Trước những yêu cầu đặt ra của xã hội đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâ
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi trình độ khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn: “Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học” Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của đất nước Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn
Trước những yêu cầu đặt ra của xã hội đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức của người học, giúp người học vừa lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học phổ thông, vừa cập nhật được những tri thức khoa học mới, hiện đại để khi bước vào đời không bị bỡ ngỡ trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
Hóa học là môn khoa học nghiên cứu các chất, sự biến đổi và ứng dụng của chúng Hóa học có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người Là một trong những môn học có giá trị thực tiễn cao nhất, hóa học hiện diện ở mọi ngóc ngách trong cuộc sống Hầu như mỗi một vật dụng nào chúng ta đang sử dụng cũng là kết quả của hoá học Do đó giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy tối ưu, sử dụng phương tiện dạy học có hiệu quả, giúp học sinh có khả năng và biết vận dụng được kiến thức hóa học vào thực tế
Những đổi mới trong SGK hiện nay về cách trình bày như sau: SGK hoá học phổ thông mới có sự kết hợp chặt chẽ và cân đối tỷ lệ tư liệu, thông tin trong bài học dưới dạng kênh hình và kênh chữ, trong đó kênh hình được coi như quan trọng hơn về số lượng và chất lượng Đây sẽ là những hình ảnh vô nghĩa nếu như GV không khai thác, vận dụng triệt để trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực của HS
Thực tế ở trường phổ thông, GV ít quan tâm đến những hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ bảng biểu có sẵn trong SGK mà chỉ chú trọng đến từ ngữ, tính chất và bài tập tính toán Còn việc GV hướng dẫn học sinh thiết kế mô hình, làm thí nghiệm hay thực hành thì thực sự gặp rất nhiều khó khăn cả về hóa chất, thiết bị,
cơ sở vật chất và thời gian Vì vậy, hoạt động dạy học thiếu đi tính trực quan, thu hút, sinh động làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Bên cạnh đó, HS ít được hoạt động, ít được động não, không chủ động tích cực lĩnh hội tri thức Do
đó, kiến thức không khắc sâu, không chắc chắn, có thể trả lời đúng những câu hỏi chỉ yêu cầu thuộc bài Nhưng khi phải trả lời những câu hỏi cần tổng hợp so sánh thì nhiều HS lúng túng HS thường bối rối khi giải đáp những vấn đề thực tiễn (thuộc vận dụng kiến thức trong học tập hoặc trong đời sống sản xuất, HS ít
Trang 2có khả năng khái quát) Vì vậy khi dạy một bài mới cần khai thác những hình vẽ
có sẵn trong SGK, giúp các em học tốt hơn, có cách nhìn vấn đề một cách sâu sắc và khái quát hơn
Trong khi đó, nội dung chương trình môn hoá học lớp 11 rất nặng và khó Gồm có 9 chương với những lý tuyết chủ đạo dùng để nghiên cứu chất vô cơ và chất hữu cơ Học sinh tiếp cận khá vất vả với những kiến thức mới về tính chất, ứng dụng khoa học của các chất Hoá học là một khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm nên hoá học không thể phát triển được nếu không có thí nghiệm quan sát cũng như các phương tiện trực quan Trong khi dạy học môn hoá học ở nhà trường nhất thiết phải tận dụng quan sát thí nghiệm học tập, mô hình, hình
vẽ, tranh ảnh để giúp các em hiểu bài một cách sâu sắc, đầy đủ phong phú hơn Nên việc sử dụng các mô hình, hình vẽ có sẵn trong SGK để giảng bài là việc hết sức cần thiết giúp HS tiếp thu dễ dàng các nội dung của các thuyết và định luật
Xuất phát từ những lí do rất thực tế trên, tôi mạnh dạn viết đề tài: “Kinh nghiệm khai thác một số hình vẽ trong sách giáo khoa hóa học 11 (Ban cơ bản) nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học ở trường THPT Thọ Xuân 5” để
làm sáng kiến kinh nghiệm cho mình trong năm học 2019- 2020 này Với mong muốn góp phần giúp quá trình dạy và học của thầy trò lớp 11 ngày một hiệu quả, học sinh được nâng cao tư duy và năng lực quan sát, yêu môn hóa học hơn, đồng thời nắm bắt kiến thức cũng như biết ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các hình vẽ trong sách giáo khoa hóa học 11 theo hướng dạy học tích cực
Sử dụng các hình vẽ trong sách giáo khoa hóa học 11 nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh Từ đó có thể rèn luyện trí thông minh, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh giúp mang lại kết quả học tập bộ môn cao hơn
Giúp các em HS giải quyết các bài tập có liên quan đến hình vẽ trong các
kỳ thi
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống các hình vẽ trong SGK hóa học 11 và chức năng, vai trò của từng hình vẽ
- Phân tích vai trò của mỗi hình vẽ đối với GV và HS
- Các giải pháp để khai thác thông tin, ứng dụng trong mỗi hình vẽ trong các bài học
- Xây dựng giáo án mẫu bài “anken” SGK hóa học 11 để kiểm chứng và đưa ra kết luận
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Quan sát và làm phiếu điều tra về thực trạng vấn đề cần nghiên cứu
Trang 3- Phương pháp thống kê: xử lý và thống kê số liệu thực nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng đề tài
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của SKKN
2.1.1 Vai trò của SGK đối với việc dạy học Hoá học
- SGK là tài liệu nhằm cụ thể hoá chương trình môn học qua một hệ thống các bài học
- SGK cung cấp kiến thức, kĩ năng chuẩn mực và cần thiết, góp phần hướng dẫn phương pháp học tập, củng cố kiến thức đã học và tạo điều kiện phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy logic, độc lập, sáng tạo
- SGK đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục, nó sẽ phát huy tác dụng tích cực thông qua hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của các điều kiện và phương tiện dạy học
- Cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực
và có hệ thống theo những quy định trong chương trình của môn Hoá học
- Góp phần chủ yếu trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và nhân cách
2.1.2 Vai trò của hình vẽ trong SGK
Trong quá trình dạy học Hoá học, các hình vẽ trong sách giáo khoa đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Đối với học sinh:
Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu hơn và nhớ bài lâu hơn:
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu đặc điểm bên ngoài của đối tượng và các tính chất của chúng có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan
+ Giúp cụ thể hoá những cái trừu tượng, giúp HS dễ hiểu những vấn đề phức tạp
+ Giúp làm sáng tỏ cấu tạo của nguyên tử, chất, những phản ứng với hoá chất độc hại môi trường HS dễ thu nhận thông tin về các sự vật hiện tượng một cách đầy đủ, chính xác
Đối với giáo viên
- Giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập hoá học, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học
- Giúp phát triển năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là năng lực tư duy (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy cao…)
- Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết dạy, góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và trò
- Giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao hơn
Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hình vẽ trong sách giáo khoa, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm
Trang 4sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó Đây cũng
là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây
2.1.3 Hệ thống một số hình vẽ trong SGK hóa học 11 (cơ bản)
Hình 1: Bộ dụng cụ chứng minh tính dẫn điện của dung dịch (Bài 1: Sự điện li – hình 1.1 – trang 4)
Hình 2: Sự hoà tan của amoniac trong nước (Bài 8: Amoniac và muối amoni - hình 2.3 – trang 32)
Hình 3: Điều chế axit nitric trong phòng thí nghiệm (Bài 9: Axit nitric và muối nitrat - hình 2.7 – trang 41)
Hình 4: Thí nghiệm chứng minh khả năng bốc cháy khác nhau của P trắng
và P đỏ (Bài 10: Photpho - hình 2.13 – trang 49)
Hình 5: Thí nghiệm xác định định tính C, H có trong glucozơ (Bài 20: Mở đầu về hoá học hữu cơ - hình 4.1 – trang 90)
Hình 6: Điều chế metan trong phòng thí nghiệm (Bài 25: Ankan - hình 5.2 – trang 114)
Hình 7: Điều chế etilen từ ancol etylic (Bài 29: Anken - hình 6.3 – trang 131)
Hình 8: Phản ứng thế nguyên tử hidro của C2H2 bằng ion bạc (Bài 32: Ankin - hình 6.5 – trang 142)
Hình 9: Glixerol hoà tan đồng (II) hiđroxit thành dung dịch màu xanh lam (Bài 40: Ancol - hình 8.4 – trang 183)
Hình 10: Dung dịch phenol tác dụng với brom tạo kết tủa trắng 2,4,6-tribromphenol (Bài 41: Phenol - hình 8.6 – trang 191)
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn, phòng thí nghiệm và phòng bộ môn chưa có, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm đã hết hạn và thiếu nhiều, mô hình cũng như trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế Nhà trường chưa có phụ tá thí nghiệm, thời gian giữa các tiết dạy rất ngắn vì vậy không phải lúc nào GV cũng có thể thực hiện các thí nghiệm cho học sinh quan sát
- Công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ và giáo viên đã khéo léo ứng dụng sức mạnh của công nghệ vào dạy học, đặc biệt là các môn khoa học thực nghiệm Vì vậy, để có những giờ học sinh động và hiệu quả thì GV phải biết khai thác triệt để những hình vẽ, mô hình SGK theo phương pháp dạy học tích cực
- HS ít được hoạt động, ít được động não, không chủ động tích cực lĩnh hội tri thức Do đó, kiến thức không khắc sâu, không chắc chắn, có thể trả lời đúng những câu hỏi chỉ yêu cầu thuộc bài Nhưng khi phải trả lời những câu hỏi cần tổng hợp so sánh thì nhiều HS lúng túng HS thường bối rối khi giải đáp những vấn đề thực tiễn (thuộc vận dụng kiến thức trong học tập hoặc trong đời sống sản xuất, HS ít có khả năng khái quát)
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Cách khai thác hình vẽ trong sách giáo khoa
Trang 5Hình 1: Bộ dụng cụ chứng minh tính dẫn điện của dung dịch (Khi dạy bài 1: Sự điện li – hình 1.1 – trang 4)
Hình 1.1 Bộ dụng cụ chứng minh tính dẫn điện của dung dịch.
a Chức năng
Mô hình bộ dụng cụ chứng minh tính dẫn điện của dung dịch
b Tổ chức khai thác thông tin
GV nêu vấn đề: Tại sao có dung dịch hoặc chất dẫn điện, có dung dịch hoặc chất không dẫn điện Những chất như thế nào thì dẫn được điện? Những chất như thế nào thì không dẫn được điện?
GV tạo tình huống có vấn đề: cho HS làm thí nghiệm kiểm tra tính dẫn điện của các chất:
GV làm thí nghiệm tương tự hình 1.1, SGK hóa học 11 - ban cơ bản Cho HS nhận xét
GV cho HS làm thí nghiệm tương tự nhưng thay 3 cốc trên bằng 4 cốc khác: cốc (1) NaCl rắn, khan; cốc (2) đựng NaOH rắn, khan; cốc (3) đựng ancol etylic; cốc (4) đựng glixerol, yêu cầu HS nhận xét
GV đặt vấn đề: Tại sao có dung dịch hoặc chất dẫn điện, có dung dịch hoặc chất không dẫn điện?
GV hướng dẫn HS giải quyết vấn đề bằng cách cho biết khái niệm dòng điện
NaCl tan trong nước tạo ra các ion Na+ và Cl-, do trong dung dịch tồn tại các ion nên dẫn được điện
NaOH tan trong nước tạo ra các ion Na+ và OH-, do trong dung dịch tồn tại các ion nên dẫn được điện
HS kết luận khái niệm chất điện li “Những chất khi tan trong nước tạo thành dung dịch dẫn điện được gọi là chất điện li”
GV đặt vấn đề: Khái niệm chất điện li có thể được phát biểu “Những chất mà dung dịch chúng dẫn điện là những chất điện li” không? Giải thích?
GV yêu cầu HS làm một bài tập để khắc sâu lý thuyết: Trong các chất sau chất nào là chất điện li: BaCl2, H2SO4, NaOH, CH3COOH, CaO, SO3, CO, FeO, CO2, H2CO3
Trang 6c Kết luận
Bài tập trên giúp HS rèn luyện khả năng quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm xảy ra và giải thích bản chất của các hiện tượng thí nghiệm
Hình 2: Sự hoà tan của amoniac trong nước (khi dạy Bài 8: Amoniac
và muối amoni - hình 2.3 – trang 32)
a Chức năng
Mô hình thí nghiệm về tính tan của NH3 trong nước
b Tổ chức khai thác thông tin
GV yêu cầu HS quan sát và nêu tên các dụng cụ và hoá chất được sử dụng trong hình?
Yêu cầu trả lời:
Hoá chất: nước, dd phenolphtalein, bình thuỷ tinh chứa khí NH3
Dụng cụ: giá đỡ, ống dẫn khí, bình thuỷ tinh
GV yêu cầu HS nêu cách tiến hành thí nghiệm? (rèn ngôn ngữ hoá học)
HS trả lời:
Lắp dụng cụ như hình 2.1
Nạp đầy khí amoniac vào bình thủy tinh trong suốt, đậy bình bằng nút cao su có ống thủy tinh vào một chậu thủy tinh chứa nước có pha thêm dung dịch phenolphtalein
GV hỏi: Nguyên nhân nào gây ra hiện tượng nước phun vào bình chứa khí NH3 ở dạng tia?
HS trả lời: Do khí NH3 tan nhiều trong nước làm giảm nhanh áp suất
trong bình
GV hỏi: Vì sao nước có pha dung dịch phenolphtalein trong chậu thủy tinh không màu nhưng khi vào bình khí NH3 lại có màu hồng?
HS trả lời: khi vào bình hòa tan khí NH3 tạo thành dung dịch amoniac
có tính bazơ nên chuyển thành màu hồng
GV hỏi: Trong thí nghiệm trên, nếu nhỏ vài giọt quỳ tím (thay phenolphtalein) vào chậu thủy tinh chứa nước thì hiện tượng gì xảy ra trong bình chứa khí NH3?
Trang 7 HS trả lời: Nước phun vào bình dạng tia có sự chuyển màu từ màu tím sang màu xanh
c Kết luận
Rèn ngôn ngữ hoá học
Bài tập trên giúp HS rèn luyện khả năng quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm xảy ra và giải thích bản chất của các hiện tượng thí nghiệm
Hình 3: Điều chế axit nitric trong phòng thí nghiệm (khi dạy Bài 9: Axit nitric và muối nitrat - hình 2.7 – trang 41)
a Chức năng
Mô hình điều chế axit nitric trong phòng thí nghiệm
b Tổ chức khai thác thông tin
GV yêu cầu HS quan sát hình vẽ, SGK rút ra nguyên tắc và viết phương trình phản ứng điều chế HNO3 trong phòng thí nghiệm
HS trả lời: Để điều chế một lượng nhỏ HNO3 trong phòng thí nghiệm, người ta đun hỗn hợp NaNO3 hoặc KNO3 rắn với H2SO4 đặc
Phương trình phản ứng: NaNO3 + H2SO4 đặc HNO3 + NaHSO4
GV hỏi: Vai trò của chậu nước đá trong phòng thí nghiệm điều chế HNO3?
HS trả lời: Làm lạnh để ngưng tụ hơi HNO3
GV hỏi: Có thể thay H2SO4 đặc bởi HCl đặc được không? Vì sao?
HS trả lời: không thể thay H2SO4 đặc bởi HCl đặc vì HCl cũng là axit
dễ bay hơi giống HNO3 nên không thể dùng để điều chế HNO3 thay cho H2SO4
được
GV hỏi: Tại sao điều chế HNO3 bốc khói phải sử dụng H2SO4 đặc và NaNO3
rắn?
HS trả lời: Vì HNO3 bay hơi và tan nhiều trong nước còn H2SO4 bay hơi rất ít, dùng H2SO4 đặc và NaNO3 rắn để hạn chế lượng nước có mặt trong phản ứng
GV lưu ý: Cần lưu ý khi thí nghiệm thì phải dùng các trang thiết bị bằng thủy tinh, hay nhất là bình cổ cong nguyên khối do axit nitric khan tấn
Trang 8công cả nút bần, cao su và da nên sự rò rỉ có thể cực kỳ nguy hiểm: H2SO4 + KNO3 → KHSO4 + HNO3
c Kết luận
Rèn ngôn ngữ hoá học
Những câu hỏi trên giúp HS lưu ý HNO3 ở trạng thái gì khi sinh ra, cần lựa chọn dụng cụ thí nghiệm và hóa chất nào thích hợp để thu được HNO3 an toàn Từ đó, phát triển cho HS năng lực tiến hành thí nghiệm và sử dụng thí nghiệm an toàn
Hình 4: Thí nghiệm chứng minh khả năng bốc cháy khác nhau của P trắng và P đỏ (khi dạy Bài 10: Photpho - hình 2.13 – trang 49)
Hình 2.13 Thí nghiệm chứng minh khả năng bốc cháy khác nhau của
P trắng và P đỏ.
a Chức năng
Thí nghiệm chứng minh khả năng bốc cháy khác nhau của P trắng và P đỏ
b Tổ chức khai thác thông tin
GV hỏi: Photpho ở dạng nào dễ bị bốc cháy hơn? Vì sao?
HS trả lời: Photpho trắng dễ bốc cháy hơn photpho đỏ vì P trắng có cấu trúc mạng tinh thể phân tử, những tinh thể P4 nằm ở nút mạng và liên kết với nhau bằng lực tương tác yếu Do vậy, ở 44,1oC photpho trắng bị nóng chảy và bốc cháy, trong khi đó P đỏ có cấu trúc polime nên bền ở nhiệt độ thường, nhiệt
độ nóng chảy trên 250oC
GV hỏi: Johan Lundstrom đã phát minh ra phương pháp dùng photpho
đỏ thay thế photpho trắng để sản xuất ra diêm an toàn vào năm 1855 Em hãy cho biết nguyên nhân vì sao phải thay P trắng bằng P đỏ khi sản xuất diêm an toàn? Từ đó, hãy nêu cách bảo quản P trắng và P đỏ?
HS trả lời: P trắng rất độc, dễ bay hơi gây bệnh hoại tử xương, dễ bỏng nặng khi da tiếp xúc, dễ bốc cháy ở nhiệt
c Kết luận
Qua bài tập này, HS sẽ nắm rõ các tính chất hóa học của photpho như: tính độc hại, tính an toàn, tính dễ cháy nổ để biết cách sử dụng và bảo quản đúng cách trong thực hành và sản xuất kinh doanh
Trang 9Hình 5: Thí nghiệm xác định định tính C, H có trong glucozơ (khi dạy Bài 20: Mở đầu về hoá học hữu cơ - hình 4.1 – trang 90)
Hình 4.1 Thí nghiệm xác định định tính C, H có trong glucozơ
a Chức năng
Mô hình thí nghiệm xác định định tính C, H có trong glucozơ
b Tổ chức khai thác thông tin
GV yêu cầu HS quan sát và nêu tên các dụng cụ và hoá chất được sử dụng trong hình?
Yêu cầu trả lời:
Hoá chất: glucozơ (C6H12O6), CuO, CuSO4 khan, nước vôi trong Ca(OH)2)
Dụng cụ: ống nghiệm, bộ giá thí nghiệm, đèn cồn, chậu thủy tinh, thìa lấy hóa chất, công tơ hút, giá để ống nghiệm, bông, nút cao su, ống dẫn khí,
…
GV yêu cầu HS nêu cách tiến hành thí nghiệm? (rèn ngôn ngữ hoá học)
HS trả lời: Trộn đều khoảng 0,2 gam glucozơ với 1-2 gam CuO sau đó cho hỗn hợp vào ống nghiệm Cho tiếp 1 gam CuO phủ hết bề mặt hỗn hợp trong ống nghiệm, lấy cục bông tẩm bột CuSO4 khan trắng để sát miệng ống nghiệm Dẫn khí thoát ra vào nước vôi trong, tiến hành lắp dụng cụ như hình vẽ Đun ống nghiệm có chứa hỗn hợp chất rắn
GV yêu cầu HS nêu hiện tượng thí nghiệm?
HS trả lời: nhúm bông chuyển dần sang màu xanh lam của muối đồng
và dung dịch nước vôi trong xuất hiện vẩn đục
Do CuO oxi hóa đường tạo thành CO2 và hơi nước Hơi nước bay lên gặp miếng bông có chứa CuSO4 khan, gặp nước tạo thành màu xanh
CO2 thoát ra ngoài tác dụng với nước vôi trong tạo kết tủa CaCO3
Phương trình phản ứng: CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
c Kết luận
Rèn ngôn ngữ hoá học
Nắm kỹ thuật tiến hành thí nghiệm
Trang 10 Biết xác định định tính C, H có trong glucozơ.
Hình 6: Điều chế metan trong phòng thí nghiệm (khi dạy Bài 25: Ankan - hình 5.2 – trang 114)
a Chức năng
Mô hình tiến hành điều chế và thu khí metan trong phòng thí nghiệm
b Tổ chức khai thác thông tin
GV yêu cầu HS quan sát và nêu tên các dụng cụ và hoá chất được sử dụng trong hình?
Yêu cầu trả lời:
Hoá chất: CH3COOH, CaO, NaOH rắn
Dụng cụ: giá đỡ, đèn cồn, ống dẫn khí, ống nghiệm thu khí CH4
GV yêu cầu HS nêu cách tiến hành thí nghiệm? (rèn ngôn ngữ hoá học)
HS trả lời: Cho vào ống nghiệm khô có nút và ống dẫn khí khoảng 4 - 5 gam hỗn hợp bột mịn đã được trộn đều gồm natri axetat khan và vôi tôi xút theo
tỉ lệ 1: 2 về khối lượng Lắp dụng cụ như hình vẽ 5.2 Đun nóng đáy ống nghiệm bằng ngọn lửa đèn cồn
HS viết phương trình hoá học minh hoạ cho quá trình điều chế khí
CH4?
Phương trình phản ứng: CH3COONa + NaOH CaO t, o CH4 + Na2CO3
GV hỏi: Vì sao khi điều chế CH4 trong phòng thí nghiệm, người ta thu khí CH4 bằng cách đẩy nước?
HS trả lời: Khi điều chế CH4 trong phòng thí nghiệm, người ta thu CH4
bằng cách đẩy nước là do khí CH4 ít tan trong nước
GV hỏi: Có thể thu khí CH4 bằng phương pháp khác hay không? Đó là phương pháp gì?
HS trả lời: Có thể thu khí CH4 bằng phương pháp dời chỗ không khí miệng bình úp xuống
GV hỏi: dự đoán hiện tượng khi thay ống dẫn khí bằng ống vuốt nhọn, rồi đốt khí thoát ra ở đầu ống dẫn khí?
HS trả lời: Đốt cháy khí CH4 thấy ngọn lửa có màu xanh
Phương trình phản ứng: CH4 + 2O2 t o CO2 + 2H2O