1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết về vô cơ phân tích và nhận biết các hợp chất vô cơ trong chương trình hoá THPT

75 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 532,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình trên mới chỉ đề cập đến bức tranh về xã hội phong kiến nói chung , chưa có công trình chuyên biệt về phụ nữ.. Đối với nhân dân lao động pháp luật phong kiến la

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phụ nữ là một nửa thế giới, họ chiếm một vị trí quan trọng trên mọi lĩnh vực của cuộ c sống Xã hội càng hiện đại văn minh bao nhiêu thì vai trò của người phụ nữ càng được đề cao bấy nhiêu Ở Việt Nam cũng vậy , trải qua hàng nghìn năm lịch sử người phụ nữ Việ t Nam đã đóng góp công sức , trí tuệ và cả máu xương cho sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Từ đó đã hun đúc nên những phẩm chất t ruyền thống qu ý báu của dân tộc Việt Nam : Cần cù , thông minh , sáng tạo trong lao động và sản xuất, đảm đang gánh vác việc gia đình , giữ gìn và phát huy t inh hoa văn hóa của dân tộc, yêu nước, quật cường chống ngoại xâm Chính vì thế mà phụ nữ đã được nhà nước và pháp luật bảo vệ về quyền lợi và nghĩa vụ nhằm tạo cơ hội cho họ phát huy năng lự c của mình vào sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh , văn minh Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu rằng, trong xã hội phong kiến thì phụ nữ bị khinh rẻ, họ không có một vị trí nào trong xã hội Thân phận người phụ nữ được Luật pháp thời đó ghi nhận như thế nào ? cũng có thể luật pháp thể hiện những nội dung tiến bộ về người phụ nữ hoặc là những quy định khắt khe nhằm duy trì chế độ gia trưởng và ràng buộc hạ t hấp thân phận người phụ nữ? Đó là một câu hỏi lớn cần được giải đáp thỏa đáng Phụ nữ với luật pháp là một vấn đề được nhiều người quan tâm,nhất là khi chúng ta đang trong thời đại thực hiện bình đẳng giới cho phụ nữ Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề

tài: “Phụ nữ Việt Nam qua phản ánh của luật pháp phong kiến từ thế

kỷ XI - XIX’’

2 Lịch sử vấn đề

Người phụ nữ Việt Nam qua phản ánh của luật pháp phong kiến là một vấn đề không mới , nhưng có ít ngành , ít tác giả nghiên cứu về nó Cụ thể có một số tác giả , cơ quan đã đề cập đến nhưng đề tài người phụ nữ chỉ là một

Trang 2

nội dung nhỏ nằm trong toàn bộ hệ thống các điều luật của từ ng bộ luật mà các tác giả nghiên cứu, đó là:

1 Bộ Tư pháp- Viện khoa học pháp lý( 2008), “ Quốc triều hình luật‟‟, NXB Tư pháp, Hà Nội

2 Bộ Tư pháp- Viện khoa học pháp lý( 2008), “ Tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ‟‟, NXB Tư pháp, Hà Nội

3.Lê Thị Sơn( chủ biên)( 2004), “ Quốc triều hình luật- Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị‟‟, NXB Khoa học xã hội

4.Viện Sử học Việt Nam, “ Quốc Triều hình luật- Luật hình triều Lê‟‟, NXB Khoa học xã hội

Các công trình trên mới chỉ đề cập đến bức tranh về xã hội phong kiến nói chung , chưa có công trình chuyên biệt về phụ nữ Ở đề tài nay tôi xin đi sâu nghiên cứu vai trò , vị trí của người phụ n ữ trong xã hội phong kiế n được pháp luật phản ánh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để hiểu rõ hơn thân phận , vai trò của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và sự ghi nhận của luật pháp phong kiến đối với thân phận của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ có đặc biệt là khi to àn xã hội đang thực hiện sự nghiệp giải phó ng người p hụ nữ khỏi nhưng ràng buộc , định kiến những tập tục lạc hậu của xã hội cũ để lại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Không gian: trên toàn đất nước việt vam

Thời gian: từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Khóa luận sử dụng các phương phápluận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng

Kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và logic , phương pháp phân t ích tổng hợp, so sánh để làm rõ vấn đề

6 Đóng góp của khóa luận

Đã Làm rõ vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến qua sự phản ánh của luật pháp Qua đó thấy được những mặt tiến bộ và hạn chế của luật pháp phong kiến khi đề cập đến người phụ nữ

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Những quan điểm chung về phụ nữ trong xã hội phong kiến

Chương 2: Phụ nữ Việt Nam qua phản ánh của luật pháp phong kiến từ thế kỷ XI-XIX

Trang 4

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

NHỮNG QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI

PHONG KIẾN

1.1 Mấy nét khái quát về luật pháp phong kiến

1.1.1 sự ra đời của luật pháp phong kiến

Chủ nghĩa Má c-Lênin cho rằng pháp luậ t là một phạm trù lịch sử , sự tồn tại của pháp luật chỉ gắn với xã hội có giai cấp và nhà nước , nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là nguyên nhân dẫ n đến xuất hiện pháp luật, vấn đề nhà n ước và pháp luật phải được nhìn nhận dưới lăng kính kinh tế- giai cấp Sự ra đời và tồn tại của pháp luật Việt Nam cũng nằm trong quy luật ấy

Luật pháp phong kiến Việt nam được manh nha hình thành cùng với quá trình hình thành nhà nước đầu tiên của nước ta đó là nhà nước Văn lang –

Âu lạc và tiếp tục phát triển ở các thời kỳ sau đó

Từ năm 179TCN đến đầ u thế kỷ X pháp luật Việt Nam hình thành trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc

Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược của An Dương Vương thất bại, Âu Lạc trở thành quận huyện của các nhà nước phong kiến phương Bắc cho đến đầu thế kỷ X Trong khoảng thời gian dài một nghìn năm ấy ; dân ta đã không ngừng nổi dậy đấu tranh chống chính quyền đô hộ , một số cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, nhưng kết quả đã không duy trì và giữ vững th ành quả được bao lâu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Lý Bí[13,21]

Dưới sự cai trị củ a bọn phong kiến phương Bắc , pháp luật được thi hành ở nước ta lúc này là pháp luật của bọn đô hộ với mục đích là ràng buộc, cưỡng bức nhân dân ta từng bước đồng hóa người Việt Tuy nhiên với tinh

Trang 5

thần quật khởi bất khuất của một dân tộc ý thức sâu sắc về quyền độc lập thiêng liêng, nhân dân ta đã đ ấu tranh bền bỉ quyết liệt , đánh bại từng bước

âm mưu thâm độc của các đế chế Trung Hoa và kết thúc bằng trận trận

“chung kết toàn thắng ‟‟của Ngô Quyền năm 938[13, 38]

Pháp luật Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX được phát triển trong thời kỳ độc lập tự chủ và để lại nhiều thành tựu có giá trị đến ngày nay

Sau khi đánh bại quân Nam Há n Ngô Quyền xưng vương năm 939, đóng đô ở Cổ Loa và bắt đầu xây dựng một chính quyền trung ương độc lập Xã hội phong kiến Việt Nam trải qua các triều đại : Ngô, Đinh-Tiền Lê , Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Nguyễn kéo dài t ừ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Trong 10 thế kỷ đó song song với việ c xây dựng và bảo vệ bộ máy nh à nước trun g ương tập quyền pháp luật Việt Nam từng bước được xây dựng và ho àn thiện hơn qua từng triều đại Pháp luật từ chỗ chỉ là những luật tục, những hình phạt của nhà nước thì dần dần pháp luật đã phát triển cao hơn , nhiều bộ luật ra đời và được lưu giữ đến bây giờ[13,40]

Các thời Ngô- Đinh- Tiền Lê pháp luật chưa thấy quy định thành văn mà tồn tại dưới các quy phạm được mọi người thực hiện theo cưỡng chế, bảo

vệ mục đích của giai cấp thống trị Phần lớn các nguồn tài liệu còn lại có chưá đựng sử liệu về tổ chức nhà nước và pháp luật ở nước ta chỉ phản ánh từ triều Lý Tuy nhiên Luật tồn tại dưới hình thức chuyên chế của Vua, những tục lệ rất phổ biến nhưng đóng vai trò rất quan trọng và có hiệu lực cao trong xã hội

Sang thời Lý, cùng với sự phát triển và hoàn chỉnh của chính quyền trung ương nền pháp luật có bước tiến lớn.Đó là việc ban hành một bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Bộ luật Hình Thư Theo Phan Huy Chú , Hình Thư là một bộ hoàn chỉnh gồm 3 quyển được xây dựng trên

cơ sở tiếp thu những thành tựu của hoạt động luật pháp thời kỳ dài trước đó

Trang 6

Bộ luật Hình Thư bảo vệ quyền lợi của nhà nước trung ương tập quyền và của tầng lớp quý tộc quan liêu, củng cố chế độ đẳng cấp, bảo vệ chế độ ruộng đất của giai cấp phong kiến

Đến thời Trần, hoạt động pháp chế lại được tăng cường hơn nữa Nhà Trần đã cho soạn bộ luật Hình Luật

Luật pháp phát triển đến đỉnh cao vào thời Lê Sơ với sự ra đời của bộ Quốc Triều hình luật Bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền thống trị của nhà nước phong kiến đương thời, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của nhà Vua và hoàng tộc, quan lại, bảo vệ chế độ tư hữu và sự bất bình đẳng trong xã hội

Thời Nguyễn pháp luật được chú ý phát triển cùng với sự ra đời của bộ luật Gia Long Về mặt nội dung đây là bộ luật phức tạp, điều chỉnh các quan

hệ xã hội thuộc về nhiều lĩnh vực khác nhau Các điều khoản trong bộ luật Gia Long được xây dựng dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng các chế tài hình sự nhằm bảo vệ nền thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế, bảo vệ chế độ sở hữu phong kiến

Như vậy sự ra đời của luật pháp là một quá trình lâu dài gắn liền v ới sự hình thành nhà nước Luật pháp xuất hiện bắt nguồn từ nhu cầu của giai cấp thống trị và nó có vai trò vô cùng q uan trọng đối với xã hội phong kiến về mọi mặt

1.1.2 Vai trò của luật pháp trong xã hội phong kiến

Đối với xã hội phong kiến , quyền lực tập trung trong tay vua quan , địa chủ thì pháp luậ t là phương tiện để bảo vệ , và duy trì quyền lực của quan hệ sản xuất phong kiế n trước hết là quyền thống trị xã hội và sở hữu của chế độ phong kiến, đặc biệt là sự an toàn và các lợi ích kinh tế, chính trị của triều đại, của bản thân vua và các quan chức cao cấp cùng với họ hàng thân thuộc c ủa họ

Trang 7

Pháp luật là công cụ để nhà nước phong kiến thực hiện nhiệm vụ quản lý đất nước, là yếu tố để thể hóa quyền lực của Vua, Quan lại, Địa chủ

Pháp luật là phương tiện để bảo đảm sự ổn định của xã hội phong kiến,

đấu tranh chống các yếu tố gây mất ổn định xã hội

Pháp luật bảo vệ trật tự luân lý phong kiến và trật tự đẳng cấp trong xã hội Đó là trật tự theo tư tưởng Nho giáo với các quan hệ : Vua- tôi,Cha- con, vợ- chồng, đề cao chế độ chuyên chế, gia trưởng

Pháp luật là phương tiện để tạo lập quan hệ kinh tế trong xã hội phong kiến Đó là bảo vệ chế độ tư hữu ruộng đất mà quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà vua là một ngu yên tắc pháp lý thiêng liêng , tiếp theo là bảo vệ tầng lớp địa chủ và những người giàu có

Ngoài ra pháp luật phong kiến còn bảo vệ những giá trị đạo đức, phong tục tập tập quán của dân tộc

Mặt khác sự tồn tại của pháp luật phong kiến thể hiện sự văn minh trong cách quản lí xã hội, khắc phục được sự chuyên quyền của Vua và có giá trị xã hội nhất định

Đối với nhân dân lao động pháp luật phong kiến là một hình thức

cưỡng chế của nhà nước buộc mọi ngưới phải làm theo Pháp luật có tính chất bắt buộc để hạn chế quyền lợi của nhân dân

Tuy nhiên pháp luật phong kiến cũng có một số điều khoản mục đích bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, cho phụ nữ Đây là vai trò tích cực của pháp luật phong kiến

Nhìn chung pháp luật phong kiến có vai trò lớn nhất là bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của Vua quan phong kiến đặc biệt là Vua, còn dân thường phải có nghĩa vụ phục tùng theo Với vai trò này thì hẳn là các tầng lớp nhân dân được phản ánh trong pháp luật phong kiến sẽ bị ràng buộc, hạn chế quyền lợi của mình

Trang 8

1.2 Các quan điểm của xã hội phong kiến về người phụ nữ

1.2.1 Quan điểm của giai cấp thống trị

Trong xã hội phong kiến giai cấp thống trị mà cụ thể là vua quan , địa chủ không ngừng sử dụng mọi biện pháp nhằm bảo vệ và duy trì quyền lực của mình Ngay từ khi chế độ ph ong kiến Việt Nam được xác lập thì Nho giáo đã du nhập vào nước ta và được giai cấp thống trị sử dụng làm công cụ

để duy trì trật tự xã hội

Nho giáo bắt nguồn từ Trung Quố c do Khổng Tử sáng lập nên Khổng Tử tên thật là Khâu hiệu là Trọng Ni, là người có học vấn uyên bác đã làm tới chức Tư Khấu (tương đương với chức Bộ trưởng bộ Tư pháp) Khổng Tử đưa

ra biện pháp để duy trì trật tự xã hội đó là khôi phục đường lối đức trị và lễ trị như thời Tây Chu Cơ sở của đường lối đức trị ấy là lòng nhân , tức là lòng thương người Thi hành đường lối đức trị là phải “thận trọng trong công việc và phải trung thực , tiết kiệm trong việc chi dùng , thương người, sử dụng sức dân phải v ào những việc thích hợp ‟‟ Ngoài ra nhiệm vụ của người cầm quyền là ph ải làm cho nhân dân đông đúc , giàu có và sau đó phải tạo điều kiện cho họ học hành

Với đường lối đức trị lấy đạo đức làm cơ sở ấy , mục đích của Khổng Tử là muốn cứu vãn tình hình xã hội đương thời , nhưng học thuyết của ông không phải là bài thuốc hữu hiệu đối với căn bệnh của xã hội Trung Quốc lúc bây giờ , do vậy không được giai cấp thốn g trị chấp nhận Tuy không thành công về đường lối hoạt động chính trị nhưng về văn hóa giáo dục ông được coi là nhà giáo dục lớn đầu tiên của Trung Quốc Tương truyền rằng học trò của Khổng Tử đến 3000 người trong đó có một số người nổi tiếng như Nhan Uyên, Tử Lộ, Tử Hạ,Tăng Sâm Họ hợp thành phái Nho gia [11, 151]

Trang 9

Sau khi Khổng Tử mất Nho gia chia làm nhiều phái trong đố có phái Tăng Tử được coi là chính thống Tăng Tử lại mở trườ ng dạy học ở nước Lỗ và truyền học thuyết Nho Gia cho Tử Tư Tức Khổng Cấp , cháu đích tôn của Khổng Tử là Tử Tư lại truyền học thuyết này cho Mạnh Tử [11, 152]

Trong các học thuyết chính trị đạo đức ở Trung Quốc không có học thuyết nào sống lâu dài như Nho giáo Nếu tính từ thời Hán (thế kỷ II trước công nguyên ) thời độc tôn Nho học cho đến Cách mạng Tân Hợi (1911) thì Nho giáo đã có vai trò thống trị xã hội Trung Quốc hơn 2000 năm Trong hơn

2000 năm ấy , các triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp nhau đều xem Nho học là cơ sở tư tưởng của đạo trị nước Khi xã hội khủng hoảng, người ta đều quy là nhà nước quân chủ không sáng suốt, không có vua sáng tôi hiề n, không đúng các nguyên lý và nguyên tắc của đạo Nho chứ không phải do bản thân đạo Nho [2, 267]

Nho giáo góp phần tạo ra thế ổn định xã hội, chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến tạo ra sự thống nhất quốc gia đa dân tộc , hạn chế sự bóc lột tàn nhẫn của giai cấp thống trị cầm quyền[2;269]

Nho học và Nho giáo vào Việt Nam đã có một quá trình lâu dài , bằng con đường xâm lược và giao l ưu văn hóa, kinh tế giữa V iệt Nam và Trung Quốc, trước hết là côn g cụ của giai cấp thống trị Hán Đường tiến hành đồng hóa Trên 1000 năm Bắc thuộc bọ n xâm lược ra sức truyền bá nho học vào nước ta Sau khi giành được độc lập dân tộc nhân dân ta đã sử dụng Nho , Phật, Đạo để bắt tay xây dựng đất nước trước hết là một tổ chức độc lập để chống lại sự uy hiếp và xâm lược từ phương B ắc Chế độ phong kiến Việt Nam phát triển theo xu hướng tập quyền thống nhất nên có nhu cầu sử dụng Nho học Nho học bắt đầu phát triển vào từ thời Lý-Trần và được đẩy lên đến cực thịnh dưới thời Lê Sơ [4, 275-277]

Trang 10

Nho giáo là hệ tư tưởng về chính trị , đạo đức về con người và xã hội trong đó có một nội dung rất quan trọng đó là nhữn g quan niệm về người phụ nữ trong xã hội phong kiến rất khắt khe và giáo điều

Theo Nho giáo quan hệ vợ chồng được thể hiện rất bất bình đẳng , “sự‟‟ là nghĩa vụ của vợ và “ sử‟‟ là quy ền thế của chồng Đối tượng giáo dục chủ yếu đương nhiên là người vợ Khác với người con và người em thuộc về nam giới, người vợ nói riêng và người phụ nữ nói chung chỉ được nhận lấy tất cả mọi sự giáo dục trong phạm vi nhà , nhà c ủa mẹ hoặc nhà chồng mà thôi Thánh Khổng và các đại hiền Nhan, Tăng, Tư, Mạnh vv trước sau dạy đến mấy nghìn người không có ai là nữ Thánh hiền có coi phụ nữ ra gì đâu ! ở nước ta ngày trước rất nhiều ng ười không biết chữ hán cũng hiểu rõ câu “phụ nhân nan hóa‟‟ Những người hay chữ còn thích nhắc đi nhắc đi nhắc lại đầy đủ câu “Tử viết‟‟: “ Chỉ có con gái và kẻ tiểu nhân là kẻ khó nuôi dạy , gần họ thì họ nhờn, xa họ thì họ hờn‟‟(Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã , cận

vi tắc bất tốn , viễn chi tắc oán - Luận ngữ, Thiên Dương hóa ) Phải chăng vì thế mà nội dung giáo dục đối với phụ nữ quá nghiệt ngã ! Từ đời này qua đời khác ng ười ta cứ thêm thắ t mãi lên bao nhiêu sự ràng buộc Người phụ nữ không những suốt đời “Sự‟‟mà còn cứ phải “Tùy‟‟ (phu xướng phụ tùy ) và

“Tùng‟‟(tùng phụ, tùng phu, tùng tử) Nhà đối với nam giới là gốc của nước và thiên hạ thì đối với nữ giới lại là ngục tối âm u cách li hẳn với bên ngoài Người đời cho dùng chữ “tề gia‟‟để nói công việc nội trợ của người phụ nữ là không đúng Các thánh hiền Khổng Khâu , Tăng Sâmvv dùng chữ ấy cho những con người quân tử có đức sáng trong thiên hạ đấy Người phụ nữ chỉ là người “tề gia nội trợ‟‟(nội trợ trong công việc tề gia) [4, 176-177]

Nguyên lý về mối quan hệ “sự‟‟ và “sử‟‟ trình bày ở trên không bao giờ cho phép có tình trạng “cá đối bằng nhau‟‟ Nhà lại không phải là một cộng

Trang 11

đồng đơn giản mà còn là một cơ sở cạnh tranh sống còn, một đơn vị chiến đấu xã hội và chính trị [21, 181]

Những “phu nhân‟‟ hoặc “nữ nhân‟‟ mà Trọ ng Ni cho là “ khó giáo hóa‟‟, “khó nuôi dạy” Phải chăng nhà Chu và Nho giáo đã phát huy đến cùng thắng lợi của cu ộc cách mạng mà người ta đã gọi là “một trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải q ua‟‟tức là cuộc cách mạng chuyển từ chế độ mẫu quyền sang phụ quyền Thật là triệt để người phụ nữ từ chỗ là người chủ trong gia đình và xã hội hòa vào nhau trở thành người bị giam hãm, áp bức, bóc lột, ngoài công việc nội trợ người phụ nữ chỉ có công việc thiêng liêng hẳn của mình, là đẻ con-gần như duy nhất đáng kể là đẻ con trai để nối dõi tông đường và giữ gìn gia tài tư hữu của các gia trưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác Chỉ biết sự‟‟, “tùy‟‟và “tùng‟, người phụ n ữ không hề có và không hề biết đến cái gì gọi là quyền Cả đến quyền yêu đương càng không , gia trưởng quyết định cả thôi Thích Công Dã Trường , Khổng Khâu gả con cho Công Dã Trường Thích Nam Dung , không còn con gái để gả, Khổng Khâu gả con của anh mình Đúng là một mẫu mực cho con người Nho giáo đời sau về việc xây dựng “gia thất „‟ cho con gái Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy thế thôi Nếu không còn cha mẹ th ì có chú , bác vậy Cụ thể là con gái chỉ biết vâng theo dù muốn hay không muốn Phụ nữ thự c sự bị ức hiếp suốt đời Làm con, làm vợ hay cả làm mẹ đều bị sự ức hiếp của nam giới, của lễ giáo và pháp luật[21, 182-183]

Chính vì cách đối xử nghiệt ngã của Nho giáo như thế đã dẫn đến sự phẫn nộ của phụ nữ Sự phản ứng có ý thức hay là không có ý thức riêng của

“nữ nhân‟‟ được thể hiệ n qua ba nhân vật: “một người là vợ góa thiên tử - Lữ hậu ở thời Tây hán‟‟ , Tây Thái Hậu nhà Thanh và Võ Tắc Thiên đời Đường Cả ba người đều từ địa vị của mình tr ong nhà thiên tử mà lên đia vị cao nhất trong nước và thiên hạ Đến đây rồi, mỗi người bằng cách riêng của mình, đã

Trang 12

thi hành những thủ đoạn trả đũa thẳng thừng đối với mày râu và lễ giáo thánh hiền[21, 192]

Con người Việt Nam tiếp nhận đạo lý Khổng Mạnh một cách xuôi chiều đơn giản hơn đã tạo ra những nét đặc đặc sắc của truyền thống Việt Nam Nước mất vùng lên giành lại chủ quyền không chỉ là công việc riêng của nam giới mà còn đồng thời là công việc vẻ vang của những con người mà Khổng Khâu cho là “nan hóa‟‟ và “ nan dưỡng‟‟ Nhận rõ ý nghĩa “ rửa thù nước‟‟ và giành lại chủ quyền độc lập , Trưng Trắc và Trưng Nhị đã báo thù cho chồng, cho anh một cách rất cao đẹp , đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ trong xã hội Việt Nam Cùng với Trưng Trắc, Trưng Nhị, cô gái họ Triệu đã tỏ rõ con người phụ nữ Việt Nam như thế nào Đâu phải ngẫu nhiên mà những hình ảnh phụ nữ nổi nhất trong lịch sử đất nước chúng ta là những hình ảnh ấy chứ không phải là hình ảnh các “hậu‟‟ nhà này nhà khác[21, 194]

Nho giáo đặt ra yêu cầu thường xuyên của công việc giáo dục tư tưởng là nâng cao ý thức giữ gìn đẳng cấp tôn ti để làm sao giữ cho được“phụ phụ tử tử, huynh huynh đệ đệ, phu phu phụ phụ‟‟ ở trong nhà và “quân quân thần thần‟‟ở trong triều đình nữa Vì thế phải giảng hiếu , trung, tín, lễ, nghĩa theo

cơ cấu, thể chế và pháp luật để phân rõ trên dưới xác định ngôi thứ từng hạng người ở từng gia đình , gia tộc, từng ngành và trong toàn xã hội Chịu đựng sức nặng của các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội vẫn là “hậu sinh‟‟- những kể đáng sợ và “nữ nhân ‟‟ – những kẻ khó dạy Nhưng chính bên trong “hậu sinh‟‟ và bên trong “Nữ nhân‟‟cũng có sự phân hóa ngôi thứ

do các quan hệ khác của cuộc sống gia đình và cuộc sống xã hội gây ra Riêng đối với “nữ nhân‟‟ thì tình trạng đó thật là tệ hại Tình trạng phải dựa vào cha, vào chồng, con trai để hưởng phần “vinh hiển‟‟ trong làng nước làm nả y ra bên trong “nữ nhân‟‟ những sự ghen ghét , tranh giành, chèn ép lẫn nhau rất

Trang 13

khắc nghiệt gắn chặt với quyền thế , địa vị của cha, của chồng và của con Có người đã biểu hiện lòng “hiếu thảo‟‟ và có “tiết hạnh‟‟ của mình vào việc góp phần vào công danh , phú quý của cha , chồng và của con Cô Kiều bán mình cứu cha là hiếu thảo, không biết đã có bao nhiêu người đã phải hiến mình để cho cha, cho chồng hoặc con được “nên danh nên giá‟‟

Có thể thấy rằng mặc , dù Nho giáo đã góp phần ổn định xã hội nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều quy định hạn chế sự phát triển con người đặc biệt là phụ nữ Họ là những nạn nhân của xã hội , phải chịu mọi áp bức , khổ cực, không có một cơ hội nào để học tập, giao tiếp với bên ngoài

Gia huấn là điểm đặc sắc trong văn hóa gia đình Nho giáo Các nước Đông Nam Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,Việt Nam đều lấy gia đình làm đơn vị cơ bản của xã hội Theo quan niệm của nhà nho thì gia đình và xã hội, nhà và nước có quan hệ hữu cơ Nước có quốc pháp, nhà có gia lễ, gia huấn bổ sung cho quốc pháp Lễ sẽ giúp cho pháp thực thi có hiệu quả và pháp phải dựa vào lễ để ổn định xã hội Gia lễ, gia huấn ra đời do yêu cầu của gia đình và xã hội, mà nội dung chủ yếu là trau dồi nhân cách con người

Các văn bản Gia huấn đã được nghiên cứu có nhiều tên gọi khác nhau , nhưng có ý nghĩa chung là dạy bảo con em trong nhà , là gia huấn, giáo huấn, giáo lễ, bảo huấn, bảo châm vv nghĩa là lời khuyên răn về tu thân, mang nội dung giáo dục trong gia đình , gia tộc Về mặt văn bản văn học, gia huấn tồn tại và biến động với những điều kiện ngôn ngữ văn tự, vật liệu quy luật truyền bản Nó cũng phụ thuộc và bị chi phối của những điều kiện kinh tế , chính trị, xã hội, văn hóa Vì vậy gia huấn trước nhất là sản phẩm của một gia đình và hầu hết là sản phẩm của các gia đình nhà Nho Mặt khác, nó mang dấu ấn thời đại mà nó ra đời và biến động[4, 181-182]

Hầu hết các văn bản gia huấn đều viết theo thể văn vần Các gia huấn thường viết chung cho con cháu , nhưng đã có một số gia huấn viết chung cho

Trang 14

con gái Trên thực tế phụ nữ là đối tượng khuyên bảo chủ yếu của gia huấn, vì thời xưa họ khôn g được chính thức đến trường học Đó là các bản gia huấn :

“Huấn nữ tử ca”, “Phụ nữ bảo châm”, đặc biệt có “Bút hương trai khuê huấn” Bản Khuê huấn của Nguyến Hòa Hương hiệu là Bút Hương Trai có lời mở đầu Bản huấn nữ cho biết thiên hướng giáo dục phụ nữ của các bản gia huấn loại này là : “ Đàn bà con gái , không biết chữ , lúc bồng con bế cá i thường ru bằng lời ca quốc âm, có những bài lành mạnh , có những bài hài hước phóng đãng, nghe quen tai, thấm vào lòng không phải không có tác động Vì thế ta làm 5 bài ca quốc âm, bảo con trẻ trong nhà học thuộc hy vọng lời hay , ý đẹp thấm vào chúng, cũng như lời dạy bảo của mẹ hiền‟‟

Dựa th eo các quan hệ luân thường đã được Nho giáo nhấn mạnh và đề cao, các bản gia huấn tập trung giáo huấn về cách cư xử của của các quan hệ cha mẹ- con cái, anh, chị - em, vợ - chồng Trong đó chú trọng tới mối quan hệ tương đối phức tạp , tế nhị, liên quan rất lớn tới đời sống gia đình là quan hệ mẹ chồng- nàng dâu, chị dâu- em chồng[2,185]

Quan hệ vợ chồng rất được các bản gia huấn chú ý Người viết gia huấn đề cập tới nhiều vấn đề không chỉ mang tính ng uyên lý, mà còn nói tới những góc cạnh rất cụ thể , sinh động, rất gần gũi với những diễn biến, những nhu cầu rất đời thường trong quan hệ vợ chồng Cảnh Phụ Châm coi việc

“chọn dâu‟‟, “kén rể‟‟là khởi đầu quan trọng để bàn về chuyện vợ chồng:

Tuổi khôn lớn hôn nhân trạch phối Giàu đừng tham, khó cũng chớ nề Dâu hiền rể thảo tìm về

Xem tông xem họ cả mê mà nhầm

Gia huấn nói nhiều đến vai trò của người vợ trong việc đảm bảo hạnh phúc gia đình Họ nhấn mạnh trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc về mọi mặt của vợ đối với chồng theo tinh thần “tòng phu‟‟:

Trang 15

Dịu dàng tính thuận lời êm Cứ lời chồng dạy mà êm cửa nhà

Chữ tùy là phận đàn bà

Nhu mỳ dặn dạ, chua ngoa gác ngoài

(Cảnh Phụ Châm) Người phụ nữ xưa đi lấy chồng nếu gặp được đấng nam nhi chăm chỉ đèn sách theo đòi học nghiệp thì đó là “duyên may‟‟ Gặp cảnh này người phụ nữ phải biết vun đắp cho “duyên may‟‟ ấy bằng cách khích lệ và chăm lo việc học của chồng, đảm đương việc nhà để chồng yên tâm theo nghiệp đèn sách:

May duyên gặp đấng văn nhân Thuộc câu tương kính như tân “làm lòng‟‟

Nghiệp đèn sách khuyên chồng tập tả

Tiếng kê minh dóng dả đêm ngày

(Cảnh Phụ Châm) Nhưng nếu người phụ nữ không gặp được cái duyên may như vậy, gia huấn khuyên họ nhẫn nhục chịu đựng, lấy việc kiên trì khuyên giải chồng làm phương án đối đãi tối ưu và hợp tình hợp lễ:

Dẫu lỗi phận gặp người tửu sắc Hay gặp người cờ bạc lưu niên Nhỏ to tiếng nhủ lời khuyên

Lẽ dần uốn mối họa thời lai chăng

(Cảnh Phụ Ngâm) Người phụ nữ nếu gặp phải cảnh “chồng chun g‟‟, một điều rất dễ xảy

ra trong xã hội cũ “ trai khôn năm thê bảy thiếp‟‟ , gia huấn khuyên nên chấp nhận Đồng thời gia huấn cũng khuyên họ nên coi đó là thường tình và phải biết thương xót cho người thân phận hẩm hiu phải chịu cảnh lẽ mọn:

Trang 16

Cũng da thịt cũng tai mắt thế Kém số nên phẩm tạp hoa ôi Nghĩ tình ăn gửi nằm ngoài Ấm no nên xót đến người bơ vơ

(Cảnh Phụ Châm) Trong xã hội Nho giáo , người phụ nữ không được học hành, nhận thức có phần bị hạn chế , luôn bị xem là đối tượng cần dạy dỗ Gia huấn giành nhiều dung lượng nội dung để giáo huấn họ Tuy việc giáo huấn này mang đậm tinh thần “nam tôn nữ ty‟‟, không nhằm tìm kiếm hạnh phúc cá nhân cho người phụ nữ, mà lấy việc chịu đựng để êm ấm hòa thuận của gia đình làm đầu Tuy nhiên, trong bất cứ thế ứng xử nào người ta đều hết sức nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ trong việc đảm bảo hạnh phúc êm ấm gia đình, lúc gia đình thuận buồm xuôi gió êm ả, phụ nữ cũng quan trọng nhưng trong những lúc sóng gió ập tới người phụ nữ càng quan trọng hơn Trong trường hợp này Gia huấn khuyên:

Dẫu chồng giàu có sang yêu Thì ta kính nắm nâng niu lẽ thường Hoặc khi gặp bước lỡ làng Lòng càng thêm xót người càng khen sao

(Huấn nữ tử ca) Một trong những nhược điểm lớn nhất của nho giáo là ra sức đề cao quyền gia trưởng nam giới, coi khinh phụ nữ, nặng tư tưởng tôn ty với phụ nữ Nhưng bằng kinh nghiệm thực tế, một thực tế của xã hội Việt Nam xưa, các gia huấn đều cho rằng:

Người hiền là báu quốc gia Vợ hiền là báu trong nhà lương duyên

Trang 17

Cho nên đối với gia đình nền nếp xưa, chỉ có những người phụ nữ thực hành được những điều gia huấn đã nói ở trên thì gia đình êm ấm mới có cơ hội tồn tại Còn đối với người làm cha làm mẹ, dạy dỗ đào tạo một người con gái theo phẩm chất đó là con đường duy nhất để có thể tạo tiền đề cho một cuộc sống êm ấm cho con người trong tương lai

Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu là một quan hệ rất tế nhị, dễ gây nên những bất hòa trong gia đình Gia huấn nhắc nhở cả mẹ chồng và nàng dâu: rằng, làm mẹ chồng cũng đã qua thời làm nàng dâu, làm nàng dâu rồi cũng đến lúc làm mẹ chồng, cho nên phải cảm thông lẫn cho nhau Mẹ chồng với con dâu phải:

Với dâu dạy bảo phải lời Bắt khoan bắt nhặt biết ai cho vừa

(Cảnh phụ châm) Còn nàng dâu phải tuyệt đối coi mẹ chồng như mẹ đẻ để đối xử:

Dẫu nội ngoại hai bề cũng vậy Đừng ảnh hoành bên ấy bên này

Cù lao hai đức cao dầy Phải chăm hiếu kính đêm ngày khăng khăng

(Cảnh phụ châm) Quan điểm của giai cấp thống trị đứng trên lập trường phong kiến để phán xét người phụ nữ, coi khinh phụ nữ, coi phụ nữ là lệ thuộc, phải phục tùng nam giới, phục vụ cho cha, chồng, các đấng mày râu

Những quan điểm của Nho giáo về người phụ nữ được xã hội phong kiến Việt Nam tiếp thu và sử dụng để duy trì chế độ gia trưởng trong xã hội Người phụ nữ chỉ biết thực hiên một cách ngoan ngoãn những quy định đó, mà dù có phản kháng cũng không có kết quả gì chỉ làm cho họ bị khinh rẻ

Trang 18

hơn Đây là cơ sở để hình thành những quy phạm pháp luật mang tính gia trưởng, coi rẻ và hà khắc đối với phụ nữ

1.2.2 Quan điểm của nhân dân lao động

Trong xã hội phong kiến không chỉ có giai cấp thống trị nói lên quan điểm của mình về người phụ nữ mà còn có các tầng lớp khác đặc biệt là nhân dân lao động Ảnh hưởng của nho giáo đối với nhân dân lao động rất phức tạp, tuy nhiên nhân dân lao động có những cái nhìn khá toàn diện về người phụ nữ trong xã hội phong kiến và được thể hiện qua văn học dân gian mà cụ thể là Tục ngữ và Ca dao

Trước tiên qua những câu tục ngữ, những bài ca dao nhân dân lao động phản ánh thì phụ nữ Việt Nam là những con người có vẻ đẹp hình thức bên ngoài:

Cổ tay em trắng như ngà

Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

[16,11]

Hay ta bắt gặp một vẻ đẹp dịu dàng, truyền thống của các cô gái thời xưa được các chàng trai yêu mến và ước ao:

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lún đồng tiền Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua

Năm thương cổ yếm đeo bùa Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng Bảy thương nết ở khôn ngoan Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh

Trang 19

Chín thương cô ở một mình Mười thương con mắt hữu tình với ai

[16,45]

Đó là vẻ đẹp của người con gái với mái tóc dài, hàm răng đen, có đôi má lúm đồng tiền đi cùng với nón quai thao và cử chỉ ăn nói nết na, dịu dàng Với vẻ đẹp đó của người phụ nữ lẽ ra sẽ được các đấng mày dâu thương yêu, che trở suốt đời nhưng cuộc đời đâu có giành cho họ sự ưu ái như vậy chứ! Thân phận của người phụ nữ trôi nổi, bấp bênh giữa dòng đời không biết mình sẽ đi đâu về đâu, hoàn toàn phụ thuộc vào người khác:

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

[16, 16]

Hoặc thân phận người phụ nữ được ví như:

Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

Đã là hạt mưa rào, hạt mưa sa thì rơi không có chủ đích mà tùy thuộc vào số phận may rủi mà thôi Người con gái may mắn sẽ được rơi vào vườn hoa, đài các – là nơi mà họ được hưởng cuộc sống hạnh phúc, sung túc bên gia đình nhà chồng Còn những cô gái phận bạc, hẩm hiu hơn thì sẽ rơi xuống giếng, ruộng cày cả đời phải chịu tủi nhục, cực khổ Bằng cách so sánh, ví von rất điển hình chúng ta hiểu được số phận của người phụ nữ thật lênh đênh, mong manh giữa sướng và khổ, giữa hạnh phúc và bất hạnh, họ không quyết định được cuộc sống của mình mà do điều kiện khách quan chi phối

Khi người con gái chưa lập gia đình thì luôn hy vọng, ước ao có một chốn tử tế cho mình nương tựa cả đời nhưng niềm mong mỏi đó đã bị bóp

Trang 20

nghẹt bởi những quan niệm cổ hủ của xã hội phong kiến đó là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy‟‟ Đây là nguyên nhân cho những cuộc tình duyên gượng ép mà người con gái không muốn chút nào Thế mới có những lời than của cô gái:

Cha mẹ đòi ăn cá thu Gả con xuống biển mà mù tăm tăm Đường đi những lách cùng lau Cha mẹ ham giàu ép uổng duyên con

Mẹ em tham thúng xôi dền Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng

Tôi đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng xôi vào Bây giờ kẻ thấp người cao Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

[16,24-25]

Đây là lời của cô gái sinh ra trong gia đình nghèo khó Vì cuộc sống khó khăn của mình nên cha mẹ cô gái luôn mong sau này con mình sẽ được sung sướng hơn khi được gả vào nhà giàu Nhưng ai ngờ được rằng nhà giàu không đem lại hạnh phúc cho cô gái mà lại đưa cô vào tình cảnh éo le, khó xử đó là sự chênh lệch giữa cô và người chồng Sự chênh lệch về tuổi tác, hình thức, quan niệm dẫn đến sự bất hạnh của cô gái Nhưng xã hội phong kiến với sự tiếp thu Nho giáo đã cho cha mẹ cái quyền quyết định chuyện hôn nhân của con cái thì dẫu cô gái có phản đối cũng phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ mà thôi cho dù trong lòng cô đã có người khác:

Đôi ta như đũa nòng nòng Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha

Đôi ta làm bạn thong dong

Trang 21

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng Bởi chưng thầy mẹ nói ngang Để cho đũa ngọc mâm vàng cách xa

Con gái lấy phải chồng già

Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng

Nói ra đau đớn trong lòng Âý cái nợ truyền kiếp chứ có phải chồng em đâu

Thật trớ trêu khi cô gái trẻ lấy ông chồng già để thiên hạ giễu cợt nhưng đâu phải lỗi do cô gái mà do xã hội phong kiến đem lại mà cụ thể là cha mẹ của cô gái tham tiền đã gả con gái cho một ông già Cô gái chỉ biết trách mình phận bạc nên phải chịu cảnh hẩm hiu như vậy:

Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi

Ra đường chị giễu em cười Rằng hai ông cháu kết duyên vợ chồng Đêm nằm tưởng cái gối bông Giật mình gối phải râu chồng nằm bên Sủi rùi tủi phận hờn duyên

Oán cha trách mẹ tham tiền bán con

Trang 22

Thời xưa có tục thách cưới phổ biến ở mọi làng quê trên đất nướcViệt Nam Chính điều này đã gây bao phiền phức, khó khăn cho các đôi trai gái yêu nhau Đối với nhà giàu thách cưới rất cao:

Em là con gái nhà giàu

Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao Cưới em trăm tấm lụa đào Một trăm hòn ngọc hai mươi tám ông sao trên trời

Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

Sắm xe tứ mã đem sang Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

[19,370]

Nhà gái đòi hỏi lễ cưới phải có lụa đào, ngọc trai, tráp vàng, tráp bạc,

xe tứ mã như vậy thì chỉ có công tử con nhà quan lại hoặc nhà thật giàu mới có đủ xính lễ để lấy vợ Con đối với nhà bình thường thì cả đời cũng không lấy vợ được Trong trường hợp này nếu đôi trai gái yêu nhau cũng không thể kết duyên cùng nhau Đúng là con gái dù nhà giàu hay nghèo cũng đều phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, nghèo thì khổ về vật chất, còn giàu thì thì khổ về lễ giáo phong kiến

Đối với người con gái chưa lấy chồng thì như vậy, còn khi đã lập gia đình rồi phải hết lòng vì gia đình nhà chồng, vì chồng mà sống:

Có chồng như ngựa có cương Đắng cay cũng chịu vui thương cũng nhờ

* * * * * * Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người

* * * * * *

Trang 23

Tay mang khăn gói sang sông

Mồ hôi ướt đẫm thương chồng phải theo

Suốt đời vì chồng mà phải chịu bao đắng cay tủi nhục là điểm nổi bật của người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay Dù chế độ gia trưởng có hà khắc đến đâu, lấy chồng vì tình yêu hay ép gả thì người phụ nữ vẫn yêu chồng, coi chồng là mặt trời, là chỗ dựa duy nhất của mình Cuộc sống có khó khăn đến đâu thì phụ nữ vẫn vượt qua được khi nghĩ đến chồng con

Người con gái trong xã hội cũ khi lấy chồng không những phụ thuộc vào số phận, vào may rủi, vào cha mẹ lại còn phải chịu bao thiệt thòi của cảnh làm lẽ người ta do sự tồn tại chế độ đa thê Thật là quá bất công khi người con gái trong đời chỉ được lấy duy nhất một người chồng thì đàn ông có thể “năm thê bảy thiếp‟‟:

Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy, đi cày chị chẳng kể công Đến tối chị giữ lấy chồng Chị cho manh chiếu nằm không một mình

Đến sáng chị gọi: Bớ hai Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo Vì chưng bác mẹ tôi nghèo Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai

[19,408-409]

Thân phận làm lẽ thì phải chịu bao nhiêu hờn tủi, ban ngày làm đủ mọi công việc trong gia đình: cày cấy, thái khoai, băm bèo; khi đêm đến vợ cả cho năm nhà ngoài cô đơn một mình Lúc này người phụ nữ chỉ biết trách phận mình nghèo nên mới ra nông nỗi này Chính vì thế ca dao đã có lời khuyên:

Chớ tham ngồi mũi thuyền rồng Tuy rằng tốt đẹp nhưng chồng người ta

Trang 24

Chớ tham vóc lĩnh trừu hoa Lấy chồng làm lẽ người ta giày vò

[19,409]

Cuộc sống có gian nan, thử thách thế nào thế nào thì gia đình một vợ một chồng là hơn mọi thứ của cải vật chất xa hoa khác Đừng vì ham muốn giàu sang để rồi sẽ bị người ta giày vò mình, lúc đó hối không kịp, không thể quay đầu lại được nữa

Xưa nay quan hệ mẹ chồng – nàng dâu là vấn đề lớn trong gia đình và luôn xảy ra mâu thuẫn, bất hòa Người phụ nữ lấy chồng mà được chồng yêu, hiểu và chia sẻ mọi vui buồn thì còn được an ủi phần nào Đằng này nếu chồng gia trưởng, mẹ chồng lại không hiểu cho nỗi lòng của con dâu, luôn ghét bỏ con dâu thì nàng dâu rất khổ tâm:

Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi Biết rằng có được ở đời với nhau Hay là vào trước ra sau Cho cực lòng thiếp cho đau lòng chàng

Mặc dù không chịu được sự cay nghiệt của mẹ chồng nhưng nàng dâu vẫn phải nhẫn nhịn vì:

Vợ chồng đầu gối má kề Lòng nào mà bỏ mà về cho đang

Hồ về chân lại đá ngang

Về sao cho dứt cho đang mà về

[19,443]

Nếu cô dâu mà bỏ về nhà mẹ đẻ thì phải chịu bao tai tiếng của gia đình, làng xóm Không chỉ cô gái khổ mà còn cả bố mẹ cô cũng đau lòng vô cùng Vì thế dẫu có cay đắng đến đau thì người con gái vẫn phải ở lại nhà chồng

Trang 25

suốt đời mà giữu danh giá cho gia đình Tình cảnh đi không nỡ ở chẳng xong thật khó xử cho cô dâu để vẹn cả đôi đường

Nhân dân lao động không chỉ đưa ra những quan điểm bênh vực những người phụ nữ nết na, truyền thống phải chịu cay đắng, tủi hờn mà còn lên án những tật xấu của các cô gái:

Cô kia má tựa hòn than Nằm đâu ngủ đấy lại toan chê chồng Chê chồng chẳng bõ chồng chê Chê chồng thì ít chồng chê thì nhiều

Đêm nằm thì ngáy o o

Chồng yêu chồng bảo: “Ngáy cho vui nhà‟‟

Đi chợ thì hay ăn quà

Chồng yêu chồng bảo: “Về nhà đỡ cơm‟‟

Trên đầu những rác cùng rơm Chồng yêu chồng bảo: “Hoa thơm rắc đầu‟‟

[ 19, 417]

Không chỉ có vậy mà nhiều người phụ nữ còn có tính lẳng lơ:

Lấy chồng chẳng biết mặt chồng Đêm nằm tơ tưởng nhớ ông láng giềng Tuy nhiên những tật xấu đó chỉ có ở một số phụ nữ chứ không phải là tất cả Xét một cách toàn diện thì phụ nữ phong kiến vẫn là những phụ nữ mang vẻ đẹp truyền thống, yêu chồng, thương con, thủy chung, chịu thương

Trang 26

chịu khó Chính những điều đó mà nhân dân lao động đã phản kháng Nho giáo và xã hội phong kiến bằng cách đề cao giá trị của người phụ nữ:

Ba đồng một mớ đàn ông Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bà

Đem về mà rải chiếu hoa cho ngồi

Những cặp từ đối nhau như: Ba đồng- ba trăm, đàn ông- đàn bà, kiến

nó tha- chiếu hoa cho ngồi, đã nâng vai trò của người phụ nữ lên tột đỉnh Người phụ nữ xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng xã hội đâu có giành cho họ chút quyền lợi nào Mơ ước vẫn chỉ trong tưởng tượng mà thôi

Khi nói đến hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến thật là thiếu xót nếu chúng ta quên đi hình ảnh một nữ sĩ tài hoa nhưng gặp nhiều trắc trở trong tình duyên đó là Nhà thơ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ tài hoa của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX Bà muộn chồng, đến khi lấy chồng cũng chẳng ra gì Một lần bà lấy lẽ Tổng Cóc và một lần lấy lẽ ông phủ Vĩnh Tường Là người phụ nữ xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, cuộc sống đã đẩy Hồ Xuân Hương xuống tầng lớp tận cùng của xã hội Lòng căm phẫn đối với xã hội bất công, sự lăn lội tiếp xúc với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội, tất cả đã hun đúc nên con người và tài năng của Xuân Hương Bằng kinh nghiệm của cuộc đời chung và cuộc đời riêng chẳng ra gì của mình nhà thơ lên tiếng đứng về người phụ nữ bất hạnh Phụ nữ cũng là người làm lụng đầu tắt mặt tối, cũng bị trăm nghìn thứ chà đạp như những người bị áp bức khác Nhưng xã hội phong kiến còn giành cho họ nhiều sự bạc đãi: các quy chế nặng nề của đạo đức, của lễ giáo, tập tục xã hội mà cái đau khổ về thể chất không đau khổ bằng nỗi đau tinh thần Viết về đề tài phụ nữ, nhà thơ thường xoáy sâu vào các ngóc éo le của cuộc đời để nêu lên những bi

Trang 27

kịch không kém phần chua chát, song bình thường nó bị xóa nhòa trong cuộc sống vốn dĩ đã rập khuôn theo những chế ước nặng nề của lễ giáo Trong

“Lấy chồng chung‟‟ Xuân Hương nêu lên được một nét điển hình nổi bật của chế độ hôn nhân phong kiến Xã hội phong kiến bắt người phụ nữ phải chính chuyên một chồng trong khi cho phép đàn ông năm thê bẩy thiếp Thông thường trong xã hội phong kiến lấy lẽ để thỏa mãn cuộc sống dâm dật của bọn địa chủ đồng thời để thêm sức lao động, đó là cách thuê nhân công mà không phải trả tiền công:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa hay chăng chớ

Một tháng đôi lần có cũng không

Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn mướn không công

[10, 294]

Hồ Xuân Hương nhận thức được cảnh bất công, ngang trái của việc lấy chồng chung, nhà thơ lên tiếng chửi mắng quyết liệt nhưng điều kiện của xã hội phong kiến vẫn cứ cho phép nó nghiễm nhiên tồn tại Do lịch sử hạn chế nhà thơ không tìm ra lối thoát, bài thơ kết thúc không mở ra bước ngoặt nào cả mà đóng lại bằng tiếng thở dài bất lực:

Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ chửa hoang là một tai họa tày đình Giai cấp phong kiến lấy việc lăng nhục nhân cách con người để trả thù cho cái mà chúng gọi là “phá hoại nhân cách‟‟, “ hết cả liêm sỉ‟‟ Thật không có sự lệ thuộc nào bằng sự lệ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Pháp luật, lễ giáo, tập tục, những “Tam cương ngũ thường‟‟ “tam tòng

Trang 28

tứ đức‟‟ đã hoàn toàn biến phụ nữ trở thành một thứ sở hữu của người gia trưởng, của đàn ông Họ bị tước hết quyền lợi kể cả quyền được yêu và quyền đối với con cái của họ Trong hoàn cảnh ấy người phụ nữ không chồng mà chửa, chưa hẳn là chuyện bừa bãi, nhiều khi lại là kết quả của một tình yêu thực sự Nhân vật trong bài thơ sau đã nói với người tình của mình nửa như trách móc, nửa như tâm sự:

Cả nể cho nên hóa dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc Phận liễu sao đà đẩy nét ngang Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa Mảnh tình một khối thiếp xin mang

[10, 295-296]

Nàng không coi việc làm của nàng là tội lỗi, đó là chuyện cả nể với người tình nên hóa dở dang như vậy Lễ giáo luật pháp phong kiến khắc nghiệt làm cho người tình không dám nhìn nhận kết quả tình yêu của chàng Nàng yêu cầu chàng trai phải nhìn nhận sự việc một cách đúng đắn, đây là chuyện tình nghĩa chứ không phải chuyện ong bướm trong chốc lát, còn kết quả của nó nàng xin đảm đương tất cả Cuối cùng người phụ nữ của Xuân Hương không thể sống khuất phục được nàng đã ngẩng cao đầu tuyên chiến với lễ giáo phong kiến bằng những lời lẽ hùng hồn đanh thép:

Quản bao miệng thế lời chênh lệch Không có, nhưng mà có mới ngoan

Đối với phụ nữ Xuân Hương không chỉ có thông cảm và bênh vực đặc biệt hơn nữa là nhà thơ hết sức đề cao và bảo vệ họ Bà tìm thấy vẻ đẹp thực sự ở họ:

Trang 29

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bẩy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Hay là:

Thân em như quả mít trên cây

Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng măn mó nhựa ra tay

Số phận hẩm hiu, bấp bênh của người phụ nữ như chiếc bánh trôi “bẩy nổi ba chìm với nước non‟‟ hay như quả mít da nó xù xì Nhà thơ chú trọng vẻ đẹp bên trong của họ, quả mít da nó xù xì nhung múi nó dày, chiếc bánh trôi “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn‟‟ nhưng vẫn giữ tấm long son[10, 297]

Qua một số bài thơ của Hồ Xuân Hương chúng ta thấy người phụ nữ bình dân được đưa vào văn học, được cảm thông về cuộc đời, được ca ngợi với những phẩm chất tốt đẹp

Nhà thơ Xuân Diệu nhận xét về Hồ Xuân Hương như sau: “ Xuân Hương là người có bản lĩnh mạnh mẽ, cái việc nàng bị xã hội phong kiến coi là “đàn bà‟‟ thấp kém, bị khinh là phu nhân rẻ rúng càng làm cho sự phản ứng của nàng mạnh hơn Mắt hàng ngày nhìn thấy cái xã hội phong kiến bất công, khắc nghiệt, giả dối, nàng phản đối cái xã hội ấy Nàng lấy những vật rất tầm thường mà tự ví để chọc thiên hạ Suốt đời nàng nàng sẽ châm chọc mãi cái xã hội ấy, không cho nó ăn ngon ngủ yên Xuân Hương sẽ cười, cười nhọn, cười sắc, cười gằn, nàng sẽ đuổi được các nhân vật xấu xí của nó mà cười vào tận óc, nó không thể bịt tai được‟‟

Quan điểm của nhân dân lao động và thi sĩ thể hiện những góc độ khác nhau về người phụ nữ, khen có, chê có, đồng cảm có, đề cao có, thậm chí là

Trang 30

phản kháng xã hội thối nát để bênh vực cho phụ nữ Dù thế nào đi chăng nữa, dưới sự chi phối của Nho giáo trong xã hội phong kiến thì phụ nữ luôn bị khinh rẻ, không có quyền lợi gì

Ta thấy được rằng quan điểm của nhân dân lao động về cơ bản đối lập với quan điểm của giai cấp thống trị:

Trước hết sự đối lập thể hiện ở việc nhân dân thấy được vai trò to lớn của người phụ nữ trong xã hội về mặt hôn nhân và gia đình, giữ gìn truyền thống của dân tộc

Mặt khác nhân dân lao động đã lên án những bất công mà xã hội phong kiến đem lại cho phụ nữ đó là sự khinh rẻ, phải chịu bao ràng buộc về mặt hôn nhân, lễ giáo phong kiến

Đồng thời nhân dân cũng đấu tranh đòi công lý cho người phụ nữ đó là đòi sự bình đẳng, hạnh phúc và giải phóng người phụ nữ khỏi những hủ tục lạc hậu trong xã hội sự phản kháng của phụ nữ chống lễ giáo phong kiến là đòn tấn công vào giai cấp thống trị

Những quan niệm chung về người phụ nữ mà đặc biệt là cuả Nho giáo mà giai cấp thống trị sử dụng làm cho phụ nữ bị chôn vùi dưới đáy của xã hội không biết đến khi nào được giải phóng Tuy nhiên những quan điểm của nhân dân lao động là cơ sở để ra đời một số quy phạm pháp luật đề cao vai trò của người phụ nữ, ghi nhận những đóng góp của người phụ nữ

Trang 31

CHƯƠNG 2

PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA PHẢN ÁNH CỦA LUẬT PHÁP THỜI

PHONG KIẾN TỪ THẾ KỶ XI-XIX

2.1 Phụ nữ Việt Nam trong luật pháp phong kiến từ thế kỷ XI đến thế kỷ

XV

2.1.1 Luật pháp thời Lý

Ngay sau khi lên làm vua, năm 1010 Lý Thái Tổ quyết định rời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long Việc dời đô về Thăng Long phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia độc lập, chứng tỏ khả năng, lòng tin và quyết tâm của cả dân tộc giữ vững nền độc lập Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt, thể hiện niềm tự tôn và ý thức bình đẳng sâu sắc của dân tộc ta đối với các dân tộc xung quanh[13, 53-54]

Bộ máy nhà nước thời Lý được thiết lập từ trung ương đến địa phương và tập trung quyền lực vào tay triều đình đứng đầu là Vua, bên dưới có hệ thống các quan văn, võ Quân đội được tổ chức thành các đội với vũ khí tinh nhuệ và lực lượng hùng mạnh đảm đương nhiệm vụ bảo vệ đất nước

Nhà Lý đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước, thi hành nhiều chính sách nhằm củng cố quyền lực của nhà nước tập quyền, bảo đảm quyền lợi của giai cấp thống trị và còn chăm lo đến đời sống của nhân dân Dưới thời Lý kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp có sự phát triển mạnh mẽ Nhà nước chăm lo mở mang việc học hành thể hiện ở việc dựng văn miếu và mở Quốc Tử Giám năm 1076 Ngô Sĩ Liên và Phan Huy Chú đã nhận xét: “xã hội thời Lý thấm đượm tinh thần bác ái và pháp luật0 rất rộng lượng, khoan dung‟‟[ 13, 55-57]

Cùng với sự phát triển của chế độ trung ương tập quyền, đến thời Lý hoạt động lập pháp của nhà nước đã bắt đầu phát triển Năm 1042 Lý Thái

Trang 32

Tông sai quan trung thư “san định luật lệ, châm chước những điều thời thế thông dụng, xếp thành môn loại, biên rõ điều mục làm thành quyển Hình Thư của một triều đại để cho người xem dễ biết Sách làm xong, chiếu ban cho thi hành, dân đều lấy làm tiện‟‟ Hình Thư bị quân xâm lược nhà Minh cướp mất, đến nay không còn để lại gì.Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chú, Hình Thư có ba quyển Đó là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam, chứng tỏ bộ máy nhà nước trung ương tập quyền đã có tính chất tương đối ổn định và đã được xây dựng với thiết chế tương đối hoàn bị của nó[13, 68-69]

Ở bộ luật Hình Thư, nhà Lý đã đề ra các điều luật về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội trong đó có nội dung đề cập đến người phụ nữ

Về hôn nhân và gia đình chắc chắn là trong xã hội thời Lý tình trạng đa thê và gia trưởng còn phổ biến Về mặt pháp luật hôn nhân đa thê vẫn được pháp luật thừa nhận Xuất phát từ tư tưởng phân biệt đẳng cấp, pháp luật cấm sự kết hôn giữa gia nô và con gái bách tính Tuy nhiên luật pháp cũng ngăn cấm những hiện tượng không lành mạnh trong xã hội về quan hệ hôn nhân Những quan hệ bất chính giữa nam và nữ được pháp luật nghiêm cấm Tháng

9 năm 1042 nhà Lý quy định: “ kẻ nào đêm vào nhà người ta gian dâm với vợ cả, vợ lẽ người ta, cho đánh chết ngay lúc bấy giờ cũng không phải tội‟‟[8, 400]

Ngày Giáp tuất năm1128 ra chiếu Con gái dân không được bắt chước cách trang sức ở trong cung Tầng lớp nô tỳ không được lấy con gái của dân, không được xăm mình như cấm quân, người nào phạm thì bị sung công

Mùa xuân, tháng giêng dưới triều vua Thần Tông Hoàng Đế xuống chiếu cho con con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi chọn sung vào hậu cung người nào không trúng tuyển mới được lấy chồng

Trang 33

Lê Văn Hưu nói: “ trời sinh ra dân mà đặt Vua để chăn dắt, không phải để cung phụng riêng cho Vua Lòng cha mẹ ai chả muốn con cái có gia thất, thánh nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ sất phu, sất phụ không được có nơi có chốn‟‟

Cho nên Kinh Thi tả sự ấy trong thơ “Đào yêu‟‟ và thơ “Siếu Hữu Mai‟‟ để khen việc lấy chồng kịp thì và chê việc lỡ thì vậy Thần tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung, thế là để cung phụng riêng cho mình, đâu phải là lòng làm cha mẹ của dân[8, 467]

Pháp luật thời Lý mặc dù còn chưa đầy đủ nhưng qua các điều luật giành cho phụ nữ ta thấy được đây là thời kỳ đã tiếp thu và ảnh hưởng của nho giáo nên phụ nữ không được coi trọng Mọi quyền hành nằm trong tay người chồng, người cha, người con Dù là con gái nhà quan hay con dân thường thì cũng bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến khắt khe Phụ nữ sinh ra thuộc sở hữu của đàn ông, không có quyền lợi gì

2.1.2 Luật pháp thời Trần, Hồ

Cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, nhà Lý bước vào thời kỳ suy yếu, đời sống nhân dân khổ cực, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, đất nước lâm vào cảnh loạn lạc do những cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các phe phái phong kiến Trong cuộc chiến tranh đó, thế lực họ Trần dần dần phát triển và trở thành lực lượng mạnh nhất, khống chế được chính quyền trung ương tập quyền Ngày 10-1-1226 Triều Lý phải rời bỏ vũ đài chính trị để nhường chỗ cho vương triều Trần[13, 63-64]

Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ thời Lý, triều Trần tiếp tục công việc dựng nước trước hết là củng cố quốc gia thống nhất, tăng cường lực lượng quốc phòng và phát triển kinh tế Đây là thời kì phát triển rực rỡ của văn hóa dân tộc Chữ nôm được sử dụng phổ biến trong sáng tác văn học, công việc biên soạn lịch sử được chú trọng, chế độ học hành và thi cử ngày

Trang 34

càng được thể chế hóa Các ngành khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật cũng có những thành tựu đáng kể Đồng thời, thời Trần cũng là thời kì tổ chức bộ máy nhà nước và pháp quyền được củng cố thêm một bước, là thời kì có những chiến công vĩ đại trong ba cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông bảo vệ độc lập dân tộc

Sang thời Trần hoạt động pháp chế được tăng cường.Theo Lịch triều hiến chương loại chí, năm 1341 Trần Dụ Tông trao cho Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng soạn ra Hình thư gồm một quyển để ban hành Cũng như bộ luật thời Lý, bộ luật thời Trần cũng bị quân xâm lược nhà Minh cướp mất, hiện nay không còn nguyên bản để nghiên cứu, nhưng nội dung của nó được phản ánh qua các bộ sử của nước ta trước đây Nhiều tư liệu cho thấy pháp luật thời Trần là sự tiếp nối của pháp luật thời Lý và có sự bổ sung thêm cho phù hợp với tình hình xã hội

Pháp luật thời Trần vẫn đảm bảo cho sự tồn tại của chế độ nô tỳ Pháp luật quy định những kẻ “cường đạo‟‟(trộm cắp lớn) thì một phần đền chín phần Nếu không đền được thì bắt vợ con xung làm nô tỳ

Năm 1315, Trần Minh Tông ra lệnh cho con, vợ chồng và gia nô trong nhà không được tố cáo lẫn nhau, nhằm bảo vệ chế độ phụ quyền theo tư tưởng của Nho giáo

Nối tiếp chế độ phong kiến Việt Nam sau nhà Trần là nhà Hồ Nhà Hồ tồn tại từ năm 1400- 1407 Trong thời gian đó Hồ Qúy Ly đã thực hiện nhiều cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa- giáo dục nhằm tăng cường quyền lực của nhà nước và đối phó với nạn ngoại xâm Nhưng mặt khác những cải cách và chính sách của triều Hồ về khách quan đã làm cho vương triều này mất khả năng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Minh [13, 66]

Trang 35

Nói về luật pháp triều Hồ nhiều tài liệu có nhắc đến Đại Ngu Quan Chế Hình Luật nhưng chưa rõ nội dung của hình luật ấy Tuy nhiên Hồ Qúy Ly rất quan tâm đến pháp luật với mục đích để củng cố bộ máy nhà nước

Nhìn chung pháp luật triều Hồ chưa được biết đến nhiều cho nên có những giả định cho rằng những luật định cho phụ nữ vẫn duy trì từ triều Lý đó là bảo vệ chế độ gia trưởng, khinh thường phụ nữ

2.2 Phụ nữ Việt Nam trong luật pháp phong kiến từ thế kỷ XV đến thế

kỷ XIX

2.2.1 Luật pháp thời Lê Sơ

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đất nước trở lại thanh bình Ngày 29-4-1428 Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng Đế ở Thăng Long, khôi phục đất nước là Đại Việt mở đầu triều đaị Lê Sơ [14, 319]

Các vị Vua đầu của thời Lê Sơ đã ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định trật tự xã hội, củng cố chính quyền, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, văn hóa và toàn bộ các lĩnh vực của xã hội

Về kinh tế đã có những chuyển biến quan trọng trước hết là chế độ ruộng đất Thời kỳ này đã xóa bỏ về cơ bản chế độ điền trang, thái ấp Ban hành chế độ lộc điền và quân điền, trong đó binh lính được ưu đãi nhất Nhà nước ban hành nhiều biện pháp để phát triển nông nghiệp như chăm lo thủy lợi , khuyến khích khai hoang Công thương nghiệp được phục hồi, nhà nước thống nhất đơn vị tiền tệ

Về văn hóa, Nho giáo giành được địa vị thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống, chính quyền phong kiến lấy Nho giáo làm chuẩn mực cho sự thống trị đất nước và xây dựng thiết chế chính trị, văn hóa

Về tình hình giai cấp, vẫn có 2 giai cấp cơ bản là nông dân và địa chủ Chế độ nô tỳ thịnh hành ở thời Lý- Trần sang thời kì này đã suy yếu hẳn

Trang 36

Bộ máy nhà nước thời Lê Sơ là một hệ thống chính quyền chặt chẽ nhằm chi phối xuống tận địa phương đồng thời tập trung quyền lực tối cao đứng đầu là Vua

Ngoài ra nhà Lê còn chú trọng xây dựng quân đội vững mạnh về tổ chức và rèn luyện với các binh chủng tinh nhuệ

Do nhu cầu phát triển của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, các hoạt động lập pháp của nhà Lê được đẩy mạnh.Thế kỷ XV được coi là cái mốc hết sức quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam nằm đáp ứng nhu cầu phát triển của chế độ phong kiến Qúa trình xây dựng hệ thống pháp luật bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Lê Thái Tông và đánh dấu bằng sự ra đời của bộ luật Hồng Đức [13, 90]

Ngay sau khi lên ngôi năm 1428, Lê Lợi đã cùng một số đại thần bàn định một số luật lệ về kiện tụng và phân chia ruộng đất công làng xã, một số quy định về hình phạt, ân xá đặt cơ sở đầu tiên cho công việc xây dựng bộ luật thời Lê sơ

Dưới thời Lê Thái Tông một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo và một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hoạt động giao thiệp với nước ngoài được xây dựng thêm

Với những hoạt động lập pháp tích cực, Triều Lê đã để lại những thành tựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển chế Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Bộ Quốc triều hình luật gồm 6 quyển, Luật thư gồm 6 quyển, Quốc triều luật lệnh, Lê triều quan chế, Thiên nam dư hạ tập

Trong số những công trình đó, Quốc triều hình luật được coi là bộ luật quan trọng trong thời Lê Sơ Theo Phan Huy Chú và nhiều nhà nghiên cứu khác thì bộ luật được ban hành vào thời Lê Thánh Tông Trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã được ban bố được sửa chữa bổ sung hoàn chỉnh Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng bộ luật Hồng Đức được

Trang 37

ban hành ở thời điểm sớm hơn và không ngừng được bổ sung ở các triều đại nhà Lê trong đó có những đóng góp to lớn của vua Lê Thánh Tông Mặc dù vậy Quốc Triều hình luật có giá trị đặc biệt quan trọng, là đỉnh cao so với thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó và là cơ sở của bộ Hoàng Việt Luật Lệ sau này Căn cứ vào bản in và ván khắc còn lưu trữ ở Viện Hán Nôm

Hà Nội vừa được dịch ra chữ quốc ngữ thì bộ luật gồm 722 điều, chia làm 6 quyển, 15 chương[13: 93-94]

Quốc Triều Hình Luật thời Lê là một phức hợp gồm nhiều quy phạm thuộc nhiều ngành luật mà khoa học ngày nay phân biệt như: Hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, tố tụng Trong các nội dung mà Quốc Triều hình luật đề cập đến có một nội dung rất quan trọng đó là các điều luật giành cho người phụ nữ Vậy chúng ta cùng tìm hiểu xem dưới thời Lê Sơ phụ nữ có vị trí như thế nào?

Nhóm quy phạm bảo vệ người phụ nữ bao gồm các điều luật sau:

Chương Hộ Hôn

Điều 291[điều 8]- Những nô tỳ được thả làm lương dân, đã có giấy cấp

cho rồi mà vẫn bắt ở lại làm tôi tớ thì xử phạt 50 roi, biếm một tư Người nô

tỳ vẫn được trả về theo giấy cấp[ 23, 115]

Điều 295[điều 12]-Những người góa không có chỗ nương tựa , không thể tự mình mưu sống được, quan sở tại phải thu nuôi họ, mà lại bỏ rơi họ thì

bị xử đánh 50 roi, biếm một tư Nếu họ được cấp cơm áo mà quan lại bớt đi

thì phải khép vào tội như người giữ kho ăn trộm của công[ 23,116]

Điều 297 [ điều 14] - có những người hiếu hữu, cùng đàn bà trinh liệt mà không tâu lên để ban thưởng, hay có những kẻ loạn luân trái đạo mà

không tâu lên để trị tội, thì quan lộ, quan huyện bị xử tội biếm hay phạt

[23,117]

Ngày đăng: 14/07/2020, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tƣ pháp - Viện khoa học pháp lý (2008), Tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ
Tác giả: Bộ Tƣ pháp - Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2008
2. Bộ Tƣ pháp - Viện khoa học pháp lý (2008), Quốc triều hình luật, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật
Tác giả: Bộ Tƣ pháp - Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2008
3. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1992
4. Phạm Đại Doãn (chủ biên) (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phạm Đại Doãn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc gia
Năm: 1998
5. Hội văn nghệ Hà Nội, Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hương
Nhà XB: Nxb Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
6. Đỗ Đức Hùng (1980), Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý- Trần, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý- Trần
Tác giả: Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1980
7. Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 2, Nxb giáo dục 8. Ngô sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NxbVăn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam", Tập 2, Nxb giáo dục 8. Ngô sĩ Liên và các sử thần triều Lê, "Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb giáo dục 8. Ngô sĩ Liên và các sử thần triều Lê
9. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
10. Nguyễn Hữu Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Hồ Trọng Hoài,Nguyễn Thị Nga (2003) Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
13. .Vũ Thị Phụng (1993), Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Phụng
Năm: 1993
14. . Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Lê Thị Sơn (chủ biên) (2004), Quốc triều hình luật- Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật- Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị
Tác giả: Lê Thị Sơn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
16. Võ Thành Tân, 1001 câu ca dao về người phụ nữ Việt Nam, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1001 câu ca dao về người phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
17. Nguyễn Ngọc Đào, Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Hữu Khiển, Lưu Kiếm Thanh, Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
18. Nguyễn Quang Thắng, Lược khảo Hoàng Việt luật lệ- Bước đầu tìm hiểu bộ luật Gia Long, Nxb Văn hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo Hoàng Việt luật lệ- Bước đầu tìm hiểu bộ luật Gia Long
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông Tin
19. Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
20. Đinh Gia Trinh (1998), Sơ khảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Trinh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
21. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia- Viện triết học (1994), Nho giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia- Viện triết học
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w