1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu cho công rình kè bảo vệ bờ sông ba tại khu vực phường phù đổng, tp tuy hòa

85 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO CÔNG TRÌNH KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG BA TẠI KHU VỰC PHƯỜNG PHÚ ĐÔNG, THÀNH PHỐ TUY HÒA LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT XÂY

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO CÔNG TRÌNH KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG BA TẠI KHU VỰC PHƯỜNG PHÚ

ĐÔNG, THÀNH PHỐ TUY HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY

Đà Nẵng- Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO CÔNG TRÌNH KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG BA TẠI KHU VỰC PHƯỜNG PHÚ

ĐÔNG, THÀNH PHỐ TUY HÒA

Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy

Mã số: 60.58.02.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Hướng

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đặng Khoa Đãm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I MỤC LỤC II TOM TẮT LUẬN VAN V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH VII

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

6 Cấu trúc của luận văn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu 3

1.2 Điều kiện tự nhiên 3

1.3 Đặc điểm địa chất 4

1.4 Đặc điểm khí tượng, khí hậu, thủy hải văn 5

1.4.1 Đặc điểm khí tượng, khí hậu 5

1.4.2 Đặc điểm thủy văn 5

1.4.3 Đặc điểm hải văn 6

1.5 Xói lở bờ sông, bồi lấp lòng sông, cửa biển ở sông ba và các giải pháp tổng thể 8

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP KỸ THUẬT THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO ĐOẠN KÈ NGHIÊN CỨU 13

2.1 Một số giải pháp giải pháp kỹ thuật xử lý nền đất yếu 13

2.2 Hiện trạng đoạn kè nghiên cứu 15

2.2.1 Đoạn 1: từ k0+000  k1+100 15

2.2.2 Đoạn 2: từ k1+100  k1+455,3 16

2.2.3 đoạn 3: từ k1+455,3  k1+585,3 17

2.2.4 Đoạn 4: từ k1+585,3 k2+879,5 18

2.2.5 Đoạn 5: từ k2+879,5  k3+825,8 18

Trang 5

2.3 Phân tích các phương án xử lý đã đề xuất trước đây 19

2.3.1 Cơ sở phân tích 19

2.3.2 Phương án 1: cừ bản bằng bê tông cốt thép dự ứng lực (btdul) 20

2.3.3 Phương án 2: gia cố nền đất yếu bằng cọc đất xi măng 21

2.3.4 Phương án 3: thay thế đất yếu bằng cát 22

2.3.5 Phương án 4: phương án nắn tuyến vào bên trong mặt bằng để tránh nền đất yếu 23

2.4 Đề xuất giải pháp cho đoạn kè nghiên cứu 24

2.4.1 Các căn cứ đề xuất phương án xử lý 24

2.4.2 Giải pháp xử lý đề xuất: 24

2.4.3 Phân tích ưu nhược điểm của phương án đề xuất 27

CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN PHƯƠNG ÁN CHỌN 28

3.1 Đặc trưng địa chất đất nền đoạn kè nghiên cứu 28

3.2 Phân khu tính toán và lựa chọn mặt cắt tính toán 31

3.2.1 Khu A và mặt cắt đại diện tính toán 32

3.2.2 Khu B và mặt cắt đại diện tính toán 33

3.3 Nguyên tắc tính toán độ ổn định và độ lún của nền đất yếu 34

3.3.1 Tính ổn định 34

3.3.2 Tính độ lún 34

3.4 Tính toán khu a (mặt cắt c9) – trường hợp đắp 1 lần 37

3.4.1 Xác định chiều cao phòng lún khi đắp đê 39

3.4.2 Kiểm toán điều kiện ổn định: 42

3.4.3 Tính thời gian chờ lún cần thiết để đạt độ cố kết u = 99% 43

3.5 Tính toán khu B (mặt cắt C30) - Trường hợp đắp 1 lần 43

3.5.1 Xác định chiều cao phòng lún khi đắp đê 44

3.5.2 Kiểm toán điều kiện ổn định: 48

3.5.3 Tính thời gian chờ lún cần thiết để đạt độ cố kết u = 99% 49

3.6 Lựa chọn biên pháp xử lý nền và kế hoạch xây dựng 49

3.6.1 Nhận xét kết quả tính toán cho khu A (c9) và khu B (c30): 49

3.6.2 Phân tích lựa chọn biện pháp xử lý nền 50

3.6.3 Các yêu cầu kỹ thuật đối với công tác thi công xử lý nền đất yếu: 51

3.6.4 Dự kiến phân đợt thi công xử lý: 51

3.7 Kiểm toán, xử lý đảm bảo điều kiện ổn định nền đắp theo giai đoạn 1 52

Trang 6

3.7.1 Kiểm toán khu a (c9) 52

3.7.2 Kiểm toán khu b (c30) 53

3.8 Tính toán độ lún nền đắp giai đoạn 1 54

3.8.1 Tại khu a (c9) 54

3.8.2 Tại khu b (c30) 57

3.8.3 Kết quả tính độ lún giai đoạn 1 cho khu a (c9) và khu b (c30) 60

3.9 Tính thời gian chờ lún để đặt độ cố kết mong muốn giai đoạn 1 và lựa chọn khoảng cách cọc cát 61

3.9.1 Tính thời gian chờ lún để đạt độ cố kết mong muốn 61

3.9.2 Lựa chọn khoảng cách cọc cát: 64

3.10 Tính độ gia tăng lực dính của đất yếu khi đạt độ cố kết u=99% đắp giai đoạn1 64 3.11 Kiểm toán điều kiện ổn định nền đắp theo giai đoạn 2 65

3.11.1 Kiểm toán tại khu a (c9) 65

3.11.2 Kiểm toán tại khu b (c30) 66

3.12 Tính toán độ lún nền đắp giai đoạn 2 67

3.12.1 Kết quả tính độ lún giai đoạn 2 tại 2 khu a và b 68

3.12.2 Thời gian chờ lún để đạt độ cố kết mong muốn tại giai đoạn 2 68

3.12.3 Tính độ gia tăng lực dính của đất yếu khi đạt độ cố kết u=99% đắp giai đoạn 2: 69

3.13 Kiểm toán ổn định tổng thể 69

3.14 Kế hoạch xây dựng 70

3.14.1 Khu vực A (c9) 71

3.14.2 Khu vực B (c30) 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

QUYẾTĐỊNHGIAOĐỀTÀILUẬNVĂNTHẠCSĨ 74

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO CÔNG TRÌNH KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG BA TẠI KHU VỰC PHƯỜNG PHÚ ĐÔNG, THÀNH PHỐ

TUY HÒA

Học viên: Đặng Khoa Đãm Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy

Mã số: 60.58.02.02 Khóa: 31 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Tóm tắt: Hiện nay rất có nhiều giải pháp kỹ thuật để xử lý nền đất yếu đang được áp dụng như: nhóm giải pháp thay thế nền, phương pháp cơ học, phương pháp vật lý, phương pháp nhiệt học, phương pháp hóa học, phương pháp sinh học, phương pháp thủy lực,… Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp kỹ thuật xử lý nền đất yếu trong một công trình cụ thể vừa đảm bảo kỹ thuật, kinh tế và phù hợp với tình hình thực tế không phải là vấn đề đơn giản, cụ thể là nền đất yếu của công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa Đã có nhiều tính toán đề xuất giải pháp xử lý nền đất yếu cho công trình nêu trên nhưng có nhiều bất cập, chưa hiệu quả, chưa phù hợp với tình hình thực tế Trước những khó khăn, vướng mắc đó và trên cơ sở những phương pháp xử lý nền đất yếu hiện nay đang được áp dụng, tác giả đã nghiên cứu, tính toán, đề xuất giải pháp xử lý nền đất yếu cho đoạn

kè nêu trên bằng hình thức cọc cát, thoát nước đứng với gia tải trước, có bệ phản áp, kết hợp với gia cường nền bằng lưới địa kỹ thuật Secugrid 60x60 Q1 Kết quả nghiên cứu đảm bảo kỹ thuật, kinh tế và phù hợp với thực tế và có thể áp dụng để thực hiện việc xử lý nền đất yếu của các công trình có tính chất tương tự

Từ khóa - giải pháp kỹ thuật; đất yếu; sông Ba; cọc cát; lưới địa kỹ thuật

RESEARCH SOLUTIONS FOR LAND DISPOSAL OF EMBANKMENT WORKS

TO PROTECT BA RIVER BANK IN PHU DONG WARD, TUY HOA CITY

At the present time, there are many technical solutions for the application of weak soil such as substrate solutions, mechanical methods, physical methods, thermal methods and chemical methods, Biological methods, hydraulic methods, However, it is not a simple matter to apply soil engineering techniques in a particular project, both technically and economically, and in accordance with the actual situation, namely ground Weakness of embankment works to protect Ba river bank in Phu Dong ward, Tuy Hoa city There have been many calculations proposed solutions for soft land for the above works but there are many inadequacies, not effective, not suitable with the actual situation Facing such difficulties, and on the basis of current weak soil treatment methods, the authors have studied, calculated and proposed solutions for the treatment of weak soil for the above mentioned embankment In the form of sand piles, vertical drainage with pre-loading, with oil-based platform, combined with reinforced foundation using Secugrid 60x60 Q1 geogrids The results of the study are technically, economically and practically appropriate and may be applied to the treatment of weak soil of similar structures

Key words - technical solution; weak soil; Ba river; sand piles; Geotechnical

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

1.2 Phạm vi ảnh hưởng của chế độ thủy động lực cửa sông 7

3.1 Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý phục vụ tính toán ổn định đất nền:

3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý của đất nền lớp 3: Lớp bùn sét 30

3.11 Kết quả tính lún, ổn định, thời gian đặt độ cố kết - đắp 01 lần 49

3.17 Kết quả tính thời gian các phương án chờ cố kết đắp giai đoạn 1 63 3.18 Kết quả tính độ gia tăng lực dính của đất yếu sau khi đạt độ cố

3.19 Kết quả tính lún, ổn định, thời gian cố kết giai đoạn 1 64

3.21 Kết quả tính thời gian chờ cố kết đắp giai đoạn 2 tại C9 và C30 68 3.22 Kết quả tính độ gia tăng lực dính của đất yếu sau khi đạt độ cố

3.23 Kết quả tính lún, ổn định, thời gian cố kết giai đoạn 2 69 3.24 Chỉ tiêu cơ lý vật liệu và đất nền sau khi cố kết lấy tính toán 69

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hình Tên hình Trang

1.3 Hình ảnh sạt lở bờ sông, ngập úng điển hình trên sông Ba 9

2.9 Phương án cừ bản bằng bê tông cốt thép dự ứng lực (BTDUL) 20

3.18 Biểu đồ lún theo thời gian khu vực A - giai đoạn 1 62 3.19 Biểu đồ lún theo thời gian khu vực B - giai đoạn 1 63

Trang 10

Số hình Tên hình Trang

3.26 Biểu đồ lún theo thời gian khu vực A - giai đoạn 2 69 3.27 Biểu đồ lún theo thời gian khu vực B - giai đoạn 2 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phú Yên là tỉnh Duyên hải thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, tỉnh Phú Yên trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ Bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp Khánh Hòa, phía Tây giáp Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông Phú Yên có trên 50 con sông lớn nhỏ và phân bổ tương đối đều trên toàn tỉnh, đáng chú ý là 3 con sông chính: Sông Ba, Kỳ Lộ, Bàn Thạch

Trên các hệ thống sông chính, hàng năm tình hình sạt lở bờ sông diễn ra phức tạp, gây mất đất sản xuất, đất ở, uy hiếp tính mạng và tài sản của nhân dân, làm cho đời sống nhân dân dọc theo bờ các con sông khó khăn Trong đó đặc biệt chú ý là khu vực sông Ba

Sông Ba là một trong những con sông lớn ở miền Trung Trung Bộ Việt Nam với tổng diện tích lưu vực 13.900 km2 nằm trên địa phận 3 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum và Phú Yên Trước tình hình mưa lũ hàng năm, dọc theo sông Ba đã có nhiều điểm sạt lở trên 50m, xâm thực sâu vào đất liền, làm cho một số nhà dân đã bị sạt lở hư hỏng toàn bộ, một số nhà dân có nguy cơ mất an toàn, nước tràn vào khu dân cư, gây thiệt hại nặng

nề về tài sản, mất đất sản xuất, đất ở, nhiều nơi phải thực hiện sơ tán dân

Được sự quan tâm của Đảng, chính quyền các cấp, dọc theo bờ các con sông của tỉnh Phú Yên, trong đó có sông Ba đã được đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ bờ, chỉnh trị để chống sạt lở bờ sông, bảo vệ tính mạng, tài sản, đất sản xuất, đất ở của nhân dân, trong đó có công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông,

TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên được khởi công xây dựng từ năm 2007, với mục tiêu: Chống xói lở bờ Nam sông Đà Rằng; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và cơ sở hạ tầng khu đô thị mới bờ Nam sông Đà Rằng; giải quyết tốt vấn đề thoát lũ và ngập úng cho toàn bộ khu vực bờ Nam sông Đà Rằng; tạo cảnh quan kiến trúc cho thành phố Tuy Hòa, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng để đưa thành phố Tuy Hòa trở thành đô thị loại II trong năm 2020 Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện thi công xây dựng công trình, có một đoạn tuyến kè chiều dài khoảng 200m đi qua khu vực nền đất yếu nhưng chưa có giải pháp xử lý nên phải dừng thực hiện thi công từ năm 2011 đến

nay Đây chính là động lực để tác giả thực hiện đề tài “nghiên cứu giải pháp xử lý

nền đất yếu cho công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông,

TP Tuy Hòa” để có giải pháp xử lý triệt để nền đất yếu cho đoạn kè nêu trên, làm cơ

sở thực hiện hoàn thành công trình, phát huy hiệu quả đầu tư, đạt được mục tiêu đầu tư

mà dự án đã đề ra

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp xử lý nền đất yếu làm cơ sở cho việc thiết kế xây

Trang 12

dựng hoàn thành công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa

- Phạm vi nghiên cứu: Đoạn tuyến kè 200m đi qua khu vực nền đất yếu thuộc công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

4 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát thực tế hiện trường; thu thập và phân tích các tài liệu khảo sát đã có kết hợp với nghiên cứu các phương pháp kỹ thuật mới, đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp

- Ứng dụng các phần mềm địa kỹ thuật để xác định (kiểm tra) các thông số kỹ thuật cho giải pháp đề xuất

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việc nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa là căn cứ có tính khoa học giúp cho chủ đầu

tư công trình tham khảo để lựa chọn giải pháp áp dụng để tiến hành thiết kế công trình cũng như vận dụng để thực hiện xử lý nền móng của một số công trình tương tự khác

6 Cấu trúc của luận văn

Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu, để đạt mục tiêu đề ra và đảm bảo tính logic

và chỉnh thể của vấn đề nghiên cứu, ngoài hai phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương sau đây:

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu:

Khu vực nghiên cứu thuộc khu vực bờ hữu sông Ba trên địa phận phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 3km Cách cửa sông Đà Diễn trung bình khoảng 2km

Hình 1.1: Hình ảnh khu vực nghiên cứu Đoạn nền đất yếu kéo dài khoảng 200m, cách cửa Đà Diễn khoảng 1200m phía

hạ lưu khu vực nền đất yếu là có dự án Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Đông Tác

và khu vực cảng cá Đông Tác

1.2 Điều kiện tự nhiên

Vùng nghiên cứu dự án thuộc hạ lưu sông Đà Rằng chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông Trường Sơn Đặc điểm của khí hậu này là có gió mùa Tây Nam từ tháng 9 đến tháng 11, do ảnh hưởng của các nhiễu động thời tiết trên biển Đông kết hợp với gió mùa Đông Bắc thường gây mưa lớn ở hạ lưu sông Ba từ Củng Sơn đến cửa biển Toàn tỉnh Phú Yên có 3 trạm khí hậu đại biểu cho 3 vùng: Miền Tây Sơn, Sơn Hòa và Tuy Hòa Xét trên toàn lưu vực sông Ba còn kể thêm 3 trạm Pleiku, An Khê và Ayunpa

Xét về điều kiện địa hình địa mạo, vùng dự án xây dựng có thể phân làm 2 đoạn:

- Đoạn I: Từ K0 của kè cho đến lý trình K2+168,2, dài 2.168,2m điều kiện địa hình địa mạo là bãi sông với các cồn cát thành tạo Cao trình nền tự nhiên của đoạn này nằm trên cốt 0 và bãi bị ngập khi triều cường và hoàn toàn bị ngập khi có lũ lớn

- Đoạn II: Từ lý trình K2+168,2 cho đến cuối kè (K3+825,8), dài 1.657,6m điều kiện địa hình địa mạo là đầm phá, trên đoạn này còn có các suối lớn nhỏ đổ vào trước khi chảy ra cửa Đà Diễn

Trang 14

Riêng đối với đoạn kè yêu cầu xử lý nền đất yếu: Đoạn kè này nằm trong đoạn II nói trên, có điều kiện mặt đất tự nhiên là sâu nhất (so với trên tổng thể chiều dài kè) Đáy sông bên ngoài ăn sâu vào đoạn này đến cao trình -4,00m trên suốt trên 100m chiều dài Đồng thời, đoạn này lại gặp điều kiện địa chất bất lợi: Nền đất yếu dày và xuất hiện ngay cả trên bề mặt nền kè

1.3 Đặc điểm địa chất

Trong khu vực nền đất có đặc điểm địa chất, gồm có các lớp địa chất như sau:

- Lớp 1: Là Cát thô lẫn sỏi trạng thái xốp

- Lớp 7: Cát hạt vừa đến thô, Màu xám, xám vàng, thành phần chủ yếu cát thạch anh , đất trạng thái no nước, kết cấu từ chặt đến rất chặt

BS1

29.0

LK1(*) 20.0

Trang 15

1.4 Đặc điểm khí tượng, khí hậu, thủy hải văn

1.4.1 Đặc điểm khí tượng, khí hậu

a) Nhiệt độ không khí:

Nhiệt độ không khí trung bình tại Tuy Hòa là 26,50C Tháng có nhiệt độ không khí trung bình cao nhất là tháng 6 & tháng 7 lên tới 29,20C Nhiệt độ thấp nhất là 22,30C Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày trung bình là 70C  100C

b) Nắng:

Số giờ nắng trung bình trong năm quan trắc được 2.450 giờ/năm tại Tuy Hòa Tháng có giờ nắng nhiều nhất là tháng 5 (278 giờ nắng/tháng); ít nhất là tháng 11 (120 giờ nắng/tháng)

c) Gió

Do đặc điểm địa hình và chế độ gió mùa hàng năm vùng hạ lưu sông Đà Rằng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính thổi tới Từ tháng 5 tới tháng 9 có gió hướng Tây và Tây Nam, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có gió hướng Đông và Đông Bắc Tốc độ gió trung bình tại Tuy Hòa là 3,2m/s Tốc độ gió lớn nhất quan trắc được tại Tuy Hòa là 36m/s (tại Tuy Hòa)

Lượng mưa năm trung bình nhiều năm biến đổi trên toàn tỉnh Phú Yên từ 1.500 

3.000mm/năm Lượng mưa tập trung chủ yếu vào 4 tháng mùa mưa (9  12) chiếm từ

70  80% lượng mưa cả năm Tuy lượng mưa năm không lớn, song lượng mưa ngày lớn nhất rất lớn 619mm/ngày (năm 1993), tháng có lượng mưa trung bình lớn nhất là tháng 10

1.4.2 Đặc điểm thủy văn

Hệ thống sông Ba (từ ngã ba Sông Hinh ra biển Đông), sông mang tên Đà Rằng, bắt nguồn từ dãy núi cao (trên 200m) thuộc Gia Lai chảy theo hướng Bắc Nam đến ngã ba Ayun, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, khi vào Phú Yên chảy theo hướng Tây - Đông tới vùng cửa sông đổi thành Tây Nam - Đông Bắc đổ ra cửa Đà Diễn cách trung tâm thành phố Tuy Hòa 1,0km về phía Nam

Sông Ba có 36 nhánh sông cấp I, 54 nhánh sông cấp II, 14 nhánh sông cấp III và

01 nhánh sông cấp IV Sông Ba chảy qua 3 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum thuộc Tây Trường Sơn và Phú Yên thuộc Đông Trường Sơn

Trang 16

Lũ trên sông Ba rất lớn, tại Củng Sơn quan trắc Qmax=20.700m3/s, M0= 1,62m3/s.km2 với diện tích lưu vực F = 12.800 km2 Dòng chảy kiệt khá nhỏ, tại Củng Sơn Qmin = 7,33m3/s (28/4/1983)

Địa hình lưu vực sông Ba thấp so với các lưu vực xung quanh, độ cao trung bình khoảng 400m Những đỉnh núi cao vùng cực Bắc của hệ thống như Ngọc Rô 1.549m,Ca Kinh 1.761m; ở cực Nam có Chư Ho’Mu cao 2.051m Núi thấp phân bố ở phía Đông và phía Tây cao từ 500  1.500m Hướng dốc chính của địa hình theo hướng dòng chảy của sông, địa hình đồi cao 100  500m chiếm khoảng 70% diện tích; địa hình núi thấp núi thấp và trung bình chiếm khoảng 30% đồi núi vây quanh và áp sát thung lũng sông Ba Ở bờ trái dãy núi Bình Định áp sát dòng chính làm độ rộng của lưu vực sông Ba đoạn này bị thắt lại

1.4.3 Đặc điểm hải văn

Chế độ hải văn vùng biển cửa Đà Rằng có ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm địa hình cũng như động lực của vùng cửa Đà Rằng là nơi xây dựng công trình Vì thế cần thiết phải nghiên cứu chế độ hải văn vùng biển cửa Đà Rằng

a) Chế độ thủy triều:

Vùng cửa sông Đà Rằng có chế độ thủy triều nằm trong khu vực thủy triều ổn định từ Quy Nhơn đến Bình Thuận Thủy triều ở đây thuộc chế độ nhật triều không đều Hàng tháng từ 18 đến 22 ngày là nhật triều, còn lại là bán nhật triều Thủy triều vùng này có thời gian triều dâng kéo dài hơn thời gian triều rút Dòng triều biến đổi dọc theo lòng sông, lưu tốc dòng triều không lớn (khoảng 20 đến 30cm/s) Điều đặc biệt là dòng hải lưu ven biển vào mùa gió Đông Bắc luôn di chuyển theo hướng từ Bắc vào Nam với lưu tốc khoảng 20cm/s

Kết quả tính toán đo đạc mực nước triều cho thấy:

- Biên độ lúc triều cường là 1,8m;

- Biên độ lúc triều kém là 0,5m

- Mực nước triều cao nhất theo các tần suất

Bảng 1.1: Mực nước triều cao nhất theo các tần suất

Trang 17

Do đặc điểm địa hình vùng biển Tuy Hòa khá đơn giản, bãi biển hẹp, thềm lục địa có độ dốc lớn nên hầu như các hướng sóng từ vùng nước sâu vào đến gần bờ đều bị khúc xạ và có hướng gần như vuông góc với đường bờ Theo nghiên cứu của Trung tâm khí tượng biển Tổng cục Khí tượng Thủy văn cho thấy hướng sóng vùng này có quy luật tăng và giảm, độ cao sóng hoàn toàn phù hợp với quy luật biến đổi của gió Khi ngoài khơi có gió Đông Bắc cấp 7 giật trên cấp 7 thì sóng quan trắc được có chiều cao phổ biến từ H = 1,7 2,5m, sóng lớn nhất Hmax > 3,0m Vùng bãi ngang cửa sông Đà Rằng nói chung có sóng rất lớn đặc biệt là sóng nhồi khi ngoài khơi có gió mùa Đông Bắc Hướng sóng tập trung theo hướng NNE, trong khi đường bờ biển vùng cửa Đà Diễn có đường bờ hướng SSE - SSE Về mặt lý thuyết hướng sóng như vậy ảnh hưởng nhiều nhất đến dòng ven và dòng bồi tích dọc bờ

d) Chế độ dòng chảy:

Dòng triều trong khu vực có xu thế thuận nghịch và có độ lớn theo chu kỳ thiên văn Kết quả thu được từ chuỗi 3 ngày tại trạm đo dòng chảy liên tục xa bờ của Viện Khoa học Thủy lợi tiến hành cho thấy: Ở tầng 10m dòng chảy tập trung theo hướng

NW chiếm khoảng 60%, NE chiếm khoảng 12,5%, còn lại phân tán theo các hướng

NE, SW

f) Chế độ thủy động lực sông biển chi phối công trình:

Công trình đê sông và đê cửa sông thì đều có chức năng bảo vệ vùng đất dân cư phía trong đồng, nhưng các tải trọng tác động lên mỗi loại đê khác nhau, đặc biệt thể hiện ở thành phần mực nước thiết kế đê Với đê sông, mực nước thiết kế thường phụ thuộc vào mực nước thượng nguồn đổ về, còn đối với vùng cửa sông thì mực nước không những phụ thuộc vào mực nước lũ sông dâng cao mà còn phụ thuộc vào các dao động mực nước ngoài biển

Theo kết quả nghiên cứu [1], thì kết quả như sau:

Bảng 1.2: Phạm vi ảnh hưởng của chế độ thủy động lực cửa sông

Kịch

bản Biên dưới L i (m)

2

Mực nước triều Đà Rằng pha triều cường cộng nước dâng

3 Mực nước triều Đà Rằng pha triều kém cộng nước dâng do

4 Mực nước triều Đà Rằng cộng với mực nước biển dâng

Trang 18

Do vị trí công trình cách cửa sông Li = 1.200m nên công trình kè chịu ảnh hưởng của chế độ thủy động lực vùng cửa sông

1.5 Xói lở bờ sông, bồi lấp lòng sông, cửa biển ở sông ba và các giải pháp tổng thể

Sông Ba, phát nguyên từ dãy Ngọc Rô ở phía Bắc tỉnh Kon Tum trên độ cao 1.549 mét, chảy qua địa phận 3 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên) tổng chiều dài 374 km; Diện tích lưu vực 13.900km2; Lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng 302m3/s; Tổng lượng nước khoảng 10 tỉ m3 đổ ra biển tại cửa Đà Diễn - thành phố Tuy Hòa

Hạ lưu Sông Ba đoạn từ đập Đồng Cam ra cửa biển Đà Diễn gọi là sông Đà Rằng Trong thời gian từ năm 2000 trở lại đây, tình hình xói lở bờ sông, bồi lấp lòng sông, cửa biển Đà Diễn diễn ra vô cùng phức tạp Lúc thì ngập lụt tràn bờ, khi thì cạn khô trơ đáy, lúc xói lở bờ Nam lại chuyển sang bờ Bắc

Theo tài liệu nghiên cứu [2] cho thấy nhiều yếu tố không bền vững của dòng Sông Ba đã và đang diễn ra đó là: Cơ cấu nguồn nước không đều Trên địa phận vùng Tây Nguyên chiếm khoảng 80%, địa phận Phú Yên chiếm khoảng 20%.Với địa hình sông lồng máng, độ dốc cao, có nhiều bậc thang có lợi thế cho xây dựng thủy điện Việc khai thác thủy điện có mâu thuẫn với việc cấp nước cho vùng hạ lưu nhà máy Điển hình như Nhà máy Thủy điện An Khê - Ka Nak sau khi phát điện đã chuyển 9% lượng nước Sông Ba về Sông Kôn (Bình Định)

Trên lý thuyết cũng như thực tế các hồ thủy điện, thủy lợi trên Sông Ba có chức năng điều tiết phân lũ, nhưng nếu vận hành không tốt các hồ chứa xả tháo lũ trùng pha với nước lụt ở hạ du, đặc biệt là gặp những ngày triều cường, gió chướng, cửa sông bị bồi lấp sẽ gây ngập lụt ác liệt hơn cho hạ du (ngập sâu, dài ngày, diện rộng, tàn phá ác liệt do dòng chảy lớn) điển hình như các trận lụt 2009, 2011, 2016 ở Phú Yên

Thời gian phân bố dòng chảy cũng không đều, 4 tháng mùa mưa chiếm 80-85% lượng nước, 8 tháng mùa khô chỉ chiếm 15-20%; Chênh lệch dòng chảy giữa mùa mưa

và mùa khô khoảng 3000 lần Sự cạn kiệt nguồn nước ngày càng gia tăng, lũ quét, bồi lấp lòng sông, xói lở 2 bên bờ sông ngày càng phức tạp, ác liệt

Dẫn chứng trên đây cho thấy không chỉ có nhà chính trị, nhà kinh tế mà các nhà khoa học cũng đã quan tâm rất nhiều đến Sông Ba Bởi vì nó là một trong các con sông lớn ở miền Trung đang có những diễn biến rất phức tạp, tác động đến nhiều tỉnh, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của hàng triệu cư dân trong lưu vực

Chỉ nói riêng sông Đà Rằng (đoạn từ hạ lưu đập Đồng Cam đến cửa Đà Diễn) có những diễn biến của dòng sông rất đáng chú ý sau đây:

+ Hai bên bờ sông từ Phú Sen (phía bờ Bắc) và từ Lạc Mỹ (phía bờ Nam) ra đến cửa Đà Diển đã có hàng chục điểm xói lở bờ sông nghiêm trọng Hàng chục năm nay Nhà nước đã đầu tư xây dựng các công trình đê, kè cứng hóa bờ sông chống xói lở Trong đó, công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, Kè Lạc Mỹ,

Kè Thạch Bàn (bờ Nam) và Kè Bạch Đằng, Kè Phú Lộc (bờ Bắc) đã được đầu tư cứng hòa bằng công trình kè bảo vệ bờ vĩnh cửu mà 2 bên bờ sông ổn định; Chỉnh trang

Trang 19

được đô thị xinh đẹp, sạch sẽ, tạo ra quỹ đất để mở rộng phát triển thành phố Ở những điểm xói lở khác nhờ có biện pháp công trình kè cứng nên đã tương đối ổn định Nhưng suốt chiều dài khoảng 20 km của khúc sông nói trên còn nhiều điểm xói lở chưa có công trình kè bảo vệ, xói lở bờ sông còn diễn biến rất phức tạp

+ Hiện nay những vùng thấp có triệu chứng xói lở như: Xóm Miễu sông thờ (Hòa Bình), Phú Lễ (Hòa Thành), Ngọc Lãng (Bình Ngọc), đặc biệt là đoạn 200m đi qua khu vực nền đất yếu chưa được xử lý của công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, … cần xây dựng phương án phòng tránh trước khi có công trình đê kè

Hình 1.3: Hình ảnh sạt lở bờ sông, ngập úng điển hình trên sông Ba

+ Mặt cắt dòng chảy kiệt thu hẹp, xuất hiện ngày càng nhiều cồn cát, soi Có nơi

bà con nông dân trồng cỏ, trồng tre gây cản trở dòng chảy vào mùa lũ, góp phần làm nước dâng tràn bờ, bắn phá xói lở ven bờ

+ Lấp cửa sông là diễn biến thường xảy ra Diễn biến cửa sông của các con sông

ở Phú Yên gần như theo một quy luật: Về mùa lũ cửa sông xé rất rộng như cửa Đà Diễn rộng tới 800 mét đến 1km để đạt yêu cầu thoát lũ Nhưng về mùa kiệt, do nguồn nước trong sông không đủ áp lực dòng chảy đẩy cát ra biển bị sóng xe cát, phù sa bồi lấp làm cạn luồng, tàu thuyền không qua lại được, thậm chí có năm cửa sông bị đóng kín

Trang 20

Hình 1.4: Hình ảnh sạt lở, bồi lắp cửa biển Đà Diễn Khi xem xét đến vấn đề thủy lợi theo nghĩa rộng là xét đến nhiều mặt lợi mà dòng sông mang lại như: Nông nghiệp, thủy sản, giao thông thủy, môi trường…

Quan điểm đặt ra khi can thiệp vào dòng sông thì phải nghiên cứu mặt lợi và hạn chế mặt hại của nó Nếu có nhiều đối tượng lợi ích thì phải xác định lợi ích nào lớn nhất để ưu tiên Đối với sông Đà Rằng, có ít nhất năm nhóm đối tượng lợi ích cần xem xét tính toán cân nhắc khi quyết định chọn giải pháp và quy mô, mức độ can thiệp chỉnh trị sông xếp theo thứ tự đó là: Nhóm thủy sản (chủ yếu phục vụ tàu thuyền ra khơi đánh bắt thủy sản); Nhóm giao thông thủy; Nhóm du lịch, ba nhóm này có chung lợi ích là sông càng sâu, cửa sông êm thuận là càng có lợi; Nhóm thứ tư là nông nghiệp và Nhóm thứ năm là môi trường, hai nhóm này có chung vấn đề cùng quan tâm

là mức độ xâm hại do nhiễm mặn khi cửa sông được khơi thông

Điều đáng chú ý là, tỉ lệ cơ cấu cây trồng trong diện tích lưu vực Sông Ba đã thay đổi rất lớn Khoảng 30 năm trước, diện tích đất rừng trong lưu vực chiếm 80%, diện tích đất nông nghiệp chiếm 20% Ngày nay, do tăng dân số, nhu cầu phát triển đất sản xuất nông nghiệp tăng nhanh, đất lâm nghiệp bị thu hẹp Nhiều cánh rừng bị chặt đốt, phát dọn lấy đất làm nông nghiệp Tỉ lệ cơ cấu đất lâm nghiệp và nông nghiệp gần như đổi chỗ cho nhau Nhiều hệ lụy đã diễn ra, đặc biệt nghiêm trọng là số trận lũ quét ngày càng nhiều hơn Xói mòn, bào mòn ở các vùng đất cao, các lưu vực vùng thượng lưu ngày càng ác liệt Chất lượng phù sa trong nước cũng thay đổi, lượng phù sa hữu

cơ, đem lại màu mỡ cho đồng bằng bị giảm đáng kể, lượng phù sa dạng hạt bồi lắng tăng lên ngày càng nhiều, lượng phù sa mang về hạ lưu giảm mạnh Vì vậy, lòng sông, cửa biển bị bồi lấp là hậu quả tất yếu Nó không những xảy ra trong giai đoạn hiện tại

mà còn tiềm tàng lâu dài vì hiện trạng môi trường hiện nay khó có thể phục hồi

Trang 21

nguyên trạng như trước đây

Lấp dòng, lấp cửa cần nạo vét để khơi thông luồng lạch, khơi thông dòng chảy là một trong những biện pháp cần thiết trong nhiều giải pháp, biện pháp chỉnh trị sông Ở Phú Yên có mô hình chỉnh trị cửa sông Đà Nông rất tốt cần được rút kinh nghiệm tham khảo

Việc cửa Đà Diễn bị bồi cạn, làm cho tàu thuyền ngư dân không ra khơi được là một thực tế diễn ra nhiều năm Lực lượng đánh bắt xa bờ phát triển tàu thuyền lớn ngày càng nhiều Cảng cá hiện tại đã quá công suất thiết kế Cửa biển bị bồi lấp, tàu thuyền không ra vào được Cần lưu ý rằng trong mùa cạn kiệt cửa sông bị bồi lắp, thì đầu mùa lũ sẽ gây ra việc ngập lụt và bức phá 2 bờ sông Vì vậy việc nạo vét cửa sông

và những cồn cát ngoài cửa biển là yêu cầu cấp thiết không những cho trước mắt mà cho cả lâu dài

Về lâu dài, tình hình diễn biến sông Đà Rằng cho thấy mức độ tốt không khả quan mà mức độ xấu ngày càng trầm trọng hơn Để chủ động ngăn ngừa hiểm họa của thiên tai nhất thiết cần có những biện pháp công trình cơ bản, như sau:

- Xúc tiến xây dựng một dự án: Quy hoạch, thiết kế, xây dựng hệ thống tuyến kè chống xói hai bên bờ sông Đà Rằng: Phía bờ Nam là từ đuôi kè Lạc Mỹ đến cầu Đà Rằng, thực hiện hoàn chỉnh đoạn đi qua khu vực nền đất yếu thuộc công trình kè bảo

vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông; Phía bờ Bắc từ Phú Sen thượng đến cửa khẩu hợp lưu Sông Chùa Chiều dài mỗi tuyến khoảng 15-20 km, trong đó có qua địa phận 2 thị trấn: Phú Thứ (Tây Hòa) và Phú Hòa

- Xây dựng dự án đầu tư nâng cấp Cảng cá Phường 6 và Đông Tác thành khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền Một số nội dung đề xuất nội dung hạng mục đầu

tư như sau:

+ Đối với phía Cảng cá Phường 6, đầu tư kéo dài, mở rộng bến cá; Kè cứng bờ, cửa sông bên phường 6; Nạo vét âu tàu, mặt bến

+ Đối với phía Cảng cá Đông Tác, đầu tư gia cố kéo dài mặt bến, kè cứng bờ sông cho đến gần miệng tràn xói lở vào mùa lũ lịch sử lớn nhất; Nạo vét âu tàu, bến đậu và mặt bến Mặt ngoài biển, kè chống xói lở toàn bộ khu vực xung yếu bao gồm gia cố kè bảo vệ xóm Rớ

- Thực hiện nạo vét đoạn sông từ cầu Đà Rằng đến cửa biển Chú ý khi nạo vét lòng sông đoạn từ cầu Đà Rằng đến cầu Hùng Vương phải tiến hành đồng thời với việc xây dựng kè chống xói cho Ngọc Lãng, bên cạnh đó là phải thực hiện kè mỏ hàn chắn cát, giảm sóng vươn ra biển cửa Đà Diễn, tránh hiện tượng xói lở, bồi lấp cửa sông

- Kiến nghị Trạm Thủy văn Đà Rằng bố trí quan trắc nhiễm mặn để ảnh báo mức

độ nhiễm mặn nhằm cảnh báo sớm diễn biến tác động môi trường để có biện pháp chủ động ngăn ngừa tác hại

* Kết luận: Hiện nay dọc theo bờ sông Ba tình hình sạt lở, bồi lấp lòng sông

Trang 22

diễn ra rất phức tạp Để hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở, bồi lấp lòng sông, bảo vệ đất đai, tính mạng và tài sản của nhân dân sinh sống dọc theo sông Ba, một trong các biện pháp cần thực hiện là biên pháp công trình (xây dựng các công trình kè bảo vệ bờ) Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đầu tư các công trình kè bảo vệ bờ sông có một số công trình phải thực hiện trên khu vực nền đất yếu, cần có giải pháp xử lý hiệu quả, kinh tế để sớm đầu tư hoàn thành công trình, phát huy hiệu quả đã đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nên việc nghiên cứu giải pháp giải pháp nền đất yếu cho các công trình là hết sức cấp thiết, trong đó có công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa

Trang 23

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP KỸ THUẬT THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU VÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO ĐOẠN KÈ NGHIÊN CỨU

2.1 Một số giải pháp giải pháp kỹ thuật xử lý nền đất yếu

Tùy theo mục đích, tính chất và điều kiện thực tế, có nhiều biện pháp cải tạo và

xử lý khác nhau cho nền đất yếu Việc áp dụng hợp lý các phương pháp sẽ có tác dụng làm tăng cường độ của đất, giảm độ lún tổng cộng cũng như sự chênh lệch lún, từ đó đảm bảo được tính ổn định khi khai thác, rút ngắn thời gian thi công và giảm chi phí xây dựng công trình Chính vì vậy việc lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng loại đất riêng, từng điều kiện thực tế riêng là rất quan trọng

Việc xử lý khi xây dựng công trình trên nền đất yếu phụ thuộc vào điều kiện như: Đặc điểm công trình, đặc điểm của nền đất,… Với từng điều kiện cụ thể mà đưa ra các biện pháp xử lý hợp lý Có nhiều biện pháp xử lý cụ thể khi gặp nền đất yếu như:

- Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình

- Các phương pháp cơ học: Là một trong những nhóm phương pháp phổ biến nhất, bao gồm các phương pháp làm chặt bằng sử dụng tải trọng tĩnh (phương pháp nén trước), sử dụng tải trọng động (đầm chấn động), sử dụng các cọc không thấm, sử dụng lưới nền cơ học và sử dụng thuốc nổ sâu, phương pháp làm chặt bằng giếng cát, các loại cọc (cọc cát, cọc xi măng đất, cọc vôi ), phương pháp vải địa kỹ thuật, phương pháp đệm cát, để gia cố nền bằng các tác nhân cơ học

+ Sử dụng tải trọng động khá phổ biến với điều kiện địa chất đất cát hoặc đất sỏi như dùng máy đầm rung, đầm lăn Cọc không thấm như cọc tre, cọc cừ tràm, cọc gỗ chắc thường được áp dụng với các công trình dân dụng

+ Sử dụng hệ thống lưới nền cơ học chủ yếu áp dụng để gia cố đất trong các công trình xây mới như đường bộ và đường sắt

+ Sử dụng thuốc nổ sâu tuy đem lại hiệu quả cao trong thời gian ngắn, nhưng không thích hợp với đất sét và đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhà xây dựng

Trang 24

sử dụng cho điều kiện địa chất đất sét hoặc đất cát mịn Phương pháp đòi hỏi một lượng năng lượng không nhỏ, nhưng kết quả nhanh và tương đối khả quan

- Các phương pháp hóa học Là một trong các nhóm phương pháp được chú ý trong vòng 40 năm trở lại đây Sử dụng hóa chất để tăng cường liên kết trong đất như

xi măng, thủy tinh, phương pháp Silicat hóa, … hoặc một số hóa chất đặc biệt phục vụ mục đích điện hóa Phương pháp xi măng hóa và sử dụng cọc xi măng đất tương đối tiện lợi và phổ biến Trong vòng chưa tới 20 năm trở lại đây đã có những nghiên cứu tích cực về việc thêm cốt cho cọc xi măng đất Sử dụng thủy tinh ít phổ biến hơn do độ

Trang 25

bền của phương pháp không thực sự khả quan, còn điện hóa rất ít dùng do đòi hỏi tương đối về công nghệ

- Phương pháp sinh học Là một phương pháp mới sử dụng hoạt động của vi sinh vật để làm thay đổi đặc tính của đất yếu, rút bớt nước úng trong vùng địa chất công trình Đây là một phương pháp ít được sự quan tâm, do thời gian thi công tương đối dài, nhưng lại được khá nhiều ủng hộ về phương diện kinh tế

- Các phương pháp thủy lực Đây là nhóm phương pháp lớn như là sử dụng cọc thấm, lưới thấm, sử dụng vật liệu composite thấm, bấc thấm, sử dụng bơm chân không, sử dụng điện thẩm Các phương pháp phân làm hai nhóm chính, nhóm một chủ yếu mang mục đích làm khô đất, nhóm này thường đòi hỏi một lượng tương đối thời gian và còn khiêm tốn về tính kinh tế Nhóm hai ngoài mục đích trên còn muốn mượn lực nén thủy lực để gia cố đất, nhóm này đòi hỏi cao về công nghệ, thời gian thi công giảm đi và tính kinh tế được cải thiện đáng kể

Hình 2.3: Phương pháp bơm chân không

- Ngoài ra còn có các phương pháp mới được nghiên cứu như rung hỗn hợp, đâm xuyên, bơm cát

2.2 Hiện trạng đoạn kè nghiên cứu

Công trình kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nằm trên bờ hữu sông Ba, có điểm đầu nối vào mố cầu đường sắt Bắc - Nam tại chân cầu Đà Rằng, điểm cuối tại khu vực xóm Rớ, phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa

Toàn bộ tuyến kè dài L = 3.825,8m được phân làm 05 đoạn có kết cấu như sau:

Trang 26

đá hộc đổ chân

+ Đỉnh kè: Kết hợp làm đường ven sông khu đô thị mới bờ Nam Đỉnh kè bố trí

hệ thống lan can

Trang 27

Hình 2.5: Hiện trạng đoạn 2 đã thi công hoàn thành

+ Đỉnh kè: Kết hợp làm đường ven sông khu đô thị mới bờ Nam Đỉnh kè bố trí

hệ thống lan can

Hình 2.6: Hiện trạng đoạn 3 đã thi công hoàn thành

Trang 28

- Đỉnh kè: Kết hợp làm đường ven sông khu đô thị mới bờ Nam Đỉnh kè bố trí

+ Đỉnh kè: Kết hợp làm đường ven sông khu đô thị mới bờ Nam Đỉnh kè bố trí

hệ thống lan can

Trang 29

Hình 2.8: Hiện trạng đoạn 5 đã thi công hoàn thành Công trình khởi công xây dựng từ năm 2007, hiện nay đã thực hiện hoàn thành phần kè (gồm: Chân kè, mái kè, đỉnh kè), phần đường giao thông, lan can, điện chiếu sáng chưa thực hiện Đối với phần kè đã thực hiện từ năm 2007 và hoàn thành năm

2011 đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng, kết cấu kè vẫn đảm bảo ổn định

Riêng đoạn kè từ K2+679,5 ÷ K2+879,5 thì đây là đoạn kè nghiên cứu thuộc phạm vi đoạn số 04 nêu trên, trong quá trình thi công đã bơm cát, tạo mặt bằng thi công trong năm 2009 cho đoạn tiếp theo thì xuất hiện hiện tượng khối đất vừa đắp lún sụt mạnh, đất bùn từ nền thiên nhiên trồi lên trên nên không triển khai thực hiện thi công và phải dừng lại để chờ xử lý kỹ thuật, chưa thực hiện thi công đóng cọc chân kè, cũng như chưa thực hiện thi công các công việc khác Hiện nay các cấu kiện cọc bê tống cốt thép đúc sẵn, tấm lát mái, tấm phai chắn đất đã được đúc sẵn và đang tập kết tại khu vực tuyến kè

2.3 Phân tích các phương án xử lý đã đề xuất trước đây

Sau khi phát hiện hiện tượng đoạn kè đi qua khu vực nền đất yếu, các bên liên quan đã tiến hành nghiên cứu, đề xuất giải pháp xử lý, sau đây là một số giải pháp xử

lý đã đề xuất và ưu nhược điểm của các phương pháp:

2.3.1 Cơ sở phân tích

- Căn cứ trên số liệu khảo sát địa chất công trình

- Căn cứ điều kiện tự nhiên, các điều kiện hạ tầng kỹ thuật, điều kiện giao thông

Trang 30

trong và ngoài khu vực

- Căn cứ vào tình hình khả năng thi công, điều kiện cung cấp vật tư vật liệu trong tỉnh và trong nước

2.3.2 Phương án 1: Cừ bản bằng bê tông cốt thép dự ứng lực (BTDUL)

* Mô tả phương án: Đóng cừ bản bê tông cốt thép dự ứng lực, dài L = 18,0m, rộng 1,0m, dày 0,12m thay cho cọc bê tông cốt thép dài 10,0m; các kết cấu khác giữ nguyên như thiết kế cũ

Hình 2.9: Phương án cừ bản bằng bê tông cốt thép dự ứng lực

* Ưu điểm:

- Cừ BTDUL đúc sẵn đã được đưa vào sử dụng phổ biến, nhiều đơn vị thi công

đã có đủ năng lực kinh nghiệm đảm bảo tiến độ, chất lượng

- Cừ bản được sản xuất ngay tại nhà máy theo dây chuyền công nghệ hiện đại, dễ kiểm soát chất lượng

- Chống xâm thực tốt, đặc biệt trong môi trường nước mặn và phèn chua

- Do có cấu tạo đặc biệt của cừ bản và khớp liên kết nên phương án này xử lý triệt để vấn đề cát đùn, cát chảy

- Tuổi thọ công trình cao Có hiệu quả trong trường hợp mực nước dao động lớn

* Nhược điểm:

- Giải pháp thiết kế xử lý chưa toàn diện và triệt để trong việc xử lý nền đất yếu

do chỉ mới xử lý cho một bộ phận chân khay của kè mà không xử lý nền đất yếu dưới

đê (kết hợp nền đường) sau kè Do đó khi công trình hoàn thành (đắp xong nền đường, thân kè) và đưa vào khai thác sử dụng thì dẫn đến kè bị nghiêng lệch, đường bị lún nứt, …

- Mặt cắt ngang kè đại diện của kè được chọn đưa vào tính toán chưa phải là bất lợi nhất, nền bùn sét lớp 3 thực tế dày đến 9,7m và bên trên chỉ có một lớp cát 01 rất

Trang 31

mỏng (0,11,5)m, thậm chí lộ ra cả trên mặt tại vị trí phía sông Mặt cắt tính toán của phương án đã đề xuất thì lớp bùn sét dày chỉ 2m và bên trên là lớp cát dày đến 5m Điều này cho thấy quy mô cừ bản BTDUL loại W600 - A-1000L =18000mm là nhỏ, thiếu an toàn

- Chưa có đường thi công và vận chuyển máng cừ, xe máy thiết bị thi công qua nền đất yếu xử lý Trọng lượng 01 cây cừ bản BTDUL dài L = 20m là P = 10,88 T (W600 - A-1000mm) và P = 13,86 T (W 740 - A-1000mm)

- Thi công phải có máy chuyên dụng, khá cồng kềnh, đòi hỏi thi công phải có máy móc thiết bị và kinh nghiệm

- Đòi hỏi nhiều loại phương tiện vận chuyển đường thủy, đường bộ phức tạp, phải mua và vận chuyển cừ bản BTDƯL vừa dài vừa nặng và vừa xa, rất dễ xảy ra tình trạng nứt, gãy cừ trong quá trình vận chuyển

- Cấu kiện cừ bản thường không sẵn sàng: Cừ bản thường không được đúc sẵn tại nhà máy mà chỉ đúc khi có hợp đồng Vì vậy phải có thời gian chờ đợi đạt yêu cầu mới vận chuyển đến công trường được

- Không tận dụng lại được những cấu kiện đúc sẵn như cọc cừ BTCT, gây lãng phí

- Giá thành cao; thời gian thi công khó chủ động

2.3.3 Phương án 2: Gia cố nền đất yếu bằng cọc đất xi măng

a) Mô tả phương án: Kế thừa phương án thiết kế được duyệt, nối dài thêm cọc BTCT từ 10,0m thành cọc 15,0m Gia cố nền đất yếu, giữ ổn định cho mái kè và chống hiện tượng cát đùn, cát chảy bằng các hàng cọc xi măng đất

Hình 2.10: Gia cố nền đất yếu bằng cọc đất xi măng b) Ưu, nhược điểm:

* Ưu điểm:

- Thi công được trong các điều kiện mặt bằng chật hẹp, mặt bằng ngập nước

Trang 32

- Không cần gia tải

- Thiết bị thi công gọn nhẹ

- Khả năng xử lý sâu (có thể đến 50m)

- Máy móc, vật liệu có thể mua được thuận tiện, dễ dàng ngay tại địa phương, hiện trường, không cần vận chuyển đi xa

* Nhược điểm:

- Giải pháp thiết kế xử lý chưa toàn diện và triệt để trong việc xử lý nền đất yếu

do chỉ mới xử lý cho một bộ phận chân khay của kè mà không xử lý nền đất yếu dưới

đê (kết hợp nền đường) sau kè Do đó khi công trình hoàn thành (đắp xong nền đường, thân kè) và đưa vào khai thác sử dụng thì dẫn đến kè bị nghiêng lệch, đường bị lún nứt,…

- Mặt cắt ngang kè đại diện của kè được chọn đưa vào tính toán chưa phải là bất lợi nhất: nền bùn sét lớp 3 thực tế dày đến 9,7m và bên trên chỉ có một lớp cát 01 rất mỏng (0,11,5)m, thậm chí lộ ra cả trên mặt tại vị trí phía sông (Xem< MC 46>) Mặt cắt tính toán của phương án đã đề xuất thì lớp bùn sét dày chỉ 2m và bên trên là lớp cát dày đến 5m

- Chưa có đường thi công và vận chuyển xe máy thiết bị thi công qua nền đất yếu

xử lý

- Phải thi công cả 02 hệ thống: hệ thống cọc xi măng đất và hệ thống cọc BTCT

và tấm đan rất phức tạp và mất nhiều thời gian

- Địa chất nền lớp 3 là lớp đất yếu bùn sét, chứa nhiều hữu cơ nên không phù hợp với công nghệ xi măng đất

- Mặc dù đây là một trong những phương pháp xử lý nền đất yếu tiên tiến hiện nay nhưng đối với trường hợp cụ thể công trình thì phương pháp này không có thế mạnh

2.3.4 Phương án 3: Thay thế đất yếu bằng cát

a) Mô tả phương án: Phương án này giữ nguyên tuyến, thay thế 8m chiều sâu lớp nền đất yếu bằng tầng đệm cát với hệ số mở mái là m = 4,5, trong đó 6,0m đệm cát phía dưới nước được thi công trong nước với K = 0,90, 2,0m lớp trên được đắp đất đầm chặt với K = 0,95; Mái kè giữ nguyên như các cấu kiện đã được duyệt và thi công

b) Ưu, nhược điểm:

* Ưu điểm:

- Tận dụng lại được các cấu kiện nhà thầu thi công đã sản xuất theo thiết kế được duyệt trước đây;

- Sử dụng vật liệu có sẵn tại địa phương;

- Giải pháp thi công đơn giản, phù hợp với khả năng kinh nghiệm của nhiều đơn

vị thi công trong tỉnh

Trang 33

* Nhược điểm:

- Kết quả khảo sát địa chất cho thấy lớp bùn sét (3) được phân bố rất phức tạp cả theo phương dọc kè lẫn phương ngang kè: Tính theo phương ngang của MC 46 từ ngoài sông vào thì chiều dày lớp cát mỏng dần và kết thúc phía bờ, theo đó, lớp bùn sét (3) có chiều dày 9,7m nằm lộ ngay trên mặt đất (tại vị trí phía sông) và khi càng vào bờ thì lớp này càng mỏng dần và càng nằm chui sâu dưới tầng cát thô (1) Chiều sâu tầng cát thô đến 6,0m Còn theo phương dọc thì lớp bùn sét (3) nằm phủ hết toàn

bộ chiều dài 200m của đoạn kè cần xử lý (C45KS2) và nằm sâu bên dưới lớp cát thô (1) khoảng 6,0m Như vậy, nếu phải đào sâu 8,0m lớp bùn sét (3) để xử lý thì phải đào hết cả tầng cát dày 6,0m bên trên thì khối lượng xử lý quá lớn và cũng không xác định giới hạn lớp bùn sét (3) cần thay thế

- Chưa xác định được vị trí bãi thải cho khối lượng bùn sét được tháo dỡ và đánh giá tác động của bùn khi được đổ, thải

- Nguy cơ sụp đổ phần kè đã thi công tiếp giáp ở hai đầu đoạn tuyến xử lý nếu không có biện pháp chống chắn

- Chưa có đường thi công và vận chuyển xe máy thiết bị thi công xử lý nền đất yếu

- Chiều sâu đào lớp đất yếu để xử lý H = 8,0m là quá lớn Giải pháp thay thế lớp đất yếu này được khuyến cáo < 3,0m

- Do mực nước ngầm nằm cao so với đáy móng xử lý, chiều dày xử lý đất yếu sâu; mặt khác vùng xử lý lại tiếp giáp với sông Đà Rằng nên cần phải có những biện pháp hỗ trợ khác Vì thế có thể xem đây là giải pháp khó khả thi

2.3.5 Phương án 4: Phương án nắn tuyến vào bên trong mặt bằng để tránh nền đất yếu

a) Mô tả phương án: Thực hiện việc điều chỉnh tuyến kè vào bên trong để tránh

đi qua khu vực nền đất yếu và giữa nguyên kết cấu kè như thiết kế ban đầu

Hình 2.11: Phương án nắn tuyến

Trang 34

b) Ưu, nhược điểm:

* Ưu điểm: Không có ưu điểm nổi trội

* Nhược điểm:

- Ảnh hưởng đến quy hoạch khu đô thị phía Nam thành phố Tuy Hòa

- Tuyến được nắn cũng không tránh khỏi việc xử lý lớp bùn sét (3) vì lớp này vẫn còn kéo dài về phía bờ

- Tuyến kè nắn sẽ có chiều dài lớn hơn do đó kinh phí xây dựng sẽ cao hơn

2.4 Đề xuất giải pháp cho đoạn kè nghiên cứu

2.4.1 Các căn cứ đề xuất phương án xử lý

- Căn cứ [3]

- Căn cứ [4]

- Căn cứ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công công trình Kè bảo vệ bờ sông Ba tại khu vực phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

- Căn cứ kết quả khảo sát địa chất

2.4.2 Giải pháp xử lý đề xuất:

a) Phân bố địa tầng của lớp đất yếu:

Theo kết quả khảo sát địa chất, lớp đất lớp 3 là bùn sét pha, màu xám, xám xanh, xám đen, thành phần chủ yếu là hạt bụi, sét, mùn thực vật, đất bão hòa nước, trạng thái dẻo mềm đến dẻo chảy, kết quả SPT N30 = 1 xuất hiện trong nền kè được xem là lớp đất yếu cần có biện pháp xử lý

Lớp bùn sét 3 dọc theo suốt chiều dài đoạn kè cần xử lý nền đất yếu (L = 200m) Tuy nhiên, lớp bùn sét này lại phân bối không đồng đều, cụ thể như sau:

- Theo tim tuyến kè theo phương dọc, có xuất hiện lớp bùn sét 3 có chiều dày khá lớn (d = 7,0  9,70m) và đáy lớp bùn sét nằm khá sâu (cao độ -13,0  -14,0m), bên trên là lớp cát thô 1 có chiều dày d = 1,4  6,0m Tại mặt cắt <C46> thấy rõ sự phân

bố địa tầng rất bất lợi, tại đây lớp bùn sét 3 có chiều dày là lớn nhất (d = 9,7m) và lớp cát thô 1 bên trên là mỏng nhất (d = 1,4m)

- Theo phương ngang của kè, sự phân bố của lớp bùn sét 3 này lại càng phức tạp

ở tất cả các mặt cắt ngang khảo sát, ngoài trừ tại mặt cắt BS3 Cụ thể:

+ Tại cắt ngang <C45> –BS1: Lớp bùn sét 3 dày 6,0m xuất hiện ở độ sâu -6,0 và kết thúc ở độ sâu -12,0m tại phía trong bờ; nhưng tại tim kè và phía ngoài sông, lớp bùn sét 3 lại phân làm đôi để xen kẹp ở giữa là lớp cát 4

+ Tại cắt ngang <C46> –LK2: Lớp bùn sét 3 có chiều dày lớn nhất d = 9,7m (tại tim kè và tại phía ngoài sông), càng đi vào bờ lớp bùn sét này càng chui sâu và chiều dày mỏng dần và cuối cùng là chấm dứt Còn lớp cát thô 1 bên trên của lớp bùn sét 3 thì có sự phân bố ngược lại, tại phía bờ lớp cát thô 1 dày đến 7,0m và mỏng dần khi ra phía sông, đến tim kè chỉ còn dày 1,4m và lớp cát này biến mất khi ra phía sông Tại đây, lớp bùn sét nằm lộ thiên ra ngoài

Như vậy mặt cắt ngang <C46> là mặt cắt có điều kiện nền đất yếu bất lợi nhất:

Trang 35

chiều dày tầng đất yếu là lớn nhất và còn lộ lên cả bề mặt

+ Tại cắt ngang C13 –LK3: Sự phân bố địa tầng của lớp đất yếu bùn sét 3 và lớp cát thô 1 tương tự như ở cắt ngang <C46> –LK2*

+ Tại cắt ngang BS3: Phân bố địa tầng các lớp địa chất khá đơn giản Lớp bùn sét

3 nằm dưới lớp cát thô 1 khá đồng đều từ ngoài sông đến trong bờ Chiều dày lớp bùn sét khoảng 7,0m ở vị trí ngoài sông và 4,0m ở vị trí trong bờ Trong lúc đó bên trên là lớp cát thô 1 dày 3,5m và 5,0m ở vị trí tương ứng

b) Phân vùng đất yếu để xử lý:

Tùy theo sự phân bố địa tầng, điều kiện làm việc và mức độ xung yếu của lớp đất yếu so với phần còn lại, ta chia mặt bằng khu vực cần xử lý nền đất yếu thành 02 khu vực riêng biệt để có giải pháp xử lý riêng:

- Khu vực A: Đây là khu vực chủ yếu nằm phía ngoài kè, càng ra xa bờ càng sâu, luôn luôn ngập nước, có tầng đất yếu (lớp bùn sét 3) dày và lộ trên mặt đất (không có lớp cát thô 1 bên trên như những vị trí khác), chiều cao khối đất đắp tại khu vực này lớn lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của mực nước sông Đà Rằng trong quá trình xử lý thi công Tổng hợp lại, đây là khu vực xung yếu nhất trong việc xử lý và khai thác công trình sau này Phạm vi của khu vực A được xác định như sau:

+ Tính theo phương dọc kè:

Bảng 2.1: Bảng phân vùng theo phương dọc kè - khu vực A

Giới hạn Điểm đầu Điểm cuối Chiều dài L

132,0m Theo tên cọc cũ <C45>+ 18,0m <C50>

Ghi chú:

Ký hiệu: <C45>: Tên cọc theo hồ sơ đồ án thiết kế cũ được duyệt; C45: Tên cọc đề xuất mới

+ Tính theo phương ngang kè

Bảng 2.2: Bảng phân vùng theo phương ngang kè - khu vực A

Giới hạn Tại điểm

đầu C4

Tại điểm giữa C9

Tại điểm giữa C13

Tại điểm cuối C30

- Khu vực B: Là phần diện tích còn lại, gồm có 3 khu nhỏ: khu B1, B2 và B3 Khu nhỏ B1 và B2 nằm ở liền kề 2 đầu thượng hạ lưu khu A và khu B3 nằm bên trong

và liền kề với khu A, khu B1, B2 Khu B có tầng đất yếu lớp bùn sét 3 mỏng hơn, không lộ lên mặt đất mà bên trên có lớp cát thô 1 khá dày Tổng hợp lại, khu B được xem là ít xung yếu hơn khu A Phạm vi của khu B được xác định như sau:

+ Tính theo phương dọc kè

Trang 36

Bảng 2.3: Bảng phân vùng theo phương dọc kè - khu vực B

Lý trình K2+679,5 K2+697,5 K2+829,5 K2+884,5 K2+679,5 K2+884,5 Theo tên

Chiều dài

+ Tính theo phương ngang kè:

Bảng 2.4: Bảng phân vùng theo phương ngang kè - khu vực B

Từ tim đường vào

bờ c) Phương pháp xử lý:

- Đối với khu vực A: Phương pháp cọc cát (SD), thốt nước đứng với gia tải trước, cĩ bệ phản áp, kết hợp với gia cường nền bằng lưới địa kỹ thuật Secugrid 60x60 Q1 trên bề mặt tồn bộ nền đất yếu

- Đối với khu vực B: Phương pháp cọc cát (SD), thốt nước đứng với gia tải trước

13(LK3*)

CAO ĐỘ MẶT ĐẤT TỰ NHIÊN

KHOÃNG CÁCH CỌC

MỨC SO SÁNH

HỐ KHOAN ĐỊA CHẤT

Hình 2.12: Phương án xử lý nền đất yếu đề xuất

Trang 37

2.4.3 Phân tích ưu nhược điểm của phương án đề xuất

a) Ưu điểm

- Giải quyết xử lý triệt để và toàn diện nền đất yếu không những cho kè mà còn cho cả nền đê kết hợp nền đường

- Công nghệ thi công phù hợp với điều kiện địa phương trong và ngoài tỉnh

- Tận dụng được hầu hết những sản phẩm đã chế tạo trong giai đoạn thi công trước Công trình sau khi hoàn thành có kiến trúc đồng bộ với các phần đã xây dựng

- Công nghệ xử lý là cọc cát nên sử dụng được vật liệu địa phương có sẵn

- Không gây môi trường xấu trong quá trình thi công xử lý

Trang 38

CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN PHƯƠNG ÁN CHỌN

3.1 Đặc trưng địa chất đất nền đoạn kè nghiên cứu

Qua các công tác khoan khảo sát, thí nghiệm hiện trường, thí nghiệm trong phòng có kết quả địa chất như sau:

- Lớp 1: Cát thô lẫn sỏi trạng thái xốp Kết quả SPT N30=2 Phân bố lớp trên của cột địa tầng ở trạng thái tự nhiện và một phần là đất đắp (hố BS1 và LK1) Bề dày phân bố từ 1,4m đến 6,2m Lớp này tuy kém chặt nhưng dễ và nhanh đạt tới độ lún ổn định khi chất tải Vì vậy biện pháp xử lý có thể chỉ cần gia tải là được

- Lớp 2: Cát hạt nhỏ lẫn mùn hữu cơ, kém chặt Kết quả SPT N30=3 Phân bố địa tầng: chỉ gặp duy nhất tại hố khoan LK1, Bề dày 2,2m Cần có biện pháp xử lý thích hợp, có thể bằng cọc cát, bấc thấm, nhằm thoát nước, giảm áp lực lỗ rỗng

- Lớp 3: Bùn sét pha, màu xám, xám xanh, xám đen, thành phần chủ yếu là hạt bụi, sét, mùn thực vật, đất bão hòa nước, trạng thái dẻo mềm đến dẻo chảy Kết quả SPT N30=1 Phân bố địa tầng: nằm dưới lớp 1, bề dày thay đổi từ 2,8m đến 9,7m Lớp này là lớp đất yếu chịu tải kém, dễ trượt ngang, bề dày lớn, cần có biện pháp xử lý thích hợp, có thể bằng cọc cát, bấc thấm kết hợp gia tải, nhằm thoát nước lỗ rỗng, giảm tỷ lệ lỗ rỗng, tăng tốc độ lún, giảm thời gian lún

- Lớp 4: Cát hạt thô, hạt vừa, màu nâu vàng, xám, đôi chổ có xen kẹp thấu kính sét mỏng, đất no nước, trạng thái no nước, kết cấu chặt vừa đến chặt Kết quả SPT N30  15 Phân bố địa tầng: nằm dưới lớp 3 (lớp bùn sét), riêng tại hố BS1 nằm kẹp giữa hai lớp bùn sét và bắt gặp tại tất cả các hố khoan Bề dày thay đổi từ 5,6 m đến 9,9m Đây là lớp đất ổn định có khả năng chịu tái khá, không cần xử lý

- Lớp 5: Cát hạt nhỏ đến cát pha, màu xám, xám xanh, thành phần chủ yếu cát pha, đầu lớp có hàm lượng hạt sét, trong lớp này có xen kẹp sét pha trạng thái dẻo mềm, đất ở trạng thái no nước, kết cấu chặt vừa đến chặt Kết quả SPT N30  15 Phân bố địa tầng: nằm dưới lớp 4 (cát trung thô, thô) và bắt gặp tại tất cả các hố khoan

Bề dày thay đổi từ 4,9 m đến 7,7m Đây là lớp đất ổn định có khả năng chịu tái khá, không cần xử lý

- Lớp 7: Cát hạt vừa đến thô, màu xám, xám vàng, thành phần chủ yếu cát thạch anh, đất trạng thái no nước, kết cấu từ chặt đến rất chặt Kết quả SPT N30  50 Phân

bố địa tầng: nằm dưới lớp 5 (cát hạt nhỏ, á cát) và bắt gặp tại các hố khoan BS1 và LK3 Bề dày chưa xác định khả năng >4,5m Đây là lớp đất ổn định có khả năng chịu tái tốt, không cần xử lý

Với kết quả địa chất như trên, ta có thể kết luận:

- Đoạn K2+679,5 đến K2+879,5 là đoạn có nền địa chất yếu: Tầng đất trên mặt (lớp 1) là lớp cát thô nhưng kém chặt bề dày từ 1,4m đến 5,2m; Tầng đất tiếp theo là bùn sét pha (lớp 3) mềm yếu, dễ lún, trượt bề dày lớn từ 2,8m đến 9,7m;

Trang 39

- Tại vị trí LK3 bề dày tầng cát (lớp 1) chỉ dày 1,4m nên có thể đây là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp gây ra hiện hiện tượng khối đắp lún sụt mạnh, đất bùn từ nền thiên nhiên trồi lên trên khi thi công bơm cát, tạo mặt bằng

- Dưới lớp bùn yếu là lớp cát trung thô (lớp 4) khá ổn định, kết cấu chặt vừa đến chặt

- Dưới lớp 4 là lớp 5 và lớp 7 cát hạt nhỏ và hạt vừa kết cấu chặt vừa đến chặt có khả năng chịu tải khá đến tốt

Trang 40

ướt  Độ 35 o 41' 28 o 39' 34o42' 28o41' 35o48'

Bảng 3.2: Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý của đất nền lớp 3: Lớp bùn sét

TT Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị Lớp 3

Ngày đăng: 14/07/2020, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w