1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN THCS: Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua 2 bài thơ Ngắm Trăng và Đi Đường

26 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 198,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những sáng tác của Người dù bất cứ ở thể loại nào cũng đều toát lên vẻđẹp tâm hồn của một người cộng sản vĩ đại suốt đời không ngừng phấn đấu vì độcdân tộc, tự do của Tổ quốc, vì hạnh ph

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIấN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

I L

ời giới thiệu

Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc thì văn học từ đầu thế kỷ XX đến cáchmạng tháng 8 năm 1945 có một vị trí rất quan trọng Nó là cầu nối giữa văn họctrung đại Việt Nam trước đó với nền văn học Việt Nam đương đại (sau cách mạngtháng 8 đến nay) Nó cũng xứng đáng là bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triểnvăn học dân tộc

Văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng 8 - 1945 hình thành haikhu vực văn học: Văn học hợp pháp (văn học công khai) và văn học bất hợp pháp(văn học không công khai) ở chuyên đề này, do thời lượng có hạn nên chúng tôi xinbàn đến bộ phận văn học bất hợp pháp đó là thơ ca yêu nước trong tù Những sángtác của bộ phận văn học này tập trung thể hiện vẻ đẹp tâm hôn của người chiến sĩcách mạng Bên cạnh các tác giả Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Sóng Hồng, TốHữu thì Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh được biểu hiện với nhiều phẩm chất cao đẹpđáng quý

Văn thơ Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh có một vị trí đặc biệt quan trọngtrong chương trình giảng dạy ở các trường học từ bậc tiểu học đến bậc đại học, ở bậcTHCS, trong chương trình ngữ văn 8 tập 2, văn bản tiêu biểu được trích trong “Nhật

ký trong tù” là “Ngắm trăng” và “Đi đường” Khám phá vẻ đẹp tâm hồn của Hồ ChíMinh trong tập thơ để giúp học sinh củng cố, nâng cao kiến thức, hiểu sâu hơn vẻđẹp tâm hồn của Bác trong hoàn cảnh tù đày Qua đó giáo dục học sinh học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Bước đầu rèn kỹ năng cho học sinh làmmột bài văn nghị luận tổng hợp về một hình tượng trong tác phẩm văn học

2 Tờn sỏng kiến : Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua 2 bài thơ " Ngắm Trăng và

Email: tranthikimdung.gvthcskhaiquang vinhyenvinhphuc.edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Trường THCS Khai Quang - Thành phố Vĩnh

Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực ỏp dụng sỏng kiến

Chuyên đề này chúng tôi áp dụng cho học sinh giỏi lớp 8

6, Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Năm học 2018-2019

7

7 Mụ tả bản chất của sỏng kiến

7.1 Nội dung sỏng kiến

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh không hề có ý định xây dựng cho mình một sựnghiệp văn chương để lại cho đời, nhưng thực tế Người đã trở thành một nhà văn,

Trang 2

nhà thơ lớn Những sáng tác của Người dù bất cứ ở thể loại nào cũng đều toát lên vẻđẹp tâm hồn của một người cộng sản vĩ đại suốt đời không ngừng phấn đấu vì độcdân tộc, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

“Nhật ký trong tù”, tập thơ viết bằng chữ Hán, gồm 135 bài thơ được xem làkiệt tác số một trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn chương của Người Tập thơđược ví như “một hòn ngọc quý” mà Hồ Chí Minh đã vô tình đánh rơi vào kho tàngvăn học Việt Nam Cái điều tưởng chừng như “vô tình” ấy đã đem đến cho chúng tamột cách hiểu sâu sắc và toàn diện về tâm hồn, nhân cách của Hồ Chí Minh - “mộtbậc đại nhân, đại trí, đại dũng” ( Viên Ưng )

Thật vậy, “ Nhật ký trong tù” chính là thức chân dung tinh thần tự họa của HồChí Minh - người cộng sản vĩ đại trong chốn lao tù Tập thơ cho ta thấy rất nhiều vẻđẹp cao quý trong tâm hồn của Người như: bản lĩnh của người cộng sản với ý chínghị lực phi thường, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, phong thái ung dung

tự tại, lạc quan, yêu đời, luôn làm chủ mọi hoàn cảnh, niềm khát khao tự do cháybỏng và tâm hồn nghệ sĩ với tình yêu thiên nhiên thiết tha, lòng nhân ái cao cả

a Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù”:

Đến với “Nhật ký trong tù” ta không chỉ được chứng kiến nhà tù Tưởng GiớiThạch đen tối, tàn bạo và xã hội Trung Quốc đầy rẫy những bất công ngang trái màcòn được “chiêm ngưỡng” bức chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh “mộthình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủnghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một tấm gương tuyệt vời về người cộngsản Hồ Chí Minh là một con người đẹp của thế kỷ, kết hợp hài hòa trong bản thânmình những phẩm chất khác nhau: dân tộc và quốc tế, phương Đông và phương Tây,anh hùng và nghệ sĩ, chất trữ tình và chất thép, vừa rất mực nhân hậu lại vừa triệt đểcách mạng, vừa vô cùng bình dị lại vừa kiệt xuất, vĩ đại” (Võ Nguyên Giáp)

a1 Bản lĩnh của người cộng sản với ý chí, nghị lực phi thường, phong thái ung dung tự tại, niềm lạc quan yêu đời, luôn làm chủ mọi hoàn cảnh:

“Nhật ký trong tù” trước hết là tiếng nói của người cộng sản dù trong lao tùvẫn giữ vững ý chí chiến đấu và thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất, vượt quamọi khó khăn gian khổ:

“Thân thể tại ngục trung Tinh thần tại ngục ngoại Dục thành đại sự nghiệp Tinh thần cánh yếu đại”

Biện pháp tu từ nghệ thuật nổi bật nhất trong bài thơ là tác giả dùng phép đối.Trước hết, đối giữa câu 1 và câu 2, thân thể với tinh thần, trong ngục với ngoài ngục.Nói cách khác: giữa hoàn cảnh và ý chí con người

Câu 1, Bác thừa nhận một thực tế, một hoàn cảnh đặc biệt (hay nói theo ngônngữ văn học là một hoàn cảnh điển hình): Bác bị tù đày Chữ “tại” ở đầu câu 1 là sựthừa nhận, (không xem thường khinh bạc trước khó khăn, cũng không đúng mức vàkhách quan là một đức độ, một nhãn quan mang tính khoa học của người chiến sĩcộng sản).Thừa nhận đúng mức thực tế khách quan để xác định một thái độ, mộtcách sống trước một hoàn cảnh Chữ “tại” ở câu 2 khẳng định điều ấy Nhưng tại sao

kẻ thù hay nhà tù của chúng không thể giam được tinh thần của Bác Cái không gian

có hạn của nhà tù, nếu so sánh với không gian vô hạn ngoài nhà tù mà Bác nói đến

Trang 3

trong câu thơ, ta thấy rõ: tinh thần Bác cao quá, lớn quá, nhà tù của chúng, cái chế độcủa chúng hoàn toàn bất lực Mà quả vậy: tâm hồn Bác luôn bay bổng trong cáikhông gian rộng lớn, lúc thì một xóm núi ven sông, lúc thì nghìn dặm bâng khuâng

hồn nước cũ, lúc tâm hồn Bác trải rộng ra theo dõi cả phương đông, cả Hoàn cầu …

ý thơ cho phép ta nghĩ: bản chất tinh thần của Bác to lớn vĩ đại Bác cũng tự khẳngđịnh cho mình sự cố gắng vươn lên bề mặt ý chí để đè bẹp cái hoàn cảnh khó khăn

trên (“Thời cuộc không bao giờ có một giá trị tuyệt đối ảnh hưởng của nó tùy theo

mỗi người Tai họa có thể là một nấc thang cho một thiên tư, là một kho tàng cho người khôn lanh hoặc một vực thẳm cho kẻ yếu hèn” H.BANZắC).

Hai câu thơ tiếp theo trong một tương quan hữu cơ gắn bó Yếu tố này làm tiền

đề thúc đẩy yếu tố kia Hai chữ “đại” ở hai câu rất khác nhau Chữ “đại” (Đại sựnghiệp) là từ bổ nghĩa cho sự nghiệp Nhưng “đại” (trong cánh yếu đại) trở thànhtính chất đối chiếu miêu tả Tinh thần ở đây to lớn chứ không phải cao Cao chỉ nóiđược chiều rộng của không gian “đại” vừa nói được chiều cao vừa là bề rộng Vớicách dùng từ như vậy, Bác muốn nói rõ vấn đề mức độ của ý chí phấn đấu, vấn đềtầm cỡ tinh thần cần có để tương xứng với sự nghiệp lớn lao của Bác: sự nghiệp cứudân, cứu nước

Nhìn lại vấn đề, không phải bài thơ chỉ đối lập ở câu 1 với câu 2 mà sự đối lập cóchủ định, có tầng lớp Đối lập với câu 1 là câu 2, 3 và 4 Bác không phải làm cái việc

“cho giống”, “cho ra” thơ Đường, tức là có đối có đáp Bản thân sự sống, sự nghiệp, suynghĩa của Bác có sự đối lập ấy Đó là đối với hoàn cảnh khó khăn cần xác định: tinh thầnkhông khuất phục, ngược lại vươn lên trên, đè bẹp hoàn cảnh ấy Muốn vậy phải chú ýđến lý tưởng, đến sự nghiệp, một sự nghiệp lớn và tinh thần to lớn, ba câu thơ, ba ý tầngtầng lớp lớp, đè bẹp cái hoàn cảnh kia

Và bài thơ cũng bỗng hiện lên hai hình ảnh đối lập: một hình ảnh của thân thể

bị giam cầm và đối lập, to lớn hơn đè bẹp cả hoàn cảnh ấy là con người với tất cả ýchí, nghị lực tinh thần và lý tưởng cao đẹp Nhiều bài thơ trong Ngục trung nhật ký

có diễn đạt hai hình ảnh:

“Mặc dù bị trói chân tay” (một hình ảnh)

“Vui say ai cấm ra đừng” (hình ảnh khác)

(Một tù nhân và một thi nhân)

Tự xác định cho mình con đường cách mạng là con đường đấu tranh gian khổ,nên vào tù, sống trong cảnh bị đày đọa thiếu thốn, Hồ Chí Minh vẫn giữ được thái độbình thản Những “tai ương” gặp phải chẳng qua cũng chỉ là thử thách trên đườngđời, người chiến sĩ cách mạng phải phát huy hết sức mạnh của ý chí và nghị lực đểvượt lên những thử thách đó Hồ Chí Minh thường lấy quy luật vận động của tựnhiên để liên tưởng đến những quy luật vận động của xã hội và con người Trong sựtuần hoàn của tạo vật, không có cảnh “đông tàn” làm sao có cảnh “huy hoàng ngàyxuân” Cho nên những năm tháng gian truân chẳng qua chỉ là thời gian thử thách, rènluyện con người thêm vững vàng một bản lĩnh, giành thắng lợi trong tương lai:

“Ví không có cảnh đông tàn Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân Nghĩ mình trong bước gian truân Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”

( Tự khuyên mình)

Trang 4

Đọc “Nhật kí trong tù” chúng ta thấy rằng: tinh thần không hề có ý nghĩa siêuhình, tinh thần không tách rời thể phách của con người mà trái lại chính yếu tố caoquý trong con người, để cho con người có thể vươn lên cao lớn hơn tầm vóc của thểxác mà vượt qua mọi gian khổ trên đường đấu tranh cách mạng để đi đến thắng lợi.Tinh thần ấy của Hồ Chí Minh có lúc được bộc lộ một cách trực tiếp:

“Kiên trì và nhẫn nại Không chịu lùi một phân Vật chất tuy đau khổ Không nao núng tinh thần”

(Bốn tháng rồi)

Nhưng cũng có khi kín đáo thể hiện trong những sự vật, sự việc bình thườngthông qua đó nêu lên một triết lý, một chân lý Chẳng hạn: nghe tiếng giã gạo lúcchiều hôm, Bác liên tưởng đến sự rèn luyện tu thân:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công”.

(Nghe tiếng giã gạo)

Câu thơ không rơi vào hình thức giáo huấn, khô khan, trừu tượng mà tạo nênmột sự xúc động trầm lắng nhờ sự kết hợp trí tuệ với cảm xúc Bài thơ có giá trị soiđường, chỉ lối cho bạn đọc phương hướng hành động, tích cực chủ động và vữngchắc một niềm tin

Nhờ có tinh thần kiên định, tâm thế ung dung tự tại, Hồ Chí Minh đã thực hiện

“những cuộc vượt ngục” về tinh thần, sức mạnh của niềm tin và khí phách đã tạo chongười chiến sĩ một thế đứng cao hơn hẳn cái hiện thực đen tối của nhà tù Tưởng GiớiThạch Vì thế câu thơ của Bác lạc quan, ung dung, thanh thản lạ thường:

“Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình

Làng xóm ven sông đông đúc thế Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh”.

(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)

Bài thơ có bốn câu nhưng chỉ có một câu gợi cảnh tù đày “Lủng lẳng chân treo

tự giảo hình”, câu thơ đọc lên ta thấy xót xa cho cảnh người tù bị giải tới giải lui từnhà lao này đến nhà lao khác trong tư thế hai chân bị treo ngược lên dàn thuyền Bacâu còn lại như miêu tả một người lãng du đi tìm cảnh thú thiên nhiên và cuộc sốngcủa con người Tâm hồn của con người vẫn chung vui với cảnh làng xóm trù phú vensông và mắt vẫn dõi theo một chiếc thuyền câu rẽ sóng đi về phía xa Kể cả nhan đềbài thơ cũng chẳng còn thấy cảnh tù đày Toàn bộ bài thơ hiện hữu con người cao cảvươn lên, lấn át, chế ngự hoàn cảnh, coi thường cực hình, luôn tạo cho mình một tâmthế ung dung, thanh thản Cái ung dung thanh thản ấy, Xuân Diệu cho là “lên đếnmức thần thánh”, đó là điều khó thấy trong thơ xưa Hình ảnh nhân vật trữ tình trongbài thơ này khiến cho ta nhớ đến hình ảnh ông già trong “Giang tuyết” (Liễu TôngNguyên), bất chấp cái khắc nghiệt, giá lạnh của thời tiết “Thiên sơn điểu phi tuyệt.Vạn kính tung nhân diệt” (Lạnh đến mức chim bay về tổ ngủ hết, con người khôngdám ra đường), ấy thế mà ông già vẫn dám ngồi giữa tuyết trời băng giá để chìm đắm

Trang 5

vào tâm trạng, nỗi niềm của mình Như vậy, có sự gặp gỡ giữa hai con người trongbài thơ này Đó đều là những con người cao cả biết vượt lên trên mọi hoàn cảnh đểthể hiện khí phách lớn lao của mình.

Trong “Nhật ký trong tù” chất thép được thể hiện khá rõ nét, nếu chúng ta đọc

kĩ tập thơ thì hầu như bài nào cũng có “ thép”, “tinh thần thép” Nhưng nó được thểhiện một cách gián tiếp chứ không phải trực tiếp Đúng như nhà phê bình văn học

Hoài Thanh đã phát hiện: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu thế

nào là thép trong thơ, ta cần phải hiểu linh hoạt mới đúng Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép” Tinh thần thép là tinh thần không

khuất phục, không thỏa hiệp đối với chủ nghĩa đế quốc, với giai cấp thù địch Vàtrong bài thơ dưới đây tinh thần thép được thể hiện là tinh thần luôn giữ vững niềmtin, không bị nao núng trước hoàn cảnh cùng cực, thiên nhiên khắc nghiệt:

“Gà gáy lần đêm chửa tan Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn”.

(Giải đi sớm)

Hình tượng trung tâm của bài thơ là người bị giải đi từ sáng sớm tinh mơ khibóng đêm chưa tàn Không gian hiu quạnh, giá rét, một tiếng gà heo hút, một chòmsao và một vần trăng hiu lạnh, một đỉnh núi mùa thu đổ dài xuống con đường xathẳm Âm thanh càng vắng lặng sau tiếng gà, chỉ còn tiếng gió rít và màu sáng lạnhcủa trăng thu Trong cảnh gian lao đó, người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mangvòng xích” vẫn hiện lên với tư thế của một ngưỡi chiến sỹ ra đi vì nghĩa lớn, mặc chotrận gió thu lạnh thổi tới trước mặt “nghênh diện thu phong trận trận hàn”, thiênnhiên khắc nghiệt, thân phận tù đày không giảm được ý chí và lòng quyết tâm củangười chiến sỹ

Còn ở bài thơ “ Đi đường” không chỉ là sự đúc kết một cuộc đi đường cụ thể

mà bao hàm một thái độ đánh giá, nhận thức được suy nghĩ trong suốt cả chặngđường dài trên bước đường đời nói chung, trên bước đường cách mạng nói riêng:

“ Đi đường mới biết gian lao Núi cao lại núi cao trập trùng”

Hai câu thơ gợi cho người đọc về cái gian lao thì ít mà mở ra một không gianbát ngát, điệp trùng, đẹp đẽ, hùng vĩ nhiều hơn Chẳng thấy đâu đày ải xích xiềng,chỉ thấy một trái tim tự do đang chiêm ngưỡng, đắm say thưởng ngoạn thiên nhiêncủa nhà nghệ sĩ Đằng sau câu thơ, ta bắt gặp một tâm hồn lớn, tha thiết, đẹp đẽ, mộttrí tuệ mẫn cảm của bậc chí sĩ đang đối diện, chịu đựng những gian lao khủng khiếpnhưng đã biết vượt lên gian lao bằng thái độ làm chủ, bằng phong thái ung dung bìnhtĩnh, với cái nhìn minh mẫn, sáng suốt mà khiêm tốn, giản dị Hai câu cuối cấu trúctheo mối quan hệ “điều kiện - nhân quả” Khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao chót vótthì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt:

“Núi cao lên đến tận cùng

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”.

Muốn vượt qua các lớp núi lên đỉnh cao chót vót thì phải có quyết tâm và nghịlực lớn, chỉ có thế mới giành được thắng lợi vẻ vang, thu được kết quả tốt đẹp Haicâu thơ hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc

Trang 6

sống để đạt được đỉnh cao của phẩm chất đạo đức và kiến thức khoa học Bài học điđường quả thật là vô giá đối với bất cứ ai.

Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù” còn được thể hiện

ở phong thái ung dung tự tại, luôn làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, một tinhthần lạc quan, luôn hướng về bình minh, mặt trời hồng và sự tất thắng của cáchmạng Trong bóng tối của tù ngục, người vẫn để tâm hồn mình hướng ra ngoàithưởng thức đêm trăng đẹp, trăng với người đã trở thành người bạn tri âm, tri kỉ:

“Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

“ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Từ trong ngục tối, Người ngắm trăng qua song sắt nhà tù Tư thế ngắm trăng ấy rấtđẹp, như một cuộc “vượt ngục tinh thần” Trăng và nhà thơ, hai gương mặt trong sáng,hai tâm hồn thanh cao dù bị song sắt nhà tù ngăn cách vẫn gần gũi sâu nặng ân tình Cóthể nói đây là hai câu thơ đẹp nhất, độc đáo nhất Đã mấy ai ngắm trăng qua song sắt nhàtù? Tư thế ngắm trăng của nhà thơ Hồ chí Minh biểu lộ một tâm hồn thanh cao, mộtphong thái ung dung tự tại

Trong gian khổ, người luôn hướng về phía ánh sáng, ánh lửa hồng của cô gáibên xóm núi:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng”.

( Chiều tối)

Cũng có khi là tia nắng hồng - tia nắng của hy vọng rực rỡ tràn ngập lòng mình:

“Trong ngục giờ đây còn tối mịt ánh hồng trước mặt đã bừng soi”

( Buổi sớm)

Có được tinh thần lạc quan tuyệt đối và tinh thần sáng chói niềm tin như vậy chính vìngười đã nắm được quy luật của lịch sử, quy luật của thiên nhiên và con người:

“Sự vật xoay vần đã định sẵn, Hết mưa là nắng hửng lên thôi;

Đất trời một thoáng thu màn ướt Sông núi muôn trùng trải gấm phơi;

Trời ấm hoa cười chào gió nhẹ,

Trang 7

Cây cao chim hót rộn cành tươi;

Người cùng vạn vật đều phơi phới Hết khổ là vui vốn lẽ đời”.

(Trời hửng)

Như vậy ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh đều vượt qua cảnh tình củariêng mình để đến với cuộc đời “Lấy cái vui của cuộc đời đánh bại mọi đau thương”hay “hòa lệ thành thơ tả nỗi này” Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca:

“ Lại thương nỗi đày đọa thân Bác Mười bốn trăng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc

Mà thơ bay cánh hạc ung dung”

a2 Lòng yêu nước thiết tha, sâu nặng:

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, dân nô lệ Ngườikhông đành lòng chứng kiến nỗi đau của toàn dân tộc, ngày 05 - 06 - 1911 - ngàyđịnh mệnh đã dến, Người đã quyết định ra tìm đường cứu nước mang theo tâm hồn,

tư tưởng, dòng máu bất khuất của ông cha Nhưng Người không muốn theo đi theovết xe đổ của các anh hùng đã thất bại trong sự nghiệp cứu nước Người chọn conđường sang phương Tây, bởi đây là nơi có khoa học kỹ thuật phát triển, có khẩu hiệu

“Tự do, bình đẳng, bác ái” đã chạm vào khát vọng ngàn đời của các dân tộc - đó làcon đường cách mạng vô sản Dù bất cứ ở đâu, làm gì, ngay cả khi bị vào tù, bị tratấn dã man Người vẫn luôn trung thành với con đường đó Người đã từng tâm sự:

“Suốt đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta đượchoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ơn, áomặc, ai cũng được học hành” “Nhật ký trong tù” canh cánh một tấm lòng nhớ, nướcthương dân

Bài “ốm nặng” như chứa đầy lệ; những dòng lệ xót thương đất nước trong

cảnh lầm than:

“Ngoại cảm” trời Hoa cơn nóng lạnh,

“Nội thương” đất Việt cảnh lầm than;

ở tù mắc bệnh càng cay đắng, Đáng khóc mà ta cứ hát tràn”.

Bị tù tội nơi xa xứ, lại bị ốm nặng, nỗi đau khổ như nhân lên nghìn vạn lần.Nỗi đau riêng của thân mình, với Bác có đáng kế chi! Bác đau đớn, đau khổ vô cùngkhi nghĩ đến cảnh lầm than của dân tộc Bao nhiêu lệ đã tuôn tràn … Bài thơ chữHán, câu nào cũng có chữ nói lên nỗi đau vì nước, vì dân trước thảm họa bị ngoại

bang nô dịch: chữ “cảm” (câu 1), chữ “thương” (câu 2), chữ “tân khổ” (câu 3), chữ

“thống khốc” (câu 4) “ốm nặng” bát ngát tình yêu nước, thương dân là thế!

Bài thơ “Không ngủ được” nói lên nỗi thao thức và giấc mộng đẹp trong một

đêm dài giữa chốn tù ngục:

“Một canh hai canh lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

Thời gian trôi đi nặng nề, lê thê trong ngục tối Quá nửa đêm (canh ba) mà Bácvẫn “trằn trọc, băn khoăn”, không sao ngủ được Đến canh năm (gần sáng) thì “vừa

Trang 8

chợp mắt” được trong khoảnh khắc, tứ thì “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh”.(Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cánh) “Ngôi sao năm cánh” tượngtrưng cho hình ảnh Tổ quốc thân yêu Cả bài thơ là tình nhớ nước, thương dân vô bờbến, phản ánh một tâm trạng “đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước” ( “Người đitìm hình của nước” - Chế Lan Viên ).

Trong tâm hồn người chiến sĩ vĩ đại, hình ảnh “Tổ quốc” và “cố hương” luôn luôn hiện lên day dứt, nhắc nhở khôn nguôi.“Tức cảnh” là bài tứ tuyệt thể hiện cảm

hứng yêu nước, yêu quê hương thiết tha nhất:

“Tổ quốc chung niên vô tin tức

Cố hương mỗi thật vọng hồi âm”

(Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng Tin tức bên nhà bữa bữa trông)

Hai chữ “chung niên” và “mỗi thật” nói lên nỗi như nước, nhớ quê triền miên, day dứt suốt đêm này, năm tháng Chữ “vọng” diễn tả cái đăm đắm hướng về

cố quốc, cố hương Cố quốc dù cách xa nghìn trùng mà lòng vẫn hướng về (tâm hoài

cố quốc) với bao giấc mộng và mối sầu vương vấn như ngàn vạn mối tơ (vạn lũ ti).Tình cảm thiêng liêng ấy đã buộc chặt tâm tâm hồn người chiến sĩ vĩ đại trong cảnhđọa đày xa xứ với hồn thiêng sông núi Người xưa thì “nhớ nước đau lòng con cuốccuốc” (Bà Huyện Thanh Quan), còn Bác thì đã “hòa lệ thành thơ tả nỗi này”:

“Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ, Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti”

(Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ, Muôn tơ vương vấn mộng sầu này).

(Đêm thu)

Trái tim của Bác lúc nào cũng bồn chồn nhớ quê nhớ nước “tin tức bên nhàbữa bữa trông” Nằm trong ngục tối suốt năm canh thao thức nhớ nước, lúc mới ra tùlại càng nhớ nước, nhớ bạn vô cùng:

“Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh, Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa”

(Mới ra tù, học leo núi)

Vần thơ nhớ nước, nhớ bạn còn kín đáo gửi gắm một hứa hẹn ngày trở lại Tổquốc thân yêu, để cùng thân nhân đứng lên “chặt xiềng, phá ách, giành lại non sông”

a3 Tình yêu thương mênh mông đối với con người và cuộc sống:

Nhà thơ Tố Hữu đã phải thốt lên rằng:

“Bác ơi! tin Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người”

(Bác ơi)

Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng nói thêm: “Tình nhân đạo, tình thương đồng

bào đó là điều sâu sắc và tốt đẹp nhất trong con người Hồ Chủ Tịch”

ở Hồ Chí Minh lòng thương nước, thương dân, thương nhân loại mang một nộidung mới, sâu sắc, toàn diện Trước hết đó không phải là lòng thương hại của “bềtrên” nhìn xuống, cùng không phải là sự động lòng trắc ẩn của người “đứng ngoài”trông vào mà là sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ đã từng trải qua vàchứng kiến biết bao cảnh đau thương ngang trái, bất công Cũng là vì:

“Người đã đói một cơn đói ngày xưa

Trang 9

Vì Người đã chết hai triệu lần năm đói bốn lăm khủng khiếp

Bởi vì Người đã mặc lên mọi tấm áo xác xơ

Đã đi chân đất với mỗi đôi chân trần của người dân mất nước Bởi vì Người đã chứa chất nỗi tủi nhục của người cùng cực”.

( Chế Lan Viên )

Trong nhà lao, nghe tiếng sáo sầu thảm của người bạn tù nhớ quê hương, Bácthương cảm và như thấy hiện ra trước mắt một làng quê nào đó, có người thiếu phụbước lên thêm một tầng lầu ngóng về phương xa:

“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”.

( Người bạn tù thổi sáo)

ở đây không còn là nỗi nhớ thương hối tiếc của người khuê phụ đã trót xuichồng ra đi lập công hầu bài “Khuê oán” của Vương Xương Linh Ngày xuân nhớchồng ngoài chiến địa, người thiếu phụ bước lên thêm một tầng lầu nhìn về phía xa,nhưng chỉ thấy một màu dương liễu xanh Chủ đề bài thơ của Hồ Chí Minh là chủnghĩa nhân ái Người thương cảm cảnh ngộ xa cách của người bạn tù và người khuêphụ qua tiếng sáo nhớ quê hương Tiếng sáo đã tạo nên một niềm đồng cảm sâu sắcgiữa ba tâm hồn, ba cảnh ngộ Khúc nhạc tư hương của người bạn tù cũng có thể gợilên tấm lòng nhớ nước, nhớ quê hương xa cách ngàn dặm và “khuê nhân” ở đây cóthể là vợ của người bạn tù mà cũng có thể là nhân dân trong nước đang chờ mongngười cán bộ lãnh đạo trở về

Bài thơ thể hiện tình cảm nhân đạo cao quý của Hồ Chính Minh Cái cao quýcòn nằm ở phần “vô cùng” của bài thơ, phần “không nói” của bài thơ Đường, thơ tứtuyệt Trong khi thương vợ chồng người bạn tù, Bác cũng bị đày đọa đau khổ và có

lẽ Bác là người đáng thương nhất trong nhà tù tàn bạo đó Đêm Người nằm trên sàn

đá lạnh “không đệm cũng không chăn, gối quắp lưng còng ngủ chẳng an”, có nhữngngày phải đi bộ “năm mươi ba cây số một ngày áo mũ dầm mưa rách hết giày”, lại

bị giải đi bất kể ngày, đêm, khuya, sớm, đi mãi … Còn biết bao chuyện đáng nóitrong cái nhà tù “Rệp bò lổm ngổm như xe cóc Muỗi lượn nghênh ngang tựa máybay” nhưng Bác không nói, Bác đã quên đi nỗi đau khổ của riêng mình mà đem lòngyêu thương những người bất hạnh “nâng niu tất cả chỉ quên mình”

Bác không thể dằn lòng được cảnh “vợ người bạn tù đến thăm chồng”, chế độtàn ác của Tưởng Giới Thạch như cánh song cửa sắt của nhà thù đã ngăn cách khôngcho họ được gặp nhau:

“Anh đứng trong cửa sắt

Em đứng ngoài cửa sắt”

Gần nhau trong tấc gang

Mà biển trời cách mặt Miệng nói chẳng nên lời Chỉ còn nhờ khóe mắt Cảnh tình đáng thương thật”

(Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng)

Nhà thơ Tố Hữu có những vần thơ thật cảm động khi viết về Bác:

Trang 10

“Trăm thế kỷ mang tên Người: ái Quốc Bạn muôn đời của thế giới đau thương”

(Hồ Chí Minh)

Quả thực Bác dành tình thương cho tất cả mọi người trên thế gian, không phânbiệt giai cấp, màu da, Người đã từng nói:

“Rằng đây bốn biển là nhà Vàng, đen, trắng, đỏ đền là anh em”.

Và đặc biệt càng là người vất vả khổ cực thì Bác lại càng thương, thươngngười bạn tù chỉ có cái chăn bằng giấy bồi, đêm thu cũng như Bác, trằn trọc ngủchẳng yên:

“Sách xưa, vở mới khéo đem bồi Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi Giường ngọc, màn thêu ai có thấu Trong lao không ngủ biết bao người”

(Chiếc chăn giấy của người bạn tù)

Bác thương người tù cơ bạc nghèo không có gì ăn trước cái cảnh ngày ngày norượu thịt của kẻ khác, đành chịu nước mắt bọt mồm tuôn Thương người bạn tù đêmqua còn dựa lưng vào Bác, sáng nay đã chết cứng:

“Hôm qua còn ở bên tôi Hôm nay anh đã về nơi suối vàng”

(Một người tù cờ bạc “chết cứng”)

Sống trong nhà tù hà khắc của bọn Tưởng Giới Thạch đã khốn khổ, những lần

bị giải đi qua nhà tù khác, Bác càng khổ hơn Là tù nhân, chân bị Xiềng, tay bị trói,

bị giải đi bất kể nắng mưa Bác vẫn nghĩ và đem lòng thương người lao động trênđường hơn là nghĩ đến mình Xét đến cùng, giữa người tù nhân và phu làm đường thìdẫu sao người phu làm đường vẫn dễ chịu hơn Nhưng nhìn thấy cảnh lao động nặngnhọc của họ, Người đã xúc động:

“Dãi nắng, dầm mưa chẳng nghỉ ngơi Phu đường vất vả lắm ai ơi”

(Phu làm đường)

Bác thương người phu đường vì phải làm việc trong những điều kiện khắcnghiệp mà vẫn tận tụy với công việc, “ngựa xe hành khách” hình ảnh tấp nập trênđường đi là kết quả của những người phu làm đường “dãi gió dầm mưa” nặng nhọc,vất vả, vậy mà mấy ai biết:

“Biết cảm ơn anh được mấy người?”

Câu thơ vừa nói lên một sự thật đượm chút cay đắng vừa như nhắc nhở, nhắnnhủ mọi người hãy biết ơn những người làm đường Bài thơ có gốc rễ sâu xa trongnền tảng tư tưởng của dân tộc Từ tư tưởng ân nghĩa, Người đã phát triển tinh thầnnhân đạo cộng sản cao cả khiến cho bài thơ có giáo dục giá trị sâu sắc

Với những người tù nhân, Hồ Chí Minh còn nói thay cho họ nỗi uất ức củatâm hồn:

“Thanh minh lất thất mưa phùn

Tù nhân nghe thấm nỗi buồn xót xa”

(Tiết thanh minh)

Bác luôn bênh vực cho những người “cùng hội cùng thuyền”, thương cho

Trang 11

những người đi đường nghèo khổ, giữa bao nhiêu hình ảnh bề bộn, tâm trí Bác đã âuyếm ghi lại hình ảnh một cái quán nhỏ bên đường chỉ có cháo hoa và muối trắngnhưng khách qua đường vẫn lấy làm chỗ dừng chân.

Đặc biệt, Bác danh tình thương cho những sinh linh bé nhỏ phải chịu cảnh lao

tù rất vô cớ Bài thơ tứ tuyệt mở đầu bằng câu thơ rất lạ:

“Oa …! Oa …!Oa…!”

Âm thanh non nớt đó không thể có trong nhà ngục được.Tiếng khóc “oa…oa”của đứa trẻ muốn xé cả nhà ngục đó cứ dội vào trái tim yêu thương mênh mông củaBác Âm thanh non nớt đó kể lể với Bác (hương hoa hồng cũng đã vào thấu trongngục kể lể với Bác sự bất bình Như là cháu bé và hoa hồng đều biết ông chủ bút của

tờ báo” Người cùng khổ”) Tiếng khóc nói với Bác một niềm cay đắng trong “ngànvạn điều cay đắng trên đời”:

“ Cha trốn không đi lính nước nhà

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

Phải theo mẹ đến ở nhà pha”

( Cháu bé trong nhà lao Tân Dương )

Bọn Tưởng Giới Thạch có lệ bắt lính, nhưng chính quyền quốc dân đảngTưởng Giới Thạch không đại diện quyền lợi của nhân dân, các quốc gia đó chỉ đạidiện cho bọn người bóc lột, tàn bạo Không ai đi lính để bảo vệ cho cái chế độ mụcnát của Tưởng Giới Thạch Vì thế nhân dân đã phản kháng, bọn cầm quyền càng tànbạo Chúng giở trò đàn áp vợ con của người trốn lính

Bài thơ vừa mang giá trị hiện thực vừa thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc củangười tù vĩ đại Hồ Chí Minh Trong “Nhật ký trong tù”, Hồ Chí Minh còn dành tìnhthương cho những người phụ nữ gặp cảnh ngộ éo le, họ phải chịu nỗi sầu đau côquạnh vì chồng phải vào lính:

“Biền biệt anh đi không trở lại

Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu Quan trên xót nỗi em cô quạnh Nên lại mời em tạm ở tù”.

(Gia quyến người bị bắt lính)

Có những đêm không ngủ, Bác nghe thấy tiếng khóc chồng của người vợ trẻ

mà trong lòng xót thay:

“Hỡi ôi! chàng hỡi, hỡi chàng ơi!

Có sự vì sao vội lánh đời

Để thiếp từ nay đâu thấy được Con người tâm ý hợp mười mươi”

(Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng)

Bài thơ khép lại, nhưng tiếng khóc ai oán cứ ám ảnh tâm trí người đọc mãikhông nguôi

Trong trái tim mênh mông “ôm cả non sông mọi kiếp người” - Hồ Chí Minh

đã dành một góc trái tim mình cho những nông dân lao động vất vả đất Trung Hoa,Người cũng lo cái lo của họ:

“Nghe nói xuân này trời đại hạn Mười phân, thu hoạch chỉ vài phân”

(Đồng chí)

Trang 12

Nhưng Người cũng vui cái vui của họ:

“Khắp chốn nông dân cười hớn hở Đồng quê vang dậy tiếng ca vui”

(Cảnh ngoài đồng)

Có thể thấy chủ nghĩa nhân đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong

“Nhật ký trong tù” thật bao la, độ lượng Tấm lòng nhân ái, bao dung độ lượng đóchắc chắn đã cảm hóa được nhiều người trong cái nhà tù thối nát của chế độ quốcdân Đảng

Xưa kia, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã từng chắt chiu những tấmlòng nhân ái còn sót lại ở những nơi tối tăm đầy áp bức Ai ngờ, ở chốn lầu xanh của

tú bà, ở gia đình Hoạn Thư lại còn những tâm hồn trong trắng, thương người như MãKiều, quản gia Đó là những đóa hoa sen còn sót lại trên đống bùn nhầy nhụa của xãhội phong kiến Trong nhà ngục của bọn Quốc dân đảng, Hồ Chí Minh cũng rất quýtrọng, nâng niu những tâm hồn trong sạch, lương thiện còn sót lại Người tỏ lòng biết

ơn “khoa trưởng họ Ngũ, khoa viện họ Hoàng” đã ân cần thăm hỏi và giúp đỡ tùnhân “thật giống như mùa đông rét mưới gặp được ngày nắng ấm” Người khen ngợi

“trưởng ban họ Mạc” ở Tân Dương vét tiền túi mua cơm cho tù nhân, tối đến cởi trói

họ ngủ, không dùng uy quyền chỉ dùng nhân nghĩa

Trong bài “Tiên sinh họ Quách”, Người khẳng định một niềm tin đầy tính chấtnhân ái vào bản chất lương thiện của con người Những người “trong tuyết” “chothan” tuy rằng ít, nhưng trên đời vẫn còn loại như thế

Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù” còn mang nội dungmới, chất lượng mới ở chỗ: lòng thương yêu nhân dân, nhân loại, người cùng khổ củaNgười không chỉ dừng lại ở “tình thương trừu tượng” ở sự cảm thông, ở lòng tin, màtrên cơ sở nắm vững lý luận, phương pháp luận khoa học cách mạng, Người đã đi sâutìm hiểu, vạch rõ nguồn gốc của mọi nghèo khổ, mọi áp bức bóc lột, mọi bất côngtrên đời Từ đó đã gắn lòng yêu thương nhân dân, nhân loại người cùng khổ với lòngcăm ghét, lên án mọi chế độ bất công, lên án chủ nghĩa đế quốc, thực dân … tìm racon đường đúng đắn, khoa học để từng bước đạt tới giải phóng dân tộc, giải phóngcon người

Do đó chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân đạo khoa học.Chúng ta có thể tìm thấy ở “Nhật ký trong tù” nói riêng, thơ Bác nói chung nhữngbài học sáng ngời tính nhân văn Qua đó, càng thêm yêu mến, trân trọng phẩm chấtcao quý trong con người Hồ Chí Minh Phẩm chất ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng

để chúng ta học tập, noi theo

a4 Tâm hồn nghệ sĩ với tình yêu thiên nhiên đắm say:

Cái hay vô song của “Nhật ký trong tù” không chỉ ở chất người cộng sản HồChí Minh, ở trái tim mênh mông “ôm cả non sông mọi kiếp người” mà còn ở tâmhồn nghệ sỹ trước những biến thái tinh vi của thiên nhiên, tạo vật Đây là sự tiếp nối,

kế thừa văn chương truyền thống:

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”

(Cảm tưởng đọc thiên gia thi)

Tuy nhiên, đọc kĩ những bài thơ ta thấy cảnh miêu tả thiên nhiên trong thơ Bácvẫn có một đường lối, một phong cách riêng Sống trong tù, Bác phải chịu bao nhiều

Trang 13

khổ ải, nhưng bác đã quên đi nỗi đau khổ của riêng mình Với tấm lòng ưu ái, Bácquan tâm, đồng cảm, thương yêu hết thảy những con người bất hạnh, những cảnh ngộtrớ trêu, thương tâm và sâu sắc hơn nữa là Bác quan tâm đồng cảm với thiên nhiên.

Trong tập thơ Bác dành cho thiên nhiên một địa vị danh dự Kể từ khi bị bắtgiam cho đến khi tại ngoại, chế độ lao tù của Quốc dân đảng có bao giờ dành choBác (nói riêng) những người tù (nói chung) những giờ phút thoải mái, thư thái đểngắm phong cảnh đâu ấy thế nhưng, từ sau cánh cửa nặng trịch của buồng giam, quamột lỗ thông hơi nhỏ xíu, Bác vẫn mở rộng tâm hồn để đón chào, để thu hút lấynhững gì còn có thể gọi là nguồn vui mà cõi vật bên ngoài còn có thể cung cấp chođời sống nội tâm của con người lương thiện Có gì đâu! Một tia nắng mặt trời lúc banmai, một luồng gió mát lẫn với mùi hoa từ ngoài sân thoảng tới, hay một tảng bóngđen thẫm của một lùm cây, hay chỉ là cái nhấp nhánh của chòm sao Bắc Đẩu

“Mười bốn trăng tê tái” trong gông cùm, xiềng xích, lại bị giải tới giải lui quaphần đất mười ba huyện, thì cảm ứng đối với thiên nhiên của Bác là biểu hiện mộtthái độ muốn vượt lên cái hiện thực bi đát ấy:

“Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng

Vui say ai cấm ta đừng Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu”

(Trên đường)

Cốt cách người đi đường thật là vĩ đại Bạo lực không lay chuyển được tinhthần của Người, xiềng xích không đè bẹp được ý chí của Người Người vẫn ung dungnhư một du khách thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên Đó là thái độ thách thức giaicấp thống trị phản động đương thời Làm sao chúng nó có thể cấm được tinh thầnyêu đời, yêu cuộc sống, vui say với thiên nhiên tươi đẹp của Người Thái độ sống lạcquan, yêu đời đó chúng ta còn bắt gặp trong nhiều bài thơ khác nữa Trong tù, Ngườicũng ngắm trăng, bị giải đi trên thuyền, hai chân bị treo lủng lẳng trên mũi thuyền.Người vẫn ung dung ngắm cảnh:

“Làng xóm ven sông đông đúc thế Thuyền câu rẽ sống nhẹ thênh thênh”

(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)

Xưa kia, người phương Đông đã từng quan niệm: vũ trụ là một khối thốngnhất: “thiên địa vạn vật nhất thể” (Trời đất với con người có mối quan hệ khăng khítkhó tách rời) Trong thơ Hồ Chí Minh, nhất là những vần thơ được sáng tác trong tù,

ta thấy ảnh hưởng của quan niệm xưa ấy khá rõ nét, con người và thiên nhiên khôngchỉ là một tổng thể hài hòa “còn non, còn nước, còn người” mà còn có sự tương giaotương cảm Cảnh với người, sự vật khách quan và cái tôi chủ thể trữ tình soi bóngvao nhau, hòa quyện khăng khít với nhau:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”- (Ngắm trăng)

“Hương hoa bay thấu vào trong ngục

Kể với tù nhân nỗi bất bình”.

(Cảnh chiều hôm)

Nếu không là một tâm hồn nghệ sĩ thì có lòng nào, còn thì giờ đâu mà nghĩđến những thú vui như thế, những thú vui tuy có phần thanh cao nhưng xa lạ và có

Ngày đăng: 15/07/2020, 08:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w