Để việc triển khai hoàn chỉnh thị trường điện đạt kết quả và đúng lộ trình, phải tích cực chuẩn bị xây dựng khung pháp lý, mô hình thị trường bán buôn và bán lẻ điện cạnh tranh, cơ sở hạ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
TRƯƠNG ANH TUẤN
TÍNH TOÁN ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN BỔ CHI PHÍ TRUYỀN TẢI TRÊN LƯỚI ĐIỆN
110 kV CỦA CÔNG TY LƯỚI ĐIỆN CAO THẾ MIỀN TRUNG TRONG THỊ TRƯỜNG ĐIỆN
Chuyên ngành : Kỹ thuật điện
Mã số : 8520201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN TẤN VINH
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trương Anh Tuấn
Trang 3TÍNH TOÁN ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN BỔ CHI PHÍ TRUYỀN TẢI TRÊN LƯỚI ĐIỆN 110 KV CỦA CÔNG TY LƯỚI ĐIỆN CAO THẾ MIỀN TRUNG
TRONG THỊ TRƯỜNG ĐIỆN
Học viên: TRƯƠNG ANH TUẤN Chuyên ngành: KỸ THUẬT ĐIỆN
Mã số: 8520201 Khóa: K34.KTĐ Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt - Hiện nay, ngành Điện đã và đang xây dựng, vận hành thị trường điện và phấn đấu đưa
vào hoạt động thị trường bán lẻ điện cạnh tranh vào năm 2021 Để việc triển khai thị trường điện đạt kết quả và đúng lộ trình, phải tích cực chuẩn bị xây dựng khung pháp lý, mô hình thị trường bán buôn và bán lẻ điện cạnh tranh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phương pháp tính các giá dịch vụ trong đó có phí truyền tải điện Vì vậy luận văn này tác giả chú trọng nghiên cứu, phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp tính toán chi phí truyền tải điện và lựa chọn phương pháp tính toán phù hợp để áp dụng trong giai đoạn hiện nay và phương pháp áp dụng khi thị trường hoàn chỉnh, phát triển Dựa trên các số liệu thống kê về lưới điện, quá trình vận hành thực tế để tính toán chi phí cụ thể tại Công
ty Lưới điện cao thế miền Trung
Từ khóa – Thị trường điện; giá truyền tải; thị trường bán lẻ điện cạnh tranh; Trào lưu công suất;
Các phương pháp tính toán chi phí truyền tải
THE PROPOSED METHODS FOR TRANSMISSION PRICING ALLOCATION
ON THE 110 KV NETWORK OF CENTRAL GRID COMPANY IN THE ELECTRICITY
MARKET
Student: TRUONG ANH TUAN Major: ELECTRICAL TECHNOLOGY
Code: 8520201 Course: K34.KTD - University of Science and Technology - The University of
Da Nang
Abstract - In recent years, EVN has been building, operating the electricity market, and the
competitive electricity retail market is going to put into operation in 2021 In order to achieve the right results and schedule in electricity market implementation, a legal framework and a competitive electricity retail market model must be invested actively Therefore, this thesis concentrates on researching and analyzing the advantages and disadvantages of the calculation methods of pricing allocations In a consequence, an appropriate calculation method will be selected to apply in future Finally, the actual solutions will be improved based on the statistics of the grid’s database at The Central Grid Company
Key words – The electrical market; Transmission pricing allocation; Competitive retail electricity
market; Power flow; Calculation methods of transmisson pricing
TRANG TÓM TẮT TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TRANG TÓM TẮT TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn, mục đích đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 2
6 Cấu trúc của luận văn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN VIỆT NAM 3
1.1 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh trên thế giới 3
1.1.1 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với 1 đơn vị mua duy nhất: 4
1.1.2 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh: 7
1.1.3 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh: 9
1.2 Tổng quan về thị trường điện Việt Nam 10
1.2.1 Mô hình thị trường điện Việt Nam 10
1.2.2 Hoạt động hiện tại của thị trường phát điện cạnh tranh 13
1.2.3 Phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh 14
1.2.4 Phát triển thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 18
1.2.5 Nhận xét, đánh giá chung 21
CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHI PHÍ TRUYỀN TẢI ĐIỆN22 2.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu của giá truyền tải trong thị trường điện 22
2.1.1 Ý nghĩa, vai trò của giá truyền tải 22
2.1.2 Mục tiêu của quá trình thiết lập cơ chế giá truyền tải 22
2.2 Nguyên tắc tính toán và các thành phần cơ bản của giá truyền tải 24
2.2.1 Nguyên tắc tính toán giá truyền tải 24
2.2.2 Các thành phần cơ bản của giá truyền tải 25
2.3 Phương pháp tính toán 25
2.3.1 Phương pháp MW-km 25
Trang 52.3.2 Phương pháp tem thư: 35
2.4 Nhận xét 35
2.5 Kết luận 36
CHƯƠNG 3 TÍNH TOÁN PHÂN BỔ CHI PHÍ TRUYỀN TẢI TRÊN LƯỚI 110 KV CỦA CÔNG TY LƯỚI ĐIỆN CAO THẾ MIỀN TRUNG 38
3.1 Nội dung chi tiết phương pháp 38
3.1.1 Phương pháp xác định giá truyền tải 38
3.1.2 Phương pháp xác định tổng doanh thu truyền tải điện cho phép hàng năm 38 3.1.3 Phương pháp xác định tổng chi phí vốn truyền tải điện cho phép 39
3.1.4 Phương pháp xác định tổng chi phí vận hành và bảo dưỡng truyền tải điện cho phép 40
3.2 Tính toán tổng doanh thu truyền tải 43
3.2.1 Thống kê số liệu lưới điện do Công ty Lưới điện cao thế miền Trung quản lý 43
3.2.2 Tính tổng chi phí vốn truyền tải điện ( TTN CAP C ) 55
3.2.3 Tính tổng chi phí vận hành và bảo dưỡng ( TTN OM C ): 56
3.2.4 Xác định lượng điều chỉnh doanh thu năm ( N GT D ) 60
3.2.5 Kết quả tính toán 60
3.3 Phân bổ chi phí truyền tải 60
3.3.1 Tổng chi phí truyền tải 60
3.3.2 Điện năng nhận trong năm 60
3.3.3 Giá truyền tải 60
3.3.4 Phân bổ chi phí truyền tải 60
3.4 Nhận xét, đánh giá 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
BẢN SAO KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG, BẢN SAO NHẬN XÉT CỦA CÁC
PHẢN BIỆN
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Công suất các nút của hệ thống 29
Bảng 2.2 Thông số các đường dây của hệ thống 29
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả trào lưu công suất 31
Bảng 2.4 Chi phí cố định hàng năm cho các đường dây 32
Bảng 2.5 Phí cơ bản và phí bổ sung 32
Bảng 2.6 Phí R1(1) nhà máy tại nút 1 phải trả 33
Bảng 2.7 Phí R1(4) nhà máy tại nút 4 phải trả 33
Bảng 2.8 Phí R2(1) nhà máy tại nút 1 phải trả 34
Bảng 2.9 Phí R2(4) nhà máy tại nút 4 phải trả 34
Bảng 2.10 Phí truyền tải bằng phương pháp tem thư 35
Bảng 3.1 Tổng hợp khối lượng trạm biến áp 43
Bảng 3.2 Tổng hợp khối lượng đường dây 48
Bảng 3.3 Chi phí khấu hao tài sản cố định 55
Bảng 3.4 Chi phí vật liệu phần đường dây 56
Bảng 3.5 Chi phí vật liệu phần máy biến áp 57
Bảng 3.6 Chi phí vật liệu phần trạm biến áp 57
Bảng 3.7 Tổng hợp chi phí sửa chữa lớn 58
Bảng 3.8 Chi phí dịch vụ mua ngoài phần đường dây 58
Bảng 3.9 Chi phí dịch vụ mua ngoài phần máy biến áp 58
Bảng 3.10 Chi phí dịch vụ mua ngoài phần trạm biến áp 58
Bảng 3.11 Chi phí bằng tiền khác phần đường dây 59
Bảng 3.12 Chi phí bằng tiền khác phần máy biến áp 59
Bảng 3.13 Chi phí bằng tiền khác phần trạm biến áp 59
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất 4
Hình 1.2 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh 7
Hình 1.3 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh 9
Hình 1.4 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh của Việt Nam 11
Hình 1.5 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh của Việt Nam 12
Hình 1.6 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh của Việt Nam 13
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống 28
Hình 2.2 Phương án cơ bản 30
Hình 2.3 Phương án chỉ nhà máy tại nút 1 phát 30
Hình 2.4 Phương án chỉ nhà máy tại nút 4 phát 31
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn, mục đích đề tài
Hiện nay, xu hướng chuyển dịch từ hệ thống điện độc quyền, cơ cấu theo chiều dọc sang thị trường điện cạnh tranh đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Đảng, Nhà nước và ngành Điện đã sớm nhận thức được ưu khuyết điểm, cơ hội
và thách thức đòi hỏi phải cơ cấu ngành điện, từng bước hình thành thị trường điện nhằm tạo môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, thu hút đầu tư, từng bước khắc phục tình trạng thiếu điện, bảo vệ lợi ích của khách hàng và quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp sử dụng điện
Nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ và các cấp, Thị trường phát điện cạnh tranh đã vận hành chính thức từ ngày 01/7/2012 Trải qua 05 năm vận hành, đến nay, Thị trường phát điện cạnh tranh đã đạt được các kết quả tích cực Tính đến hết tháng 6 năm 2017, số lượng các nhà máy điện tham gia giao dịch trên thị trường là
76 nhà máy với tổng công suất đặt 20.728 MW, tăng 2,45 lần so với thời điểm mới vận hành thị trường vào tháng 7/2012 (chỉ có 31 nhà máy điện) Công tác vận hành thị trường phát điện cạnh tranh được đảm bảo an toàn, liên tục Hệ thống điện tiếp tục được vận hành tin cậy, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội Các thông tin về
kế hoạch vận hành thị trường điện, tình hình vận hành hệ thống điện đã được công bố đầy đủ cho các thành viên tham gia thị trường, góp phần giúp tăng tính minh bạch, công bằng trong việc huy động nguồn điện Các đơn vị phát điện đã nhận thức được tầm quan trọng, chủ động hơn trong công tác vận hành, rút ngắn thời gian sửa chữa bảo dưỡng, cắt giảm chi phí vận hành, chủ động trong chào giá nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn hệ thống
Song song với việc hoàn thiện thị trường phát điện cạnh tranh, ngành Điện và các đơn vị liên quan đã xây dựng, vận hành thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh, phấn đấu đưa thị trường bán buôn điện cạnh tranh vào vận hành chính thức từ năm 2019 và tiếp tục nghiên cứu để thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh vào năm 2021 Để việc triển khai hoàn chỉnh thị trường điện đạt kết quả và đúng lộ trình, phải tích cực chuẩn bị xây dựng khung pháp lý, mô hình thị trường bán buôn và bán lẻ điện cạnh tranh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phương pháp tính các giá dịch vụ…Trong đó, việc xác định rõ ràng, cụ thể các chi phí trong quá trình truyền tải, phân phối là rất
quan trọng, đây là một thành phần cơ bản trong việc cấu thành giá điện
Do vậy đề tài “Tính toán đề xuất các phương pháp phân bổ chi phí truyền tải
trên lưới điện 110 kV của Công ty Lưới điện cao thế miền Trung trong thị trường điện” là đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao đối với ngành Điện nói chung và Công ty Lưới
điện cao thế miền Trung nói riêng
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn nghiên cứu lựa chọn phương pháp tính toán phân
bổ chi phí truyền tải điện trên lưới điện 110 kV áp dụng cho Công ty Lưới điện cao
thế miền Trung để phục vụ việc vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tổng quan về thị trường điện Việt Nam,
nghiên cứu lựa chọn phương pháp tính toán phân bổ chi phí truyền tải điện trên lưới
điện 110 kV áp dụng cho Công ty Lưới điện cao thế miền Trung để phục vụ việc
vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
4 Phương pháp nghiên cứu
Về lý thuyết: sử dụng các phương pháp đã được học, các văn bản pháp lý của Nhà nước để nghiên cứu tính toán chi phí truyền tải điện Sử dụng phần mềm POWERWORLD để tính toán cho ví dụ cụ thể
Về thực tế: dựa trên các số liệu thống kê về lưới điện, quá trình vận hành thực
tế để tính toán chi phí cụ thể tại Công ty Lưới điện cao thế miền Trung, qua đó phân tích đánh giá đề xuất phương pháp áp dụng phù hợp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài có thể được xem xét, ứng dụng để tính toán phân bổ chi phí truyền tải trên lưới điện 110 kV phục vụ cho việc vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh dự kiến đưa vào vận hành thử nghiệm trong năm 2021
Ngoài ra, đề tài còn giúp chúng ta nhìn nhận được một số phương pháp tính toán phân bổ hợp lý nhất để đạt được một mô hình thị trường điện hoàn chỉnh trong tương lai
6 Cấu trúc của luận văn
Nội dung luận văn được biên chế thành: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận sẽ có
3 chương và phụ lục Bố cục nội dung chính của luận văn gồm các phần sau:
Chương 1: Tổng quan về thị trường điện Việt Nam
Chương 2: Các phương pháp tính toán phân bổ chi phí truyền tải điện Chương 3: Tính toán phân bổ chi phí truyền tải trên lưới điện 110 kV của Công ty Lưới điện cao thế miền Trung
Kết luận, kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN VIỆT NAM 1.1 M t số mô h nh thị trường điện cạnh tranh trên thế giới
Thị trường điện là hệ thống sản xuất kinh doanh thực hiện việc mua và bán điện dựa trên quy luật cung-cầu để xác định giá Trong thị trường điện hàng hóa điện năng được cung cấp kèm theo các thuộc tính như độ tin cậy, sự ổn định tần số & điện áp, công suất lắp đặt …điều này do đơn vị vận hành hệ thống kiểm soát và thực hiện
Quá trình sản xuất & kinh doanh điện năng ở bất kỳ một quốc gia nào cũng bao gồm 3 khâu liên hoàn: sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng Ở nhiều nước trên thế giới, từ khi có ngành điện lực cho đến những năm 80, thị trường điện đều là loại thị trường độc quyền, được coi là ngành độc quyền tự nhiên, do nhà nước hoặc một
số công ty nắm giữ toàn bộ các khâu từ đầu tư, sản xuất, truyền tải, phân phối, bán buôn, đến khâu bán lẻ cho người sử dụng điện Nhược điểm cơ bản của thị trường điện độc quyền là hiệu quả kinh tế trong sản xuất, kinh doanh không đáp ứng được yêu cầu phát triển, giá điện chưa thực sự hợp lý, tình trạng độc quyền dẫn đến cửa quyền làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng điện Vào những năm đầu của thập kỷ 80 do yêu cầu sử dụng điện năng ngày càng tăng cao, thị trường điện độc quyền bộc lộ thêm nhược điểm không đáp ứng được nhu cầu về công suất cũng như sản lượng cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội do không thu hút được các nguồn vốn đầu tư vào hệ thống nguồn và lưới điện
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, cùng với xu hướng phát triển theo nền kinh tế thị trường, cũng như yêu cầu tăng trưởng nhanh của nhu cầu tiêu thụ điện
và sự đòi hỏi vốn đầu tư lớn để phát triển các công trình năng lượng, thoả mãn tốt hơn mong muốn của người sử dụng điện, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, ngành điện lực một số nước phát triển đã có cải cách cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh và hạch toán theo hướng tách độc lập các đơn vị phát điện, đơn vị truyền tải điện, đơn vị phân phối điện, đơn vị bán buôn và bán lẻ điện để tạo lập thị trường điện cạnh tranh nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh điện năng, hướng đến sự minh bạch, bình đẳng giữa người sản xuất, kinh doanh điện năng và khách hàng
sử dụng điện
Ý tưởng xây dựng mô hình thị trường điện đi đôi với qúa trình tư nhân hóa ngành điện lực xuất hiện đầu tiên ở Chilê vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nhằm mục đích đạt được một giá điện hợp lý và minh bạch hơn, nhưng
mô hình thị trường này không đạt hiệu quả do cấu trúc không phù hợp Đến năm 1990 Vương Quốc Anh (U.K) bắt đầu đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa nền kinh tế bao gồm
cả việc cải cách ngành điện lực theo mô hình thị trường và được xem là mô hình thị
Trang 12trường điện đầu tiên tương đối hòan thiện
Hiện tại, trên thế giới không có một mô hình thị trường điện chuẩn nào áp dụng phù hợp cho tất cả các nước, vì rằng Hệ thống điện mỗi nước có đặc điểm lịch sử khác, nền kinh tế, chính trị xã hội mỗi nước cũng khác nhau, ngoài ra mục tiêu khi hình thành thị trường điện cũng có những sự khác nhau đối với mỗi quốc gia Tuy nhiên nhìn từ góc độ cạnh tranh, tuỳ theo phạm vi, tính chất cạnh tranh và khả năng lựa chọn của các đối tượng tham gia thị trường điện mà tồn tại 3 loại mô hình tổ chức
cơ bản sau:
1.1.1 Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với 1 đơn vị mua duy nhất:
1.1.1.1 Giới thiệu mô hình:
IPP: (Independent Power Producer - Nhà sản xuất điện độc lập)
Hình 1.1: Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất
Trong mô hình này, toàn bộ điện năng sản xuất ra phải bán đại lý mua buôn duy nhất thông qua PPA (Power Purchase Agreement – hợp đồng mua bán điện), như vậy đại lý mua buôn được độc quyền mua điện từ các nhà máy phát điện và bán trực tiếp đến các hộ tiêu thụ điện hoặc thông qua các Công ty phân phối điện Các nhà máy điện (của Nhà nước cũng như của tư nhân) cạnh tranh nhau trong khâu phát điện, còn khâu truyền tải, phân phối nằm trong tay một công ty độc quyền là đại lý mua buôn, đại lý mua buôn này có quyền lựa chọn nhà cung cấp cho mình, trong khi khách hàng
CTPP/Bán lẻ CTPP/Bán lẻ
Đại lý mua buôn
CTPP/Bán lẻ
Trang 13sử dụng điện không có quyền được chọn nhà cung cấp Mô hình này được coi là bước đầu của cải tổ tiến tới tự do hóa trong kinh doanh điện
1.1.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của một số đơn vị chính của mô hình:
- Vai trò, nhiệm vụ của đơn vị mua duy nhất (Single Buyer-SB):
Trong thị trường phát điện cạnh tranh, SB sẽ ký hợp đồng mua bán điện với các đơn vị phát điện để bán điện cho các Công ty phân phối SB có các chức năng chính như sau:
Thực hiện việc mua điện: Xác định các yêu cầu về cơ sở và thiết bị phát điện hoặc truyền tải mới; xây dựng và thực hiện các qui trình đấu thầu cho hoạt động phát điện; tham gia, vận hành và quản lý các hợp đồng mua bán điện PPA
Thực hiện việc bán điện: Soạn thảo và tham gia vào các hợp đồng cung cấp điện cho các đơn vị phân phối
Mua dịch vụ truyền tải của các Công ty truyền tải
-Vai trò, nhiệm vụ của đơn vị vận hành hệ thống điện (System Operator-SO): Kiểm soát điện năng bao gồm lập kế hoạch và điều độ dựa trên các hợp đồng mua bán điện để cân bằng giữa nguồn và phụ tải (tức là giữa cung và cầu)
Thực hiện các dịch vụ liên quan gồm: Điều độ thường xuyên, điều chỉnh điện áp; điều chỉnh mức dự phòng nóng và dự phòng nguội; khởi động lại khi mất điện để đảm bảo độ tin cậy của hệ thống
Dự báo và thông báo mọi sự cố truyền tải, lập kế hoạch vận hành và khôi phục trong trường hợp khẩn cấp, nghiên cứu tính ổn định của các thiết bị phát điện và truyền tải điện mới để đảm bảo độ tin cậy của hệ thống
- Vai trò, nhiệm vụ của đơn vị Truyền tải điện (Transmission Provider-TP): Đơn vị Truyền tải là đơn vị sở hữu, vận hành, bảo dưỡng lưới điện truyền tải Đối xử công bằng bình đẳng với tất cả các khách hàng sử dụng lưới truyền tải, khách hàng sử dụng lưới truyền tải phải trả một khoảng chi phí để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của đơn vị truyền tải trên cơ sở giá do đơn vị truyền tải tính toán và đưa ra Trong trường hợp chưa có cạnh tranh trong lĩnh vực truyền tải thì cơ quan điều tiết của nhà nước có trách nhiệm phê duyệt giá truyền tải
- Vai trò, nhiệm vụ của Công ty phân phối:
Các Công ty phân phối là đơn vị sở hữu và vận hành lưới phân phối, thực hiện 2 chức năng là phân phối và kinh doanh điện Chức năng phân phối bao gồm đầu tư phát triển, quản lý vận hành, sửa chữa lưới điện phân phối Chức năng kinh doanh bán điện chỉ thuần tuý là mua điện từ đại lý mua buôn để bán điện cho khách hàng sử dụng điện
Trang 141.1.1.3 Đánh giá một số ưu, nhược điểm của mô hình:
- Về ưu điểm:
Cho phép các nhà đầu tư tư nhân được quyền xây dựng các nhà máy điện độc lập (IPP) để cùng cạnh tranh bán điện cho đơn vị mua duy nhất Như vậy có sự đa dạng hình thức sở hữu trong khâu phát điện, tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào khu vực phát điện, nhờ đó góp phần giải quyết gánh nặng cho Nhà nước về vốn đầu tư phát triển nguồn điện
Thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ của các nhà máy điện nhằm nâng cao hiệu quả phát điện, khuyến khích đầu tư xây dựng các nguồn năng lượng sạch, giá thành thấp, vì thế góp phần giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
Bảo đảm rủi ro ít nhất cho các đơn vị sản xuất điện
Vẫn tiếp tục duy trì được các mục tiêu về chính sách xã hội như thực hiện trợ giá điện qua giá bù chéo, ưu tiên cho các hộ vùng sâu, vùng xa…
Giá bán cho khách hàng do Nhà nước quy định, trong khi giá bán của các nhà máy lại do thị trường quyết định, các Công ty phân phối không được quyền thâm nhập lưới truyền tải, do vậy các Công ty phân phối điện sẽ thiếu sự chủ động trong kinh doanh, khách hàng sử dụng điện không có quyền được lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình
Lựa chọn vị trí đầu tư, thời điểm đầu tư có thể chưa đạt hiệu quả cao do giá truyền tải chưa ảnh hưởng lớn đến giá bán điện của các nhà sản xuất
Trang 15CT PP Bán lẻ
CT PP Bán lẻ
IPP
CT PP Bán lẻ
1.1.2 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh:
1.1.2.1 Giới thiệu mô hình:
Hình 1.2: Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh
Mô hình bán buôn cạnh tranh là mô hình mà các Công ty phân phối và các khách hành lớn (Large Consumer) có thể mua điện từ bất kỳ nhà sản xuất cạnh tranh nào thông qua thị trường bán buôn hoặc các hợp đồng song phương Họ không bị ép buộc phải mua điện từ đơn vị duy nhất như mô thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất Như vậy sự cạnh tranh đã phát triển ở khâu bán buôn điện Tuy nhiên các Công ty phân phối vẫn độc quyền về bán điện cho khách hàng sử dụng điện cuối cùng (mỗi Công ty có một chi nhánh cung cấp điện cho một nhóm khách hàng xác định) Vì khách hàng không có được lựa chọn nhà cung cấp điện, nên việc điều tiết giá bán lẻ vẫn là cần thiết Mô hình này đòi hỏi mở cửa thâm nhập vào truyền tải cho tất cả các nhà sản xuất và người mua
Mô hình này cần thiết phải thiết lập thị trường điện tức thời để cho các nhà sản xuất điện và bán điện có thể buôn bán sản phẩm của mình trên cơ sở từng giờ (thậm chí ½ giờ)
Cơ sở để thực hiện mô hình thị trường cạnh tranh bán buôn là phải cho phép thực hiện cơ chế TPA (Third Party Access – Quyền tham gia của bên thứ 3), có nghĩa
là tất cả các nhà sản xuất điện đều được quyền kết nối với lưới truyền tải điện quốc
Trang 16gia, bình đẳng về điều kiện kết nối lưới và chi phí sử dụng lưới truyền tải để kinh doanh bán điện cho các đơn vị phân phối
1.2.2.2 Vai trò của một số đơn vị chính của mô hình:
- Vai trò của đơn vị vận hành thị trường (Market Operator-MO): Chỉ huy điều khiển quá trình điều hành giao dịch của thị trường điện; Vận hành và quản lý thị trường bán buôn điện, cung cấp thông tin thị trường (chủ yếu là về giá điện) tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các quyết định đầu tư trên thị trường, sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc thị trường, giám sát thị trường; Phối hợp với đơn vị vận hành hệ thống điện để xây dựng kế hoạch phát điện và truyền tải điện; Giải quyết các tranh chấp trên thị trường
- Vai trò của đơn vị vận hành hệ thống (System Operator-SO): Thực hiện các chức năng tương tự như trong mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất nhưng với mức độ phức tạp hơn; Dự báo tải và nghiên cứu yêu cầu mở rộng hệ thống truyền tải điện để cung cấp thông tin cho các quyết định đầu tư và thực hiện giám sát thị trường để ngăn chặn các hành vi phản cạnh tranh
- Vai trò của đơn vị truyền tải:
Vai trò của đơn vị truyền tải trong mô hình này cũng giống như vai trò của đơn
vị truyền tải trong mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất Tuy nhiên, trong mô hình này thì giá truyền tải điện đã trở thành vấn đề trung tâm của mô hình, khâu truyền tải đã được tách bạch ra khỏi khâu phát điện, ở phần lớn các nước trên thế giới nhà nước vẫn giữ vai trò độc quyền quản lý lưới truyền tải Thị trường năng lượng khi đó gồm 2 hình thức: Thị trường tức thời được chào giá cạnh tranh để bán giao ngay theo thời điểm giao dịch trên thị trường (chiếm khoảng 15-20%), phần lớn còn lại (80-85%) thực hiện thông qua các hợp đồng song phương
- Vai trò của các đơn vị khác:
Công ty phân phối điện: chức năng của đơn vị phân phối điện cũng giống như
trong mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất, ngoài ra còn nhận điện trực tiếp từ đơn vị phát điện thông qua hợp đồng song phương
Cơ quan điều tiết điện lực: Có trách nhiệm thẩm định và ban hành hoặc trình
cấp có thẩm quyền ban hành giá truyền tải điện, giá vận hành hệ thống điện, giá vận hành thị trường điện Kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng mua bán điện Quản lý việc định giá và thực hiện giá điện Kiểm tra, giám sát hoạt động thị trường, sự biến động giữa cung và cầu để đảm bảo cho thị trường điện lực hoạt động ổn định, có hiệu quả; giải quyết các khiếu nại, tranh chấp theo thẩm quyền; thực hiện điều tiết thị trường; yêu cầu dừng thị trường trong trường hợp cần thiết
1.2.2.3 Đánh giá một số ưu, nhược điểm của mô hình:
Trang 17IPP
Đơn vị bán lẻ
- Ưu điểm: Các đơn vị phân phối có quyền lựa chọn người cung cấp điện cho mình với chi phí thấp nhất; Các IPP có quyền tự do thâm nhập lưới điện truyền tải; Sự cạnh tranh sẽ mạnh mẽ hơn, đây là động lực để các đơn vị phát điện phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả và giảm chi phí
- Nhược điểm: Khách hàng vẫn chưa có quyền lựa chọn nhà phân phối điện cho mình; Hoạt động buôn bán điện rất phức tạp và có nguy cơ để thao túng thị trường; Việc xây dựng thị trường sẽ phức tạp, tốn kém hơn thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất; Bản chất của đơn vị phân phối chưa rõ ràng vì có thể là đơn
vị sở hữu lưới phân phối nhưng cũng có thể là một nhóm khách hàng lớn tự thành lập đơn vị phân phối để mua điện trực tiếp
1.1.3 Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh:
1.1.3.1 Giới thiệu mô hình:
Trong mô hình này, các khách hàng sử dụng điện đều có quyền lựa chọn đối tác cung cấp điện (nhà sản xuất, đơn vị bán lẻ, Công ty phân phối) chứ không bắt buộc phải mua điện từ các Công ty phân phối độc quyền như trường hợp mô hình cạnh tranh bán buôn Như vậy sự cạnh tranh đã phát triển đến tận khâu bán lẻ (đến khách hàng sử dụng điện), đòi hỏi quyền thâm nhập không chỉ ở hệ thống truyền tải mà còn đến trực tiếp đến cả hệ thống lưới điện phân phối, trong đó diễn ra rất nhiều giao dịch song phương trên toàn lưới điện Đây là mô hình phi điều tiết hoàn toàn, giá điện không còn bị điều tiết bởi cơ quan Chính phủ mà được xác định bởi quan hệ cung cầu Đây chính là mô hình của tương lai
Hình 1.3: Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh
Trang 18Mô hình này bắt buộc phải thiết lập thị trường điện tức thời để cho các nhà sản xuất điện và bán điện có thể buôn bán sản phẩm của mình trên cơ sở từng giờ (thậm chí ½ giờ) Ngoài ra, cần phải tổ chức một thị trường điện tương lai trong đó các bên
có thể ký các hợp đồng mua bán tay đôi dài hạn
1.1.3.2 Vai trò của các đơn vị chính trong mô hình:
Cũng như mô hình cạnh tranh bán buôn, mô hình cạnh tranh bán lẻ cũng phải
có SO, MO, TP,…Tuy nhiên, nhiệm vụ của các đơn vị này phức tạp hơn
1.1.3.3 Đánh giá một số ưu, nhược điểm của mô hình:
- Ưu điểm:
Các khâu trong dây chuyền sản xuất điện đã được tách ra riêng biệt, hoạt động kinh doanh độc lập do đó các đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện đã tự chủ và chủ động trong công tác quản lý
Cho phép sự tự do kinh doanh và cạnh tranh vào các khâu phát và phân phối điện Thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự đã trở thành hàng hoá, được giao dịch mua bán trên thị trường
Trong mô hình này, sự cạnh tranh sẽ quyết định giá cả của các dịch vụ và giữ ở mức đúng là chi phí biên (nếu thừa) hoặc giá trị của dịch vụ (nếu thiếu), đó là giá đảm bảo lợi ích xã hội cao nhất
- Nhược điểm:
Xây dựng thị trường sẽ rất phức tạp và tốn kém hơn rất nhiều
Yêu cầu về đo lường phải chính xác, đúng thời điểm Chi phí để hoàn thiện lại
hệ thống đo đếm là rất lớn
1.2 Tổng quan về thị trường điện Việt Nam
1.2.1 Mô hình thị trường điện Việt Nam
Mô hình thị trường điện Việt Nam đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Hiện nay Chính phủ đang xây dựng khung pháp lý, cơ sở hạ tầng … để phục vụ cho việc vận hành thị trường điện theo các mô hình đã được lựa chọn như hình vẽ 1.4, 1.5 và 1.6
Các đơn vị cạnh tranh trong khâu phát điện, bao gồm các NMĐ có công suất lắp đặt từ 30MW trở lên và nối lên lưới điện Quốc gia (trừ các nhà máy điện gió và điện địa nhiệt)
Trang 19Hình 1.4: Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh của Việt Nam
(một đơn vị mua duy nhất)
Đơn vị mua buôn duy nhất là Công ty mua bán điện (EPTC), có chức năng mua toàn bộ điện năng qua thị trường và qua hợp đồng mua bán điện
Các Tổng Công ty phân phối điện (đơn vị phân phối điện) là các Tổng Công ty Điện lực, là đơn vị nhận điện trực tiếp từ lưới truyền tải để bán điện cho khách hàng
sử dụng điện hoặc các đơn vị phân phối và bán lẻ khác, các Công ty phân phối thực hiện 2 chức năng là phân phối và kinh doanh điện
Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện (SMO - System and Market Operator) là Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (NLDC) và các Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền (RLDC) có chức năng chỉ huy điều khiển quá trình phát điện, truyền tải và phân phối điện, điều hành giao dịch thị trường điện
Trang 20Hình 1.5: Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh của Việt Nam
(cho nhiều đơn vị mua bán buôn điện)
Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) là đơn vị có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng mua bán điện, kiểm tra, giám sát hoạt động thị trường, sự biến động giữa cung và cầu để đảm bảo cho thị trường điện lực hoạt động ổn định, có hiệu quả; giải quyết các khiếu nại, tranh chấp theo thẩm quyền; thực hiện điều tiết thị trường; yêu cầu dừng thị trường trong trường hợp cần thiết
Trang 21Hình 1.6: Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh của Việt Nam
Các đơn vị cung cấp dịch vụ bao gồm:
+ Đơn vị cung cấp dịch vụ thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện năng là Trung tâm Công nghệ Thông tin (EVN-IT) thuộc Công ty viễn thông Điện lực
+ Đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tải là Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT), là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý vận hành lưới điện truyền tải
1.2.2 Hoạt động hiện tại của thị trường phát điện cạnh tranh
Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/7/2012 sau 1 năm vận hành thí điểm Tham gia thị trường phát điện cạnh tranh chính thức ban đầu có 29 nhà máy điện trực tiếp nộp bản chào giá với tổng công suất đặt là 9.035 MW, có 26 nhà máy gián tiếp tham gia thị trường (do Trung tâm điều
độ hệ thống điện Quốc gia công bố biểu đồ huy động hoặc Công ty mua bán điện chào giá thay) Tính đến nay đã có 32 nhà máy phát điện tham gia trực tiếp vào thị trường phát điện với tổng công suất 9.300 MW, chiếm 39% công suất đặt toàn hệ thống
Thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam là thị trường điều độ tập trung chào giá ngày tới theo chi phí (day ahead mandatory cost-based pool) Tất cả các nhà máy, ngoại trừ các nhà máy có công suất đặt dưới 30MW đều phải tham gia thị
Trang 22trường Vào trước ngày giao dịch (Trading Day), các nhà máy sẽ trực tiếp chào giá hoặc gián tiếp qua một đơn vị khác trên cơ sở dự báo nhu cầu phụ tải và khả năng sẳn sàng của lưới truyền tải và được nộp cho NLDC, NLDC sẽ sắp xếp lịch huy động dự kiến cho ngày tới của các nhà máy theo giá chào từ thấp đến cao và tất nhiên có tính đến các ràng buộc kỹ thuật và an ninh trong hệ thống điện, nhà máy nào có giá thấp nhất sẽ được ưu tiên huy động trước Vào ngày giao dịch, dựa trên các thông tin cập nhật hàng giờ, NLDC sẽ điều chỉnh lại lịch huy động các nhà máy điện để làm cơ sở điều độ các nhà máy điện trong giờ tới
Trong thị trường phát điện cạnh tranh, toàn bộ lượng điện năng do các Công ty phát điện sản xuất ra phải bán cho đơn vị mua duy nhất là EPTC, lịch huy động các tổ máy được lập căn cứ trên bản chào giá chi phí biến đổi Việc thanh toán cho lượng điện năng được giao dịch thông qua giá hợp đồng và giá trên thị trường giao ngay cho mỗi chu kỳ giao dịch theo cơ chế hợp đồng sai khác (CFD - Contract for Difference)
1.2.3 Phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Thị trường cạnh tranh bán buôn bao gồm hai thị trường thứ cấp: một theo hợp đồng điện song phương và một thị trường giao ngay Trong thị trường theo hợp đồng điện song phương, các công ty phân phối có thể mua điện trực tiếp từ các đơn vị bán điện (các đơn vị phát điện hoặc các đơn vị mua bán buôn điện) Trong thị trường điện giao ngay các công ty phân phối được lựa chọn việc mua điện Trong trường hợp giá điện trong thị trường giao ngay thấp hơn chi phí phát điện của một đơn vị phát điện, đơn
vị này có thể quyết định mua điện từ thị trường để đáp ứng các yêu cầu theo hợp đồng của đơn vị thay vì tự sản xuất điện Việc này sẽ giúp đạt được hiệu quả của hệ thống
1.2.3.1 Các điều kiện để hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh:
a Thiết kế thị trường bán buôn cạnh tranh
Trong thị trường cạnh tranh bán buôn cần thành lập một đơn vị vận hành thị trường, theo kinh nghiệm của một số mô hình thành công trên thế giới thì đơn vị vận hành hệ thống cũng sẽ được mở rộng để đảm nhận chức năng vận hành thị trường
Công ty Mua Bán điện trở thành một cơ quan chuyên ngành với chức năng quản lý các hợp đồng dài hạn mà đơn vị này ký hoặc thừa hưởng trong thị trường phát điện cạnh tranh
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia được chuyển đổi từ một công ty con của EVN thành một công ty độc lập Đơn vị Điều độ Vận hành Hệ thống điện quốc gia của EVN chuyển sang thành một bộ phận của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Các công ty phân phối đã được tổ chức lại để hình thành các đơn vị phân phối điện độc lập
Trang 23Một số đơn vị bán buôn điện mới được thành lập để tham gia giao dịch trên thị trường, Công ty Mua Bán điện trở thành một đơn vị bán buôn điện bình thường dưới dạng một công ty độc lập
Các đơn vị phân phối điện độc lập cần có đội ngũ cán bộ, nhân viên được đào tạo chuyên môn đáp ứng được yêu cầu hoạt động của thị trường cạnh tranh bán buôn
c Khuôn khổ điều tiết:
Giám sát thị trường và các quy định phi cạnh tranh được cập nhật cho thị trường bán buôn điện
Các yêu cầu và thủ tục cấp giấy phép cho các đơn vị kinh doanh điện bán buôn được thiết lập
Các quy định về hoạt động điều tiết, quy định thị trường, quy định lưới truyền tải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với cấu trúc và vận hành của thị trường bán buôn cạnh tranh
Quy định về điều kiện cho các khách hàng lớn được lựa chọn mua điện trực tiếp
từ đơn vị phát điện hoặc qua thị trường điện lực được ban hành
Quy định về cạnh tranh lựa chọn nhà đầu tư nguồn điện mới theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu được sửa đổi phù hợp với mục tiêu cạnh tranh của thị trường bán buôn
Các quy định về giá điện, các mức giá điện bán buôn sẽ không được điều tiết trong thị trường cạnh tranh bán buôn điện mà được quyết định phụ thuộc vào các mức giá mà các đơn vị mua bán theo các hợp đồng song phương và giá điện mua được trên thị trường giao ngay
1.2.3.2 Vận hành thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh:
Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm khi các điều kiện tiên quyết cho cấp độ này đã được đáp ứng
Cho phép lựa chọn một số đơn vị phân phối và khách hàng lớn để hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm Cho phép hình thành một số đơn vị bán
Trang 24buôn mới để tăng cường cạnh tranh trong khâu mua bán buôn điện
Các khách hàng lớn đủ điều kiện được đấu nối vào lưới truyền tải và mua một
số hoặc tất cả điện năng trực tiếp từ các đơn vị phát điện Nếu các khách hàng lớn xem xét giá điện bán buôn của Công ty Mua Bán điện là cao hơn chi phí mua điện trực tiếp
từ một nhà máy điện, khách hàng này có thể chuyển sang mua điện thẳng từ các nhà máy Điều này sẽ tạo thêm áp lực cạnh tranh đối với Công ty Mua Bán điện để giảm thiểu các chi phí và giảm giá điện bán buôn cho các khách hàng lớn
Các công ty phân phối được lựa chọn tham gia thị trường thí điểm thường là các công ty có quy mô vừa phải, sản lượng điện hàng năm ổn định, có năng lực quản
lý và được đào tạo để tham gia thị trường bán buôn điện canh Các công ty phân phối này được quyền tự do lựa chọn các nhà cung cấp (các đơn vị phát điện/các đơn vị mua bán buôn điện) để ký các hợp đồng mua điện dài hạn nếu họ thấy giá của các nhà cung cấp này thấp hơn giá bán buôn của Công ty Mua Bán điện Lượng điện còn thiếu so với thực tế yêu cầu phụ tải sẽ được công ty này mua trên thị trường điện giao ngay
Trong giai đoạn này Cục Điều tiết Điện lực có thể xem xét việc tăng thêm lượng điện năng mua bán giao ngay trên thị trường điện giao ngay của Công ty Mua Bán điện
1.2.3.3 Các đơn vị mới tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh:
Các chức năng của đơn vị vận hành thị trường là quản lý và vận hành thị trường cạnh tranh bán buôn theo các luật lệ thỏa thuận nhiều bên do các thành phần tham gia thị trường quyết định
Các chức năng quản lý thị trường cạnh tranh bán buôn bao gồm:
- Giám sát thị trường, cụ thể: giám sát giá, điều tra các biến động về giá và các tình huống thị trường bất thường khác và lập báo cáo về các hành vi giá điện; giám sát việc tuân thủ các luật lệ của các thành phần tham gia thị trường, báo cáo các kết quả giám sát thị trường cho cơ quan điều tiết
- Thi hành luật, phát hiện các vi phạm luật của các thành phần tham gia thị
Trang 25trường, báo cáo các vi phạm đó lên Cục Điều tiết để thi hành luật
- Cung cấp thông tin thị trường nhằm tạo thuận lợi cho việc vận hành và cho các quyết định đầu tư của các thành phần tham gia thị trường
Các chức năng vận hành thị trường cạnh tranh bán buôn bao gồm:
- Vận hành hệ thống đấu thầu và chào giá thị trường Đấu thầu và chào giá trên
cơ sở các hợp đồng song phương ký giữa các thành phần tham gia thị trường và các đơn vị phát điện chào giá vào thị trường Chuẩn bị kế hoạch tiền điều độ để chuyển giao cho bộ phận vận hành hệ thống, là bộ phận thực hiện điều độ thực tế
- Tính toán giá thị trường theo điều độ thực tế Giá thị trường là giá do thị trường xác định được thiết lập bởi đơn vị phát điện được điều độ có mức giá cao nhất Giá thị trường được tính toán cho từng chu kỳ định giá thường là một giờ hoặc nửa giờ Giá thị trường được trả cho các đơn vị phát điện cho phần điện năng vượt quá mức bán theo hợp đồng đã ký được bán vào thị trường Các công ty phân phối sẽ phải trả cho phần điện năng vượt quá mức đã mua theo các hợp đồng đã ký trước
- Điều hòa chênh lệch giữa lượng điện năng thực tế và theo hợp đồng, quyết định lượng điện năng mà mỗi đơn vị phát điện và đơn vị phân phối đã bán hoặc mua từ thị trường điện
- Lập hoá đơn cho các thành phần tham gia thị trường, đơn vị Vận hành thị trường thu tiền của các đơn vị nhận điện năng từ thị trường và trả tiền cho các đơn vị cung cấp điện vào thị trường
b Các đơn vị kinh doanh điện bán buôn
Việc loại bỏ các hạn chế đối với các đối tượng có thể mua điện sẽ mở cửa thị trường điện bán buôn cho phép hình thành các đơn vị kinh doanh điện mới, trong thị trường cạnh tranh bán buôn điện, các công ty phân phối cần tìm một phương tiện thay thế Công ty Mua Bán điện nhằm giảm các tiêu cực của tính không ổn định của giá thị trường Điều này có thể thực hiện được bằng cách ký các hợp đồng song phương với các đơn vị phát điện, hoặc với các đơn vị kinh doanh mua bán buôn điện (đã có các hợp đồng với các đơn vị phát điện), nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ quản lý rủi ro
Các đơn vị phát điện tham gia vào các hợp đồng ký với các đơn vị kinh doanh điện có lợi thế là được đảm bảo ổn định giá, do đó họ có thể trang trải các chi phí cố định Đối với các đơn vị bán lẻ và các khách hàng lớn ổn định giá giúp họ không bị đặt trước nguy cơ giá thị trường điện cao mà không thể chuyển rủi ro cho khách hàng
Các đơn vị kinh doanh mua bán buôn điện không cần thiết phải được thành lập, các đơn vị này sẽ tự thành lập khi xuất hiện cơ hội trên thị trường
Sau một thời gian thực hiện thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh, tương
Trang 26tự như trong giai đoạn thí điểm thị trường phát điện cạnh tranh cần đánh giá lại hiệu quả kinh tế của mô hình, của các đơn vị tham gia thị trường thí điểm v.v từ đó có những điều chỉnh, khắc phục để hoàn hiện mô hình tiến tới thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh
1.2.3.4 Vận hành chính thức thị trường bán buôn điện cạnh tranh:
Cho phép các công ty phân phối điện hiện thuộc EVN được chuyển đổi thành các công ty độc lập (công ty nhà nước hoặc cổ phần) để mua điện trực tiếp từ các đơn
vị phát điện và ngược lại, các đơn vị phát điện cũng cạnh tranh để bán điện cho các công ty này Các đơn vị bán buôn cũng tham gia cạnh tranh để bán điện cho các đơn vị phân phối và các khách hàng lớn
1.2.4 Phát triển thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh bao gồm tất cả các nhân tố của thị trường cạnh tranh bán buôn với một thị trường hợp đồng điện song phương và một thị trường điện giao ngay Tuy nhiên ngoài các đơn vị phân phối, các hộ tiêu thụ điện cũng được trực tiếp lựa chọn người cung cấp điện cho mình Sẽ có các thành phần mới tham gia thị trường đó là các đơn vị kinh doanh bán lẻ điện là người mua điện từ các đơn vị phát điện và bán lại cho người tiêu thụ Cạnh tranh trong thị trường cạnh tranh bán lẻ điện sẽ mạnh mẽ hơn thị trường cạnh tranh bán buôn
Các đặc điểm khác biệt chính giữa thị trường cạnh tranh bán buôn và thị trường cạnh tranh bán lẻ là:
- Phân phối (thuê phân phối) trở thành một hoạt động kinh doanh tách khỏi bán lẻ
- Các khách hàng lớn trong các mạng lưới phân phối có thể lựa chọn mua hay không mua điện từ các đơn vị bán lẻ, đơn vị kinh doanh hay đơn vị phát điện (Trong thị trường cạnh tranh bán buôn chỉ có các khách hàng lớn đấu nối vào hệ thống truyền tải mới có quyền lựa chọn này)
- Có nhiều hơn một đơn vị bán lẻ điện bán điện trong cùng một mạng lưới phân phối, do đó các khách hàng tiêu thụ điện có thể lựa chọn đơn vị bán lẻ để mua điện
1.2.4.1 Các điều kiện để hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh:
a Thiết kế thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Tách chức năng phân phối và bán lẻ: chức năng phân phối cần được tách thành các dịch vụ (thuê phân phối) trên mạng lưới phân phối và dịch vụ cung ứng điện bán lẻ (cung cấp các dịch vụ điện bán lẻ, đo đếm, lập hoá đơn và thu tiền điện)
Quy định quy mô của khách hàng và lịch trình phù hợp nhất cho việc từng bước tăng cường mức cạnh tranh bán lẻ cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh Việt Nam
Trang 27Các nguyên tắc thị trường cho cạnh tranh mua bán lẻ điện được thiết lập Quy định Lưới Phân phối cập nhật cho cạnh tranh bán lẻ được thông qua
Pháp lệnh Lưới điện và các quy định truyền tải có tính mở được cập nhật cho cạnh tranh mua bán lẻ
Hướng dẫn khách hàng, đào tạo cho các đối tượng tham gia thị trường về các quy định và vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện lực được trang bị phù hợp đáp ứng cấu trúc và vận hành của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
c Khuôn khổ điều tiết
Các quy định về hoạt động điều tiết, quy định thị trường, quy định lưới truyền tải được sửa đổi bổ sung phù hợp với cấu trúc và vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Các quy định giám sát thị trường và chống các hành vi phi cạnh tranh được sửa đổi phù hợp với thị trường cạnh tranh bán lẻ điện
Cục Điều tiết Điện lực cần ban hành các điều lệ để các công ty phân phối chia tách các hoạt động kinh doanh của họ nhằm tạo thuận lợi cho cạnh tranh bán lẻ
Các quy định cụ thể cần được thiết lập đối với các hợp đồng điện với khách hàng bán lẻ để giảm thiểu tranh chấp và đối xử sai của người tiêu thụ tiềm tàng
Cơ quan Điều tiết đảm bảo nguồn lực để giám sát cạnh tranh mua bán lẻ điện
1.2.4.2 Vận hành thí điểm thị trường bán lẻ điện cạnh tranh:
Trong giai đoạn thí điểm, cho phép lựa chọn một số khu vực lưới phân phối có quy mô thích hợp để triển khai thí điểm Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục Điều tiết điện lực quy định, các khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) Chức năng kinh doanh bán lẻ điện của các công ty phân phối được lựa chọn thí điểm sẽ được tách khỏi chức năng quản lý và vận hành lưới phân phối; các đơn vị bán lẻ điện sẽ cạnh tranh để bán điện tới từng khách hàng sử dụng
Trang 28điện và cạnh tranh để mua điện từ các đơn vị bán buôn điện
1.2.4.3 Các đơn vị mới tham gia thị trường bán lẻ điện cạnh tranh:
a Đơn vị Vận hành thị trường
Các chức năng của đơn vị vận hành thị trường ngoài các chức năng giống trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh còn được mở rộng thêm việc điều hoà các lượng điện do từng đơn vị bán lẻ bán ra Trong thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, lượng điện năng của mỗi đơn vị bán lẻ mua từ thị trường bán buôn cần được tính toán bằng cách cộng tất cả lượng điện tiêu thụ đo đếm được của các khách hàng của đơn vị bán lẻ điện
Các khách hàng của một đơn vị bán lẻ điện có thể rải rác trên một số mạng lưới phân phối và danh sách khách hàng của đơn vị bán lẻ phải bao gồm cả điểm đấu nối của từng khách hàng Mọi khách hàng đều được quyền thay đổi đơn vị bán lẻ mà họ mua điện
b Tổng công ty Truyền tải điện
Các trách nhiệm của Tổng công ty Truyền tải không thay đổi nhiều Trong thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, Tổng công ty Truyền tải điện trước đó đã ký các hợp đồng truyền tải điện với các công ty phân phối đồng thời cũng là đơn vị bán lẻ, phải quyết định hoặc ký hợp đồng truyền tải với công ty phân phối hoặc với các đơn vị bán
lẻ điện
c Các đơn vị kinh doanh mua bán buôn điện/bán lẻ điện
Thị trường cạnh tranh bán lẻ điện mở ra các cơ hội lớn hơn cho các đơn vị kinh doanh mua bán buôn điện Các đơn vị này thay vì kinh doanh như một đơn vị trung gian giữa các đơn vị phát điện và đơn vị phân phối, bây giờ có thể bán điện trực tiếp cho các khách hàng trong thị trường cạnh tranh bán lẻ
Sau một thời gian thực hiện thí điểm thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, tương tự như trong giai đoạn thí điểm thị trường phát điện cạnh tranh và bán buôn điện cạnh tranh, cần đánh giá lại hiệu quả kinh tế của mô hình, của các đơn vị tham gia thị trường thí điểm v.v từ đó có những điều chỉnh, khắc phục để hoàn hiện mô hình tiến tới thị trường bán điện cạnh tranh hoàn toàn
1.2.4.4 Vận hành chính thức thị trường bán lẻ điện cạnh tranh:
Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục Điều tiết điện lực quy định theo lịch trình tăng dần mức độ cạnh tranh (giảm dần mức tiêu thụ), các khách hàng sử dụng điện trên toàn quốc được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) hoặc trực tiếp mua điện từ thị trường
Các tổ chức, cá nhân đáp ứng các yêu cầu về hoạt động điện lực được phép thành lập mới các đơn vị bán lẻ điện để cạnh tranh trong khâu bán lẻ Các đơn vị này
Trang 29được quyền mua điện từ các đơn vị phát điện hoặc từ thị trường để bán lẻ cho khách hàng sử dụng điện
1.2.5 Nhận xét, đánh giá chung
Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất sẽ thích hợp với các nước có hệ thống điện còn non trẻ, quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện, hệ thống tổ chức cũng như hệ thống pháp luật chưa thật sự hoàn chỉnh, mô hình này thường được áp dụng cho giai đoạn đầu khi hình thành thị trường Mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh thích hợp với các nước phát triển, hệ thống điện lớn và tiên tiến Theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới thì mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh là mô hình khả thi nhất, là mục tiêu cuối cùng của thị trường điện
Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh có vẻ là mô hình không ổn định lâu dài, vì rằng trong mô hình này ai là công ty phân phối được quyền lựa chọn nhà cung cấp vẫn
là vấn đề khá phức tạp và không rõ ràng, đây thường là mô hình trung gian để tiến tới
mô hình thị trường cạnh tranh bán lẻ
Trong quá trình chuyển hóa từ mô hình thị trường phát điện cạnh tranh với một đơn vị mua duy nhất sang mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh, phạm vi cạnh tranh ngày càng mở rộng, phạm vi chịu sự điều tiết ngày càng ít đi
Trên cơ sở phân tích các mô hình thị trường điện trên thế giới, xem xét với điều kiện cụ thể kết hợp với lộ trình hình thành, phát triển của thị trường điện Việt Nam, tác giả đã nhận thấy các mô hình thị trường điện đã được xây dựng để áp dụng cho Việt Nam là khá phù hợp đặc thù của ngành điện Việt Nam Tuy nhiên hiện nay cơ cấu tổ chức của EVN vẫn còn mang tính độc quyền theo chiều dọc, do vậy việc hoạt động của thị trường bước đầu chắc chắn sẽ còn nhiều bất cập Để thị trường điện tại Việt Nam hoạt động thực sự hiệu quả, phải từng bước tái cơ cấu ngành điện theo sự hình thành và phát triển của thị trường điện, đáp ứng lộ trình hình thành thị trường điện trong nước đã được phê duyệt
Trang 30CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHI PHÍ TRUYỀN TẢI ĐIỆN
2.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu của giá truyền tải trong thị trường điện
2.1.1 ngh a, vai tr của giá truyền tải
Hệ thống truyền tải điện làm nhiệm vụ truyền tải điện năng từ nhà sản xuất đến các công ty phân phối để cung cấp cho khách hàng Việc xác định giá của các dịch vụ truyền tải là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động của thị trường điện
Trong thị trường điện, đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tải có nhiệm vụ truyền tải điện năng từ vị trí đấu nối nhà máy điện đến vị trí nhận điện của các công ty phân phối, do vậy đơn vị này được hưởng một khoản tiền để phục vụ cho việc cung cấp dịch
vụ truyền tải được gọi là giá truyền tải
Giá truyền tải cần tạo điều kiện cho việc đưa ra quyết định đúng về vị trí lắp đặt nhà máy sao cho có hiệu quả nhất đối với hệ thống điện đồng thời tạo điều kiện điều
độ hệ thống điện một cách kinh tế Với mô hình thị trường phát điện cạnh tranh một đơn vị mua duy nhất thì vị trí xây dựng thường được quyết định chung với chủ trương đầu tư, tuy nhiên với mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh và mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh, cơ chế thu phí phải góp phần tối ưu hóa vị trí xây dựng nhà máy và điều độ hệ thống
Trong quá trình chuyển dần sang thị trường điện cạnh tranh, giá truyền tải quan trọng dần theo mức độ cạnh tranh của thị trường Trong mô hình thị trường phát điện cạnh tranh, khi đánh giá các bản chào giá của nhà máy phải bao gồm cả giá truyền tải Hợp đồng mua điện phải chỉ rõ điện được mua ở đâu (tại thanh cái của nhà máy hay tại thị trường trung tâm), ai chịu trách nhiệm truyền tải công suất, và ai lãnh phần rủi ro khi hệ thống truyền tải bị giới hạn dẫn đến nhà máy không phát điện được
Trong mô thị trường bán buôn cạnh tranh, đòi hỏi mở cửa quyền thâm nhập vào
hệ thống lưới điện truyền tải cho tất cả các nhà sản xuất và người mua, do vậy giá truyền tải điện trở thành vấn đề trung tâm của mô hình Với mô hình thị trường bán lẻ cạnh tranh, tầm quan trọng của giá truyền tải được mở rộng xuống cả hệ thống lưới điện phân phối Trong cả hai mô hình này, đòi hỏi khâu truyền tải phải được tách bạch khỏi khâu phát điện
2.1.2 Mục tiêu của quá trình thiết lập cơ chế giá truyền tải
Trong hoạt động thị trường điện, cần phải tạo ra một cơ chế giá truyền tải để thu tiền người sử dụng dịch vụ truyền tải Có rất nhiều cách tiếp cận giá truyền tải, mỗi
Trang 31cách đều nhằm đạt được một số mục tiêu nhất định, tùy theo việc xem xét mục tiêu nào là quan trọng nhất mà đưa ra sự lựa chọn cách tiếp cận phù hợp Một số mục tiêu chủ yếu trong quá trình thiết lập cơ chế giá truyền tải:
Mục tiêu 1: Hiệu quả kinh tế
Mục đích chính ở đây là tạo ra một cơ chế giá truyền tải đáp ứng các tiêu chí về hiệu quả kinh tế Điều này đòi hỏi giá truyền tải phải đưa ra được tín hiệu chính xác về
vị trí lắp đặt nhà máy và phụ tải mới, quá trình sử dụng lưới điện của người sử dụng hệ thống, công tác vận hành hệ thống của TP, phát triển hệ thống truyền tải điện
Cơ chế phí và các điều khoản của hợp đồng cần phải được xem xét sự một cách thấu đáo về phân chia trách nhiệm giữa người sử dụng hệ thống và TP, đồng thời tạo
ra các khuyến khích kinh tế để cả hai bên thực hiện trách nhiệm của mình một cách có hiệu quả
Mục tiêu 2: Doanh thu đủ lớn
Đây là mục đích tối thượng đối với bất kỳ công ty truyền tải điện nào, giá truyền tải phải đảm bảo đủ lớn để trang trải cho các loại chi phí như: chi phí quản lý vận hành, sửa chữa, tỷ lệ khấu hao tài sản, thu hồi vốn đầu tư đầu tư, cải tạo nâng cấp lưới truyền tải, tiền lương,… và phải đảm bảo có lợi nhuận hợp lý để đảm bảo vận hành lưới truyền tải đạt chất lượng, đáp ứng các chỉ tiêu cho đầu tư phát triển lưới truyền tải
Mục tiêu 3: Điều tiết một cách có hiệu quả
Các nhà phân tích cho rằng trong khu vực phát điện không còn tình trạng độc quyền tự nhiên, tuy nhiên trong khu vực truyền tải và phân phối vẫn còn mang tính độc quyền tự nhiên, hoạt động truyền tải điện có ảnh hưởng lớn đến thị trường điện, do vậy việc điều tiết của nhà nước ở khâu truyền tải thông qua giá truyền tải là cần thiết, ngoài ra việc kiểm soát giá truyền tải không chỉ nhằm tránh xu hướng độc quyền tăng giá trên mức chi phí lợi nhuận cho phép mà còn khuyến khích đơn vị truyền tải nâng cao hiệu quả thông qua tiết kiệm chi phí và giảm tổn thất điện năng Điều tiết có hiệu quả là tạo ra các khuyến khích cho vận hành với chi phí thấp nhất trong khi sự can thiệp của cơ quan điều tiết là ít nhất
Ngoài ba mục tiêu chính như đã nêu trên, một số mục tiêu khác cũng có thể được đặt ra trong quá trình thiết lập giá truyền tải như cơ cấu ổn định, công bằng trong quyền truy nhập lưới điện,…
Trang 322.2 Nguyên tắc tính toán và các thành phần cơ bản của giá truyền tải
2.2.1 Nguyên tắc tính toán giá truyền tải
Việc tính toán giá truyền tải tùy thuộc vào cấp độ cạnh tranh của thị trường, nhưng phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, rõ ràng minh bạch:
Phải đơn giản, minh bạch trong quá trình áp dụng và dễ hiểu, dễ áp dụng đối với đơn vị sử dụng lưới truyền tải
Phương pháp tính toán giá truyền tải có thể về cơ sở lý thuyết là rất hoàn chỉnh, nhưng quá rườm rà, phức tạp thì sẽ không thể áp dụng hiệu quả trong thực tế
- Thu hồi được vốn cho đơn vị sở hữu tài sản truyền tải hiện tại:
Việc định giá truyền tải về nguyên tắc phải đảm bảo doanh thu bù đắp được chi phí, thu hồi được vốn đầu tư cho các công ty truyền tải để bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp truyền tải
- Thúc đẩy sự vận hành hàng ngày một cách có hiệu quả của thị trường điện:
Giá truyền tải hợp lý sẽ thúc đẩy việc vận hành thị trường một cách có hiệu quả, cân bằng cung cầu, sử dụng tốt nhất các nguồn lực, đảm bảo lợi ích doanh nghiệp và
xã hội cao nhất
- Đưa ra các tín hiệu đúng đắn về vị trí xây dựng nguồn và phát triển phụ tải:
Trong cơ chế thị trường điện, giá bán điện của các nhà máy điện và giá mua điện của khách hàng sử dụng điện có tính đến giá truyền tải, khi đó tất nhiên là các nhà đầu tư phải tính toán đến vị trí xây dựng nhà máy sao cho đảm bảo sử dụng hết công suất đặt và chi phí phải trả cho đơn vị truyền tải là thấp nhất
- Đưa ra các tín hiệu về sự cần thiết đầu tư trong lĩnh vực truyền tải:
Thông qua việc phải trả chi phí cho truyền tải, các bên tham gia sử dụng lưới truyền tải sẽ cân nhắc kinh tế để tham gia đầu tư tăng cường lưới nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật tốt nhất như: giảm tổn thất, tăng cường khả năng tải hoặc cũng có thể đầu tư xây dựng thêm nhà máy tại nút phụ tải để giảm công suất truyền tải
- Bình đẳng đối với mọi đơn vị sử dụng lưới truyền tải, không phân biệt đối xử đối với khách hàng:
Giá truyền tải phải được xây dựng trên nguyên tắc phản ảnh đúng bản chất của
nó, bình đẳng đối với mọi đơn vị sử dụng lưới truyền tải
- Phải thống nhất và không gây cản trở cho hoạt động của thị trường điện:
Trang 33Giá truyền tải cần phải được xây dựng một cách thống nhất trên cơ sở lý luận khoa học, phù hợp với thực tế, không gây cản trở cho hoạt động của thị trường điện
2.2.2 Các thành phần cơ bản của giá truyền tải
Khi xác định chi phí mà đơn vị sử dụng lưới truyền tải phải trả cho đơn vị truyền tải, cần phân biệt rõ các trang bị dùng chung cho mọi đơn vị sử dụng lưới truyền tải và trang bị chỉ dành riêng cho một đơn vị sử dụng lưới truyền tải, khi đó chi phí của đơn vị truyền tải cho nhóm trang bị thứ nhất là chi phí sẽ thu hồi được thông qua phí sử dụng lưới, chi phí nhóm thứ hai sẽ thu hồi được thông qua phí đấu nối, do vậy tổng chi phí của đơn vị truyền tải bằng tổng chi phí sử dụng hệ thống cộng với tổng chi phí đấu nối
Như vậy có thể kết luận rằng, về cơ bản, giá truyền tải gồm 2 thành phần chính
đó là: chi phí sử dụng lưới truyền tải và chi phí đấu nối lưới truyền tải
Chi phí đấu nối lưới truyền tải: Do các công ty phát điện và các khách hàng nối trực tiếp vào lưới truyền tải chi trả cho đơn vị truyền tải
Chi phí sử dụng lưới truyền tải: Do các công ty phân phối và các khách hàng nối trực tiếp vào lưới truyền tải chi trả cho đơn vị truyền tải
2 Phương pháp tính toán
Hiện nay trên thế giới không có một phương pháp tính toán chung áp dụng cho tất cả các quốc gia, mà tùy theo đặc thù của hệ thống điện, cũng như mục tiêu xây dựng mà có những phương pháp tính toán khác nhau Việc tính toán một cách chính xác giá truyền tải là rất phức tạp, vì vậy trong thực tế khi tính toán về giá truyền tải, nên đưa ra phương pháp tính toán sao cho đơn giản, dễ thực hiện mà vẫn đảm bảo thu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lý để các đơn vị truyền tải tồn tại và hoạt động hiệu quả Trong phần này tác giả sẽ trình bày một số phương pháp tính thông dụng đã và đang được nghiên cứu sử dụng cho trong thị trường điện ở các nước hiện nay
2.3.1 Phương pháp MW-km [4]
Ưu điểm là phương pháp tính phí cho vận chuyển năng lượng giữa hai điểm được đấu nối, khi khoảng cách giữa hai điểm truyền tải càng xa thì chi phí cho truyền tải càng lớn, do đó phí truyền tải sẽ khác nhau cho mỗi đoạn đường dây truyền tải nhất định [4] Phương pháp này quy định rõ đoạn đường dẫn điện từ một đơn vị phát điện đến điểm phân phối Đoạn đường được lựa chọn cần phải có công suất dự phòng đủ để truyền tải lượng điện đó Giá điện được thiết lập nhằm thu hồi suất lợi nhuận từ các tài sản lưới trên đoạn đường này, các chi phí vận hành và bảo trì có liên quan cũng như bất cứ chi phí phát sinh nào khác trong hoạt động kinh doanh lưới điện Phí truyền tải theo khoảng cách được xác định dưới dạng biểu giá bậc thang tăng dần theo khoảng
Trang 34cách và tương ứng với mỗi cấp điện áp truyền tải sẽ có một biểu giá, mỗi khoảng cách giá tối đa thường là 100 km Biểu giá ở cấp điện áp cao hơn có giá lớn hơn biểu giá ở cấp điện áp thấp hơn Phương pháp MW-km có thể sử dụng cho cả các giao dịch song phương và đa phương Phương pháp này định giá trên cơ sở tính toán trào lưu công suất hệ thống và đưa ra các cách đánh giá gần đúng mức độ sử dụng lưới truyền tải của từng phụ tải Để tính giá trị MW-km các trào lưu công suất trên các mạch được nhân với khoảng cách điện sau đó cộng lại để tính tổng số các MW-km truyền tải Trong trường hợp một giao dịch song phương cần tính toán cả hai chế độ phân bố trào lưu công suất là: Khi có và không có giao dịch Tác dụng gia tăng của giao dịch là chênh lệch giữa giá trị MW-km trong trường hợp có và không có giao dịch đang xét Tỷ số giữa lượng MW-km gia tăng và lượng MW-km tổng có thể được sử dụng để phân bố chi phí truyền tải cho từng giao dịch đơn lẻ Phương pháp MW-km khi áp dụng tính toán cho các giao dịch đa phương chính là sự thay đổi công suất của phụ tải ở một nút
sẽ kéo theo sự thay đổi công suất phát tại hàng loạt nút khác nhau và ngược lại Sau đó chi phí sẽ được phân bổ đến từng nút cụ thể Phương pháp MW-km phản ánh sự phụ thuộc của chi phí vào công suất và khoảng cách truyền tải Có bốn biến thể của MW-
km, dưới đây luận văn sẽ lần lượt nghiên cứu các phương pháp này
2.3.1.1 Phương pháp MW-km cơ bản:
Với cách tính này trước hết ta phải tính trào lưu công suất trên từng đường dây
do từng phụ tải (nhà máy hoặc phụ tải) sử dụng gây ra trong chế độ trào lưu công suất
“cơ bản” Chi phí sử dụng đường dây của các phụ tải sẽ được phân bổ cho mỗi phụ tải dựa vào tỷ lệ giữa công suất tính toán và công suất định mức của đường dây tương ứng Tiếp theo, ta tính được tổng chi phí mà phụ tải phải trả sẽ bằng tổng các chi phí thành phần vừa nói ở trên:
k k
R(u): Chi phí được phân bổ cho phụ tải sử dụng thứ u;
k
f : Công suất định mức đường dây k
k C
Tuy nhiên, do tổng các trào lưu công suất trên một đường dây bất kỳ thông thường nhỏ hơn công suất định mức đường dây nên nguyên tắc phân bổ và tính toán này chỉ thu hồi được phần chi phí cho lưới điện “cơ bản” mà không thu hồi được phí
Trang 35dự phòng công suất cho đường dây (bằng hiệu số công suất định mức đường dây và trào lưu công suất thực tế), do vậy không thu hồi được toàn bộ chi phí
2.3.1.2 Phương pháp MW-km theo modul
Một cách đơn giản để thu hồi toàn bộ chi phí trong trường hợp sử dụng phương pháp MW-km theo modul là thay thế toàn bộ công suất định mức của đường dây bằng tổng các giá trị tuyệt đối của trào lưu công suất do tất cả các khách hàng sử dụng gây nên và được xác định theo biểu thức sau:
k k
2.3.1.3 Phương pháp MW-km với chi phí bằng không cho trào lưu công suất ngược chiều
Với cách tính theo phương pháp này thì nhà máy, phụ tải sẽ không phải trả phí khi có trào lưu công suất ngược chiều với trào lưu công suất trong phương án “cơ bản” trên mọi đường dây Như vậy, phụ tải chỉ phải trả phí đối với trào lưu công suất cùng chiều với trào lưu công suất của phương án cơ bản theo tỷ lệ trào lưu công suất của họ Phí truyền tải được xác định theo biểu thức sau:
k
k k
2.3.1.4 Phương pháp MW-km với trào lưu công suất vượt trội
Theo phương pháp MW-km với trào lưu công suất vượt trội, chi phí của mỗi đường dây được chia làm hai thành phần là R1(u) và R2(u)
R1(u) là chi phí liên quan đến phần công suất đang được sử dụng gọi là công suất cơ bản Phần công suất này tương ứng với trào lưu công suất trong phương án cơ bản do phụ tải sử dụng có trào lưu công suất cùng chiều trả Điều kiện phân bổ chi phí
Trang 36này tương tự như trong biến thể MW-km với chi phí bằng không cho trường hợp trào
f : Công suất định mức đường dây k
tương ứng với công suất dự phòng của đường dây và nó được phân bổ cho tất cả các nhà máy, phụ tải sử dụng đường dây bởi lý do là mọi phụ tải đều được hưởng những lợi ích khi có dự phòng công suất cho đường dây như: độ tin cậy, độ ổn định…Chi phí
Do vậy, ta có phí sử dụng thu của nhà máy, phụ tải u sẽ là:
Từ việc phân tích trên ta nhận thấy: Phương pháp này thực chất là sự kết hợp của hai phương pháp nói trên (phương pháp theo modul và phương pháp với chi phí bằng không cho trào lưu công suất ngược chiều); do đó, nó có thể khắc phục được các nhược điểm của từng phương pháp trên
2.3.1.5 Ví dụ tính phí truyền tải bằng phương pháp MW-km
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống
Trang 37Hệ thống gồm có nút 1, nút 2 là các nút phát và phụ tải là các nút 3,4,5 Công
suất của các nút tương ứng như sau:
Bảng 2.1 : Công suất các nút của hệ thống
Thông số đường dây của hệ thống được cho trong bảng sau:
Bảng 2.2: Thông số các đường dây của hệ thống
Trong ví dụ này, chỉ xét tính phí truyền tải cho các nút đấu nối nhà máy
Xác định phí truyền tải theo phương pháp MW-km bao gồm 3 bước :
- Phân tích trào lưu công suất để xác định mức độ sử dụng lưới truyền tải của từng nhà máy, phụ tải như sau: Công suất trên từng đường dây do mỗi nhà máy gây ra được tính lần lượt bằng cách giữ lại công suất phát tại nhà máy đang xét và cho công suất phát của các nhà máy còn lại bằng 0 Phụ tải tại các nút giảm theo tỷ lệ sao cho tổng phụ tải bằng công suất phát tại điểm đấu nối của nhà máy đang xét Chế độ dùng
để tính là chế độ phụ tải cực đại và phương pháp phân tích trào lưu công suất DC
- Xác định phí truyền tải hàng năm cho từng phần tử trong lưới
- Xác định mức phí phải trả của từng nhà máy theo mức độ sử dụng lưới
Bước 1: Tính toán mức độ sử dụng lưới truyền tải Sử dụng phần mềm
PowerWorld tính trào lưu công suất với các phương án sau:
Trang 38- Phương án 1 : Phương án cơ bản (hình 2.2)
- Phương án 2 : Ảnh hưởng của từng nhà máy lên hệ thống được xác định bằng cách giữ lại công suất phát của nhà máy đang xét và đặt công suất phát bằng 0 tại nhà máy còn lại Sau đó phân tích trào lưu công suất cho các chế độ mới này (hình 2.3, 2.4)
Hình 2.2 - Phương án cơ bản
Hình 2.3 - Phương án chỉ nhà máy tại nút 1 phát
Trang 39Hình 2.4 - Phương án chỉ nhà máy tại nút 4 phát
Kết quả 03 trường hợp trào lưu công suất như sau:
Bảng 2.3 - Tổng hợp kết quả trào lưu công suất
Đường dây Trường hợp cơ
bản (MW)
Trường hợp chỉ phát tại nút 1 (MW)
Trường hợp chỉ phát tại nút 4 (MW)
Bước 2: Xác định chi phí (yêu cầu doanh thu) của lưới
Để tính toán được phí truyền tải tại các điểm đấu nối mà nhà máy phải trả, giả thiết các chi phí cố định hàng năm cho từng đường dây như bảng 2.4
Trang 40Bảng 2.4 - Chi phí cố định hàng năm cho các đường dây
Đường dây Chiều dài (km) Chi phí truyền tải (x 10
6 VNĐ)
Bước 3: Phân bổ chi phí
Với giả thiết khả năng tải của mỗi đường dây là 100 MW, phí truyền tải có thể được tính toán theo các biến thể khác nhau của phương pháp MW-km Trong ví dụ này, áp dụng phương pháp trào lưu công suất vượt trội là một trong những biến thể MW-km xác định phí truyền tải tương đối toàn diện Phí truyền tải được phản ánh theo
cả công suất cơ bản và độ dự phòng trên đường dây Nội dung cơ bản của phương
pháp này đã được trình bày trong mục 2.3.1.4 để tính: