
sử so với các môn học khác chưa cao
- Điểm trung bình môn Lịch sử trên cả nước: 4.3
- Tỉnh Vĩnh Phúc: 4.76
- Trường THPT Trần Hưng Đạo là: 4.6
- Ở lớp 12A5 Tôi đã dạy ôn thi THPT quốc gia năm học 2018 - 2019 có điểmtrung bình là 5.2
Có thể thấy chất lượng môn Lịch sử trong kì thi THPT quốc gia của cả nướcnói chung nhìn chung còn thấp Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiềuyếu tố chủ quan và khách quan khác nhau Một trong những nguyên nhân khôngthể không kể đến đó là đa số học sinh không thích học sử vì khó nhớ, khó thuộc.Kết quả khảo sát về thái độ yêu thích môn Lịch sử của 36 học sinh lớp 12A5 tôigiảng dạy trong năm học 2018 – 2019 tại trường THPT Trần Hưng Đạo như sau:
Tổng số
HS
Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%)
Môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục học sinh nhưng chỉ
có 22,2 % số học sinh hứng thú với lịch sử, còn 44,5 số học sinh được khảo sát lạikhông hề thích lịch sử, đó là một nỗi băn khoăn, trăn trở không chỉ của riêng bảnthân tôi là giáo viên giảng dạy môn Lịch sử mà còn là vấn đề mà giáo dục và cả xãhội rất quan tâm
Hơn nữa, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trường THPT Trần Hưng Đạo làtrường có phần lớn học sinh có học lực yếu, trung bình với điểm đầu vào thấp(Năm 2018: 3 điểm/1 môn; Năm 2019: 4 điểm)
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục
bộ môn Lịch sử nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi giáo viên giảng dạy cần
nỗ lực học hỏi, tìm kiếm các phương pháp dạy học phù hợp với trình độ, khả năngtiếp thu của học sinh, từng bước nâng cao hứng thú và kết quả học tập của họcsinh
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử nói chung vàLịch sử lớp 12 nói riêng, tôi thiết nghĩ cần phải phát huy hơn nữa hiệu quả của việc
Trang 8dạy và học để nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh theo tinhthần đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá cũng như phương pháp dạy học.
Dạy học tích hợp là một xu thế đang được nhiều quốc gia trên thế giới vàViệt Nam rất quan tâm, đề cao và đang triển khai thực hiện Trong những năm đấtnước và ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt,sau đợt tập huấn về dạy học tích hợp do Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc tổchức, tôi đã luôn cố gắng, nỗ lực tạo hứng thú cho học sinh bằng việc đổi mớiphương pháp dạy học, vận dụng việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí, trong dạyhọc lịch sử và đã thu được kết quả tốt Với mong muốn nâng cao chất lượng giáodục môn Lịch sử nói chung và chất lượng môn Lịch sử ở trường THPT Trần HưngĐạo nói riêng, nhất là chất lượng thi THPT quốc gia, tôi muốn được chia sẻ kinhnghiệm của mình cùng các đồng nghiệp về phương pháp dạy học này
1.4 Vị trí, ý nghĩa tài liệu văn học, địa lí trong dạy học Lịch sử
Để tạo ra những biểu tượng lịch sử sinh động, chân xác, trong dạy học lịch sửcần sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau trong đó tài liệu Văn học, Địa lí là mộttrong những nguồn tài liệu phong phú, có nhiều lợi thế
Với chức năng phản ánh cuộc sống, tài liệu văn học đã góp phần dựng lại bứctranh quá khứ lịch sử, trình bày các đặc trưng của các hiện tượng kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, những quy luật của đời sống ở từng thời đại một cáchsinh động, hấp dẫn bằng ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật
Giữa Văn học và Sử học có mối quan hệ khăng khít Khoa học Lịch sử dựavào những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử có thật trong một giai đoạn nhấtđịnh để khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân xác, khách quan, còn Vănhọc dựa trên chất liệu cuộc sống để xây dựng hình tượng, cốt truyện, mỗi tác phẩmvăn học đều mang trong mình dấu ấn của thời đại
Việc sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử sẽ giúp học sinh tránhđược tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử , giúp học sinh củng cố và phát triển kiếnthức lịch sử, phát huy tính tích cực, năng động của học sinh và gây hứng thú họctập Do đó, chất lượng dạy học lịch sử được nâng lên
Sự kiện lịch sử gắn liền với vị trí không gian nhất định Nhiều sự kiện lịch sửxảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động, chi phối Dovậy kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong dạy học lịch sử Bài họclịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấp dẫn, giúp học sinhnắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi phối của yếu tố địa lí Việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử làm cho họcsinh nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục thống nhất, khắc phụctình trạng nắm kiến thức lịch sử một cách rời rạc, phát huy tính chủ động, sáng tạo,
Trang 9năng lực tư duy, phân tích và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoạt độnghọc tập của học sinh.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi lựa chọn nội dung:
“Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm
1954 đến năm 1975 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của
mình
Trang 10CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP KIẾN THỨC VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 2.1 Vị trí, ý nghĩa của tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử
Trong các nguồn tài liệu tham khảo, tài liệu Văn học có khả năng to lớn trongviệc tạo biểu tượng cho học sinh bởi lẽ bản thân các tác phẩm văn học đã chứađựng những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị về mọi mặt củađời sống xã hội Đối tượng của Văn học cũng như Sử học là toàn bộ thế giớinhưng Văn học không miêu tả, tái hiện những con người cụ thể, cá biệt có thậttrong đời sống như lịch sử mà xuất phát từ những mẫu hình có thật để dựng nênnhững hình tượng văn học giàu tính nghệ thuật khiến học sinh dễ hình dungkiến thức và nhớ lâu Tài liệu văn học được sử dụng sẽ làm cho sự kiện trở nên cụthể, sinh động
Những hình ảnh văn học sinh động đó chính là cơ sở để tạo biểu tượng lịch
sử Hiệu quả của việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó sử dụng tài liệu văn học có lợi thế đặc biệt Trong dạy học lịch sử,việc miêu tả, tường thuật, giải thích, so sánh, nêu đặc điểm nhân vật lịch sửv.v…rất được coi trọng Tài liệu văn học có cơ sở để giúp giáo viên lịch sửthực hiện điều đó
Tài liệu văn học với sự phản ánh thực qua cách nhìn, thái độ quan điểm củatác giả đối với hiện tượng được miêu tả nên có tác động mạnh mẽ vào tâm hồnngười đọc Người đọc sẽ hình thành tình cảm tích cực hay tiêu cực qua tác độngcủa các tác phẩm văn học
Học sinh không chỉ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức khi tiếp xúc với vănhọc mà những hình tượng văn học điển hình còn tạo hứng thú học tập lịch sử chocác em
Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử cũng là nhằm làm chocác kiến thức lịch sử dễ tiếp nhận đối với học sinh, các em dường như được tham
dự, chứng kiến lịch sử quá khứ Đây là việc phát huy trí tưởng tượng tái tạo chohọc sinh, rất cần cho việc học tập lịch sử bởi nếu không hình dung quá khứkhách quan thì không thể hiểu bản chất lịch sử, dễ rơi vào tình trạng “hiện đạihóa” lịch sử Do đó việc sử dụng tài liệu văn học trong bài giảng của giáo viên làmột việc làm thiết thực, một yêu cầu bức thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy họclịch sử ở trường phổ thông hiện nay
2.2 Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử giúp học sinh nắm kiếnthức lịch sử sâu sắc, toàn diện hơn, đặc biệt các em có sự liên hệ, tích hợp kiếnthức giữa các môn học, tránh được tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của
Trang 11học sinh, tính hệ thống của các tri thức đó sẽ giúp học sinh hiểu sự kiện, có khảnăng phân tích sự kiện, tìm ra bản chất, qui luật phát triển của lịch sử Tuy nhiênkhông phải cứ đưa tài liệu văn học, địa lí vào bài giảng lịch sử là giáo viên đã đạthiệu quả dạy học như trên mà việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sửphải tuân thủ theo những nguyên tắc dạy học nói chung và yêu cầu cụ thể sau đây.Tài liệu văn học phải phù hợp với nội dung bài giảng và trình độ nhận thứccủa học sinh.
Tài liệu văn học phải đảm bảo tính tiêu biểu, điển hình
Lựa chọn các biện pháp thích hợp để sử dụng tài liệu văn học
Tài liệu văn học, sử dụng trong sự kết hợp giữa các phương pháp, các loại tàiliệu khác nhau
Tài liệu văn học đảm bảo tính khoa học và tính tư tưởng
2.3 Phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
2.3.1 Vận dụng kiến thức văn học trong kể chuyện lịch sử
Trong dạy học lịch sử, giáo viên có thể sử dụng những câu chuyện trong vănhọc để xây dựng những mẩu chuyện về sự kiện lịch sử Những mẩu chuyện lịch sửluôn cuốn hút học sinh, với ngữ điệu và các thao tác sư phạm phù hợp, giáo viênkhi kể một câu chuyện lịch sử không những khiến học sinh dễ nhớ và nhớ lâu sựkiện mà tâm hồn, trái tim các em cũng sẽ thực sự rung cảm
Chẳng hạn khi dạy bài 21: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranhchống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 – 1965)”, mục I.Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 vềĐông Dương, giáo viên có thể xây dựng đoạn kể chuyện về Ngô Đình Diệm đểgiúp học sinh thấy được nguồn gốc tội ác mà Diệm đã gây ra cho nhân dân miềnNam, hiểu được bản chất của chế độ thực dân mới, căm thù chế độ Mĩ - Diệm và
có thái độ bất bình với những hành động phi nhân tính của chúng
“Ngô Đình Diệm quê ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Thuở nhỏ học tại Huế Năm 1918 học trường Hậu Bổ Tốt nghiệp và bắt đầu làm quan từ năm 1920 tại Thừa Thiên Huế, Quảng Trị Năm 1945, bị Nhật loại không cho làm thủ tướng chính phủ thân Nhật Sau cách mạng tháng Tám, Diệm bị lực lượng cách mạng tạm giữ một thời gian rồi được phóng thích về sống ẩn ở Đà Lạt với em là Ngô Đình Nhu Năm 1950, Diệm sang Mĩ sống tại các chủng viện lớn ở
Mĩ và học đại học Michêgan Hoa Kì Năm 1954, được Bảo Đại mời làm thủ tướng – do Mĩ chỉ đạo thay Bửu Lộc Sau khi cầm quyền năm 1955 đã lật đổ Bảo Đại.
Từ đó Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với cách mạng Việt Nam, ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ và ý đồ chia cắt đất nước Được nuôi dưỡng từ thế lực ngoại bang, qua bàn tay trùm gián điệp hồng y Spellman, y và gia đình là tiêu biểu cho tầng lớp tư sản, đại địa chủ đội lốt thiên chúa giáo, có nhiều nợ máu với nhân dân
Trang 12và mang ý thức phục thù Do đó để duy trì chính quyền, Ngô Đình Diệm đã thi hành nhiều chính sách và biện pháp đi ngược lại truyền thống dân tộc
Ngay khi được Mĩ đưa về làm thủ tướng rồi làm tổng thống bù nhìn, Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “gia đình trị” gồm 4 anh em ruột: Ngô Đình Thục (giám mục), Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và Trần Lệ Xuân (vợ Nhu) với các nhân vật trong gia đình thông gia (Trần Văn Trương) cùng các thế lực đàn áp nhân dân và các lực lượng đối kháng, coi “sự nghiệp truyền đạo là thành lũy chống cộng sản” Trong thời gian cầm quyền, Diệm thực hiện nhiều chính sách chống Phật giáo, âm mưu đưa Thiên chúa giáo lên vị trí Quốc đạo và sử dụng tôn giáo này là công cụ đắc lực để phá hoại phong trào cách mạng miền Nam Thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp lực lượng cách mạng Ngày 2/11/1963, anh em Ngô Đình Diệm bị các thế lực khác do Mĩ dàn dựng và tổ chức giết chết trong cuộc đảo chính”.
Hay khi dạy mục III – Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn
và phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi (1954 – 1960), khi nói vềchính sách tố cộng, diệt cộng của chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt
Nam, giáo viên có thể sử dụng mẩu chuyện trong tác phẩm: “Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh”, tập 2 Nxb Lao Động; để kể chuyện về tấm gươnganh hùng Trần Thị Lý:
“Chị Trần Thị Lý tức là Trần Thị Nhậm, bí danh Bích Ngọc quê ở tỉnh Quảng Nam – mảnh đất mang truyền thống “Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mĩ”.
Tháng 1 năm 1955, chị Lý nhận nhiệm vụ mới, phụ trách đường dây hoạt động bí mật của tỉnh tại Đà Nẵng Thời gian này địch kiểm soát gắt gao Chính quyền Diệm lê máy chém đi khắp nơi với chính sách “tố cộng, diệt cộng”, dùng mọi thủ đoạn đánh phá tràn lan, đánh vào các vùng trọng điểm, chà xát nhiều lần trên khu vực Mặc dù bị địch kiểm soát gắt gao nhưng Lý vẫn kiên trì bền bỉ, ban ngày nằm hầm hoặc rút ra ngoài đồng, ngoài khu vực lùng sục của địch, đêm đêm trở về bám dân, gây cơ sở cách mạng
Bước vào năm 1957, chính quyền Diệm ban hành đạo luật “đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” Không khí khủng bố, giết chóc bao trùm khắp nông thôn, thành thị Bọn phản động hoành hành khắp nơi, dồn dân đến nghẹt thở Chị Lý trong lúc đang làm nhiệm vụ đã bị giặc bắt Chúng tra tấn chị dã man, chúng dùng dao sắc rạch người chị theo đường ô quả trám, toàn thân thể chị nhuộm một màu máu đỏ Đâu chỉ có vậy, chúng còn dùng mọi phương tiện, kỹ thuật của chiến tranh tàn ác: “điệt giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” hòng làm nhụt ý chí của chị Hai vai chị tím bầm, dập nát, đôi chân bị thương nặng, những vết dao cắt, lửa nung dâm vào vùng bùng thành những hố sâu hoắm Trên cơ thể mảnh dẻ của
Trang 13người con gái xứ Quảng ấy đầm đìa máu với hơn 50 vết thương trên người Nhưng ở chị dường như có một nghị lực phi thường, chị chịu đựng bao nhiêu cực hình đó không một tiếng thở than rên xiết Chị quên đi cái đau đớn để giữ vững bảo toàn bí mật cho cách mạng Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, địch cho rằng chị không thể sống được nữa nên đem vứt chị ngoài nhà lao Trần Thị Lý được cơ sở đưa về nhà chăm sóc, sau đó được đưa ra khỏi Gò Nổi và được tổ chức đưa ra miền Bắc chữa trị các vết thương Trong những năm tháng chị điều trị tại Bệnh viện Việt Xô, nhà thơ Tố Hữu đã viết tặng chị bài thơ
“Người con gái Việt Nam” để tôn vinh sự kiên trinh, bất khuất của chị:
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, là mây hay là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng ?”
“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi em đã sống ! Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung Không giết được em, người con gái anh hùng !”
“ Từ cõi chết, em trở về, chói lọi Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.”
(Trích “Người con gái Việt Nam – Tố Hữu”)
Hoặc giáo viên có thể sử dụng Báo cáo của ông Tôn Quang Phiệt về vụ thảmsát ở nhà giam Phú Lợi (01-12-1958) để kể chuyện cho học sinh, giúp học sinhhiểu rõ hơn về chính sách khủng bố của Mĩ – Diệm ở miền Nam trong những năm
1957 – 1959:
“Trại tập trung Phú Lợi thuộc tỉnh Thủ Dầu Một, cách Sài Gòn 33 cây số ở một vùng rừng hẻo lánh Trại rộng 120 mẫu tây, xung quanh có tường cao 3 thước Có một hệ thống đồn bốt gồm 12 tháp canh với một tiểu đoàn bảo an vũ trang đầy đủ và mật thám, cảnh sát bao vây xung quanh.
Hôm đó như thường lệ, đến bữa ăn anh chị em cùng nhau ra ăn cơm Nhưng vừa ăn xong thì ai nấy đều ôm bụng kêu la, nằm xuống dẫy dụa, có người thể chất yếu hoặc trúng độc mạnh thì chết lịm ngay
Cảm biết là nhà cầm quyền miền Nam bỏ thuốc độc, cả trại náo động kêu la
ầm ỹ đòi bọn chúng mở cửa nhà giam cứu chữa Nhưng bọn cai ngục đã được chỉ thị ra lệnh cho lính khóa chặt các cửa nhà giam, đồng thời bủa lính bao vây trại, canh giữ nghiêm ngặt các ngả đường ra vào.
Một số ít anh chị em đã cố đu người lên xà nhà dỡ nóc nhà trèo lên kêu cứu, đòi chính quyền miền Nam phải đem thuốc men cứu chữa Nhưng bọn Mỹ - Diệm
Trang 14đã cho lính bắn xả vào giết chết một số.
Tính ra chỉ trong ngày 1-12, hơn 1.000 anh chị em đã bị chết rất thê thảm.
Số còn lại thì nằm mê man bất tỉnh Trong lúc anh chị em trong các trại giam kêu
la ầm ĩ thì đồng bào xung quanh dò hỏi biết tin rất kinh hoàng và căm phẫn, nhiều người kéo nhau tản cư về phía Sài Gòn, Chợ Lớn.
Đến ngày 2-12 thêm một số anh chị em nữa bị chết Hơn 4.000 anh chị em còn lại đã nhất tề tuyệt thực đấu tranh đòi Mỹ - Diệm phải cứu chữa những người còn lại Nhiều anh em cố gượng leo lên dỡ nóc nhà kêu cứu Tiếng la thét vang dậy cả khu trại.
Bọn Mỹ - Diệm lập tức điều động thêm về Phú Lợi một trung đoàn bộ binh bao vây chặt chẽ trại tập trung, lùng khắp các xóm làng lân cận, hạ lệnh giới nghiêm, cấm nhân dân tụ họp bàn tán.
Chúng lại cho xe vòi rồng đến phun nước đàn áp cuộc đấu tranh Từ sân tập bắn, hàng loạt súng liên thanh nổ dồn vào phía các nhà giam Anh chị em đã yếu sức bị chết thêm một số, có anh chị em bị nước phun ngã từ trên xà nhà xuống gẫy tay chân hay vỡ sọ mà chết lập tức.
Bọn Mỹ - Diệm muốn làm cho phi tang đã đưa dầu xăng phun vào trại và ném bùi nhùi đốt Có một nhà giam bốc cháy, một số anh chị em còn sống bị chết thiêu Nhiều xác chết từ hôm 1-12 đã bị cháy tiêu.
Đồng bào xung quanh châu thành rất căm phẫn Mỹ - Diệm và thương xót cho các nạn nhân, đã mua thuốc men kéo đến đòi được giúp đỡ những người bị nạn Các gia đình có thân nhân bị giam giữ rất là xao xuyến đã đòi các báo chí Sài Gòn cho biết tin tức Nhưng bọn Mỹ - Diệm cố tình bưng bít không cho các báo đả động đến việc này.
Muốn đánh lừa dư luận bọn Mỹ - Diệm cho tung tin là ở Bình Dương có bệnh ôn dịch, tù nhân bị bệnh mà chết.
Nhưng ai cũng biết là nói láo, vì sau khi vụ này xảy ra, người ta đã đem cơm cho chó ăn thì chó chết, bỏ cho cá ăn thì cá chết Cuối cùng chính quyền miền Nam lại tung tin là các tù nhân uống thuốc độc tự tử để đánh lừa dư luận Nói láo nữa! đồng bào chúng ta ở miền Nam là những người yêu nước đã có một truyền thống anh dũng bất khuất, dẫu bị khổ sở dưới sự khủng bố của Mỹ - Diệm vẫn đấu tranh để sống, để đuổi Mỹ - Diệm ra khỏi miền Nam, để thống nhất nước nhà, không khi nào có cái tư tưởng tự sát Luận điệu Mỹ - Diệm nhất định không lừa dối được ai, không lừa dối được nhân dân ta, không lừa dối được dư luận thế giới”.
Dạy về diễn biến phong trào Đồng Khởi (1959-1960), giáo viên có thể sửdụng truyện ngắn Rừng xà nu của tác giả Nguyễn Trung Thành để kể chuyện vềcuộc đấu tranh của nhân dân ngôi làng của người Giẻ Triêng có tên là làng Xốp
Trang 15Nghét của xãXốp, huyện Đăk Glei, tỉnhKon Tum để giúp cho học sinh về cuộcsống, chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên kháng chiến chống đế quốc
Mĩ xâm lược:
“Hồi ấy, bị bọn Mỹ – ngụy tàn ác tấn công, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho Quyết, rồi được Quyết dạy chữ.
Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị phục bắt,
bị tra tấn nhưng anh không khai Ở tù 3 năm, Tnú vượt ngục, trở về làng thay anh Quyết chỉ huy buôn làng chuẩn bị vũ khí chiến đấu và cưới Mai.
Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai lũ chó săn nguỵ quân Cộng hoà Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp Cụ Mết, Tnú cùng thanh niên lánh vào rừng Không bắt được Tnú, địch bắt Mai cùng với đứa con nhỏ chưa đầy tháng.
Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị nguỵ quân đánh đập Sôi sục căm thù, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ nhưng rồi Mai cũng chết, đứa con cũng chết anh cũng bị bắt Địch tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay Tnú trước mặt dân làng Tnú chịu đựng không kêu la Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay, Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi Răng anh cắn nát môi anh rồi Anh không kêu lên Tnú không thèm kêu van, người cộng sản không thèm kêu van.
Tnú thét lên một tiếng Tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn Dân làng đồng thanh “giết”, nhất tề nổi dậy Dục và quân địch
đã bị cụ Mết và thanh niên tiêu diệt sạch Làng Xô Man giành phần thắng Tnú gia nhập bộ đội giải phóng miền Nam …”
Khi dạy bài 21, mục V.1 Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở miền
Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”” của Mĩ, giáo viên có thể
sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Những mẩu chuyện lịch sử” Nxb Giáo dục để
kể câu chuyện về “Con quái vật M.113” giúp học sinh hiểu sâu sắc về các chiếnthuật mới: “trực thăng vận”, “thiết xa vận” mà Mĩ sử dụng trong chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam:
“Đã từ lâu, vùng Đồng Tháp Mười như một mũi đinh nhọn chĩa vào mắt bọn xâm lược Chúng rất cay vì bình định vùng này mà không làm nổi Kể cả khá nhiều trận, Mĩ – Diệm tấn công bào khu vực sình lầy song lần nào cũng hậm hực thua đau Chúng bàn nhau: “chiến thuật trực thăng vận” không thể áp dụng ở vùng đầm lầy rậm rạp mênh mông này được vì không có chỗ cho máy bay hạ cánh
đổ quân mà dùng chiến thuật nhảy dù càng nguy hiểm Phải tìm ra một thứ vũ khí
gì mới có thể vùng vẫy trên bùn nước.
Cho đến ngày 4/6/1962, theo hãng A.P, đế quốc Mĩ đã sáng chế ra một thứ
Trang 16vũ kí mới toanh rất lợi hại đưa sang Việt Nam để tấn công vùng Đồng Tháp Mười.
Đó là loại xe bọc thép lội nước mà bọn Hakin đặt cho một cái tên khá hấp dẫn
“Thiết vận xa M.113” Theo miêu tả thì loại xe này vừa chạy rất nhanh ở trên ruộng khô, lại có thể lặn ngụp trong bùn nước, ao đầm Mỗi xe, trang bị đầy đủ có thể trở nặng hàng mấy tấn, trên nóc đặt một khẩu trọng liên 50 ly, đằng trước có một tấm khiên bằng kim loại rất dày có thể chịu được sức công phá của đạn súng
cỡ 50 và 75 ly Đặc biệt loại xe M.113 còn được trang bị tia hồng ngoại có thể chiếu sáng ban đêm với tầm phóng khá xa, phát hiện được mọi chướng ngại vật ngang đường.
Tên đại úy Mĩ W Bơ-ric-kơ, cố vấn của đại đội thiết xa vận M.113 đã phỉnh phờ bọn lính: “binh sĩ hành quân được ngồi trong thiết xa vận M.113 thì sẽ được bảo đảm yên trí như ngồi trong hầm phòng ngự boong ke rất vững chãi Có thể nói chắc chắn rằng, loại xe này có thể giúp cho binh sĩ hoạt động với một niềm tin mới và một tính chiến đấu mới Ngoài tác dụng xung kích, loại M.113 này còn có một giá trị tâm lí đặc biệt vì nó sẽ làm cho du kích việt cộng khiếp hãi khi nhìn thấy “con quái vật bằng thép” này bất ngờ xuất hiện và gầm rú trên đồng ruộng, kênh rạch”.
Khi dạy bài 21, mục V.2 Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” của Mĩ, sau khi giáo viên tường thuật xong các thắng lợi của ta, để nhấn
mạnh hơn sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng miền Nam, giáo viên cóthể sử dụng đoạn trích về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong sách “Những mẩuchuyện lịch sử” của Nxb Giáo dục để xây dựng bài kể chuyện cho học sinh về tấmgương hy sinh của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi:
“Nguyễn Văn Trỗi quê ở xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Gia đình nghèo, mẹ mất sớm, bố đi làm xa, anh sớm có ý thức tự lập, năm 15 tuổi
đã ra Đà Nẵng, rồi vào Sài Gòn tìm việc, lúc đầu làm nghề đạp xe xích lô, sau xin vào học nghề thợ điện.
Anh sớm giác ngộ cách mạng Trong những năm 1963 – 1964, phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống đế quốc Mĩ và bọn bù nhìn tay sau phát triển rất mạnh, chính phủ Mĩ phải cử nhiều phái đoàn quân sự cao cấp sang miền Nam Việt Nam xem xét tình hình tìm cách đối phó
Các chiến sĩ biệt động nội thành khẩn trương triển khai các trận đánh địch Anh Trỗi mới lập gia đình nên tổ chức muốn giành cho anh một thời gian nghỉ ngơi và thu xếp việc nhà nhưng anh đã xung phong nhận nhiệm vụ đặc biệt: đặt mìn tại cầu Công Lí để giết tên Mác Na-ma-ra, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mĩ, khi
xe của hắn đi qua, Anh đã bị kẻ thù bắt lúc đang thi hành nhiệm vụ (9-5-1964) Giặc Mĩ và tay sau dùng mọi thủ đoạn dã man, thâm độc, từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn, khủng bố đề hòng anh khai ra các cơ quan bí mất của ta trong
Trang 17nội thành Nhưng trước sau anh chỉ nhận có một mình mưu giết Mác Na-ma-ra Anh lớn tiếng khẳng định: “còn giặc Mĩ trên đất nước Việt Nam thì không ai có hạnh phúc nổi cả!”.
Cuối cùng, chúng đưa anh ra pháp trường Thái độ hiên ngang của anh trước mũi súng quân thù đã làm cho chính bọn chúng khiếp đảm, run sợ, còn nhân dân
và nước và nhân dân tiến bộ thế giới đều kính phục, ngưỡng mộ Những người du kích Vê-nê-xuê-la đã bắt cóc một tên Đại tá Mĩ để đổi mạng cho anh, nhưng bọn
Mĩ lật lọng không giữ lời cam kết Chúng xử bắn anh ngày 15-10-1964 ở Sài Gòn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi trên tấm ảnh Nguyễn Văn Trỗi trên pháp trường như sau: Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mĩ đến hơi thở cuối cùng Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi
là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.
Nhà thơ Tố Hữu đã có những vần thơ ca ngợi chiến công của người anh hùng yêu nước ấy trong bài thơ: “Hãy nhớ lấy lời tôi”
Có những phút giây làm nên lịch sử
Có cái chết hoá thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có những con người như chân lý sinh ra
Nguyễn Văn Trỗi Anh đã chết rồi Anh còn sống mãi
Phút giây thiêng anh gọi bác ba lần Súng đã nổ, mười viên đạn Mĩ Anh gục xuống Không! anh thẳng dậy Anh vẫn còn hô: Việt Nam muôn năm:!
Máu tim anh nhuộm đỏ đất anh nằm”.
Khi dạy về phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam trong đấutranh chống “Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ, giáo viên có thể sử dụng
tư liệu trong tác phẩm “Chuyện kể về các nữ anh hùng thời đại Hồ Chí Minh”, BáoQuân đội nhân dân (2004) kể chuyện về Nữ anh hùng Út Tịch – Người mẹ cầmsúng để khắc sâu cho học sinh hình tượng và vai trò của người phụ nữ - “đội quântóc dài” trong đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ:
“Chị Nguyễn Út Tịch sinh năm 1920, quê ở xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kẻ, tỉnh Trà Vinh Xuất thân trong một gia đình cố nông, ngay từ nhỏ chị đã đi ở đợ cho địa chủ, chịu biết bao cay đắng, áp bức của đế quốc, phong kiến Khi lấy chồng,
cả hai vợ chồng chị vẫn phải đi ở đợ cho đến ngày cách mạng tháng Tám thành công Hai vợ chồng chị hăng hái tham gia cách mạng từ năm 1945.
Trang 18Vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, tuy đã 6 con nhưng chị Út Tịch vẫn đánh giặc rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình Khi có thai 8 tháng vẫn chỉ huy
du kích đánh hai đồn giặc Trong một trận địch càn vào xã, lúc đó Út Tịch vừa sinh con được hai tháng nhưng khi nghe tiếng súng, chị vội ôm con giấu dưới hầm
bí mật sau vườn, rồi tay cầm súng, vai vác xẻng, men theo chiến hào, chị chảy tất tưởi về phía có tiếng súng nổ
Chị bò đến một mô đất cao, đào ngay công sự rồi giương súng nhả đạn về phía địch Khi giáp trận, chị nhanh như con sóc, chạy hết nơi này đến nơi khác, lợi dụng địa hình, nổ súng giết giặc
Vừa phát hiện một tên giặc đang trút đạn vào ấp, chị lặng lẽ luồn ra phía sau, nhằm đúng đầu nó bóp cò Súng địch câm họng Trong khi cố trườn lên bờ đê lấy súng địch, do sức yếu bị trượt chân ngã lăn xuống ruộng ngất xỉu, tỉnh dậy chị lại tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc.
Người con gái miền Nam anh hùng, Nguyễn Thị Út mưu tài dũng lược, đảm đang được nhà nước tặng thưởng huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và danh hiệu cao quý, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (8/5/1965).
Hay giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Vụ ám sát Ngô
Đình Diệm và J.F Kennedy”, Nxb Công an nhân dân, 2003 (tr.61-63) để kể
chuyện về vụ Dương Văn Minh đảo chính giết anh em Diệm – Nhu, mở đầu chocuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Sài Gòn:
“ Vào lúc 1 giờ chiều ngày 1-11-1963, cuộc lật đổ bằng quân sự, cuộc đảo chính chống chính quyền Diệm do tướng Việt Nam Dương Văn Minh (biệt danh là Minh Lớn) cầm đầu Để phòng ngừa, Minh Lớn ra lệnh giết một tướng chỉ huy hải quân thân Diệm rất có thế lực và nhiều chỉ huy đặc biệt Nam Việt Nam ngay trước khi cuộc đảo chính chính thức xảy ra, bóp chết mọi ý đồ tập hợp lại lực lượng và rồi giao tranh bắt đầu bằng cuộc tấn công chớp nhoáng vào các trung tâm truyền tin, các đài phát thanh, Sở cảnh sát và Dinh Tổng thống lộng lẫy của Diệm Trong khi đó, các đơn vị quân đội chủ lực có thể được sử dụng để bảo vệ Diệm đã bị khôn khéo điều động ra khỏi vùng giao tranh Khi cuộc nổi dậy bắt đầu, Lodge liền được tổ đặc trách CIA thông báo Khi Diệm cho gọi đích thân bị đại sứ này và yêu cầu được biết thái độ của Mĩ, Lodge đáp: “ Tôi cảm thấy không đủ thông tin để có thể trả lời ngài”.
- Sao ông đại sứ lại có thể trả lời người đứng đầu một nước đồng minh như thế?
- Lodge cho rằng ông không biết gì về lập trường của chính phủ ông! Diệm gác điện thoại.
Cuộc đảo chính diễn tiến như một bộ máy đồng hồ Khi đụng độ dữ dội nổ ra tại Dinh Tổng thống, Diệm và Nhu tìm cách tẩu thoát qua một đường hầm ngầm,
Trang 19sau đó được một người bạn ở Chợ Lớn che dấu (Chợ Lớn là nơi Nhu có nhiều người quen thông qua một mạng lưới thuốc phiện) Thật thú vị để nói thêm ở đây, như một chi tiết bổ sung cho bản chất của Diệm, Nhu, rằng các lực lượng bảo vệ trung thành của Tổng thống trong dinh tiếp tục chiến đấu thêm nhiều tiếng đồng
hồ nữa và hi sinh mà không hay biết rằng vị Tổng thống mà họ đang chiến đấu bảo vệ đã bỏ chạy từ lâu
Khi đã đến được chỗ an toàn cách xa dinh, lẽ ra Diệm có thể gọi một cú điện thoại theo cách không thể truy ra người gọi để khuyên các lực lượng bảo vệ của mình trong dinh đầu hàng phe đảo chính để giữ mạng sống Nhưng Diệm không làm thế, ông ta quyết định để cho họ chết.
Nhưng chính Diệm cuối cùng cũng phải đầu hàng – vì quá ít lựa chọn – và cuộc giao tranh chấm dứt Sau một hồi mặc cả, Diệm đồng ý tiết lộ chỗ trốn của mình và công khai đầu hàng Minh Lớn và các tướng lĩnh của ông nếu như họ hứa
để cho Diệm và Nhu an toàn chạy ra nước ngoài Minh đồng ý.
Lúc đó Diệm cho ông biết ông và Nhu đang lẩn trốn trong một nhà thờ công giáo ở Chợ Lớn, và ông đảm bảo rằng họ sẽ chờ quân của ông Minh tới bắt đưa
về tổng hành dinh để ông chính thức thoái vị Minh phái các vệ sĩ của ông và một trung đội quân ra đi thi hành lệnh bắt Diệm Khi họ đến nhà thờ, Diệm và Nhu hòa dịu nộp mình Sau đó hai ông được hộ tống ra khỏi nhà thờ và đưa vào trong một chiếc xe bọc thép
Ngay khi cánh cửa chiếc xe bọc thép vừa đóng lại, Diệm và Nhu liền bị đánh đập, trói gô bốn vó, rồi bị bắn cho tới chết”.
Khi dạy về việc chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miềnNam, giáo viên có thể kết hợp kể chuyện về 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc, dựa trêntác phẩm cùng tên của tác giả Nghiêm Văn Tân:
“Tiểu đội 4 thuộc Đại đội 552, Tổng đội Thanh niên xung phong 55 Hà Tĩnh gồm 10 cô gái còn rất trẻ tuổi từ 17 đến 24 do chị Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng
là đơn vị làm việc thường trực tại Ngã ba Đồng Lộc, chịu trách nhiệm san lấp bom
ở đoạn đường này để không đứt mạch giao thông nối hậu phương với tiền tuyến Bình thường tiểu đội hoạt động về đêm để lấp hố bom mà máy bay đã bắn phá vào ban ngày Sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy tết mậu thân năm 1968, ngã ba Đồng Lộc đã trở thành mạch máu giao thông quan trọng, nối liền hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn Miền Nam Đế quốc Mỹ biết được điều đó nên đã tìm mọi cách cắt đứt con đường này Thế nhưng những cô gái thanh niên xung phong đã dũng cảm xả thân quên mình, quyết “sống bám cầu, bám đường” Họ đã luôn chiến đấu với khẩu hiệu “máu có thể chảy, tim có thể ngừng nhưng mạch máu giao thông không bao giờ tắt” Mưa bom bão đạn không thể làm khuất phục ý chí chiến đấu của họ
Trang 20…Hôm đó, 10 cô gái ra đến hiện trường đã nhanh chóng triển khai công việc, người đào, người xúc, hồ hởi làm việc, vừa làm vừa chuyện trò trêu đùa nhau Bỗng có một tốp máy bay vượt qua trọng điểm Tất cả chị em nhanh chóng nép mình vào triền đồi, nơi thành hố bom cũ tạo nên một cái rãnh lớn Tốp đi sau của tiểu đội 5 cũng dừng lại quan sát Một lúc sau, hết tiếng máy bay cả tiểu đội tiếp tục đứng dậy làm việc Bất ngờ, một trong tốp chiếc máy bay lúc nãy quay lại, thả một loạt bom Một quả bom rơi trúng trước cửa hầm các chị đang còn trú ẩn Tiếng nổ chát chúa, đất đá tung toé, khói bom mù mịt, đen ngòm trùm lên cả đội hình 10 cô.
Tốp thanh niên xung phong tiểu đội 5 đi sau chạy ào đến gào thét, bộ đội, nhân dân ở gần đó cũng lao ra gọi tên từng người Đến nơi, chỉ còn thấy hố bom sâu hoắm, một vài chiếc cuốc, xẻnh văng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người Cả 10 cô gái thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh Suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, đồng đội đã đào bới, tìm kiếm thi thể các chị, đem về tắm rửa sạch sẽ Tất cả đều như đang vừa đi vào giấc ngủ dài Đồng đội đã đặt các chị vào khu đồi Bãi Dịa với lòng xót thương vô hạn.
Riêng chị Hồ Thị Cúc, mãi sang ngày thứ 3 đồng đội mới tìm thấy chị cũng
ở trong căn hầm đó, do đất đá vùi sâu quá nên đồng đội không tìm ra nổi Lúc tìm thấy chị trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị bầm tím vì đang bới đất để tìm đường ra….”
Khi dạy cho học sinh thành tựu của nhân dân miền Bắc trong chiến đấuchống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mĩ (1964 – 1968), giáo viên
có thể sử dụng tư liệu trong tác phẩm “Những mẩu chuyện lịch sử” của Nxb Giáodục để kể chuyện về anh hùng Nguyễn Viết Xuân nhằm khắc họa cho học sinh vềtấm gương chiến đấu, hi sinh của các chiến sĩ lực lượng phòng không, khôngquân, thể hiện sáng ngời chân lí: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đồng thờithể hiện sức mạnh của một dân tộc giàu truyền thống cần cù, sáng tạo, chiến đấudũng cảm, lập nhiều thành tích trong chiến đấu:
“Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1964, sinh ra trong một gia đình cố nông ở xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày 18/11/1964, nhiều tốp máy bay Mĩ đến bắn phá vùng Chả Lò thuộc miền Tây tỉnh Quảng Bình Ngay đợt đầu, 3 chiếc F.100 bất ngờ lao vào trận địa của đại đội, lúc đó là 10h43 phút Khẩu đội trưởng khẩu đội 3 Nguyễn Duy Dĩnh
hô lớn: “Bắn!” Loạt đạn xé không khí, đón lấy chiếc đi đầu Bọn địch đổi hướng
và tập trung công kích vào khẩu đội 3 Cả trận địa nổ súng giòn giã đánh trả lũ máy bay địch Một chiếc F.100 bốc cháy lao xuống phía núi nhưng một chiếc khác
đã phóng một loạt tên lửa về phía khẩu đội 3 Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự đứng bên khẩu đội hô lớn:”Nhằm thẳng quân thù,
Trang 21bắn!” Lưới lửa của đại đội vây lấy lũ máy bay Mĩ và một chiếc nữa lại phải đền tội Đợt chiến đấu lần thứ nhất kết thúc vào lúc 11h 4 phút, đồng chí đi khắp các khẩu đội để nắm tình hình
Bọn địch lại ập đến bắn phá điên cuồng, bắn phá trận địa đại đội Không may đồng chí Xuân bị một viên đạn xiết vào đùi làm cho một chân bị giập nát Máu chảy xối xả Xuân nghiến răng không kêu một tiếng Chiến sĩ Tình quay lại thấy chính trị viên bị thương, lửa căm thù bốc lên ngùn ngụt Anh định thét vang lên ngay giữa trận địa để báo tin cho tất cả đơn vị biết nhưng chính trị viên Xuân
đã ra lệnh cho Tình giữ im lặng Đồng chí Xuân nói:
- Đồng chí không được cho ai biết tôi bị thương Đồng chí hãy giúp tôi truyền lênh chiến đấu
- Tình gọi y tá Nhu Thấy máu Xuân ra nhiều, y tá Nhu thương đến chảy nước mắt nhưng Xuân vẫn bình tĩnh bảo:
- Đi băng cho những anh em bị thương đi đã.
Y tá Nhu không nghe lời Xuân nói, vội kéo chân của Xuân để băng Xuân bảo: Cậu cắt chân cho mình để khỏi vướng.
Nhu chần chừ không muốn cắt nhưng Xuân lại bảo:
- Cắt đi…và giấu cái chân vào chỗ kín hộ tôi.
Vì thiếu thuốc tê và dụng cụ, máu ra nhiều, chân nhức buốt nhưng Nguyễn Viết Xuân vẫn cắn chặt chiếc khăn không bật ra một tiếng nào Các khẩu đội biết Xuân bị thương, lòng căm thù sôi lên Những viên đạn xé đỏ không khí vút lên đón lấy đầu máy bay địch Một chiếc F.100 bị trúng đạn, bốc cháy Nó như con thú bị chém ngang cổ, nhào đi hai vòng rồi mang theo khối lửa trên mình rơi chếch về hướng Nam Hai chiếc còn lại hốt hoảng trước những làn đạn dày đặc của quân
ta không dám xà xuống thấp nữa Chúng trút từ trên cao loạt đạn cuối cùng và bỏ chạy.
Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân đã hy sinh nhưng hình ảnh người bí thư chi
bộ tận tụy, gương mẫu trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, có lòng yêu thương đồng đội và nhân dân sâu sắc vẫn hiện rõ trong tâm trí các cán bộ, chiến
sĩ và nhân dân ta “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”, khẩu lệnh của anh đã trở thành bất diệt Đó là khẩu lệnh mang tinh thần quyết thắng giặc Mĩ xâm lược của Đảng, của quân đội ta và nhân dân ta, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam”.
Khi dạy bài 22 mục IV 2 Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh pháhoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, khi nhấn mạnh thành tích củanhân dân miền Bắc trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần hai,đặc biệt là thắng lợi trong trận: “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân miềnBắc, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trên báo Quân đội nhân dân năm 1973:
“Say mê rèn luyện, dũng cảm chiến đấu như anh hùng Phạm Tuân” để kể chuyện
Trang 22về anh hùng Phạm Tuân:
“Phạm Tuân sinh năm 1947, quê xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Nhập ngũ năm 1965, khi được tuyên dương anh hùng đồng chí là Thượng úy, trung đội trưởng đại đội 5 máy bay tiêm kích Mic 21, trung đoàn 92,
sư đoàn 371, Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian từ 18 đến 29/12/1972, may bay Mĩ đánh phá miền Bắc dữ dội Phạm Tuân xung phong trực chiến liên tục và chủ động xin được cất cánh đánh máy bay của địch
Đêm 18/12/1972, khi được lệnh cất cánh, mặc cho máy bay địch đánh phá sân bay, đồng chí nhanh chóng vận động qua hố bom, đến nơi để máy bay và lập tức cất cánh
Phát hiện máy bay đồng chí bay lên, địch phóng tên lửa tới, anh bình tĩnh tránh tên lửa địch đến khu vực chiến đấu kịp thời.
Đêm 27/12, nhiều tốp B52 từ Tây Bắc bay vào bắn phá Hà Nội Được lệnh cất cánh, phạm Tuân lập tức điều khiển máy bay tiếp cận khu vực có máy bay địch Anh dũng cảm xông thẳng vào tốp B52, bắn hai quả tên lửa, hạ tại chỗ một chiếc Sau đó nhanh chóng vượt khỏi tốp máy bay yểm trợ của địch về hạ cánh an toàn Hành động của anh được nhân dân và đồng đội mến phục, quân thù khiếp
sợ
Phạm Tuân luôn chịu khó nghiên cứu, học tập, lái thành thạo 2 loại máy bay Mic 17 và Mic 21 trong mọi điều kiện thời tiết, giúp anh em lái mới nhanh chóng cất cánh chiến đấu được Đơn vị do anh phụ trách ngày càng tiến bộ Anh luôn gương mẫu chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh chiến đấu, khiêm tốn giản dị, được mọi người tin yêu.
Đồng chí Phạm Tuân được tặng thưởng 1 huân chương Quân công hạng ba
và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Khi dạy bài 23, Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở Miền Bắc, giải
phóng hoàn toàn miền Nam (1973 – 1975), khi dạy về diễn biến của chiến dịch Hồ
Chí Minh, giáo viên có thể kết hợp sử dụng tư liệu trong tác phẩm “Chiến dịch Hồ
Chí Minh qua hồi ức các tư lệnh và chính ủy”, Nxb Quân đội nhân dân, để kể
chuyện lịch sử cho học sinh Về việc đánh chiếm Dinh Độc Lập đồng chí PhạmXuân Thệ, Trung đoàn phó trung đoàn 66, sư đoàn 304 đã kể lại như sau:
“Tiêu diệt xong mấy xe tăng của địch, tăng của Lữ đoàn 203 lao vút ngay qua cầu Sài Gòn Trên mỗi xe tăng của ta đều có một tiểu đội bộ binh của Tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 Anh em đặc công cũng bám vào xe tăng, thẳng tiến Tôi đi trên chiếc xe thép lấy được của địch ở Đà Nẵng, sau mấy chiếc xe tăng đi đầu xe nào cũng cắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh bay phần phật trước gió… Theo sự phân
Trang 23công của trung đoàn trưởng, tôi đi cùng Tiểu đoàn 7 vào chiếm Dinh Độc Lập Lính dù đứng trước Dinh Độc Lập, chúng đều mang súng nhưng không có hành động chống cự gì Anh em ta cũng chỉ bắn chỉ thiên Xe tăng thứ nhất của ta tiến vòng sang phía trái Dinh Độc Lập, xe tăng thứ hai mang biển hiệu 843 tiến thẳng vào dinh, húc đổ cổng Bọn lính dù dạt vào góc trái sân ở trước dinh Các xe khác lần lượt vây quanh Dinh Độc Lập Bộ binh, đặc công nhảy xuống, chiếm lĩnh các
vị trí cao, vị chí chiến đấu thuận lợi
- Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh đưa đồng chí Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó trung đoàn 66, sư đoàn 304 vào phòng khánh tiết, nơi đang tập trung Nội các Sài Gòn
- Dương Văn Minh cúi chào nói: Chào cấp chỉ huy Trước sức mạnh của quân giải phóng, Chúng tôi biết thế nào chúng tôi cũng thất bại Toàn bộ nội các chúng tôi đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao.
Ngừng một giây tôi nói tiếp: Bây giờ các anh chỉ có việc đầu hàng Mặt Dương Văn Minh bỗng tái đi Ông ta cúi đầu xuống, trầm ngâm Nhiều tiếng xì xào, lầm rầm trong phòng khánh tiết Vẻ buồn và thất vọng lộ rõ trên nét mặt từng người, bên ngoài nhiều tràng súng tiểu liên nổ nối tiếp nhau làm cho không khí trong phòng thêm nặng nề.
Lúc đó khoảng 9 giờ rưỡi Đồng chí Phạm Xuân Thệ nói: Dương Văn Minh ông hãy ra tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh Từ âu sầu đến ngạc nhiên và lo lắng, Dương Văn Minh trao đổi gì đó với Vũ Văn Mẫu và mấy người khác Bên ngoài, những tràng tiểu liên vẫn nổ giòn giã với tiếng reo của nhân dân: Hoan hô Quân giải phóng, Sài Gòn giải phóng muôn năm!
Dương Văn Minh đến trước tôi cúi đầu: Thưa cấp chỉ huy quân giải phóng, súng nổ nhiều lắm Đi ra ngoài bây giờ an toàn sao được Hay là
- Vẻ mặt Dương Văn Minh càng tái hơn.
- Các ông không lo Chúng tôi đảm bảo sự an toàn cho các ông -đồng chí Phạm Xuân Thệ tiếp lời Sau khoảng 30 phút từ lúc tôi vào phòng khánh tiết, Dương Văn Minh là Vũ Văn Mẫu mới chịu ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng và cũng không lâu sau, bộ đội ta từ các hướng đã tràn vào khắp các đường phố Lá
cờ nửa xanh nửa đỏ, với ngôi sao sáng ngời đã được Đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận kéo lên nóc Dinh Độc Lập Lúc ấy là 11h30 ngày 30 – 4 – 1975 Cờ bay gieo vui mang đến cho người dân thành phố lòng tự hào dân tộc và không khí trong lành của của độc lập tự do Các nhà báo nước ngoài cũng như trong nước chạy hết góc này đến góc khác, ghi lại hình ảnh giờ phút này trên đường phố Sài Gòn giải phóng”
2.3.2 Xây dựng các bài miêu tả, tường thuật
Trong quá trình dạy học lịch sử, việc miêu tả, tường thuật không chỉ để tái
Trang 24hiện nhằm khôi phục lại hình ảnh của quá khứ mà nó còn giúp học sinh nhận thứcsâu sắc sự kiện, qua đó có thể trình bày suy nghĩ, hiểu biết, tìm tòi nghiên cứu củamình Việc sử dụng phương pháp miêu tả, tường thuật giúp giáo viên thực hiệnđược nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư duy học sinh.
Chẳng hạn, khi dạy về tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau hiệp
định Giơnevơ, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Miền Nam ViệtNam từ sau Điện Biên Phủ” của tác giả Nguyễn Khắc Viện để khắc họa cho họcsinh về thực chất của chế độ Mĩ – Diệm ở miền Nam Việt Nam
“Trong tổng số 14 đến 15 tỉ đồng (tiền Việt Nam), quân đội chiếm trung bình tư năm đến sáu tỉ, bộ máy hành chính bao gồm các cơ quan cảnh sát và an ninh cũng chiếm bằng ngần ấy Hơn một tỉ được dành để làm những con đường giao thông nhằm tạo thuận lợi cho các cuộc hành quân…
Người ta thấy phần ngân sách dành cho cảnh sát và an ninh thậm trí còn vượt quá phần giành cho quân đội cùng với đà mở rộng quy mô của các cuộc hành quân đàn áp Việc xem xét ngân sách làm nổi bật lên một sự thật chính quyền Diệm chung quy chỉ là một bộ máy quân sự và cảnh sát khổng lồ, bên cạnh nó thì những cơ quan kinh tế, văn hóa, xã hội chẳng qua chỉ là những mẩu đầu thừa đuôi thẹo
Vì con số những người bị giam không giảm, Chính phủ buộc phải dành trong dự án ngân sách của năm nay, 112 triệu đồng cho các nhà tù Biết rằng, sáu triệu đồng được dành cho trường Đại học Huế, một bài tính đơn giản đủ chỉ ra rằng với số tiền dành cho các nhà tù, người ta có thể xây dựng thêm 19 trường đại học mới.
Các nhà tù được mô tả như sau:
Chúng ta hãy chọn một phòng trong số nhiều phòng giam khác trong nhà tù Gia Định có 15m chiều dài, 3,6m chiều rộng, tức là 54m 2 , trong đó chồng chất 150 người bị giam; chỉ cần làm một phép chia để thấy rằng cứ ba người một mét vuông Đấy chính là nơi những người bị giam ăn, nằm, rửa ráy và đại tiện Chậu đựng phân được đặt ở một góc phòng Ngồi xổm thì những người bị giam vừa vặn có đủ chỗ, nếu ngồi xếp bằng thì hết sức chật Ban đêm, họ phải nằm nghiêng,
co quắp người lại mới có thể ngủ Vì vậy, một phần tư trong số họ phải đứng thường xuyên để cho người khác có thể duỗi ming một chút! Một số ít bị giam ở đây từ 15 đến 18 tháng nay mà chưa hề được ra trước tòa án Đối với tỉnh Quảng Nam, các nhà lao nhỏ xíu của tỉnh chứa đến 2000 người.
Ở các thành phố, những vụ bắt bớ vào ban đêm, không xét xử, do cảnh sát mật tiến hành, tiếp theo đó là sự thủ tiêu về thể xác hoặc đày ra các nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa tình trạng đó như một sự đe dọa chết chóc treo lơ lửng trên đầu tất cả mọi người, kể cả các viên chức cao cấp Những viên bộ trưởng như
Trang 25Nguyễn Hữu Châu, những viên tướng như Dương Văn Đức đã chỉ thoát chết bằng cách bỏ trốn sang Pháp.”
Dạy bài 21, mục V.2: Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranhđặc biệt” của đế quốc Mĩ (1961-1965), giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trongtác phẩm “Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963” của tác giả LêCung để xây dựng bài miêu tả về phong trào đấu tranh chính trị chống chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ – Diệm của nhân dân miền Nam Việt Nam, nhất làđấu tranh của đội ngũ tăng ni, phật tử:
“Ngày 11-6-1963, tại ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (Sài Gòn), Hòa thượng Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục vạn tăng ni, phật tử cùng những quan sát viên, báo chí quốc tế Lực lượng Diệm được điều động đến để hòng phá tan cuộc tự thiêu nhưng bị thất bại vì tăng ni, phật tử đã kiên quyết bảo vệ bằng cách vây quanh nhà nhiều vòng Cuộc
hi sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước Việt Nam và trên thế giới Ảnh của vị hòa thượng Việt Nam Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hất các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm phục”.
Khi giảng dạy về thành tựu của nhân dân miền Nam trong chiến đấu chống
“Chiến lược Chiến tranh cục bộ” của Mĩ, giáo viên có thể sử dụng những đoạntrích trong tác phẩm “Tiến trình Lịch sử Việt Nam” của tác giả Nguyễn QuangNgọc, xây dựng thành bài tường thuật về những thắng lợi mở đầu trong chiến đấuchống “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam Việt Nam:
“Cuối tháng 3 năm 1965, đơn vị lĩnh Mĩ đầu tiên vào đóng quân tại Đà Nẵng Ngày 24-5-1965, một nhóm gồm 7 chiến sĩ đặc công Quảng Nam đã tập kích diệt gọn một trung đội địch ở Cầu Sắt (Quảng Nam)
Đêm 26 rạng sáng 27 tháng 5, bộ đội quân khu 5 cùng lực lượng đặc công bí mật tập kịch một đơn vị lính thủy đánh bộ Mĩ ở Núi Thành (Quảng Nam), loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên Đây là chiến thắng đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiêu diệt gọn một đại đội địch, mở đầu phong trào “tìm Mĩ mà diệt” trên khắp miền Nam.
Ngày 18-8-1965, Mĩ sử dụng 9000 quân càn quét vùng Vạn Tường (Bình Sơn – Quảng Ngãi) nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta Chúng hi vọng sẽ giành được thắng lợi đầu tiên cho quân viễn chinh.
Lực lượng bộ đội và du kích địa phương bám trụ kiên cường đánh địch Sau một ngày chiến đấu, đã đánh bại cuộc càn quét đầu tiên đông quân nhất của địch trên chiến trường miền Nam Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa như Ấp Bắc với
Trang 26quân Mĩ, nó chứng tỏ một cách hùng hồn khả năng của ta đánh bại được quân Mĩ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh lực và hỏa lực”.
Khi dạy mục 2 Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản
xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác
phẩm “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước”, của Viện nghiên cứu Lịch
sử Quân sự Việt Nam để xây dựng thành bài tường thuật:
“Ngày 14-12-1972, Ních-xơn chính thức phê chuẩn kế hoạch tấn công ồ ạt bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng với mật danh Lai-nơ Bếch-cơ 2.
Theo kế hoạch, một lực lượng lớn không quân Mĩ sẽ tiến hành đánh phá dữ dội và liên tục 24/24 giờ Các máy bay chiến lược B52 sẽ hoạt động về ban đêm Máy bay chiến thuật vừa làm nhiệm vụ yểm trợ cho máy bay B52, vừa sử dụng vũ khí, khí tài, điều khiển bằng tia lade để công kích, chế áp mạnh các mục tiêu, đặc biệt là sân bay, trận địa tên lửa, trận địa pháo phòng không Với các loại máy bay
và vũ khí, khí tài hiện đại, đế quốc Mĩ tin rằng, thông qua đòn đánh có tính chất hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, buộc chúng ta phải trở lại hội nghị Pari, chấp thuận các đòi hỏi của Mĩ.
Toàn bộ lực lượng không quân chiến lược, chiến thuật Mĩ ở khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương được huy động vào chiến dịch này Trên vùng biển Việt Nam, 5 tàu sân bay bắt đầu tiến dần vào Vịnh Bắc Bộ, các căn cứ quân sự của Mĩ
ở Philippin nhận thêm 50 máy bay tiếp dầu Ních xơn ra lệnh cho không quân và hải quân Mĩ tiếp tục bao vây, phong tỏa vùng biển miền Bắc, tập trung vào cảng Hải Phòng Tổng thống Mĩ đích thân theo dõi, kiểm soát toàn bộ quá trình chuẩn
bị và thực hành chiến dịch.
…
19 giờ 10 phút ngày 18-12-1972, ra đa cảnh giới của ta phát hiện các tốp máy bay B52 đang bay vào vùng trời miền Bắc 19 giờ 15 phút, lệnh báo động khẩn cấp được phát ra Ít phút sau, máy bay F111 ập tới ném bom sân bay Nội Bài, sân bay Kép Từ 19 giờ 15 phút, hàng chục tốp máy nay B52 được hàng trăm máy bay cường kích và tiêm kích hộ tống đã tới vùng trời Hà Nội, ồ ạt dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm, Mễ Trì…Một số sân bay và Đài phát thanh Mễ Trì bị bon B52 phá nát Một số trận địa tên lửa, trận địa cao xạ bảo vệ sân bay Nội Bài, Cầu Đuống, Gia Lâm bị không quân Mĩ đánh trúng.
Các ngày 19, 20 tháng 12, máy bay chiến thuật của Mĩ tiếp tục đánh phá các mục tiêu ở Hà Nội, Yên Bái, Quảng Ninh, sục tìm các sân bay dã chiến và trận địa tên lửa của ta Đêm 19, 20 tháng 12, mỗi đêm gần 100 lần chiếc máy bay B52 liên
Trang 27tục dội bom xuống Hà Nội, trong lúc máy bay chiến thuật đánh phá Hải Phòng, Thái Nguyên, Bắc Giang.
Liên tục trong các ngành từ 20 đến 24-12, mỗi đêm địch sử dụng trên dưới 30 lần chiếc máy bay B52 đánh phá các mục tiêu Ngày 26-12, chiến dịch tập kích Hà Nội, Hải Phòng của không quân Mĩ tiếp tục sau 36 giờ ngừng hoạt động nhân dịp
lễ Nô en.
Dồn lực lượng đánh đòn quyết định, đế quốc Mĩ đã gây cho ta những tổn thất nặng nề về người và của Ở Hà Nội, hơn 100 điểm của thành phố bị bom Mĩ đánh trúng, hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương Riêng phố Khâm Thiên, bom B52 đã sát hại 300 người, phá sập 2000 ngôi nhà Ở Hải Phòng, 11 tiểu khu
ở Hồng Bàng, Lê Chân và một số xã ngoại thành bị hàng ngàn quả bom B52 cày nát.
Dưới bom đạn quân thù, Hà Nội, Hải Phòng không hề nao núng Lực lượng phòng không kiên cường đánh trả Các chiến sĩ rada phát sóng, lọc qua những lớp nhiễu dày đặc của địch để tìm kiếm mục tiêu B52 Không quân của ta xuất kích cản phá, gây rối đội hình máy bay yểm trợ các tốp B52 Từ các trận địa tên lửa, pháo cao xạ và súng máy cao xạ của ta liên tiếp bắn lên.
Trong 12 ngày đêm dùng B52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng đã sử dụng
35000 tấn chất nổ, 729 lần chiếc máy bay chiến lược B52, gần 4000 lần chiếc máy bay chiến thuật Riêng Hà Nội, địch đã tập trung 444 lần chiếc máy bay B52
và hơn 1000 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Nhưng Mĩ chẳng những không đạt được mục tiêu của cuộc tập kích chiến lược mà còn bị thất bại nặng nề:
81 máy bay hiện đại bị bắn rơi, 43 giặc lái bị bắt sống Ngày 30-12, chính Phủ Mĩ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị ta nối lại cuộc đàm phán ở Pari”.
Khi dạy bài 23: “Khôi phục và phát triển kinh tế xã hội miền Bắc, giải phónghoàn toàn miền Nam (1973 – 1975)”, mục II Miền Nam đấu tranh chống địch
“bình định, lấn chiếm”, tạo thế và lực tiến tới giải phóng hoàn toàn, giáo viên có
thể sử dụng các đoạn trích trong tác phẩm “Đại thắng mùa Xuân 1975” của Đại
tướng Văn Tiến Dũng khi nói về tình hình nội bộ của chính quyền Sài Gòn sauhiệp định Pari 1973, để giúp học sinh khắc sâu kiến thức:
“Báo Tiền Tuyến của quân đội ngụy nêu đầu đề suốt 8 cột: “Cộng hòa Việt Nam không bao giờ đầu hàng cộng sản” Nhưng Vayen ngày 21 tháng 4 đã than thở: “tình hình quân sự là tuyệt vọng” Và trong một bài diễn văn ở trường Niuolân ngày 23 tháng 4, Pho đã ngầm ngùi nói: “Chiến tranh đã kết thúc đối với người Mĩ, không thể giúp đỡ người Việt Nam được nữa, họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”.
Nội bộ quan thầy bi đát, rối ren, nội bộ bọn tay sai ở Sài Gòn cũng lâm vào
Trang 28thời kì khủng hoảng cực kì nghiêm trọng chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ thường thực hiện chính sách dùng nhiều ngựa Trong tình hình bình thường, chính sách này có tác dụng kiềm chế lẫn nhau giữa bọn tay sai, vừa tạo ra bộ mặt dân chủ giả hiệu, lừa mị quần chúng, vừa che đậy sự thống trị của Mĩ Song, trong cơn nguy khốn, chính sách này lại sinh phản tác dụng Các tập đoàn tay sai không chỉ hoạt động theo chiều hướng cấu kết để kêu gào “chống cộng” ngăn chặn thất bại,
mà còn biến thất bại thành một thứ vũ khí chống lại nhau, thanh toán lẫn nhau, tranh nhau làm ngựa nòi cho Mĩ, làm cho bộ máy ngụy quyền ngày càng suy yếu”.
Khi dạy về trận then chốt mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên ở Buôn Ma
Thuột, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Tiếng Sấm Tây
Nguyên” của Nxb Từ điển Bách Khoa để tường thuật về trận đánh này:
“Tại Buôn Ma Thuột, quân địch lúc này ở trong thị xã có cơ sở chỉ huy pháo binh 1 xe tăng, 2 tiểu đoàn bảo an Quân số khoảng 8.000 tên.
2 giờ sáng ngày 10 – 3 – 1975, Trung đoàn đặc công 198 tiến công 3 vị trí: sân bay Hòa Bình, sân bay thị xã, cụm kho Mai Hắc Đế.
Cùng giờ hỏa lực H12 và ĐKB của ta đánh vào sư đoàn bộ sư đoàn 23, chỉ huy sở tiểu khu và khu pháo binh thiết giáp Địch vẫn đinh ninh rằng cũng như năm 1968, ta chỉ dùng đặc công và pháo binh đánh rồi sẽ rút.
Cùng lúc, khi pháo bắt đầu bắn, lợi dụng tiếng nổ mũi tiến công của ta tập kích cách thị xã 10 – 15 km, xe tăng 20 – 25 km có bộ phận 40 km, bắt đầu vượt sông Sêrêpốc tiến vào tuyến xuất phát tiến công Một cuộc tiến công gồm 12 trung đoàn binh chủng trên 5 mũi khác nhau đã được điều khiển nhịp nhàng, chặt chẽ Một cuộc tiến công quân binh chủng hợp thành tuyệt đẹp 5 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975 toàn bộ đội hình đã chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công hình thành thế bao vây sát thị xã.
5 giờ 30 phút pháo binh bắn thử, 7 giờ 15 phút pháo binh bắt đầu trút bão lửa xuống các mục tiêu quy định Pháo cao xạ tiến sát đội hình bộ binh 9 giờ ngày
10 – 3 các mũi bộ binh Sư đoàn 23 trên tất cả các hướng quân địch đều chống trả quyết liệt.
Đêm 10 – 3, Liên đoàn biệt động quân 21 được lệnh từ Buôn Hồ tiến về thị xã
để cứu nguy cho sở chỉ huy sư đoàn 23, nhưng đến khu vực suối Ja Tum vấp phải quân ta Bọn này đã chuồn ra phía đông thị xã ẩn nấp Trong đêm 10 – 3 ta nắm lại tình hình, tổ chức hiệp đồng lại các mũi, hội quân ở sư đoàn bộ sư đoàn 23 6 giớ sáng ngày 11 tháng 3 quân ta đánh chiếm Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 Mục tiêu chủ yếu của trận đánh đã hoàn thành, cơ quan đầu não của địch ở Buôn Ma Thuột
đã bị đập tan.
Trang 29Đến 11 giờ trưa ngày 11 – 3 – 1975, ngọn cờ chiến thắng của bộ đội Tây Nguyên đã phất cao trên nóc hầm chỉ huy sư đoàn 23 ngụy Sau đó, quân ta nhanh chóng phát triển thắng lợi tiêu diệt địch ở các vùng phụ cận như hậu cứ 45, trường huấn luyện, căn cứ 53 ở ấp Châu Sơn.
Trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột là một trận tiến công xuất sắc Chỉ trong vòng 33 giờ, bằng nghệ thuật chiến đấu tài giỏi, bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và bằng tinh thần chiến đấu của cán bộ, bộ đội ta đã lập nên chiến công Tây Nguyên đại thắng vang dội, làm đòn mở đầu cho cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975”.
Khi dạy về chiến dịch Huế - Đà Nẵng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
xuân 1975, giáo viên cũng có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Đại thắng mùa Xuân” của đại tướng Văn Tiến Dũng để tường thuật về chiến dịch giải phóng
Đà Nẵng:
“Từ ngày 25 – 3 thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn Các lực lượng của ta tiến nhanh áp sát thành phố Địch buộc phải bỏ kế hoạch co cụm ở Đà Nẵng và bắt đầu dùng máy bay bôinh 727 và máy bay lên thẳng di tán bọn cố vấn Mĩ và một phần lực lượng ngụy Chúng tranh nhau lên máy bay, gây ra cảnh huyên náo,
ẩu đả ở sân bay Có những tên bị bánh máy bay đè nát trên đường băng hoặc mắc kẹt trong càng máy bay lên thẳng Binh lính, sĩ quan ngụy cùng gia đình chen nhau chạy
Sư đoàn thủy quân lục chiến địch trước khi rút chạy gây ra nhiều vụ cướp bóc, bắn nhau và hãm hiếp phụ nữ 3.200 tân binh địch ở trung tâm huấn luyện Hòa Cầm nổi dậy đấu tranh bỏ ngũ chạy ra với cách mạng hoặc về nhà Pháo lớn của ta bắt đầu vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hòa Khánh nơi Bộ Tư lệnh sư đoàn 3 ngụy đóng, cảng Sơn Trà, sở chỉ huy sư đoàn ở Non Nước làm cho địch trong thành phố càng hoảng loạn Anh em ta bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước vùng dạy nhà lao, thoát ra ngoài Sư đoàn 2 của Quân khu 5 do đồng chí đại tá Nguyễn Chơn – Anh hùng quân đội làm Sư đoàn Trưởng ở phía nam Đà Nẵng Ngày 29/3,
bộ binh và xe tăng thuộc Quân đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang của quân khu V từ bốn hướng bắc, tây bắc, tây nam và nam nhanh chóng đánh thẳng vào thành phố chiếm sân bay Nước Mặn Một số cơ sở cách mạng và quân biệt động ta ở trong thành phố chiếm cầu Trịnh Minh Thế, cắm cờ ở tòa thị chính, tự vệ và nhân dân dẫn đường cho bộ đội chiếm nhanh chóng các vị trí địch và đuổi bắt tàn quân địch Trong vòng 32 giờ ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 100.000 quân địch ở Đà Nẵng chiếm được một căn cứ quân sự liên hợp mạnh, giải phóng Đà Nẵng, ta đã kết thúc quá trình tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đoàn 1, xóa bỏ Quân khu I của ngụy, tạo điều kiện thúc đẩy quân ngụy nhanh chóng đi tới chỗ sụp đổ hoàn toàn”
Trang 302.3.3 Sử dụng tài liệu Văn học để khắc sâu kiến thức cho học sinh
Giáo viên khi dạy học lịch sử nếu biết khắc sâu những kiến thức cơ bản bằngcác phương pháp phù hợp sẽ giúp học sinh hiểu bài sâu sắc, trên cơ sở đó trình
độ nhận thức của các em sẽ được nâng lên ở mức khái quát lí luận, việc khắc sâukiến thức cũng là một yếu tố quan trọng để giáo dục tư tưởng chính trị, hìnhthành thế giới quan khoa học và phát triển năng lực tư duy của học sinh
Khi dạy về chiến dịch tố cộng, diệt cộng của chính quyền Diệm ở miền NamViệt Nam trong những năm 1957 – 1959, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ trongbài “Lá thư bến Tre” của Tố Hữu, miêu tả về tội ác của Mĩ – Diệm trong chiếndịch này:
“Biết không anh? Giồng Keo, Giồng Trôm.
Thảm lắm anh à, lũ ác ôn Giết cả trăm người, trong một sáng Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn.
Có những ông già, nó khảo tra Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh, không chịu nhục Lấy vồ nó đập, vọt thai ra.
Anh biết không? Long Mỹ, Hiệp Hưng
Nó giết thanh niên, ác quá chừng.
Hăm sáu đầu trai bêu cọc sắt
Ba hôm mắt vẫn mở trừng trừng!
Có em nhỏ nghịch, ra xem giặc
Nó bắt vô vườn, trói gốc sau
Nó đốt, nó cười… em nhỏ hét:
“Má ơi, nóng quá, cứu con mau! ”.
Giáo viên có thể sử dụng bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của tác giả Lê AnhXuân để tạo biểu tượng cho học sinh về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ quângiải phóng khi tấn công vào các vị trí đầu não của địch ở Sài Gòn như Tòa Đại sứ
Mĩ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Đài phát thanh, Sân bayTân Sơn Nhất… trong cuộc Tổng tiến công và nội dậy Xuân Mậu Thân năm 1968:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang dứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
Trang 31Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công…”
Để khẳng định quyết tâm và ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam kiên quyếtchống Mĩ đến thắng lợi cuối cùng, giáo viên có thể sử dụng Di chúc của chủ tịch
Hồ Chí Minh để khắc sâu kiến thức cho học sinh:
“Cuộc kháng chiến chống Mĩ có thể còn kéo dài Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mĩ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!
Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi.
Đế quốc Mĩ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mĩ, đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc…”
Khi dạy về cuộc tiếng công chiến lược năm 1972, giáo viên có thể sử dụng
đoạn trích trong tác phẩm “Huyền thoại thành cổ Quảng Trị”, Nxb Quân đội nhândân để khắc họa cho học sinh về tấm gương chiến đấu hi sinh của các chiến sĩthành cổ Quảng Trị qua những đoạn:
“Chỉ trong 81 ngày đêm với chiến dịch tái chiếm Thành Cổ, quân đội Mỹ Ngụy đã ném xuống đây 328.000 tấn bom đạn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima năm 1945 Những chiến sĩ Thành Cổ đã chiến đấu ngoan cường từ ngày 28/6/1972 đến 16/9/1972, tiêu diệt 2
-sư đoàn cơ động chiến lược của địch, diệt 26.000 tên, bắt sống 71 tên, đánh thiệt hại nặng 19 tiểu đoàn, phá hỏng 349 xe quân sự trong đó có 200 xe tăng và thiết giáp, bắn rơi 205 máy bay, thu 500 súng các loại Tại chiến trường vô cùng ác liệt này, hàng ngàn người con ưu tú của Tổ quốc đã ngã xuống đem theo tuổi thanh xuân, đem theo bao ước nguyện hóa thân vào lòng đất…”
Hay giáo viên có thể sử dụng bài thơ "Lời người bên sông" của tác giả Lê BáDương để khắc sâu cho học sinh về sự hi sinh anh dũng của các chiến sĩ quân độinhân dân Việt Nam bên dòng sông Thạch Hãn ở thành cổ Quảng Trị:
"Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước cho vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"
Trang 32Giáo viên có thể sử dụng tư liệu trong tác phẩm: “Từ điển Hồ Chí Minh sơgiản” để khắc sâu kiến thức cho học sinh khi dạy về cuộc chiến đấu chống chiếntranh phá hoại của Mĩ:
“Bất chấp hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương và luật pháp quốc tế, năm 1964, chính quyền Giôn-xơn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam Ngày 7-8-1964, khi tuyên dương công trạng các đơn vị phòng không và hải quân
đã lập chiến công trừng trị bọn khiêu khích và gây chiến, Hồ Chí Minh nói: “Để
gỡ thế bí của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc
Mĩ ráo riết hoạt động khiêu khích phá hoại miền Bắc Chúng ta phải biết rằng, đế quốc Mĩ và tay sai chết thì chết, nết không chừa Chúng còn nhiều âm mưu hiểm ác…nhân dân ta rất yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu đế quốc Mĩ và tay sai xâm phạm đến miền Bắc nước ta thì toàn dân ra nhất định sẽ đánh bại chúng.
Ngày 20-2-1965, Tổng thống Mĩ Giôn-xơn quyết định thi hành kế hoạch
“Sấm rền”, liên tục đánh phá miền Bắc Việt Nam Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ vạch ra đường lối lãnh đạo toàn dân chiến đấu chống cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ.
Sau khi đế quốc Mĩ leo thang chiến tranh, bắn phá ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng (17-4-1966), trong “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” ngày 17-7-
1966, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy dụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng” Người cũng nói lên quyết tâm đánh thắng quân xâm lược của toàn dân Việt Nam:
“Giôn-Xơn và bè lũ phải biết rằng, chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh miền Bắc Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mĩ, cứu nước của nhân dân Việt Nam hùng Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do Đến ngày thắng lợi, nhân dân
ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Hồ Chí Minh kêu gọi: “Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mĩ, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết một lòng, không sợ
hi sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” Và động viên các đơn vị, địa phương có nhiều thành tích trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại như Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An, đảo Cồn Cỏ, Hải Phòng…và các lực lượng không quân, pháo binh, quân y, tên lửa…”
Khi dạy về ý nghĩa của việc ta chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địchnăm 1972 là: Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, giáo viên có thể sử dụng
Trang 33đoạn trích trong tác phẩm “Trị Thiên Xuân 1975”, Nxb Quân đội nhân dân để khắc
sâu kiến thức cho học sinh: “Giải phóng Quảng Trị 1972, là một thắng lợi chưa từng có trên chiến trường Trị Thiên; đồng thời đó là một thất bại cay đắng có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị của địch và có nguy cơ thất bại hoàn toàn đối với chiến lược “Việt Nam hóa” của Mĩ Vì vậy, Mĩ nguy đã cố tập trung một lực lượng lớn gồm cả hai sư đoàn cơ động chiến lược là sĩ quan lục chiến và lính dù, một lực lượng pháo từ 105mm – 175mm và huy động khoảng 70% máy bay chiến thuật, 50% máy bay chiến lược B.52 cùng nhiều xe tăng, xe bọc thép Để phản kích hòng chiếm lại Quảng Trị Với một lực lượng quân sự to lớn như vậy, chúng tin rằng có thể chiếm lại Quảng Trị trong thời gian ngắn, nhưng chúng đã nhầm Sau gần 3 tháng ròng rã đương đầu với sự chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của quân và dân Quảng Trị, chúng mới chỉ bám được thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và 5 xã của huyện Triệu Phong.
Quân và dân Quảng Trị đã xứng đáng với điện khen ngợi của Đại tướng Văn Tiến Dũng: “Chiến đấu và chiến thắng ở Quảng Trị là một sự tích anh hùng, hay nói một cách khác là bản anh hùng ca, ta đã đánh với không quân và hải quân Mĩ,
ta đã giam chân hai sư đoàn mạnh nhất của quân ngụy ở đây”.
Về ý nghĩa của chiến thắng Phước Long (6/1/1975), giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm Đại thắng mùa Xuân 1975 của đại tướng Văn Tiến
Dũng, để khắc sâu cho học sinh ý nghĩa quan trọng của chiến dịch này:
“Giữa lúc Bộ Chính trị đang họp thì một tin vui lớn miền Nam đưa tới: bộ đội chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa phương mở chiến dịch đường số 14 Phước Long, giành thắng lợi lớn Trong hơn hai mươi ngày ta đã giết và bắn trên 3.000 tên địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng thị
xã Phước Long và tỉnh Phước Long Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Chiến dịch Đường số 14 Phước Long thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng Chiến thắng này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân ngụy Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải tỏa qui mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các địa bàn rừng núi và giáp ranh Chiến thắng này còn thấy rõ hơn về đế quốc Mĩ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào miền Nam Việt Nam Điều quan trọng hơn cả là chiến dịch Đường số 14 Phước Long thắng to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta Chiến thắng đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong hội nghị Bộ Chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi
có thời cơ”.
Khi dạy về chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
xuân 1975, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm: “Đại tướng Võ
Trang 34Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước” để khắc sâu kiến thức cho
học sinh:
“Năm mục tiêu quan trọng đã được Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh xác định là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Dinh Tổng thống ngụy quyền, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát.
Về cách đánh, Bộ tư lệnh chiến dịch hình thành thế bao vây cô lập địch trong thành phố, sử dụng lực lượng thích hợp trên từng hướng, chia cắt tiêu diệt địch ở bên ngoài, đồng thời sử dụng một bộ phận quan trọng lực lượng tổ chức thành những mũi đột kích mạnh thọc sâu đánh thẳng vào trung tâm Sài Gòn đánh chiếm năm mục tiêu đã định từ đó tỏa ra phối hợp với các đơn vị đặc công, biệt động, tự
vệ thành phố và quần chúng nổi dậy, đánh chiếm tất cả các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế trong thành phố…
Phương châm là hiệp đồng chặt chẽ, tiến công nhanh, hạn chế đến mức thấp nhất thương vong của bộ đội và tổn thất về tính mạng, tài sản của nhân dân”.
Hay giáo viên có thể sử sụng “Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổidậy mùa Xuân 1975”, Nxb Quân đội nhân dân để khẳng định sự chủ động, linh
hoạt của Trung ương Đảng trong chỉ huy chiến dịch: “Điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (Điện lúc 10h ngày
29 – 4 – 1975).
“Gửi các anh Sáu, anh Bảy, anh Tuấn, anh Tư, Đồng điện anh Tấn ” Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị:
1 Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch: Tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh thành phố, cướp
vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi
“Chặt Buôn Mê Thuật, rụng cả Tây Nguyên Quét Huế - Thùa Thiên, đổ nhào Đà Nẵng.
Và Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
Và Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Nha Trang, lũ ngụy cuống cuồng,
rũ rượi một màu tang cờ trắng.
Đường tiến quân ào ào chiến thắng.
Phía trước chờ Anh, người mẹ mong con.
Trang 35Pháo hãy gầm lên, đỏ nòng bắn thẳng
Rộn rực xe tăng chồm tới Sài Gòn!
Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa”
Trang 36CHƯƠNG 3
TÍCH HỢP KIẾN THỨC ĐỊA LÍ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT
NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 3.1 Vị trí, ý nghĩa của tài liệu Địa lí trong dạy học lịch sử
Sự kiện lịch sử gắn liền với vị trí không gian nhất định Nhiều sự kiện kịch
sử xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động, chi phối
Do vậy kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong dạy học lịch sử
Bài học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấp dẫn,giúp học sinh nắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi phối củayếu tố địa lí
3.2 Một số phương pháp sử dụng tài liệu Địa lí trong dạy học lịch sử 3.2.1 Sử dụng kiến thức địa lí giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học lịch sử
Kiến thức Địa lí nói chung, bản đồ Địa lí nói riêng có ưu thế trong việc khắcsâu kiến thức lịch sử cho học sinh
Ví dụ, khi dạy về tình hình Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ, giáo viên có thể
sử dụng lược đồ Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ (hình 1)
Hình 1: Lược đồ Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ
Trang 37Giáo viên kết hợp phân tích:
Theo quy định tại hiệp định Giơnevơ: Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành haimiền, lấy vĩ tuyến 17 dọc sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời và mộtkhu phi quân sự ở hai bên giới tuyến Nhưng sau hiệp định Giơnevơ, Mĩ dựng lênchính quyền Ngô Đình Diệm làm tay sai, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, biếnmiền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở ĐôngDương và Đông Nam Á
Khi dạy bài 21, mục V.2: Miền Nam chiến đấu chống “chiến lược “Chiếntranh đặc biệt” của Mĩ”, giáo viên có thể sử dụng lược đồ miền Nam Việt Nam từ
1954 đến 1975 (hình 2) có ghi rõ các địa điểm: Ấp Bắc (Mĩ Tho), Huế, Đà Nẵng,Sài Gòn, Bình Định, Quảng Ngãi, Bình Phước
Hình 2: Lược đồ chiến đấu chống “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”
Giáo viên kết hợp với các biện pháp miêu tả, tường thuật, giúp học sinh xácđịnh rõ những thắng lợi quan trọng của nhân dân miền Nam trên các mặt trận quân
sự, chính trị trong đó đặc biệt là thắng lợi trong trận Ấp Bắc (2/1/2963)
Ấp Bắc là một ấp nhỏ, thuộc xã Tân phú trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Mĩ Tho.Xung quanh Ấp Bắc là cánh đồng rộng có hệ thống đường đất, kênh rạch nối liềncác thôn ấp nên việc đi lại khá thuận lợi Nhân dân ở đây đã xây dựng ấp thành
Trang 38một hệ thống phòng thủ gồm hầm hào chiến đấu cho bộ đội và du kích thực hànhtác chiến thắng lợi.
Ngày 2/1/1963, lực lượng địch có hơn 2000 quân chủ lực, bảo an với phươngtiện chiến tranh hiện đại: máy bay, xe M113, tàu chiến do cố vấn Mĩ cùng nhiềutướng ngụy chỉ huy đã mở trận càn vào Ấp Bắc nhằm tiêu diệt lực lượng vũ tranggiải phóng và gom dân lập ấp chiến lược
Tại thời điểm đó, lực lượng cách mạng có khoảng 200 người, chỉ bằng 1/10lực lượng của địch nhưng vẫn chủ động, kiên cường chống trả địch Trận đánhdiễn ra từ 6 giờ sáng đến gần tối Địch đã cho máy bay trút hàng chục tấn bom đạn,bắn hơn 1000 quả đại bác vào Ấp Bắc Quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, bẻgãy 5 đợt tiến công của địch, giáng cho chúng những thiệt hại nặng nề Sau mộtngày chiến đấu quyết liệt ta tiêu diệt 450 tên địch, trong đó có 19 cố vấn Mĩ, bắncháy 13 xe bọc thép M113, 8 máy bay, 1 tàu chiến bị chìm và 2 tàu khác bị hưhỏng nặng, làm cho địch bị thất bại thảm hại trong trận càn này
Phối hợp với đấu tranh vũ trang, ngay trong đêm quân giải phóng rút khỏi ẤpBắc an toàn, nhân dân Ấp Bắc cùng một số xã lân cận kéo lên quận Cai Lậy đấutranh chính trị, phản đối việc ném bom, bắn phá xóm làng, đòi nhà cầm quyền phảingăn chặn các cuộc khủng bố để cho dân được yên ổn
Chiến thắng Ấp Bắc đã đánh bại các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xavận” của địch, mở đầu cho cuộc khủng hoảng về chiến thuật và thế đi xuống củachúng, đánh sụp lòng tin của quân đội tay sai Sài Gòn vào trang bị vũ khí hiện đạicủa Mĩ Chiến thắng này cũng đã chứng minh quân và dân miền Nam hoàn toàn cókhả năng đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ và chính quyền SàiGòn, làm dấy lên phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” trên khắp miềnNam
Trong Đông Xuân 1964 – 1965, quân ta mở đợt hoạt động quân sự ở ĐôngNam Bộ với trận mở màn đánh vào ấp Bình Giã (Bà Rịa, ngày 2-12-1964) Trongtrận này, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1700 tên địch, phá hủy hàng chục máy bay
và xe bọc thép, đánh thắng các chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” củađịch Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt bị phá sản về cơ bản”
Tiếp đó, quân ta giành thắng lợi ở An Lão (Bình Định); Ba Gia (Quảng Ngãi),Đồng Xoài (Bình Phước)…gây cho quân đội Sài Gòn thiệt hại nặng, có nguy cơtan rã, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ
Dạy bài 22, Mục II.2, khi giới thiệu về tuyến đường vận chuyển chi viện từmiền Bắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hai tuyếnđường: Đường Trường Sơn trên bộ và Đường Trường Sơn trên biển, giáo viên cóthể sử dụng lược đồ hai tuyến đường Trường Sơn: Đường Trường Sơn trên bộ(Hình 3) và Đường Trường Sơn trên biển (Hình 4) kết hợp với việc xây dựng các
Trang 39bài miêu tả, tường thuật về sự chiến đấu, hi sinh của quân và dân ta trên hai tuyếnđường này để đảm bảo sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc khángchiến chống Mĩ cứu nước
Hình 3: Đường Trường Sơn (Đường Hồ Chí Minh) trên bộ
Đường Trường Sơn với địa hình rừng núi trùng điệp, hiểm trở là huyết mạchgiao thông nối liền miền Bắc với miền Nam, nối liền Việt Nam với Lào vàCampuchia Đường Trường Sơn còn được gọi là đường Hồ Chí Minh trên bộ.Đường Trường Sơn được Đoàn 559 xây dựng để ô tô vận chuyển người, vũ khíđạn dược và vật chất từ miền Bắc vào miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ theochỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh (1959) Đường được phát triển trên cơ sở đườnggiao liên trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và đường Thống nhất (đườngđưa đón cán bộ ra Bắc vào Nam) hình thành sau năm 1954 Đường bắt đầu đượcxây dựng từ 19-5-1959, tại Tân Kì (Nghệ An) và Khe Ho (Vĩnh Linh, Quảng Trị)đến tận Đông Nam Bộ Ngày 25-10-1965, chuyến vận tải ô tô đầu tiên được xuấtphát
Từ con đường nhỏ bé lúc đầu, đường Trường Sơn được mở rộng, vươn dàidọc theo dãy Trường Sơn Đường có hai trục lớn bám dọc theo hai sườn phía đông,phía tây và những con đường vắt ngang qua núi
Trang 40Sau khi hiệp định Pari năm 1973 được kí kết, đường dọc phía đông TrườngSơn được mở rộng và nâng cấp Tiếp đó, đến Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuânnăm 1975, tuyến đường được mở rộng và nâng cấp dài 16000km, gồm 6 trục dọctheo sườn Đông và Tây Trường Sơn, 25 đường trục ngang vắt qua núi, một hệthống đường nhánh tỏa ra các chiến trường
Để xây dựng Đường Trường Sơn, Đoàn 559 đã đào đất, đắp đường, san lấp
hố bom khoảng 11 triệu m3 đất đá, làm 13.418 chiếc cầu, trên 10 nghìn chiếc cốngvới 5,52 triệu ngày công Với một hệ thống đường chiến lược rộng lớn, liên hoànBắc – Nam, từ năm 1959 đến năm 1975, bộ đội Trường Sơn đã đưa vào chiếntrường miền Nam 1.349.000 tấn hàng, vũ khí…
Mĩ đã sử dụng 1,34 triệu tấn bom, dùng hàng triệu mìn các loại, dùng máybay B52 để rải chất độc hóa học, lập hàng rào điện tử…nhằm chặn đứng huyếtmạch giao thông Bắc – Nam nhưng vẫn không cắt đứt được con đường huyết mạchnày Trong lửa đạn và thời tiết khắc nghiệt, bất kể ngày đêm, các chiến sĩ TrườngSơn đã xả thân để nối liền mạch máu giao thông giữa hậu phương miền Bắc vớitiền tuyến miền Nam Những đoàn xe ô tô của ta từ miền Bắc vẫn vận chuyểnlương thực, đạn dược…chi viện cho quân dân miền Nam chiến đấu Trường Sơntrở thành biểu tượng về ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
(Tố Hữu)
Hình 4: Đường Trường Sơn(Đường Hồ Chí Minh) trên biển